Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Sáu, 2020, 06:44:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một thời Quảng trị - Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu  (Đọc 26727 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #50 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2017, 08:43:57 pm »


        Sau này ở cương vị mới, có:điều kiện nghiên cứu, tôi thấy những đợt tiến công liên tiếp của ta ở miền Nam trong năm 1968 và đầu năm 1969, cho thấy rõ xu thế của địch phải tiếp tục xuống thang chiến tranh do bị thất bại nặng nề là điều không cưỡng lại được Song, ta cũng chưa đánh giá đầy đủ chiến lược mới của chính quyền Ních-xơn, nhất là những nỗ lực lớn, những hành động phản kích rất quyết liệt của Mỹ trong các kế hoạch bình định nông thôn mà chúng gọi là "cuộc chiến tranh giành dân", nhằm "đuổi Việt cộng ra khỏi thôn ấp". Do đó, ta đã không kịp thời đề ra những biện pháp tiến công thích hợp nhằm đẩy lùi và đánh bại những âm mưu và thủ đoạn mới của địch trong chiến lược "quét và giữ" mà vẫn chủ trương tiếp tục hướng tiến công chủ yếu vào các đô thị khi không còn điều kiện.

        Điều đó đã dẫn đến những khó khăn, tổn thất cho cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam từ giữa năm 1968 đến giữa năm 1969.

        Sau đợt hoạt động hè 1969, để giữ thế tiến công và do việc tiếp tế bổ sung ngày càng khó khăn, lại bị quân địch phản kích quyết liệt, một bộ phận chủ lực ta phải lui về căn cứ để củng cố. Lực lượng vũ trang địa phương cũng bị tiêu hao nặng, sức chiến đấu giảm sút. Mùa mưa, quân địch đánh ra kết hợp với đẩy mạnh chương trình bình định nông thôn và đánh phá căn cứ ta ở miền núi, đánh phá hành lang vận chuyển, gây thêm nhiều khó khăn mới cho ta.

        Vùng giải phóng bị thu hẹp, tiếp tế hậu cần cho bộ đội gặp nhiều trở ngại. Tuy ta có mở một số đợt tiến công, gây cho địch một số thiệt hại, nhưng không tạo được chuyển biến gì đáng kể.

        Tháng 1 năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã họp hội nghị lần thứ 18. Hội nghị Trung ương đặt vấn đề phải khắc phục là cần đẩy mạnh tiến công toàn diện, tiến công cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, vận dụng sáng tạo phương châm tiến công trên cả ba vùng chiến lược nhưng chuyển hẳn hướng tiến công, lấy nông thôn là hướng tiến công chính.

        Ban Chấp hành Trung ương dự kiến tình hình có thể diễn biến phức tạp ở Cam-pu-chia - đường hành lang vận chuyển cho Nam Bộ và một phần cho Tây Nguyên có thể bị cắt đứt. Trung ương còn đề ra chủ trương ra sức làm nhiệm vụ quốc tế, chi viện cho cách mạng Lào, chuẩn bị kế hoạch phối hợp với quân Lào để chủ động đối phó với khả năng xấu nhất khi địch đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Lào và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia.

        Tình thế chính trị, quân sự trên toàn Đông Dương cho đến hết năm 1970 đặt ra yêu cầu đối với quân dân ta khi bước vào mùa Xuân 1971 là phải tăng cường liên minh chiến đấu với quân và dân Lào và Cam-pu-chia anh em, chuyển mạnh sang tiến công và phản công để giáng một đòn có ý nghĩa chiến lược vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Học thuyết Ních-xơn" ở Đông Dương, tạo thế và lực mới để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

        Về phía địch, theo bước đi chiến lược của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" trong năm 1971 chúng tiến hành các cuộc tiến công lớn đánh ra vòng ngoài, phá hành lang vận chuyển chiến lược và hậu phương chiến lược trực tiếp của ta ở chiến trường Lào và Cam-pu-chia để thực hiện "chiến tranh bóp nghẹt".

        Đó là bối cảnh chiến lược, hình thái chiến trường, bước đi chiến lược của hai bên, có quan hệ trực tiếp tới quá trình chuẩn bị và hình thành các chiến dịch cùng với bước phát triển mới của ta trong năm 1971.

        Ta còn dự đoán chính xác phương hướng tiến công của địch trong mùa khô năm 1970 - 1971 sẽ là hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung Hạ Lào và đông bắc Cam-pu-chia nhằm cô lập chiến trường miền Nam.

        Đầu năm 1971, kế hoạch chiến lược mở các cuộc tiến công ra vòng ngoài đã được Nhà Trắng và Lầu Năm Góc phê chuẩn. Địch huy động 88 tiểu đoàn bộ binh, 1 5 thiết đoàn để mở ba cuộc tiến công quy mô lớn, tiến hành đồng thời và liên tiếp trên ba hướng đánh vào tuyến vận tải chiến lược của ta.

        Hướng thứ nhất, cuộc tiến công mang tên "Lam Sơn 719", đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào.

        Thời gian đầu sử dụng 42 nghìn quân, với 34 tiểu đoàn, sau đó tăng lên 55 nghìn quân.

        Hướng thứ hai, cuộc tiến công mang tên "Toàn thắng l-71NB", với quy mô lực lượng trên 30 tiểu đoàn đánh vào Tây Ninh, Lộc Ninh rồi đánh lên vùng Kông Pông Chàm, Cra Chiê (đông bắc Cam-pu-chia).

        Hướng thứ ba, cuộc tiến công từ bắc Kom Tum đánh ra ngã ba biên giới vùng Tà Xẻng, Pa Kha, Sê Sụ thuộc A Tô Pơ (Nam Lào) với lực lượng khoảng 1 sư đoàn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #51 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2017, 08:45:26 pm »


        Trong ba cuộc tiến công nói trên, cuộc Hành quân Lam Sơn 719, đánh ra Đường 9 - Nam Lào là lớn nhất. Mục đích của "Hành quân Lam Sơn 719" là đánh phá, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta từ gốc, tập trung hủy diệt cơ sở hậu cần chiến lược, làm cho quân chủ lực ta ở miền Nam không thể đánh lớn trong mùa khô 1971 - 1972 và cả năm 1972, buộc ta phải quay về hoạt động chiến tranh du kích, để quân Mỹ rút dần theo kế hoạch mà quân ngụy vẫn mạnh lên. Đưa quân ngụy miền Nam thực nghiệm vai trò thay quân Mỹ trong một kế hoạch tác chiến cao nhất của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mỹ muốn rèn luyện quân ngụy Sài Gòn thành lực lượng nòng cốt cho các quân đội tay sai ở Đông Dương.

        Lực lượng tham gia cuộc Hành quân Lam Sơn 719 gồm tất cả các lực lượng dự bị chiến lược cùng lực lượng cơ động của vùng 1 chiến thuật ngụy. Các lực lượng tiếp vận trung ương của quân ngụy được sự chi viện hỏa lực của không quân Mỹ, một bộ phận lực lượng bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến yểm hộ phía sau. Quân ngụy Lào phối hợp hoạt động ở phía tây Đường 9 với 5 tiểu đoàn, từ đó tiến đánh ra khu vực Mường Pha Lan. Có thể nói đây là một cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức "Việt Nam hóa" cuộc chiến tranh của Mỹ.

        Về phía ta, từ mùa Hè năm 1970, Bộ Tổng tham mưu bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường tác chiến ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm 1970, ta thành lập Binh đoàn 70, binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta gồm 3 sư đoàn bộ binh: Sư đoàn 304, Sư đoàn 308 và Sư đoàn 320 và một số trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng. ở khu vực Đường 9, có lực lượng của Mặt trận B5, Quân khu Trị Thiên và Đoàn 559. Ta gấp rút điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận, thiết bị chiến trường, các đơn vị trên địa bàn sẵn sàng phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực cơ động.

        Khu vực Đường 9 - Nam Lào là địa bàn rừng núi, thuộc hai tỉnh Quảng Trị và Xa-van-na-khẹt.

        Đường số 9 nằm vắt ngang vĩ tuyến 1 7 dài khoảng 300 ki-lô-mét nối Đông Hà với Xa-van-na-khẹt. Nó đi qua Lao Bảo, Bản Đông, Sê Pôn, Mường Phìn, Pha Lan - những giao điểm của các con đường 16, 18, 23, 128 và các con sông Sê Băng Hiêng, Sê Pôn hết sức trọng yếu của tuyến giao liên đường bộ, đường thủy.

        Dọc Đường số 9 từ biên giới Việt - Lào ra biển là khu vực phòng thủ kiên cố gồm nhiều cụm cứ điểm vững chắc của Mỹ - nguy. Phía tây ta có đường vận tải và hệ thống bảo đảm hậu cần chiến lược thuộc Đoàn 559. Đoàn 559 không chỉ là lực lượng vận tải mà là một đơn vị binh chủng hợp thành, có cả bộ binh, công binh, phòng không... đặc biệt có hệ thống lực lượng kho trạm được bố trí trên nhiều điểm, lại có nhiều súng phòng không đang niêm cất hoặc vận chuyển vào phía Nam. Ta đã kịp thời tổ chức lực lượng này thành lực lượng phòng không dày đặc súng 12,7 ly để đánh địch, nhất là bắn máy bay lên thẳng.

        Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường. 9 - Nam Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch lấy Binh đoàn 70 làm nòng cốt. Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Mặt trận Đường 9 - Nam Lào được thành lập. Tư lệnh chiến dịch là Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng. Chính ủy là Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng là đại diện Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch. Đây là cơ quan có đủ khả năng, quyền hạn chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch và tổ chức hiệp đồng với các chiến trường có liên quan như Quân khu Trị Thiên, Mặt trận Đường 9 (B5), Đoàn 559 và Liên quân Việt - Lào ở Nam Lào.

        Ngày 30 tháng 1 năm 1971, một sư đoàn Mỹ mở màn cuộc hành quân bằng trận càn dọc Đường 9 phía nam khu phi quân sự, chiếm lại khu vực Khe Sanh để làm bàn đạp cho cuộc tiến công sang Nam Lào của quân ngụy và làm nghi binh cho quân ngụy cơ động triển khai lực lượng. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, bằng đường không và đường bộ, quân ngụy đã chuyển 22 tiểu đoàn bộ binh và pháo ra khu vực Đông Hà - ái Tử - Khe Sanh. Chúng cho lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ tập vượt sông phía tây cầu Đông Hà và đưa lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ từ La Vang ra cửa Thuận An xuống tàu thủy đi lên hướng bắc, làm như đang cùng quân Mỹ chuẩn bị tiến công ra bắc khu phi quân sự. Một số tàu của hạm đội 7 Mỹ từ biển Đông tiến vào uy hiếp vùng biển nam Quảng Bình.

        Căn cứ vào âm mưu và việc triển khai lực lượng của địch ta đã sẵn sàng ứng phó với cả hai tình huống: Địch hành quân ra Đường 9 - Nam Lào và cũng có thể tiến công ra nam Khu 4. Do đó, nhiều đơn vị chủ lực của ta bố trí ngay sau địa bàn nam Khu 4 để chủ động đối phó với cả hai tình huống.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #52 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2017, 08:35:01 pm »


        Về sau, ta phát hiện ngày càng rõ, nam Khu 4 chỉ là hướng địch nghi binh, nên kịp thời chuyển trọng tâm chuẩn bị vào hướng Đường 9 - Nam Lào.

        Ngày 7 tháng 2 năm 1971, địch triển khai lực lượng chiếm lĩnh xong khu vực tập kết tiến công hướng Đường 9 - Nam Lào. Phía trước là đội hình các đơn vị quân ngụy, phía sau từ Hướng Hóa về thị xã Quảng Trị là quân Mỹ và lực lượng dự bị chiến dịch của quân ngụy. Phía tây Đường 9, quân ngụy Lào nống ra Mường Pha Lan và Pha Đô Tuya để phối hợp với cuộc hành quân. Địch tăng cường hoạt động biệt kích thám báo, trinh sát, ném bom bắn phá các trọng điểm trên trục đường vận chuyển chiến lược của ta.

        Ngày 2 tháng 2 năm 1971, sở chỉ huy hỗn hợp tại Đông Hà diễn ra cuộc họp giữa quân đội Mỹ và quân nguy Sài Gòn. Đây là cuộc họp quan trọng để xác định kế hoạch hành quân gồm đủ mặt các tướng tá trọng yếu chỉ huy cuộc hành quân: Su-dớc- len - Tổng chỉ huy các lực lượng tham chiến của quân đội Mỹ, Hoàng Xuân Lãm - Chỉ huy các lực lượng quân nguy Sài Gòn, Dư Quốc Đống - Tư lệnh sư đoàn dù ngụy; Phạm Văn Phú - Sư trưởng sư đoàn 1 ngụy, Nguyễn Trọng Luật - Chỉ huy thiết giáp và toàn thể bộ tham mưu liên quân.

        Su-dớc-len, nói: "Một tháng oanh kích không lực Hoa Kỳ đã "tấn diệt" các lực lượng cộng quân ở những vùng quân lực Sài Gòn sắp đi tới và quân đội phái hữu Lào vừa chiến thắng lớn ở Mường Phiên đang chờ đón chúng ta".

        Tướng Lãm đứng dậy trịnh trọng: - Đây là một cuộc hành quân quy mô lớn chưa từng có của quân lực Việt Nam cộng hòa dưới sự yểm trợ của pháo binh và không lực Hoa Kỳ. Một cuộc hành quân có ý nghĩa trọng đại để chứng minh cho học thuyết Ních-xơn và chương trình "Việt Nam hóa" thành công. Một cuộc hành quân có tầm chiến lược sẽ làm thay đổi cục diện chiến tranh ở Đông Dương, dồn Việt cộng đến chỗ bế tắc.

        Dừng một lát, Lãm nói tiếp: - Mục tiêu của cuộc hành quân trước hết là tiến đánh vùng Nam Lào, cắt đứt mọi đường tiếp tế của đối phương, lục soát, phá hủy mọi kho tàng của đối phương, thiết lập các căn cứ hỏa lực. Khi thắng lợi sẽ phát triển xuống Hạ Lào, vùng Bô-lô-ven, chiếm hoàn toàn vùng này, nối liền với Nam Lào thành một vùng hoàn chỉnh.

        Sau đó chúng bàn kế hoạch hành quân. Chúng chia khu vực Đường số 9 - Nam Lào thành ba khu vực: Khu A: La Tương - Cha Ky - cao điểm 500. Khu B: Khu trung tâm, trục chính là Đường số 9, mở rộng sang hai bên bắc và nam mỗi chiều trên dưới 10 ki-lô-mét. Khu C: gồm các điểm cao ven Đường số 9: 660, 462, Phu ốc Tom, Khe Tan.

        Các lực lượng tham chiến của quân ngụy Sài Gòn gồm: Sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, sư đoàn 1, liên đoàn 1 biệt động quân, các lực lượng thiết giáp (460 xe tăng, xe thiết giáp), pháo binh (280 khẩu pháo các loại) của lực lượng trù bị chiến lược quốc gia và vùng chiến thuật. Lực lượng yểm trợ của Mỹ có sư đoàn 101, hai lữ đoàn của sư đoàn A-mê-ri-cơn, không quân có 600 máy bay trong đó có 300 máy bay lên thẳng. Liên đoàn 1 biệt động quân và lữ đoàn dù 3 đảm nhiệm khu vực A.

        Bộ phận sư đoàn dù thiếu và thiết giáp phụ trách trung tâm cuộc hành quân Đường số 9. Sư đoàn 1 bộ binh và các lực lượng phối thuộc phụ trách khu C.

        Chúng quy định ngày tiến quân: N+9 (tức là ngày 8 tháng 2 năm 1971). Ngày tiến công đánh chiếm Bản Đông: N+10 (tức là ngày 9 tháng 2 năm 1971), ngày đánh chiếm Sẽ Pôn: N+12 (tức là ngày 11 tháng 2 năm 1971).

        Cuộc tiến công Đường số 9 - Nam Lào của địch bắt đầu.

        Vào thời gian này, Trung đoàn 27 sau khi chuẩn bị xong phương án đánh địch ở phía đông và phía tây Đường 76, hỗ trợ cho phong trào chống xúc dân của địch ở hai huyện Gio Linh và Cam Lộ trước Tết Nguyên đán thì nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh B5: "Trung đoàn 27 khẩn trương làm công tác chuẩn bị, phối hợp với các đơn vị bạn đánh địch ở khu vực Tân Lâm đi úc Nghi, Rào Quán (cánh đông của chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào)".

        Tết đến. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 chúng tôi đã đón ba mùa xuân trên mảnh đất Quảng Trị.

        Đón Tết này khẩn trương hơn. Mọi người ai vào việc nấy, cả đơn vị như một guồng máy chạy đều. Bộ phận đi chuẩn bị chiến trường ăn Tết trước, bộ phận ở nhà vừa chuẩn bị gói bánh chưng, làm bàn thờ Tổ quốc vừa chuẩn bị chiến đấu... Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 còn được các đoàn văn công của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh vượt qua bom đạn của địch vào phục vụ, tiếp thêm sức mạnh cho trung đoàn bước vào mùa chiến dịch mới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #53 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2017, 08:38:10 pm »


        Nhiệm vụ khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 không kể ngày đêm lao vào công việc chuẩn bị. Trung đoàn chuyển toàn bộ đội hình và kế hoạch bảo đảm lên phía tây. Trong khi đó địch đã giăng chốt ở Ba Lào, Khe Sóc và các trục đường tiếp cận của ta.

        Các đơn vị trong trung đoàn vừa vận tải gạo, đạn, xây dựng tuyến chiến đấu, vừa hành quân cài thế, tranh chấp với thời gian, với địch từng phút, từng giờ. Cán bộ chỉ huy chúng tôi đi thực địa tìm vị trí giấu hàng, giấu quân. Từ Động Nóc vào đến Đường số 9, đi đến đâu chúng tôi đều phải đánh dấu đường hành quân đến đó. Chúng tôi phải vượt điểm cao 1001, động La Rường rất vất vả, gian nan.

        Những đường cũ địch đã đổ quân chốt chặn, chúng tôi phải mở đường mới để đánh địch, đưa đơn vị vào Đường 9 an toàn.

        Địch đổ quân chốt các khu vực bên ngoài để ngăn chặn không cho ta thọc sâu vào tuyến phòng thủ Đường 9. Vì vậy, chúng tôi phải vòng tránh rất xa, lấy quy định thời gian nổ súng của Mặt trận làm mệnh lệnh cho mọi hành động của đơn vị.

        Sáng sớm ngày 8 tháng 2 năm 1971, lữ dù 3 ngụy được lệnh nhổ lán trại, sẵn sàng lên đường.

        Tuy nhiên lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ vẫn phải thám sát lại tình hình khu vực chuẩn bị tiến công lần cuối. Thọ cùng hai tiểu đoàn trưởng lên chiếc trực thăng HU.1D nhằm hướng tây lao tới.

        Đường số 9 như một sợi chỉ màu xám mốc bò ngoằn ngoèo giữa những dải núi non trùng điệp xanh rì.

        Xem xét xong mục tiêu điểm cao 655 (căn cứ 30), Thọ cho máy bay tiến sâu về phía điểm cao 456 (căn cứ 31).

        Đây là một ngọn đồi trọc chạy dài, đầu phía bắc nhô cao hẳn lên, giữa là một yên ngựa khá rộng.

        Thọ cho rằng, muốn đứng vững ở điểm cao 456 (căn cứ 31), phải chiếm bằng được ngọn đồi Không Tên ở tây bắc căn cứ 4 ki-lô-mét. Đây là bức bình phong án ngữ đường tiến quân của Việt cộng vào căn cứ. Chiếc trực thăng HU.1D hối hả bay trở lại Khe Sanh.

        Địch mở cuộc oanh tạc dữ dội dọn bãi cho tiểu đoàn 2 lữ dù 3 đổ quân xuống điểm cao 655. Tất cả những trận địa pháo Mỹ bố trí sẵn ở suốt dọc đường biên giới Việt - Lào trên một chính diện hơn 30 ki-lô-mét cùng gầm lên. Chớp lửa đỏ rực một vùng rộng trên biên giới Việt - Lào.

        Thọ ra lệnh cho tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 lữ dù 3 đổ quân xuống điểm cao 655.

        Bốn mươi chiếc HU.1D và hai trực thăng HUC (trực thăng cỡ lớn cẩu pháo) đổ gọn xuống căn cứ 30 mà không có một phản ứng nhỏ từ mặt đất.

        Đến lượt tiểu đoàn 3, lữ đoàn bộ lừ đoàn 3 và pháo đội 105 lên máy bay.

        Tại căn cứ 30, hai pháo đội trực thuộc tiểu đoàn 2 sau 2 giờ đặt chân xuống đã bắt đầu bắn phá khu vực căn cứ 31. Rồi máy bay phản lực, trực thăng vũ trang thi nhau bắn phá điểm cao 456. Cả ngọn đồi bị khói trùm kín.

        Nhưng tiểu đoàn 3 không may mắn như tiểu đoàn 2. Khi đoàn trực thăng ầm ầm bay tới gần Bản Đông thì bỗng nhiên những dòng đạn lửa từ dưới đất bay vọt lên chi chít. Hai chiếc trực thăng bốc cháy như hai bó đuốc vùn vụt lao xuống đất.

        Trong khoảnh khắc bầy trực thăng bị đánh tán loạn. Mấy phút sau, chúng mới tập trung lại được, vòng xuống phía nam Đường 9 rồi tiếp tục vượt lên điểm cao 456.

        Thọ ra lệnh cho tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3: "Cho đổ nhanh xuống bằng bất cứ giá nào".

        Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ vẫn ngồi trực thăng bay lượn trên không, hết sức lo lắng. Đến khi tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 báo cáo đã đổ quân xong, Thọ mới tạm yên lòng.

        Trong lúc này lực lượng chủ yếu của ta ở cánh bắc có Sư đoàn 308, Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) và Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) được pháo binh và xe tăng chiến dịch chi viện, mở cuộc phản công địch trên một địa bàn kéo dài từ Tà Púc, Pha A Rinh qua làng Sen, điểm cao 500 đến căn cứ 31 dài khoảng 20 ki-lô-mét. Sư đoàn 308 tiến công điểm cao 500 - một tiền đồn quan trọng bậc nhất của địch ở cánh bắc do tiểu đoàn 39 biệt động quân chiếm giữ, tạo điều kiện thuận lợi để ta phá tung cánh cung phía bắc.

        Sau khi phân tích căn cứ 30 và căn cứ 31, căn cứ nào là trọng yếu của địch ở phía bắc Đường 9, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định: căn cứ 31 (nơi đặt sở chỉ huy lữ đoàn 3 do tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp chiếm giữ). Đây cũng là lực lượng thiện chiến bậc nhất của quân ngụy Sài Gòn. Chiếm giữ điểm cao này, quân địch sẽ kiểm soát được hoàn toàn đường 16A, ngăn chặn các lực lượng ta phát triển xuống Bản Đông. Nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ 81 được giao cho Trung đoàn 64.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #54 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2017, 08:40:23 pm »


        Ngay sau khi đặt chân xuống căn cứ 31, đại tá Nguyễn Văn Thọ đã nhận thấy ngay vị trí chiến thuật của ngọn đồi Không Tên. Nó là bức bình phong của căn cứ 31. Nếu quân ta muốn vào căn cứ 31 nhất thiết phải vượt qua đó.

        Về phía ta, muốn tiến công điểm cao 456 thì phải chiếm bằng được đồi Không Tên.

        Ngày 13 tháng 2 năm 1971, 10 giờ địch đổ 16 lần chiếc trực thăng xuống đồi Không Tên. 10 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 được lệnh bí mật xuất kích.

        Tiểu đoàn 9 chiến đấu liên tục, quyết liệt, đến sẩm tối ngày 13 tháng 2 năm 1971, tiểu đoàn 6 dù của địch đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Bức bình phong của căn cứ 31 bị sụp đổ.

        Đường số 9 trong những ngày này trở thành con đường huyết mạch của cuộc hành quân Lam Sơn 719.

        Các trận đánh giữa ta và địch đã diễn ra quyết liệt ở điểm cao 456, 500, cầu Cha Ki... Các sư. đoàn chủ lực 308, 320A, 324... hiệp đồng với các đơn vị xe tăng, pháo binh dồn dập tiến công quân địch cả trên cánh bắc và cánh nam của chiến dịch. Quân chủ lực ngụy có nguy cơ bị tiêu diệt lớn ở Nam Lào.

        Để chống đỡ những đòn phủ đầu đó, Mỹ - ngụy dồn thêm quân về tăng cường cho cuộc hành quân. Sư đoàn A-mê-ri-cơn được Mỹ đổ ra Đường số 9 để ngăn chặn ta thọc sâu cắt đường vận chuyển, tiếp tế của lính ngụy ở Nam Lào.

        Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27 do anh Bùi Xuân Các chỉ huy được giao nhiệm vụ đưa đơn vị tiến sâu vào Đường số 9, đánh phối hợp chia cắt. Tiểu đoàn 2 phải vượt qua bốn tuyến ngăn chặn của địch trên dọc đường hành quân.

        Ngày 7 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn 2 đã đánh một trận phục kích trên Đường số 9, bắn cháy chín xe vận tải quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 90 tên địch. Cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 2 tiếp tục bám sát Đường số 9 để phục kích các đoàn xe địch. Đội hình chiến đấu của Tiểu đoàn 2 lúc này nằm xen kẽ giữa các tuyến chốt của địch vừa dựng nên việc giấu quân, cơ động vô cùng khó khăn. Nhiều khi suốt ngày chiến sĩ ta phải nằm giữa những bụi cây, bờ cỏ chờ đêm xuống. Cán bộ bí mật ra sát Đường số 9 theo dõi các đoàn xe địch qua lại để tổ chức đơn vị nổ súng kịp thời. Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các ngày đêm bám sát từng trận địa phục kích của các đại đội để tổ chức chiến đấu.

        Cứ mỗi lần có đoàn xe sắp đi qua, chúng lại bắn pháo cày xới hai bên Đường số 9. Trận địa chiến đấu của Tiểu đoàn 2 nằm trong tầm hỏa lực dày đặc của địch, nhưng cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn quyết không rời trận địa. Khi trận địa phục kích của tiểu đoàn chỉ cách mặt đường năm, bảy chục mét thì hiệu quả chiến đấu sẽ rất cao. Qua nhiều trận đánh, Tiểu đoàn 2 đã gây cho địch nhiều tổn thất và làm cho địch lo nơm nớp.

        Trong khi Tiểu đoàn 2 chiến đấu đánh giao thông địch trên Đường số 9, thì Tiểu đoàn 3 của tôi làm công tác vận chuyển gạo, đạn cho trung đoàn đến nơi tập kết an toàn. Sau bảy ngày làm công việc vận chuyển, ngày 7 tháng 2, tôi nhận được lệnh của Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm đưa tiểu đoàn vào chặn đánh sư đoàn A-mê-ri-cơn ở Động Na vừa được điều ra làm nhiệm vụ bảo vệ cuộc hành quân của quân ngụy Sài Gòn ở phía bắc Đường số 9. Tôi trao đổi với Chính trị viên Trần Xuân Gừng, dùng Đại đội 2 tiến công quân Mỹ ở Động Na.  Tối ngày 9 tháng 2 năm 1971, Đại đội 2 xuất kích, đánh Động Na. Sau khi Đại đội 2 đã triển khai xong đội hình chiến đấu, tôi ra lệnh cho Đại đội 4 hỏa lực bắn 20 quả đạn cối và ĐKZ75 vào những nhà bạt, công sự dã chiến của quân Mỹ. Tiếp đó, Đại đội 2 tiến công. Các loại súng B40, B41, cối 60 ly bắn phá mãnh liệt vào các cụm quân địch. Sau 20 phút, Đại đội 2 phát triển thuận lợi, đánh chiếm được một số ụ súng, nhà bạt, diệt được hơn chục tên Mỹ. Nhưng càng tiến vào sâu, quân Mỹ càng chống trả quyết liệt. Máy bay C130 thả pháo sáng, pháo từ các nơi bắn về. Cả ngọn núi Động Na mịt mù khói đạn. Xét thấy cứ tiến công tiếp thì đơn vị gặp khó khăn, bộ đội sẽ thương vong, tôi trao đổi với chính trị viên cho lui quân.

        Trận đánh này, Đại đội 2 có ba cán bộ, chiến sĩ hy sinh, đó là: Trung đội phó Nguyễn Duy Nam, quê Thanh Phong, Thanh Chương, Nghệ An và hai chiến sĩ là Nguyễn Công Tín, quê xóm 9, Thanh Hòa, Thạch Hà, Hà Tĩnh; Trần Định, quê Nam Xuân, Thanh Xuân, Thạch Hà, Hà Tĩnh.

        Ba đồng chí hy sinh được an táng tại đông nam núi Ba Lào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #55 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2017, 08:43:29 pm »


        Ngày 22 tháng 2 năm 1971, chúng tôi sử dụng Đại đội 3 đón đánh quân Mỹ ở động Khe Sóc. Trong những ngày này Đại đội 3 lập chiến công xuất sắc, bắn rơi 5 máy bay lên thẳng của Mỹ làm cho việc đổ quân chốt giữ hướng đông chiến dịch Đường 9 - Nam Lào của địch bị gián đoạn, khó khăn.

        Lúc này, hướng Nam Lào, quân ngụy Sài Gòn đang bị Sư đoàn 320 vây đánh quyết hệt ở căn cứ 31.

        Căn cứ này gồm bốn mỏm liên tiếp: Mỏm một và mỏm hai là khu trung tâm có bộ chỉ huy lữ đoàn đóng; mỏm ba và bốn phía tây bắc do tiểu đoàn 3 quân dù chốt giữ. Trận địa pháo, sân bay trực thăng dã chiến nằm xen kẽ ở giữa các mỏm đồi.

        Toàn bộ căn cứ 31 nằm trên một ngọn đồi toàn cỏ gianh, thi thoảng mới có một vài bụi le bị bom cháy đốt trụi. Dưới sườn đồi là những rừng cây rậm rạp.

        Sư đoàn 320 sử dụng Trung đoàn 64 tiến công căn cứ 31 bằng chiến thuật vây lấn.

        6 giờ ngày 20 tháng 2 năm 1971, theo kế hoạch hiệp đồng tất cả các trận địa hỏa lực của ta được lệnh nổ súng, tạo thời cơ cho bộ binh tập trung vào nhiệm vụ xây dựng chiến hào vây lấn. Địch cho nhiều tốp máy bay AD.6 ném bom bắn phá trận địa vây lấn của ta. Suốt ngày 21 và cả ngày 22, căn cứ 31 vẫn bị pháo binh và bộ binh ta bắn phá.

        Ngày 23 tháng 2, Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ thị cho Trung đoàn 64 hoãn tiến công căn cứ 31, vì qua ba ngày vây lấn trung đoàn vẫn chưa tạo được thế để chuyển sang giai đoạn tiến công dứt điểm trong khi đó lại hao tổn sinh lực và phương tiện đáng kể.

        Việc giải quyết căn cứ 31 là một vấn đề lớn, nó liên quan đến toàn bộ tình thế của chiến dịch. Có diệt được căn cứ 31 thì ta mới mở nhanh cánh cửa để đưa lực lượng tiến đánh Bản Đông.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo Sư đoàn 320 và trực tiếp cho Trung đoàn 64, thay đổi hướng tiến công chủ yếu về phía đông nam căn cứ 31 để tạo thế bất ngờ và có thể tiến công dứt điểm bằng chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Hướng tây bắc chuyển thành hướng thứ yếu. Ngày 25 tháng 2 năm 1971, được chọn là ngày tiến công căn cứ 31.

        Đúng 12 giờ 30, từ nhiều phía, pháo binh ta bắn phá các cứ điểm của địch. Căn cứ 31 chìm ngập trong khói đạn. Cuộc tiến công quyết định bắt đầu.

        Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, đến 16 giờ 30 phút Trung đoàn 64 làm chủ căn cứ 31. Quân ta thu được nhiều súng đạn có cả pháo 105 và pháo 155 ly, bắt hàng trăm tù binh, trong đó có viên đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ trưởng lữ dù 3 quân ngụy Sài Gòn.

        Sau khi ta đánh chiếm căn cứ 31, cục diện chiến trường Nam Lào đã thay đổi có lợi cho ta. Quân địch chưa thực hiện được mục tiêu đánh chiếm Sê Pôn mà những biểu hiện sa lầy, đổ vỡ cuộc hành quân đã rõ rệt. ở hướng tây, quân ngụy Lào suy yếu nghiêm trọng, không thực hiện được ý đồ chiến dịch lại còn để mất thêm những địa bàn trọng yếu. Cánh bắc, cơ bản bị đập tan. Cánh nam, bị Sư đoàn 324 (Quân khu 4) và Sư đoàn 2 (Quân khu 5) và lực lượng các binh trạm đánh thiệt hại nặng. Trung đoàn 3, sư đoàn 1 ngụy đã phải tháo chạy khỏi những vị trí then chốt ở cánh nam. Cánh trung tâm cũng bị thiệt hại vì pháo binh và các chốt ta chặn đánh.

        Do đó, chúng vẫn bị chôn chân ở Bản Đông không tới Sê Pôn được.

        Tuy vậy, chúng vẫn vơ vét các lực lượng đã bị chiến lược ném vào cuộc chiến hòng làm xoay chuyển tình thế Bộ chỉ. huy liên quân Mỹ - nguy đã tung toàn bộ sư đoàn lính thủy đánh bộ, trung đoàn 2 (sư đoàn l) cùng thiết đoàn 7 vào canh bạc cuối cùng này.

        Ngày 1 tháng 3 năm 1971, chúng buộc phải điều chỉnh mục tiêu đánh chiếm Sê Pôn. Đến thời điểm đó chúng coi Sê Pôn như một "mục tiêu để tuyên truyền" chứ không phải một mục tiêu quân sự nữa.

        Sáng 7 tháng 3, Bộ chỉ huy liên quân Mỹ - ngụy dốc sức ném trung đoàn 2 bộ binh xuống phía tây nhà thờ Sê Pôn. Nhưng cả quan lẫn lính của trung đoàn này đã bị pháo binh và bộ binh ta tiến công quyết liệt, phải ôm đầu máu chạy về Bản Đông.

        Như vậy, mục tiêu đánh chiếm khu vực sông Sê Pôn của địch, cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh - con đường vận tải chiến lược không thực hiện được.

        Nhiều đơn vị lính ngụy đã tự động rút vào rừng phía nam Đường số 9 để tháo chạy. Xe pháo bị hư hỏng ở Nam Lào được máy trực thăng cỡ lớn của Mỹ cẩu về Đông Hà, Ái Tử.

        Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tập trung lực lượng bao vây cụm cứ điểm Bản Đông.

        Ngày 17 tháng 3 năm 1971, pháo binh ta được lệnh bắn phá tiêu diệt sinh lực địch và các lực lượng tham chiến thực hiện bao vây Bản Đông. Ngày 18 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch thông báo địch chuẩn bị rút chạy khỏi Bản Đông và lệnh cho tất cả các đơn vị trên tuyến vây ép tiến công những mục tiêu trọng yếu nhất.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #56 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2017, 08:46:04 pm »


        Sáng ngày 18 tháng 3 năm 1971, các lực lượng bao vây của ta trên toàn tuyến tiếp tục đột phá vào những mục tiêu cuối cùng.  Ba trung đoàn bộ binh của ta: Trung đoàn 64, Trung đoàn 36 và Trung đoàn 66 được các đơn vị xe tăng, pháo mặt đất, pháo cao xạ phối hợp bao vây tiến công tập đoàn phòng ngự địch ở Bản Đông do lữ đoàn 1, lữ đoàn 2 dù và hai trung đoàn thiết giáp ngụy chiếm giữ. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, đêm 18 tháng 3 năm 1971, quân địch tháo chạy khỏi Bản Đông, bỏ lại xe, pháo, luồn theo đường rừng chạy về hướng đông. Bộ đội ta chặn đánh ở các đường rút của địch và chuyển sang truy kích, diệt một số địch, phá hủy và thu nhiều binh khí kỹ thuật ở Bản Đông. Tuy nhiên do nắm tình hình không đầy đủ, tổ chức bao vây không chặt, đánh địch rút chạy chưa tốt, nên bộ phận lớn quân địch ở Bản Đông đã luồn rừng chạy thoát.

        Mỹ - ngụy bắt đầu triển khai kế hoạch rút quân khỏi Đường số 9 - Nam Lào bằng đường bộ và đường không.

        Nắm được ý đồ của địch, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh các đơn vị ở cánh Đông chiến dịch tiếp tục áp sát Đường số 9 để chặn đánh quân địch tháo chạy.

        Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm lệnh cho tôi: "Tiểu đoàn 3 sử dụng một số lực lượng chốt giữ và đánh địch ở Khe Sóc, còn lại vào Đường số 9 để phục kích các đoàn xe địch rút chạy".

        Lúc này Tiểu đoàn 3 của tôi đứng chân ở Động Na. Nhận được lệnh, tôi hội ý ban chỉ huy tiểu đoàn. Từ hôm vào chiến dịch đến nay ban chỉ huy tiểu đoàn mới có mặt đầy đủ: Tôi (Nguyễn Huy Hiệu) - Tiểu đoàn trưởng, anh Trần Xuân Gừng - Chính trị viên, anh Bùi Như Lạc - Tiểu đoàn phó, anh Nguyễn Văn Thông - Chính trị viên phó tiểu đoàn. Tôi nói: - Lúc này hướng Nam Lào, quân ngụy Sài Gòn đang thất bại thảm hại, ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ ban chỉ huy lữ đoàn dù 3, trong đó có đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng. Quân ngụy ở Nam Lào đang tháo chạy bằng đường bộ và đường không. Thời cơ diệt địch đã đến, chúng ta đều biết tiểu đoàn chiến đấu đã gần hai tháng liên tục nên gặp nhiều khó khăn, nhất là về quân số và sức khỏe. Nhưng chúng ta không vì thế mà để lỡ thời cơ diệt địch. Tôi đề nghị, các đồng chí động viên bộ đội vượt mọi khó khăn, cùng gắng lên để chiến đấu, buộc kẻ thù không thể gượng dậy được và góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.

        Về phương án và kế hoạch tác chiến, tôi dự kiến như sau: Khẩn trương tổ chức cho Đại đội 1 rời khỏi khu vực Ba Lào, vào Đường số 9 càng nhanh càng tốt Khu vực vượt Đường 9 là Làng Độn. Sau đây, anh Gừng xuống ngay Đại đội 1 động viên anh em, tổ chức cho bộ đội hành quân. Các đại đội còn lại, tiếp tục làm nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ bàn đạp và anh Thông xuống Đại đội 2 và Đại đội 3 động viên bộ đội sẵn sàng xuất kích khi có lệnh. Sau đây tôi sẽ cùng các đại đội trưởng và trinh sát đi nghiên cứu địa hình chuẩn bị cho trận đánh. Các anh có ý kiến gì khác không? Thấy mọi người im lặng, tôi nói tiếp: - Sau đây, mọi người bắt tay vào công việc. Các anh nên nhớ ta và địch đang chạy đua với nhau trong khoảng thời gian cuối cùng này.

        Bộ phận đi trinh sát địa hình do tôi chỉ huy phải luồn lách, vượt qua các tuyến ngăn chặn từ xa của địch, vừa đi, vừa đánh dấu để bộ đội bám theo. Hai lần gặp thám báo Mỹ, chúng tôi chủ động tránh chúng. Sau một ngày hành quân đến chiều ngày 15 tháng 3 năm 1971, chúng tôi đã cách Sa Mưu không đầy một cây số.

        Khu vực chúng tôi dự kiến giấu quân không còn một cây xanh, hai bên đường rộng gần cây số, chỉ một màu xám của tro với những gốc cây và thân cây cháy dở.

        Sau một ngày quan sát chúng tôi phát hiện một đoàn xe khoảng 50 chiếc có xe tăng dẫn đường, trên không máy bay trực thăng vũ trang hộ tống, pháo địch bắn dọc hai bên đường, nhưng chủ yếu bắn về phía bắc Đường số 9. Càng về trưa bọn địch càng chủ quan.

        Tôi nảy ra ý định, phải đưa lực lượng Đại đội 1 vượt qua Đường số 9 về phía nam, tổ chức trận địa phục kích từ căn cứ Sa Mưu đến cầu Đầu Mầu.

        Tối hôm đó, tôi tổ chức cho bộ phận trinh sát vượt sang phía nam Đường 9. Tôi nói với đồng chí đi sau cùng dùng cành lá khỏa lấp lớp tro có dấu vết vừa đi và rải vải dù trên mặt đường khi ta đi qua, không để địch phát hiện. Chúng tôi đã đến bình độ của điểm cao 468 là điểm giấu quân của Đại đội 1. Đoạn này địch sơ hở, xe địch lên xuống thường dừng lại ở đây.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #57 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2017, 08:56:18 pm »


        Đại đội 1 hành quân do Tiểu đoàn phó Bùi Như Lạc, quê Cổ Tế, Thạch Long, Thạch Thành, Thanh Hóa và Chính trị viên đại đội Đặng Quang Hồng, quê Minh Thành, Gia Khánh, Ninh Bình chỉ huy bám theo trục đường mà bộ phận trinh sát đi trước đã đánh dấu. Cả đơn vị vừa đến Làng Độn thì gặp một đại đội thám báo Mỹ. Chính trị viên Hồng cho bộ đội nhanh chóng triển khai chiến đấu, anh dẫn một mũi thọc vào đội hình địch, nổ súng áp đảo chúng ngay từ đầu. Anh Đặng Quang Hồng và chiến sĩ Phù Văn Việt, quê Bản Kón, Yên Trạch, Cao Lộc, Lạng Sơn đã anh dũng hy sinh trong lúc trận đánh đang diễn ra ác liệt.

        Được tin Chính trị viên Đặng Quang Hồng và chiến sĩ Phù Văn Việt hy sinh. Tôi đứng lặng hồi lâu rồi nói với anh em: - Mỗi anh em chúng ta phải đánh thêm cho đồng chí Hồng và đồng chí Việt mấy chiếc xe nữa đấy! Mọi người đứng lặng, nét mặt đau buồn. Tôi nói: - Mỗi người biến thương đau bằng hành động cụ thể, việc quan trọng nhất lúc này là phải chuẩn bị thật chu đáo những vị trí chiến đấu. Sau đây tôi cùng anh Tình Đại đội trưởng Đại đội 1 trở lại bộ phận khóa đuôi.

        Mai Xuân Tình, quê An Thạch, Diễn Yên, Diễn Châu, Nghệ An là một học viên Trường Sĩ quan Lục quân đi thực tế ở chiến trường. Tình được giao nhiệm vụ làm đại đội trưởng và đã chỉ huy chiến đấu một vài trận. Qua thực tế chiến đấu anh đã tỏ ra là một cán bộ có năng lực, trình độ tổ chức chỉ huy rất bài bản, nhưng không máy móc sách vở.

        Tình làm công tác tư tưởng rất tốt, anh phát động đơn vị trả thù cho Chính trị viên Hồng. Anh đề nghị từng tổ, từng người đăng ký lập công.

        Tối hôm đó, chúng tôi trực tiếp chỉ huy Đại đội 1 hành quân vượt Đường số 9. Chúng tôi tổ chức hai tổ cảnh giới hai bên đường, rồi cho trinh sát quay ra đón đơn vị. Lúc bộ đội vượt đường, trời đổ mưa rào.

        Tôi thầm cảm ơn ông trời. Tuy bộ đội hành quân có vất vả nhưng bọn địch lại không chú ý. 12 giờ đêm toàn bộ đội hình đã vượt qua Đường số 9 an toàn.

        Theo phương án, các mũi, các tổ khẩn trương chiếm lĩnh trận địa. Tôi và Đại đội trưởng Tình đi đến từng tổ kiểm tra, động viên anh em.

        Tôi đến bộ phận khóa đuôi thấy anh em đã ngụy trang xong và trong tư thế sẵn sàng.

        Cả đội hình Đại đội 1 bố trí cách mặt đường từ 20 đến 30 mét, anh em lấy tro bôi lên mặt và quần áo, lẫn vào các gốc cây cháy dở. Nếu không tinh thì khó mà phát hiện được.

        7 giờ sáng ngày 19 tháng 3 năm 1971, địch cho 13 chiếc xe bọc thép M113 có máy bay trực thăng hộ tống từ Cam Lộ rầm rầm tiến về hướng Khe Sanh.

        Súng trên xe tăng bắn vọt qua đầu bộ đội ta, nhằm bìa rừng xanh mà trút đạn. Đèn xe nhấp nháy liên hồi; máy bay trực thăng vũ trang sà thấp cũng bắn vào bìa rừng. Tôi nói anh em để đoàn xe thứ nhất đi qua.

        Một giờ sau, thấy đoàn xe thứ nhất đi qua an toàn, đoàn xe thứ hai bắt đầu hành quân. Đoàn xe này tỏ ra chủ quan hơn. Cùng lúc, một đoàn xe chở tàn binh từ Nam Lào chạy về, chúng gặp nhau đúng trận địa phục kích của tiểu đoàn. Đợi cho hai đoàn xe lọt hẳn vào trận địa. Chúng tránh nhau ở phía đầu trận địa, chỉ cách khẩu B41 của On mươi mét. Thấy chắc ăn, tôi ra lệnh cho On bắn. Quả đạn B41 của On cắm phập vào chiếc M113 đi đầu lửa trùm kín xe. Chiếc xe chở lính từ hướng Nam Lào chạy về không làm chủ được tốc độ lao vào chiếc M113 đang bốc cháy. Bị đòn bất ngờ, quân địch hoảng loạn, chiếc nọ chồm lên chiếc kia. Cùng lúc, bộ phận khóa đuôi cũng nổ súng.

        Ngay từ những loạt đạn đầu hơn chục xe bốc cháy.

        Tôi hô xung phong. Các tổ chiến đấu bật lên, xông ra mặt đường chiến đấu. Chiến sĩ B40, B41 dùng súng diệt xe tăng, xe vận tải quân sự. Chiến sĩ xung kích dùng AK diệt bộ binh địch. Đại đội trưởng Tình xông xáo, anh giằng lấy khẩu B40 của một chiến sĩ bắn liên tiếp hai quả đạn giết hai chiếc xe M113.

        Cả một đoạn đường gần 3 ki-lô-mét lửa khói mịt mù, tiếng nổ râm ran, khét lẹt. Trong lúc mải tiến công, Đại đội trưởng Tình bị một tên ngụy bắn lén.

        Anh hy sinh khi trận đánh gần kết thúc.

        Tôi nói:

        - Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, xông lên diệt hết đoàn xe địch trả thù cho Đại đội trưởng Tình.

        Mọi người như được tiếp thêm lửa xông lên. Từ các mũi những quả B40, B41 đan chéo mặt đường, diệt hết xe này đến xe khác, hết tốp địch này đến tốp địch khác.

        Mấy chiếc chạy phía sau thấy quân ta đánh quyết liệt vội vã quay đầu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #58 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2017, 08:29:41 am »


        Một giờ sau, địch điều cụm xe tăng chốt ở điểm cao 610 xuống chi viện. Sáu chiếc trực thăng vũ trang thay nhau quần lượn, bắn đạn 20 ly xuống phía bắc Đường 9. Tôi lệnh cho đơn vị khẩn trương rời trận địa đi về phía nam Đường số 9. Tổ rút sau cùng có On, xạ thủ B41 và Tý, xạ thủ trung liên.

        Vừa vượt qua hố bom bên đường thì một chiếc trực thăng sà xuống thấp, nó phát hiện được hai người, dùng súng 20 ly bắn. On nằm ngửa, cầm chân súng trung liên làm điểm tỳ cho Tý bắn. Tý bình tĩnh bóp cò chiếc trực thăng rơi tại chỗ.

        30 phút sau cả đơn vị đã tới chân điểm cao 710.

        Pháo địch bắn tập trung phía bắc Đường số 9 để ngăn chặn đường rút quân của ta. Gần 3 ki-lô-mét Đường số 9, đoạn Sa Mưu cầu Đầu Mầu bị tắc nghẽn vì 28 xác xe bị thiêu cháy, có 5 xe bọc thép và 120 xác cả Mỹ lẫn ngụy. Ba ngày sau chúng mới khai thông được đoạn đường này.

        Về phía Tiểu đoàn 3, ngoài Đại đội trưởng Mai Xuân Tình hy sinh còn có Tiểu đội trưởng Lê Văn Thụ, quê Anh Dũng, Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu, Nghệ An và chiến sĩ Nguyễn Quang Ngọc, quê Yên Sơn, Thái Sơn, Đô Lương, Nghệ An.

        Các anh được an táng tại Sa Mưu, huyện Cam Lộ.

        Tôi cho đơn vị dừng lại dưới chân điểm cao 710, trên đỉnh là một căn cứ Mỹ, chúng đã đóng quân ở đây từ lâu Tôi suy nghĩ: Nếu đơn vị hành quân vượt Đường 9 về phía bắc lúc này thì sẽ gặp địch vì chúng phong tỏa mọi đường rút của quân ta. Nhưng ở lại thì lương thực đã hết, mỗi người chỉ còn một vài bánh lương khô. Các phân đội đã phải nấu cháo lương khô chia đều cho anh em, nhưng mọi người lại nhường phần của mình cho những chiến sĩ bị thương. Phải làm gì bây giờ? Đầu tôi đang rối bời, chưa tìm cách nào để có lương thực cho đơn vị ăn tạm, thì Mạnh, chiến sĩ trinh sát đến gặp tôi, giọng thủ thỉ: - Thủ trưởng ơi! Tối nay cho chúng em đột nhập vào căn cứ Mỹ trên đỉnh núi này để lấy lương ăn.

        Tôi bất ngờ trước đề xuất của Mạnh. Tôi bảo: - Tốt lắm! Cậu cứ về để tôi trao đổi với anh em cán bộ.
   
        Tôi triệu tập cán bộ hội ý, tôi nói: - Trong lúc khó khăn quần chúng là người sáng tạo Anh em trinh sát đề xuất đột nhập căn cứ địch để lấy lương ăn. Đây là việc làm táo bạo, nhưng hiệu quả, phải tổ chức chặt chẽ để đêm nay thực hiện. Mặt khác cần tổ chức một tổ trinh sát tìm đường để đưa đơn vị vượt Đường số 9 về hậu cứ.

        Một tổ kiểm tra trận địa, rải truyền đơn kêu gọi binh lính địch. Và, một việc rất quan trọng lúc này là phải nghi binh địch. Qua máy bộ đàm, ta phát đi một bức điện: "Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho đơn vị khẩn trương cho bộ đội về tập kết ở chân điểm cao 300 đất... ". Một vài tiếng lại phát bức điện để đánh lừa địch.

        Đêm hôm đó, tổ trinh sát do Mạnh chỉ huy đột nhập vào khu kho dã chiến của lính Mỹ lấy được ba gùi thịt hộp và những túi khẩu phần ăn của lính Mỹ. Trong lúc khó khăn, số lương thực thực phẩm này quả là có ý nghĩa. Anh em kiếm thêm rau dớn, rau môn thục để nấu cùng thịt hộp chia cho mọi người ăn lấy sức.

        Ngày thứ 5, cả đội hình vẫn ở lại chân điểm cao 710. Tổ trinh sát đi tìm đường đã mấy đêm liền đều gặp địch. Liên lạc qua máy 2 oát, sở chỉ huy trung đoàn biết được đơn vị tôi đang gặp khó khăn, đã mấy đêm liền tổ chức cho trinh sát, vận tải chuyển lương thực vào nhưng chưa được.

        Bước sang ngày thứ 6, một phân đội trinh sát của trung đoàn mới tìm đến đơn vị, mang theo một ít lương khô tiếp tế cho chúng tôi.

        Tối hôm sau, đơn vị rời chân điểm cao 710. Dưới ánh sáng lờ mờ của đèn dù pháo sáng, đoàn quân lặng lẽ bám theo nhau, vượt qua những tọa độ pháo, đi qua tuyến ngăn chặn của địch về hậu cứ dưới chân động La Rường.

        Trong những ngày này, các đơn vị ở cánh Đông của chiến dịch Đường 9 - Nam Lào như Đoàn 75, Trung đoàn 84, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 bộ đội tỉnh Quảng Trị đã cùng sát cánh với Trung đoàn 27 liên.tục bám sát Đường 9 phục kích các đoàn xe địch tháo chạy từ Nam Lào về.  Sau khi tổ chức đánh địch rút chạy đã có ý kiến đề xuất nên tiếp tục phát triển thắng lợi về hướng Đông. Cân nhắc tình hình mọi mặt, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ động kết thúc chiến dịch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23680


« Trả lời #59 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2017, 08:31:19 am »


        Từ ngày bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, đây là lần đầu tiên quân đội ta tiến hành thắng lợi một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Chiến thắng lịch sử này có ý nghĩa chiến lược to lớn. ảnh hưởng của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào vượt xa phạm vi của bản thân nó cả về không gian và thời gian. Nó tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến không chỉ của nhân dân Việt Nam mà cả nhân dân ba nước Đông Dương. Lực lượng chủ lực và dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn, xương sống của "Việt Nam hóa chiến tranh" đã bị một đòn rất đau, bị tiêu diệt một bộ phận quan trọng ở Đường 9 - Nam Lào, làm chấn động toàn bộ quân nguy trên các chiến trường. Ta đã đánh bại các biện pháp tác chiến và chiến thuật đánh ra vòng ngoài làm chỗ dựa cho chiến lược của địch, làm phá sản công thức: Lục quân ngụy cộng không quân và hậu cần Mỹ của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ.

        Năm tháng sẽ trôi đi, nhưng thắng lợi trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào của quân dân ta mãi mãi tô thắm thêm trang sử hào hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

        Trong lúc này, do những thất bại thảm hại ở hướng Nam Lào, bọn tàn quân ngụy sống sót theo trục Đường số 9 chạy về Đông Hà liên tiếp bị Trung đoàn 27 và các đơn vị ở cánh Đông đánh tả tơi. Mặc dù đã cho quân nống ra phía bắc Đường 9 để ngăn chặn lực lượng ta nhưng số xe bị bắn cháy trên các đoạn Đường số 9 ngày một nhiều hơn. Mỹ tiếp tục đổ quân để yểm trợ cho cuộc tháo chạy của quân ngụy.

        Cuối tháng 4 năm 1971, Tiểu đoàn 1 được chỉ huy Trung đoàn 27 giao nhiệm vụ đưa đơn vị vào đánh địch ở úc Nghi, Rào Quán. Tiểu đoàn 1 từ đầu chiến dịch đến lúc đó làm nhiệm vụ vận chuyển cho Mặt trận ở tuyến đông Sa Rường. Tuy sức khỏe của bộ đội có giảm, một số bị thương vong. (Tôi được biết, ngày 4 tháng 4 năm 1971, ba cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 4 bị vướng mìn hy sinh là: Tiểu đội trưởng Nguyễn Đình Bạ, quê An Thạch, Thạch Thành, Thanh Hóa; chiến sĩ Hồ Hữu Lý, quê xóm 4, Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An; chiến sĩ Võ Nhật Lệ, quê Kỳ Long, Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Song khi được lệnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ đều hăng hái hành quân.

        Anh Nguyễn Văn Ty, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 nắm Đại đội 3 luồn vào đánh địch trên Đường 9. Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Truy vừa được điều về thay thế anh Nguyễn Văn Chúc cùng Đại đội 1 bố trí lực lượng chốt giữ khu vực điểm cao 525. Dãy đồi có điểm cao 525 chạy dọc theo Đường 9. Trên đoạn Úc Nghi đến Rào Quán, địch đã phát hiện được lực lượng ta ở khu vực này. Chúng liền đổ một tiểu đoàn lính Mỹ ra chốt chặn.

        Đại đội 1 do Đại đội trưởng Nguyễn Viết Giáp và Chính trị viên Nguyễn Đình Thi chỉ huy, tổ chức lực lượng lên chiếm ngay điểm cao 525 để tạo thế thuận lợi cho các đơn vị trong tiểu đoàn có bàn đạp triển khai đánh chặn quân ngụy từ Nam Lào chạy về trên Đường 9.

        Mờ sáng ngày 23 tháng 4 năm 1971, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 bí mật vận chuyển vật liệu, xây dựng trận địa chiến đấu. Tổ chốt ở đồi Yên Ngựa phía đông nam điểm cao 525 cách Đường 9 khoảng 2 ki-lô-mét đường chim bay. Các chiến sĩ ta phải ẩn mình trong những bụi cỏ, quan sát các hoạt động của địch ở phía trước, báo cáo kịp thời cho trận địa chính ở phía đỉnh đồi.

        Trời vừa sáng rõ, những đoàn xe địch đã kéo nhau chạy từ phía Nam Lào về. Trên trời, từng đàn trực thăng cẩu xe, cẩu pháo nối nhau bay về hướng đông.

        Hàng nghìn xe tăng, máy bay, pháo cối của Mỹ - ngụy bị hư hỏng đưa về bỏ la liệt ở Đông Hà, thị xã Quảng Trị, thành phố Huế. Trong số lính chết, bị thương có một số tên quê ở Quảng Trị, nên đã làm cho hàng nghìn gia đình có chồng, con, em đi lính cho Mỹ - ngụy vô cùng lo sợ. Bà con rủ nhau kéo đến căn cứ địch, quận ly, tỉnh ly ngụy quyền Sài Gòn đấu tranh đòi xác người thân.

        Thực hiện chủ trương của Ban dân vận tỉnh, cơ sở chính trị, binh vận của ta ở vùng địch tạm chiếm, chủ yếu là các mẹ, các chị đã hòa theo dòng người đi tìm xác chồng, con tuyên truyền chính sách của Mặt trận và chủ trương của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đối với binh sĩ. Các gia đình binh sĩ vào căn cứ đồn bất vận động lính không tham gia càn quét, chống phá cuộc sống của nhân dân.

        Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào tuy đã kết thúc, nhưng cuộc tháo chạy của địch vẫn còn diễn ra. Sư đoàn 5 Mỹ được đổ ra phía bắc Đường 9 để yểm trợ cho cuộc tháo chạy cuối cùng của quân nguy.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM