Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Mười, 2020, 02:52:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan  (Đọc 23742 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #20 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 08:29:18 pm »

       
       2. Đánh thắng các trận then chốt

        Tất cả các chiến dịch đều diễn ra rất nhiều các trận lớn nhỏ, nhưng muốn giành được thắng lợi triệt để phải tạo ra và đánh thắng các trận then chốt. Nghệ thuật điều hành cả chiến dịch tiến công, phản công, phòng ngự đều yêu cầu và đánh thắng các trận then chốt.

        Muốn tạo ra và đánh thắng các trận then chốt cần:

        - Dự kiến các trận then chốt trong lập kế hoạch chiến dịch:

        Trong các chiến dịch tiến công, các trận then chốt có thể là trận mở màn chiến dịch, nếu trận đánh đó tạo được tình huống thuận lợi để phát triển chiến dịch. Các trận mở đầu quan trọng như trận diệt cụm cứ điểm Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới (1950), trận diệt các cụm cứ điểm phía tây của trung đoàn 56 và lữ đoàn lính thủy đánh bộ của địch trong chiến dịch Quảng Trị (1972), trận đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuộc trong chiến dịch Tây Nguyên (1975) đều là những trận then chốt đã được xác định trong lập kế hoạch chiến dịch.

        Trong quá trình phát triển chiến dịch, các trận then chốt thường được dự kiến là các trận diệt viện binh lớn, diệt quân địch co cụm lớn. Các trận đánh địch lên chiếm lại Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới (1950), đánh địch từ Plây Cu xuống chiếm lại Buôn Ma Thuộc trong chiến dịch Tây Nguyên đều là các trận then chốt được dự kiến trong kế hoạch chiến dịch. Trận đánh quân địch co cụm lớn ở Đông Hà - Ái Tử trong chiến dịch Trị - Thiên (1972) cũng là một trận then chốt được dự kiến trước.

        Trong chiến dịch phản công, trận then chốt được dự kiến trước là trận đánh cánh quân hành quân trong hướng chủ yếu. Trận đánh cánh quân địch hành quân ở bắc đường 9 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là một trận đánh then chốt có trong kế hoạch phản công Đường 9 - Nam Lào.

        Trong chiến dịch phòng ngự, trận then chốt thường được dự kiến là trận phản đột kích, diệt quân địch chiếm khu vực phòng ngự quan trọng của ta.

        - Tiến hành các trận đánh rộng rãi, xử trí các tình huống, chuyển hóa các đợt chiến dịch để tạo ra trận then chốt.

        Mỗi trận trong chiến dịch, mỗi chủ trương xử lý các tình huống, chủ trương chuyển hóa các đợt, đều nhằm tạo ra trận then chốt.

        Các trận đánh diệt các cứ điểm ngoại vi và bao vây đánh lấn căn cứ trung đoàn Mỹ ở Tà Cơn nhằm tạo ra trận then chốt đánh bại sư đoàn kỵ binh hành quân giải tỏa cho quân của chúng bị bao vây ở Tà Cơn, trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh.

        Các trận đánh ngoại vi thị xã An Lộc (Bình Long, năm 1972) trong chiến dịch Nguyễn Huệ nhằm tạo ra trận then chốt đánh chiếm thị xã. Đáng tiếc trận này ta đã tiến công không thành công.

        Các trận đánh bao vây địch ở vòng trong, chặn địch vòng ngoài vào chi viện cho quân của chúng, nhằm tạo ra trận then chốt diệt lữ đoàn đặc nhiệm của địch tại Cửa Việt trong chiến dịch phòng ngự Quảng Trị.

        Xác định cách đánh đúng, tập trung đủ lực lượng, chỉ đạo chặt chẽ để đánh thắng các trận then chốt.

        Trên cơ sở tạo trận then chốt, chiến dịch phải xác định cách đánh, tập trung đủ lực lượng chỉ đạo chặt chẽ để đánh thắng.

        Chiến dịch Biên Giới (1950), lúc đầu ta định dùng phục kích để diệt viện binh. Lúc địch lên, Sư đoàn 308 không thực hiện được phục kích, cấp chiến dịch đã chỉ thị chuyển ngay sang vận động tiến công, đồng thời tăng thêm lực lượng cho sư đoàn, nên đã thực hiện được thắng lợi trận then chốt, đồng thời là trận then chốt quyết định của chiến dịch, diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ.

        Chiến dịch cũng đã xác định cách đánh đúng, đồng thời tập trung hầu hết lực lượng để tiêu diệt quân địch cọ cụm ở Đông Hà - Ái Tử, đánh bại phương thức phòng ngự mới của chúng dùng đại bộ phận lực lượng, lấy xe tăng xe bọc thép làm nòng cốt, cơ động ngoài căn cứ để đánh hỏa lực pháo binh mạnh của ta, tạo nên trận then chốt quyết định của chiến dịch, tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị (1972).

        Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị năm 1972 giành được thắng lợi trong trận then chốt, tiêu diệt lữ đoàn đặc nhiệm của địch, ta chiếm Cửa Việt cũng nhờ xác định cách đánh đúng và tập trung lực lượng ưu thế.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #21 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 08:31:25 pm »


        3. Kết thúc chiến dịch đúng thời cơ.

        Hầu hết các chiến dịch phản công và phòng ngự trong hai cuộc kháng chiến ta đều kết thúc chiến dịch, sau khi đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của địch.

        Trong các chiến dịch tiến công, tình hình phức tạp hơn, phải cân nhắc kỹ tình huống cụ thể mới kết thúc chiến dịch được đúng thời cơ.

        Nhiều chiến dịch, sau lúc hoàn thành nhiệm vụ là thời cơ kết thúc chiến dịch. Cũng có nhiều trường hợp cần kết thúc sớm.

        Chiến dịch Đường số 18 (1951), sau khi thấy rõ địch chỉ dùng hỏa lực đánh trả, không đưa lực lượng đến tăng viện giải tỏa, mặc dầu đã diệt nhiều cứ điểm ở ngoại vi, ta đã chủ động kết thúc chiến dịch. Việc kết thúc chiến dịch sớm trong trường hợp trên là hợp lý.

        Chiến dịch Tây Bắc (1952), sau khi ta đã giành thắng lợi lớn, giải phóng phần lớn vùng Tây Bắc, địch vừa tăng thêm lực lượng từ phía sau lên, vừa rút các lực lượng còn lại ở Tây Bắc về, hình thành một tập đoàn cứ điểm, nhưng cả ba trận Pú Hồng, Nà Si, Bản Vạy đều không thành công. Hợp lý hơn trong trường hợp trên là kết thúc chiến dịch sau đợt hai, không tổ chức đợt ba tiến công tập đoàn cứ điểm.

        Rút kinh nghiệm chiến dịch Tây Bắc, trong chiến dịch Thượng Lào (1953), sau khi ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Sầm Nưa, tỉnh Xiêng Khoảng, địch cũng tổ chức một tập đoàn cứ điểm ở Cánh Đồng Chum, ta kết thúc chiến dịch, chỉ để lại một lực lượng nhỏ củng cố vùng mới giải phóng.

        Có một số chiến dịch, sau khi hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch đặt ra, nắm vững thời cơ có lợi, ta đã tiếp tục tiến công để giành thắng lợi lớn hơn. 

        Điển hình nhất trong các chiến dịch tiếp tục tiến công sau khi hoàn thành nhiệm vụ là chiến dịch Tây Nguyên (1975). Sau khi giải phóng Tây Nguyên, mặc dù đã có lệnh của Bộ Tổng tư lệnh kết thúc chiến dịch để chuyển lực lượng vào Nam Bộ, nhưng thấy thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh chiến dịch đã đề nghị tiếp tục chiến dịch Huế và chiến dịch Đà Nẵng.

        Từ tình hình thực tế trên, ta thấy việc kết thúc chiến dịch là một nghệ thuật tác chiến.

        Bình thường, ta thường kết thúc chiến dịch sau khi hoàn thành nhiệm vụ được giao và hoàn thành kế hoạch đã đề ra. Nhưng cũng có chiến dịch cần kết thúc sớm, khi thấy rõ ràng nếu tiếp tục tiến công sẽ không có lợi; cũng có chiến dịch cần tiếp tục tiến công để giành thêm thắng lợi lớn hơn.

        Ta đã kết thúc chiến dịch đúng thời cơ trong phần lớn các chiến dịch, nhưng cũng có chiến dịch ta kết thúc quá muộn hoặc quá sớm.

        KẾT LUẬN

        Trong công tác xây dựng lực lượng vũ trang và có lẽ trong nhiều lĩnh vực khác, muốn thành công trước hết phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ vừa có đức vừa có tài sẵn sàng vượt qua gian khổ, không ngại hy sinh, nắm vững đường lối quân sự của Đảng, nắm vững nghệ thuật quân sự.

        Những gì người chỉ huy của lực lượng vũ trang ta đã làm trên chiến trường để đánh thắng các đội quân xâm lược lớn mạnh, là những vấn đề chúng ta cần tìm hiểu, không phải là một lần mà nhiều lần, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một vấn đề thấy rõ là những kiến thức quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã kế thừa và nâng lên một trình độ cao hơn các kiến thức quân sự tổ tiên ta qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Tập trung nghiên cứu những vấn đề trên, trước hết tôi muốn thắp một nén hương để tưởng niệm những người đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, đồng thời cũng là trách nhiệm của tôi đối với đội ngũ cán bộ kế tiếp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #22 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 08:37:40 pm »


CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - KHE SANH,
MỘT BÀI HỌC KINH NGHIỆM

        Về chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã có bản tổng kết năm 1986. Năm 1975, quyển “Lịch sử nghệ thuật chiến dịch” một lần nữa lại đề cập đến chiến dịch này. Để nói thêm một số kinh nghiệm, tôi chỉ đề cập đến một số chủ trương và diễn biến chính.

        Mùa xuân năm 1968, ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, lấy đòn tiến công vào các thành phố, thị xã làm đòn tiến công chính. Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh là một trong các đòn tiến công nhằm thu hút quân cơ động Mỹ, tiêu diệt một bộ phận, vây hãm và giam chân, tiêu hao chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tiến công vào các thành phố, thị xã phát triển thuận lợi. Chiến dịch bắt đầu ngày 20 tháng 11 năm 1968, trước tết 10 ngày, nhằm làm cho địch lầm tưởng mùa khô này ta vẫn tiến công địch ở rừng núi là chính.

        Lực lượng chiến dịch, lúc đầu có 3 sư đoàn bộ binh, một số trung đoàn bộ binh của Mặt trận B51. Đến tháng 5 năm 1968 có thêm Sư đoàn 308 vào tham gia. Các binh chủng kỹ thuật có 5 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn pháo phòng không, 4 đại đội xe tăng. Toàn bộ lực lượng được chia ra tác chiến trên hai khu vực: Khu vực Khe Sanh có 2 sư đoàn, khu vực đông đường 9 có 1 sư đoàn và các trung đoàn của B5.

        Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị

        Trên khu vực Khe Sanh, khu vực tác chiến chủ yếu, ta chủ trương tiêu diệt một số cứ điểm ngoại vi để kéo địch lên giải toả, tập trung lực lượng đánh quân giải toả. Sau 20 ngày, từ lúc đánh trận đầu tiên, tiêu diệt chi khu Hướng Hoá vẫn không có viện binh địch. Ngày 10 tháng 2 ta bắt đầu tiến hành vừa vây hãm vừa đánh lấn căn cứ Mỹ ở Tà Cơn. Cuộc bao vây đánh lấn kéo dài 50 ngày, khi địch ở căn cứ Tà Cơn bị tổn thất lớn, có nguy cơ bị ta tiến công tiêu diệt (khi các mũi đánh lấn của ta chỉ cách địch 40-50m), địch mới điều lực lượng giải vây căn cứ Tà Cơn. Đầu tháng 5, bộ chỉ huy lính thuỷ đánh bộ phải vét các lực lượng dự bị lên giải toả. Lính thuỷ đánh bộ bị đánh thiệt hại nặng cũng vẫn không giải toả được cho bọn địch bị vây hãm ở Tà Cơn, cuối tháng 7 năm 1968 chúng buộc phải rút Khe Sanh.

        Khu vực phía đông do địa hình trống trải, địch có nhiều cứ điểm liên hoàn hỗ trợ cho nhau nên kết quả tác chiến của ta bị hạn chế. Ta tiến công cứ điểm Cam Lộ không thành công và suốt quá trình chiến dịch cũng chỉ tiêu diệt những đơn vị nhỏ của địch ngoài công sự.

        Từ chủ trương của ta và diễn biến của chiến dịch, ta có thể rút ra một số kinh nghiệm:

        - Bài học kinh nghiệm thứ nhất: Chọn chiến trường tác chiến.

        Trong kháng chiến chống Pháp cũng như trong đánh Mỹ, lúc quân địch có trang bị kỹ thuật hơn ta nhiều lần, bộ đội chủ lực muốn đánh lớn thường phải chọn vùng rừng núi làm chiến trường chính. Chiến trường rừng núi, trước hết hạn chế việc phát huy sức mạnh của các binh chủng kỹ thuật của địch. Vùng rừng núi cho phép ta có thuận lợi trong việc bí mật trú quân và cơ động, đồng thời cũng cho phép ta thuận lợi trong việc làm công sự để tránh phi pháo địch. “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” là như vậy.

        Rõ ràng trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, lực lượng ở Khe Sanh và ở khu đông đường 9, không chênh lệch nhau nhiều. Nhưng ở Khe Sanh ta liên tiếp giành được thắng lợi, trái lại khu đông kết quả các trận chiến đấu rất hạn chế. Nói như vậy không có nghĩa quân ta chỉ giỏi tác chiến ở rừng núi. Khi lực lượng ta lớn mạnh, tất nhiên phải tiến công cả đồng bằng, đô thị để giải phóng từng vùng rộng lớn đi đến giành thắng lợi cuối cùng, như ta đã tiến công địch năm 1972 và sau đó là năm 1975.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #23 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 08:38:17 pm »


        - Bài học kinh nghiệm thứ hai: Phán đoán tình hình địch một cách toàn diện.

        Nhiệm vụ của chiến dịch Khe Sanh là kéo địch lên rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tiến công vào các đô thị. Bộ tư lệnh chiến dịch căn cứ vào hành động của địch hai mùa khô trước, với chiến lược “tìm diệt”, hễ phát hiện chủ lực ta mở chiến dịch trước tết mười ngày là đủ thời gian để điều động lực lượng địch lên rừng núi ở Khe Sanh.

        Tại sao sau mười ngày địch vẫn không tiến hành hành quân giải toả. Các chiến dịch trước ở miền Nam như ở Plây Me, ở Đắc Tô... ta chỉ sử dụng quy mô sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường với hoả lực pháo binh mang vác. Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, ta xuất hiện từ đầu 3 sư đoàn bộ binh, 3-4 trung đoàn pháo lớn, địch phải tính đến việc phải huy động bao nhiêu lực lượng mới có khả năng đối phó với tiến công của ta. Như vậy mười ngày chỉ đủ thời gian cho chúng nắm tình hình, hạ quyết tâm, chuẩn bị điều động lực lượng. Sau mười ngày, kể từ khi bắt đầu chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, ta tiến công đồng loạt vào các đô thị. Tất nhiên chúng phải tạm thời bỏ ý định lên Khe Sanh, dành lực lượng để đối phó với công cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của ta ở các thành phố, thị xã.

        Từ thực tiễn trên ta thấy rõ khi phán đoán hành động của địch, không chỉ căn cứ vào kinh nghiệm đã qua, phải phân tích tình hình một cách toàn diện, nhất là phải phân tích sự phát triển của tình hình.

        - Bài học kinh nghiệm thứ ba: Vận dụng các hình thức chiến thuật trong đánh Mỹ.

        Tương quan lực lượng giữa ta và địch trong “chiến tranh cục bộ”, lúc địch đã đưa vào Việt Nam hơn 50 vạn quân, cũng như tương quan lực lượng địch, ta thời kỳ đầu đánh Pháp, chúng có binh chủng kỹ thuật mạnh hơn ta nhiều lần. Trước tình hình trên ta chủ trương đánh địch ngoài công sự là chính. Vì vậy ta thường vận dụng ba chiến thuật chính: phục kích, tập kích và vận động tiến công. Nhưng trong chiến dịch lớn như chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, ta phải tiến hành tiến công diệt địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Có tiêu diệt địch trong công sự vững chắc mới bắt buộc địch phải đưa quân đến giải toả, tạo điều kiện cho ta đánh địch ngoài công sự.

        - Bài học kinh nghiệm thứ tư: Đánh bại các biện pháp tác chiến của địch để giành thắng lợi quyết định.

        Trong nhiều cuộc chiến tranh phải tiêu diệt cơ bản lực lượng đối phương mới giành được thắng lợi. Kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp nói lên rằng: chỉ cần đánh bại các biện pháp tác chiến của đối phương, cũng buộc chúng phải chịu thua trong chiến tranh. Khi Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ là lúc Pháp có lực lượng đông nhất. Trong đánh Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Để “đánh cho Mỹ cút” ta cũng chủ trương đánh bại các biện pháp tác chiến của Mỹ. Chiến lược của Mỹ là lập phòng tuyến đông - tây từ Cửa Việt sang đất Lào để ngăn chặn lực lượng miền Bắc thâm nhập, cơ động lực lượng để tiêu diệt, chủ yếu là lực lượng chủ lực của ta ở miền Nam, tiến hành bình định vùng chúng chiếm đóng để tiêu diệt lực lượng tại chỗ cả về quân sự lẫn chính trị.

        Cuộc tiến công đồng loạt vào các đô thị nói lên, tuy chúng đã tiến hành nhiều biện pháp bình định khác nhau, nhưng không những không tiêu diệt lực lượng tại chỗ, mà còn bị lực lượng tại chỗ đánh mạnh. Tại Khe Sanh, quân địch chẳng phải đi tìm, quân giải phóng đã đứng vững ở đây 6 tháng đánh bại các cuộc hành quân của chúng và buộc chúng phải bỏ chạy khỏi Khe Sanh. Như vậy tại Khe Sanh ta vừa đánh bại chiến lược “tìm diệt” của Mỹ và đánh bại cả việc chúng lập phòng tuyến để ngăn chặn ta đưa lực lượng vào miền Nam. Phóng viên Anh An-tô-ni-goóc Thêu nói: “Cứ nhìn vào bản đồ Khe Sanh chỉ là một vị trí nhỏ, nhưng vì tính chất chiến lược quan trọng của nó, nên hai tiếng Khe Sanh có thể có nghĩa là sự đổ nhào của tổng thống Giôn-xơn hay tướng Oét-mô-len, hay của cả hai”. Hãng tin Mỹ AP ngày 27 tháng 6 năm 1968 cũng đã nói: “Việc quân Mỹ rút khỏi Khe Sanh là một thất bại đối với Mỹ. Các quan chức cao cấp của Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã từng nói phải bảo vệ căn cứ này bằng bất cứ giá nào, thậm chí nhiều người phát ngôn của lính thuỷ đánh bộ nói: Nếu chúng ta rút Khe Sanh thì liệu chúng ta sẽ dừng lại ở đâu? Trên biển Nam Hải chắc?”.

        Rõ ràng lúc Mỹ có lực lượng đông nhất ở Việt Nam, nhưng với hai đợt đánh vào các đô thị và đánh bại địch ở Khe Sanh, chúng ta đã đánh bại các biện pháp tác chiến của chúng, buộc chúng phải từng bước rút quân. Tất nhiên để buộc chúng phải thua hoàn toàn còn phải có trận chiến 12 ngày đêm đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược, đánh bại biện pháp tác chiến cuối cùng của Mỹ.

        Các bản tổng kết trước đây của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã nói lên nhiều bài học kinh nghiệm của chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Trong bài này tôi chỉ nói thêm một số kinh nghiệm mà các tài liệu chưa đề cập tới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #24 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 08:45:19 pm »


MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG ĐÒN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TRỊ - THIÊN NĂM 1972.

        I. QUYẾT TÂM VÀ DIỄN BIẾN TÁC CHIẾN

        Đòn tiến công chiến lược trên chiến trường Trị - Thiên năm 1972 đã được Viện Lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn và xuất bản năm 1987. Tôi chủ yếu nói thêm một số kinh nghiệm, vì vậy phần quyết tâm về diễn biến chỉ tóm tắt những nội dung chính.

        Tháng 7 năm 1971, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn trên toàn miền Nam. Từ đầu năm 1972, lúc đầu định chọn miền Đông Nam Bộ làm hướng chủ yếu. Về sau do việc tập trung bộ đội và chuẩn bị cơ sở vật chất gặp nhiều khó khăn nên hướng tiến công chiến lược chủ yếu chuyển về Trị - Thiên.

        Trên chiến trường Trị - Thiên tập trung một lực lượng lớn bộ đội chủ lực bao gồm: 3 sư đoàn bộ binh 304, 308, 324 (về sau tăng thêm các sư đoàn 320, 325, 312), 4 trung đoàn bộ binh độc lập; Trung đoàn xe tăng 203, Trung đoàn bộ binh thiết giáp 202; bốn tiểu đoàn đặc công (không kể đặc công và Sư đoàn phòng không 367 trong đội hình chiến dịch), hai sư đoàn phòng không 365, 377 bảo vệ hậu phương, 2 trung đoàn tên lửa 275, 236; một số đơn vị bảo đảm như công binh, phòng hoá, thông tin vận tải...

        Quyết tâm tác chiến:

        Tiến công giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị, sau đó tiếp tục phát triển vào hướng Thừa Thiên (lúc đầu cũng không dự kiến khi không có điều kiện tiếp tục tiến công thì sẽ giữ vững giải phóng như thế nào?).

        Hướng tiến công chủ yếu được chọn là hướng tây: Trong đợt tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị (lúc đầu chưa có kế hoạch tác chiến phát triển vào Thừa Thiên nên cũng chưa có quyết tâm khi phát triển vào Thừa Thiên hướng chủ yếu sẽ theo hướng đường 1 từ phía bắc đánh vào hay hướng đường 12 từ phía tây đánh xuống).

        Diễn biến: 11 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972, ta bắt đầu mở màn chiến dịch. Bốn trung đoàn pháo binh của mặt trận và 3 trung đoàn pháo binh của 3 sư đoàn tập trung chủ yếu đánh vào các trận địa pháo và chỉ huy sở của địch. Nhờ có pháo binh mạnh bất ngờ tiến công, bắn chính xác nên hầu như suốt cả đợt một pháo địch không phát huy được hiệu lực. Trong 5 ngày ta đã tiêu diệt trung đoàn 56 sư đoàn 3 và đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 147 lính thuỷ đánh bộ.

        Để đối phó với tiến công của ta, địch vội vã rút trung đoàn 2 và trung đoàn 57 ở phía bắc, đồng thời nhanh chóng điều động thêm 2 liên đội biệt động quân cùng 2 thiết đoàn ra tổ chức phòng thủ Đông Hà - Ái Tử. Tại khu vực Đông Hà, địch có lực lượng trung đoàn 57, hai liên đoàn biệt động quân, 2 thiết đoàn. Tại khu vực Ái Tử địch có lực lượng lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ, trung đoàn 2 sư đoàn 3 và 1 thiết đoàn. Rút kinh nghiệm thất bại ở vòng ngoài, ở đây chúng chỉ để lại một ít lực lượng trong căn cứ. Đại bộ phận lực lượng tổ chức phòng ngự giả chiến đấu ở ngoài căn cứ, lấy các chi đoàn xe tăng xe bọc thép làm nòng cốt.

        Khi địch rút căn cứ phía bắc như Cồn Tiên, Dốc Miếu, Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, Bộ tư lệnh cánh Bắc ra lệnh cho Sư đoàn 308 và trung đoàn bộ binh thiết giáp truy kích với ý định đánh chiếm thị xã Đông Hà trong hành tiến. Bộ tư lệnh chiến dịch cũng lệnh cho Sư đoàn 304 và Sư đoàn 324 mỗi sư đoàn dùng một tiểu đoàn ra ngay đường số 1 để chặn cụm địch ở Đông Hà - Ái Tử rút chạy. 5 giờ sáng ngày 9 tháng 4 Sư đoàn 308 và bộ binh thiết giáp bắt đầu cơ động lực lượng tiến công Đông Hà. Quân địch “trì hoãn chiến” chứ không phải rút chạy, nên ta tiến công Đông Hà không thành công. Hai tiểu đoàn của các sư đoàn 304 và 324 ra đường 1 cũng bị thiệt hại nặng. Để đánh bại địch ở khu vực Đông Hà - Ái Tử, ta chủ trương chuẩn bị lại thật chu đáo. Ngày 27 tháng 4 hai sư đoàn 308 và 304 cùng đồng loạt tiến công. Đến hết ngày 2 tháng 5 ta chiếm được cả 3 căn cứ Đông Hà - Ái Tử. Thị xã Quảng Trị, truy kích địch đến bờ bắc sông Mỹ Chánh, giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị.

        Sau khi mất Quảng Trị, địch vội vàng điều toàn bộ sư đoàn dù, sư đoàn lính thuỷ đánh bộ ra tổ chức tuyến ngăn chặn ở nam sông Mỹ Chánh và chuẩn bị phản công để chiếm lại Quảng Trị. Lúc này Mỹ đã cho không quân, hải quân trở lại Việt Nam với số lượng lớn, đánh phá cả hai miền Nam, Bắc. Trong tháng 5 và đầu tháng 6 ta vừa điều động lực lượng vừa chuẩn bị vật chất, đồng thời mở một số cuộc tiến công thăm dò để chuẩn bị tiến công vào Thừa Thiên. Ngày 20 tháng 6 ta bắt đầu mở cuộc tiến công vào Thừa Thiên. Do bị không quân và hải quân địch đánh phá mạnh, lực lượng vật chất của ta đưa lên gặp nhiều khó khăn, lực lượng chiến đấu bị thương vong nhiều, nhất là lực lượng phòng không và lực lượng pháo binh. Cuộc tiến công vào Thừa Thiên không thành công. Ngày 28 tháng 6 địch bắt đầu phản công. Ta ngừng tiến công vào Thừa Thiên để đánh địch tiến công ra Quảng Trị.

        Từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 15 tháng 9 ta dùng Trung đoàn 48 phòng ngự ở thị xã Quảng Trị (sau tăng thêm Trung đoàn 95 Sư đoàn 325), sử dụng cả 3 sư đoàn 308, 304, 320 mở 6 đợt phản công. Các đợt phản công kết quả hạn chế và ngày 15 tháng 9 địch chiếm được thị xã bao gồm cả thành phố.

        Sau khi mất thị xã, ta chuyển toàn bộ lực lượng vào thế phòng ngự. Tôi nói thế phòng ngự là vì không tiến công được buộc phải phòng ngự, chứ lúc đó không ai đề cập đó là chiến dịch phòng ngự. Trong thời gian từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 28 tháng 1 năm 1973 phòng ngự của ta cơ bản chặn được địch, giữ vững vùng giải phóng còn lại (trừ 2 điểm cao Động Ông Do và 36 bị địch chiếm). Đến thời điểm này, hai bên bắt đầu thực hiện đàm phán ở Pa-ri, địch tiến hành một số cuộc tiến công hòng mở rộng vùng kiểm soát, nhưng đều bị ta đánh bại. Mặt trận tương đối ổn định cho đến năm 1975.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #25 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 08:49:57 pm »


        II. NÓI THÊM MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

        Bản tổng kết của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản năm 1987 đã nêu lên 8 bài học kinh nghiệm. Tôi chỉ nêu thêm một số vấn đề tài liệu chưa đề cập.

        1. Tiến công chiến lược trên hướng Trị - Thiên năm 1972, trên thực tế đã diễn ra 3 chiến dịch kế tiếp:

        - Chiến dịch thứ nhất từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 27 tháng 6: Tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị và tiến công không thành công vào Thừa Thiên.

        - Chiến dịch thứ hai từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 15 tháng 9: Phản công không thành công (mất huyện Hải Lăng, thị xã Quảng Trị và một phần huyện Triệu Phong).

        - Chiến dịch thứ ba từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 28 tháng 1 năm 1973: Phòng ngự giữ vững vùng giải phóng còn lại.

        Ở đây có vấn đề tranh luận là từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 15 tháng 9 ta tiến hành hình thái tác chiến gì. Nhiều đồng chí không thấy hoặc không muốn nói đó là chiến dịch phản công. Nếu thừa nhận đó là chiến dịch phản công thì phải thừa nhận đó là chiến dịch không thành công hoặc nói đúng hơn là thất bại. Sự việc xảy ra như thế nào thì phải nhận đúng thực tế của sự việc.Trong thời gian hai tháng rưỡi ta dùng lực lượng chủ yếu để phản công, lúc đầu chỉ có 1 trung đoàn, sau thêm 1 trung đoàn tiến hành phòng ngự. Lực lượng chính tiến hành phản công đã mở tất cả 6 đợt phản công trong thời gian hai tháng rưỡi. Không có cách gọi khác, phải thừa nhận đó là một chiến dịch và là chiến dịch phản công.

        2. Trước đây do lực lượng ta có hạn nên trên mỗi hướng tiến công chiến lược ta chỉ có khả năng tiến hành một chiến dịch. Chiến dịch nào có tác động lớn đến chiến lược ta gọi đó là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Chiến dịch có ý nghĩa chiến lược cũng chỉ là một chiến dịch.

        Từ năm 1972 và sau này năm 1975, trên mỗi hướng tiến công chiến lược ta tiến hành một số chiến dịch đồng thời hoặc kế tiếp. Như vậy quy mô tác chiến ở đây không phải là chiến dịch. Ở đây nảy sinh một quy mô tác chiến cao hơn chiến dịch. Liên Xô gọi là chiến dịch chiến lược. Chiến dịch chiến lược được định nghĩa là: Tổng thể các chiến dịch và các hoạt động tác chiến khác do tập đoàn lực lượng chiến lược tiến hành theo một ý định và kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất trên một hướng chiến lược hoặc một chiến trường, do Bộ Tổng tư lệnh hoặc Bộ tư lệnh chiến trường tổ chức chỉ huy, nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược quan trọng.

        Như vậy có thể gọi tác chiến trên chiến trường Trị - Thiên năm 1972 là một chiến dịch chiến lược. Ta chưa quen dùng khái niệm này. Trong một số văn kiện cũng đã dùng khái niệm “đòn tiến công chiến lược”. Theo tôi vấn đề cơ bản là ta đã tiến hành tác chiến vượt ra ngoài quy mô chiến dịch. Vì vậy gọi chiến dịch chiến lược cũng được hoặc gọi đòn tiến công chiến lược cũng được.

        3. Bộ tư lệnh chiến dịch và Bộ tư lệnh lên cánh Bắc ra lệnh cho Sư đoàn 308 và trung đoàn bộ binh thiết giáp truy kích và tiến công ngay vào Đông Hà khi địch mất cụm phòng ngự phía tây và rút cụm phòng ngự phía bắc về sau đúng hay sai? Khi tổng kết có đồng chí nêu ý kiến quyết tâm đó là sai vì không phù hợp với thực tế. Nhìn lại các cuộc chiến tranh ở ta cũng như ở nhiều nước khác khi địch rút chạy về sau (có thể là chạy, có thể là co cụm), nhất thiết phải truy kích ngay và gặp địch phải tiến công ngay là phù hợp. Chỉ dừng lại sau khi địch ngăn chặn được tiến công của ta. Lúc thấy địch rút lui mà không truy kích ngay, không tiến công ngay rất dễ bị mất thời cơ có lợi. Phải truy kích ngay, tiến công ngay, chỉ dừng lại khi không còn khả năng tiến công. Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 308 và trung đoàn bộ binh thiết giáp truy kích và tiến công Đông Hà ngay. Sau khi tiến công bị địch chặn lại, ra lệnh cho bộ đội đình chỉ tiến công để tiếp tục chuẩn bị tiến công đợt khác là phù hợp. Nếu sau ngày 9 tháng 4 tiến công không thành công mà còn ra lệnh tiếp tục tiến công không ngừng lại mới là sai. Chủ trương tác chiến trên theo tôi cũng là một bài học kinh nghiệm xử trí tình huống. Bất kỳ trong chiến thuật, chiến dịch hay chiến lược, địch rút lui là phải truy kích ngay, tiến công ngay. Đồng thời phải dừng lại khi điều kiện không cho phép tiếp tục tiến công.

        4. Tiến công cụm địch ở Đông Hà và Ái Tử trong các ngày từ 27 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5 ta đã vận dụng hình thức chiến thuật gì? Ở đây, theo tôi không thể gọi là tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Hầu hết lực lượng phòng ngự dã chiến ở ngoài (mỗi nơi có lực lượng gần 2-3 trung đoàn bộ binh, 1-2 trung đoàn thiết giáp). Bộ binh ở trong hố cá nhân là chính, xe tăng xe thiết giáp trong các hầm nửa chìm nửa nổi, vật cản chỉ có 1-2 lớp, có những đoạn không có vật cản. Ở đây cũng không thể gọi là tập kích, vì ta đánh liên tục hai ngày. Hình thức chiến thuật vận dụng ở đây là hình thức vận động tiến công.

        5. So sánh lực lượng địch, ta khi ta tiến công vào Trị - Thiên và khi ta phản công địch tiến công ra Quảng Trị. Nhiều đồng chí thắc mắc khi giải phóng tỉnh Quảng Trị, ta có lực lượng tương đương địch (2 sư đoàn) lại không thành công. Ở đây khi xét tương quan lực lượng ta không nên chỉ nhìn vào lực lượng bộ binh của hai bên mà còn nhìn thấy tương quan về hoả lực hai bên. Trong đánh du kích, đánh vận động quy mô nhỏ, địch có hoả lực mạnh, ta vẫn thắng. Trái lại tiến công quy mô lớn, không thể không thấy tác dụng của hoả lực. Bắt đầu từ tháng 5 năm 1972 quân Mỹ ồ ạt dùng không quân và hải quân chi viện bộ binh quân đội Sài Gòn chiến đấu, lúc đó tương quan lực lượng hai bên có một thay đổi lớn. Địch dùng không quân, kể cả B52 lúc đầu tập trung đánh các đơn vị phòng không của ta. Sau khi lực lượng phòng không ta bị tê liệt (trung đoàn pháo phòng không phối thuộc cho Sư đoàn 304 không còn khẩu nào), chúng tập trung đánh pháo mặt đất. Trung đoàn pháo binh 38 phối thuộc cho Sư đoàn 304 không còn khẩu nào. Trung đoàn pháo binh Sư đoàn 304 còn 4 khẩu. Trung đoàn pháo binh Sư đoàn 308 còn có 8 khẩu. Với lực lượng phòng không và pháo binh như vậy, ta không có khả năng tiến công quy mô lớn, tiến công liên tục ngày đêm được.

        Chúng ta không “vũ khí luận” nhưng khi tiến công lớn nhằm diệt từng trung đoàn địch thì hoả lực giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định. Tuy bộ binh ta không ít hơn địch, nhưng hoả lực kém địch nhiều lần thì không thể tiến công quy mô lớn được.

        Cuộc chiến đấu ở Trị - Thiên năm 1972 kéo dài gần một năm. Hai bên đều sử dụng lực lượng lớn. Vì vậy chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm hay. Chúng ta không chỉ tổng kết một lần mà cần tổng kết nhiều lần. Đi sâu tìm hiểu thêm nhiều kinh nghiệm khác nhau cũng thể hiện tinh thần tôn trọng những gì chúng ta đã làm, tôn trọng xương máu của đồng đội đã đổ ra trên chiến trường.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #26 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 08:58:48 pm »


NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN TRONG CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG TRỊ - THIÊN - HUẾ NĂM 1975

        Nhiệm vụ, kế hoạch tác chiến, diễn biến quá trình tác chiến đã có nhiều tài liệu, nhiều đồng chí trình bày tương đối rõ ràng cụ thể chính xác. Trong bài này tôi muốn đi sâu vào nghệ thuật tác chiến, một trong những nguyên nhân bảo đảm cho chiến thắng, giảm bớt thương vong.

        Trước khi nói về nghệ thuật tác chiến, tôi muốn nêu lên hai đặc điểm trong tổ chức và nhiệm vụ có ảnh hưởng nhất định đến nghệ thuật tác chiến.

        Đặc điểm thứ nhất của chiến dịch tiến công Trị - Thiên là có Đảng ủy chiến dịch bao gồm các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy Quân khu Trị - Thiên và Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 2 do đồng chí Lê Tự Đồng, Bí thư Đảng ủy Quân khu Trị - Thiên là bí thư Đảng ủy chiến dịch, nhưng lại không có Bộ tư lệnh chiến dịch chung. Hai lực lượng tác chiến của Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 quan hệ với nhau bằng hiệp đồng tác chiến. Việc này đòi hỏi hai lực lượng phải có tinh thần chủ động hiệp đồng giúp đỡ lẫn nhau.

        Đặc điểm thứ hai là nhiệm vụ được giao hai bước khác nhau. Cuối năm 1974 Bộ Tổng chỉ huy giao nhiệm vụ cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 là hiệp đồng mở chiến dịch với nhiệm vụ chủ yếu là kìm giữ không cho địch điều lực lượng ở quân khu 1 bao gồm cả hai sư đoàn dự bị chiến lược là sư đoàn dù và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ chi viện cho chiến trường tiến công chủ yếu của ta ở Tây Nguyên trong mùa xuân năm 1975.

        Sau khi hoàn thành kế hoạch tác chiến và báo cáo trực tiếp với đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí chỉ thị thêm: “Nếu chiến dịch Tây Nguyên thắng lớn có thể tạo ra thời cơ thuận lợi, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 chuyển ngay sang tiến công giải phóng Trị - Thiên - Huế ngay trong chiến dịch đầu. Cũng không loại trừ khả năng sau khi giải phóng Trị - Thiên - Huế có thể tiến công ngay vào Đà Nẵng”. Với nhiệm vụ được bổ sung, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 giải quyết một loạt vấn đề:

        - Phải xây dựng thế trận thế nào để khi có thời cơ phát triển tiến công được nhanh và thuận lợi.

        - Bố trí thế nào để các lực lượng chưa tham gia chiến dịch đầu khi có thời cơ bước vào chiến đấu được thuận lợi. Trong chiến dịch đầu, Quân đoàn 2 chỉ sử dụng 2 sư đoàn thiếu (Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 325 đang làm nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do tỉnh Quảng Trị) cùng 2 tiểu đoàn pháo binh thuộc lữ đoàn pháo binh, 1 trung đoàn pháo phòng không thuộc Sư đoàn phòng không 673. Toàn bộ lực lượng xe tăng chưa tham gia chiến dịch đầu. Quân đoàn đã chỉ thị cho Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 và Trung đoàn 95 Sư đoàn 325 sẵn sàng chiến đấu để điều động ngay khi cần, chỉ thị cho Sư đoàn 304 không rút lực lượng về sau, củng cố tại chỗ để sẵn sàng làm nhiệm vụ trong mùa xuân năm 1975. Đối với các binh chủng cũng chỉ thị nhích đội hình lên sát các sư đoàn phía trước để khi cần là bước vào chiến đấu ngay. Riêng 2 tiểu đoàn pháo binh của lữ đoàn pháo binh thì đưa lên triển khai sẵn ở đèo Mũi Trâu để có thể tại chỗ bắn đến cửa Thuận An của Thừa Thiên và bán đảo Sơn Trà của Đà Nẵng.

        Đến đây tôi xin dừng lại nói thêm: Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương có bất ngờ ta có thể giải phóng hoàn toàn miền Nam trong mùa xuân năm 1975 hay không? Tôi có thể trả lời ngay là Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã tính trước việc tổng tiến công của ta có thể phát triển nhanh, không phải là 2 năm mà có thể giải phóng miền Nam trong năm 1975, thậm chí sớm hơn. Lý do rõ ràng là khi giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên đã nói rõ như trên, cần chuẩn bị khi thời cơ thuận lợi giải phóng Trị - Thiên - Huế ngay trong chiến dịch đầu.

        Không chỉ các đồng chí trong Bộ chỉ huy tối cao mà ngay cán bộ cấp quân đoàn cũng nhận thấy ta có thể thắng nhanh. Đó là dựa vào quy luật chiến tranh và tình hình thực tế trên chiến trường Việt Nam. Quy luật đó là khi quân cách mạng có lực lượng tương đương quân phản cách mạng thì có thể tiến công nhanh. Đó là vì khi lực lượng ngang nhau, bên nào có nghệ thuật tác chiến hơn và nhất là có tinh thần chiến đấu cao, bên đó sẽ thắng. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô chống lại quân xâm lược của nước Đức phát xít, đến giữa năm 1943 trước chiến dịch Cuốc-xcơ lực lượng hai bên tương đương nhau nên Quân đội Liên Xô đã có thể giải phóng hầu hết vùng Đức chiếm đóng ngay trong những tháng cuối năm 1943 và đầu năm 1944. Cũng như vậy cuối năm 1948 lực lượng của Quân giải phóng Trung Quốc tương đương với lực lượng của Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch, Quân giải phóng đã giải phóng toàn bộ Trung Quốc (trừ Đài Loan) trong năm 1949. Thực tiễn trên chiến trường Việt Nam, năm 1974 lực lượng ta và lực lượng của chính quyền Sài Gòn không chênh lệch nhau nhiều. Ngay trong những tháng cuối năm 1974, với lực lượng không lớn, ta đã nhanh chóng giải phóng Nông Sơn, Thượng Đức, sau đó đánh bại hoàn toàn cuộc phản công của quân Sài Gòn muốn chiếm lại Thượng Đức.

        Nghệ thuật tác chiến đầu tiên trong chiến dịch này là chọn hướng tấn công chủ yếu. Lúc đầu Quân đoàn 2 thực tế đã triển khai chuẩn bị tiến công theo hướng đường 12, tức tiến công từ phía tây Huế. Lý do đơn giản là ở đây đường sá tốt và cũng không xa Huế bao nhiêu. Sau khi trao đổi nhiều lần, thấy rõ đánh vào phía hướng tây là nơi địch phòng ngự mạnh và đặc biệt nếu ta tiến công thắng lợi thì địch có thể dễ dàng rút lực lượng về tập trung ở Đà Nẵng, từ đó ta đã chuyển hướng tấn công chủ yếu về phía tây nam. Tiến công vào đây có thể nhanh chóng cắt đường số 1 giữa Huế - Đà Nẵng. Nếu cắt đường số 1 buộc địch ở Quân khu 1 phải dùng lực lượng mạnh để chiếm lại, như vậy chúng không có lực lượng để cơ động sang chiến trường khác. Đồng thời chiếm được đường số 1 sẽ tạo điều kiện tác chiến tấn công diệt gọn quân địch ở Trị - Thiên, không cho chúng rút về Đà Nẵng...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #27 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 09:07:47 pm »


TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC QUA HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ

        Chiến tranh ngày nay là cuộc đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao... Vì vậy khái niệm về chiến lược quân sự không chỉ nói tới tác chiến trên chiến trường của các lực lượng vũ trang đối địch. Chiến lược quân sự hiểu theo nghĩa rộng là chiến lược tiến hành chiến tranh với sức mạnh cả về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, hiểu theo nghĩa hẹp là nói về đấu tranh vũ trang.

        Bộ Chính trị đã chỉ đạo và hoàn thành việc tổng kết hai cuộc kháng chiến ở quy mô chiến lược quốc gia (nghĩa rộng của chiến lược quân sự). Bộ Quốc phòng chủ trương tiến hành tổng kết thêm về tác chiến chiến lược (nghĩa hẹp của chiến lược quân sự) để đi sâu thêm một bước, rút ra các kinh nghiệm cụ thể về mặt chỉ đạo và tiến hành tác chiến.

        Những cán bộ trực tiếp vạch kế hoạch và điều hành tác chiến như các thành viên Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, Cục Tác chiến ngày nay không còn nhiều. Vì vậy để tổng kết có kết quả tốt, cần có sự tham gia của những cán bộ đã trải qua hai cuộc kháng chiến, trực tiếp chỉ huy các đơn vị trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh như chỉ huy các quân khu, quân đoàn, sư đoàn. Với cương vị một cán bộ đã trải qua suốt hai cuộc kháng chiến, đã chỉ huy sư đoàn, quân đoàn, tôi xin góp một số ý kiến về tác chiến chiến lược qua hai cuộc kháng chiến.

        I. CHỦ TRƯƠNG VÀ KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN

        Nói đến tác chiến trước hết phải nói và cần thiết nói đến chủ trương và kế hoạch tác chiến.

        Qua hai cuộc kháng chiến, chúng ta phải đối đầu với các nước đế quốc có quân đội nhà nghề, được trang bị kỹ thuật hiện đại, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh, vì vậy ta không thể đánh thắng địch trong một thời gian ngắn. Căn cứ vào thực tế trên, cách đánh trong hai cuộc kháng chiến trước hết là phải đánh bại lần lượt từng chiến lược của địch qua từng giai đoạn kháng chiến. Để đánh bại từng chiến lược của địch qua từng giai đoạn kháng chiến, chúng ta không chỉ đề ra chủ trương tác chiến, tức xác định mục đích, xác định loại hình tác chiến cho cả một giai đoạn, mà còn xây dựng kế hoạch tác chiến cho từng năm, từng mùa.

        Như vậy thấy rõ cách đánh chiến lược của ta được thể hiện ở chủ trương tác chiến theo từng giai đoạn và kế hoạch tác chiến từng năm, từng mùa để đạt mục đích, đánh bại từng chiến lược của địch.

        A. CHỦ TRUƠNG TÁC CHIẾN THEO TỪNG GIAI ĐOẠN KHÁNG CHIẾN ĐỂ ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CỦA ĐỊCH TRONG GIAI ĐOẠN ĐÓ.

        1. Chủ trương tác chiến theo từng giai đoạn trong kháng chiến chống thực dân Pháp

        a) Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết năm 1947.

        - Chiến lược của địch trong giai đoạn này là tiến công chiến lược nhằm mục đích giành thắng lợi quyết định trong một thời gian ngắn.

        - Mục đích tác chiến của ta giai đoạn này là tiêu hao rộng rãi quân địch làm chúng suy yếu dần, hạn chế vùng chúng chiếm đóng, giữ vững và phát triển lực lượng vũ trang ta, bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến của ta trên địa bàn cả nước và ở từng địa phương.

        - Loại hình tác chiến chiến lược của ta trong giai đoạn này trước đây được xác định là phòng ngự. Hiện nay có ý kiến cho rằng không phải là phòng ngự vì chỉ có một số trận phòng ngự ở quy mô nhỏ, hầu hết các trận đánh đều là trận đánh tiến công; chỉ có một chiến dịch, đó lại là chiến dịch phản công (Việt Bắc thu đông năm 1947). Theo tôi không thể lấy cách đánh của các cuộc chiến tranh quy ước (chủ lực của hai bên dàn trận đánh nhau) để gán vào cách đánh của ta. Không chỉ phòng ngự mà ngay cách đánh tiến công, phản công của ta cũng khác với các cuộc chiến tranh quy ước. Trong giai đoạn 1945-1947 ta đề ra phòng ngự và thực tế ta đã giành được thắng lợi. Vì vậy vẫn nên thừa nhận lúc đó nói phòng ngự là đúng. Địch tiến công ta đỡ, ta giữ, hoàn toàn có thể nói là phòng ngự. Nhưng phòng ngự của ta phòng ngự thế công như trong tài liệu “Cách đánh du kích” mà Hồ Chủ tịch đã nói. Hiện nay trong các tài liệu do các học viện quân sự biên soạn thì nói là cách đánh phòng thủ. Nói phòng thủ cũng được, nhưng thực ra phòng thủ là khái niệm nói về nhiệm vụ tác chiến: phòng thủ khu vực, phòng thủ quốc gia. Để phòng thủ có thể phòng ngự mà cũng có thể phản công tiến công, tuỳ theo tương quan lực lượng.

        b) Giai đoạn từ năm 1948 đền năm 1950.

        - Giai đoạn này địch chuyển từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh lâu dài, thực hiện “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, thành lập ngụy quyền, xây dựng ngụy quân, cùng với quân đội viễn chinh do chính Pháp tổ chức để đánh bại ta. Cụ thể chúng tiến hành xây dựng các đồn bốt, xây dựng chính quyền cơ sở, càn quét để củng cố vùng tạm chiếm, tiến hành một số cuộc tiến công có hạn để mở rộng thêm vùng chiếm đóng.

        - Tác chiến của ta nhằm mục đích ở nội tuyến (vùng địch lấn chiếm), là biến hậu phương địch thành tiền phương ta ở ngoại tuyến (vùng tự do), là tiến hành tiến công (chủ yếu ở quy mô nhỏ) để vừa ngăn chặn địch mở rộng vùng chiếm đóng vừa thu hẹp vùng địch tạm chiếm, xây dựng lực lượng ta ngày càng lớn mạnh về số lượng, về trang bị và về nghệ thuật tác chiến để tiến lên tiến công phản công ở giai đoạn sau.

        - Giai đoạn này ta xác định là giai đoạn cầm cự. Cầm cự là trạng thái trên chiến trường, không phải là cách đánh. Loại hình tác chiến giai đoạn này thực chất là kết hợp phòng ngự với tiến công phản công.

        c) Giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1954.

        - Bắt đầu từ giai đoạn này địch thấy rõ không thể thắng ta bằng quân sự đơn thuần. Chúng chủ trương một mặt tiếp tục giữ vững khu vực đã chiếm, mặt khác xây dựng lực lượng nhằm kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp có lợi cho chúng.

        - Mục đích tác chiến của ta là tiến công tiêu diệt lớn quân địch, làm chủ vùng núi, giải phóng từng vùng rộng lớn, tạo ra đột biến để kết thúc chiến tranh.

        - Loại hình tác chiến là tiến công và phản công. Do đặc điểm tương quan lực lượng địch ta, tuy phải phòng ngự là chính, nhưng địch cũng cố gắng tiến công để giành chủ động. Vì vậy giai đoạn này ta chủ động tiến công là chính nhưng cũng phải chuẩn bị phản công để đánh bại tiến công của địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #28 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 09:09:16 pm »


        2. Chủ trương tác chiến theo từng giai đoạn trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1960-1975)

        a) Giai đoạn thứ nhất, từ năm 1960 đến giữa năm 1965.

        - Chiến lược của địch: Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mỹ chủ trương phá hoại hiệp định, tiêu diệt lực lượng cách mạng của ta để độc chiếm miền Nam. Sau khi nhân dân tiến hành khởi nghĩa ở từng địa phương tiến lên đồng khởi (bắt đầu từ năm 1959), Mỹ thi hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, cuộc chiến tranh được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn, với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ, định đè bẹp và tiêu diệt cách mạng miền Nam.

        - Ta chủ trương từ khởi nghĩa từng phần tiến lên chiến tranh cách mạng để đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và tay sai. Cách đánh là kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị song song, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, từ tiêu hao rộng rãi, tiến lên tiêu diệt lớn, đánh bại xương sống của “chiến tranh đặc biệt” là quân đội Sài Gòn. Cuộc chiến tranh ở miền Nam là một cuộc chiến tranh giải phóng (chính quyền địch đã có sẵn ở tất cả mọi địa phương), khác với chiến tranh chống thực dân Pháp mang nhiều tính chất của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (địch từ ngoài đánh vào trong khi ta đã có chính quyền trên cả nước). Vì vậy giai đoạn đầu của kháng chiến không có loại hình tác chiến phòng ngự mà bắt đầu bằng chủ động tiến công, tiến công nhỏ tiến lên tiến công lớn, không phải phân chia chiến trường thành nội tuyến và ngoại tuyến (vùng địch tạm chiếm và vùng tự do) nên không có phương châm biến hậu phương địch thành tiền phương ta mà thực hiện phương châm ba vùng chiến lược (vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng, vùng đô thị).

        b) Giai đoạn thứ hai, từ giữa năm 1965 đền hết năm 1968.

        Sau khi “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, đế quốc Mỹ tiến hành “chiến tranh cục bộ”, đưa quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến trên quy mô lớn ở miền Nam, đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ở miền Bắc.

        - Ta phát triển chiến tranh nhân dân lên trình độ cao trên cả hai miền, tiêu diệt lớn quân địch trên cả hai miền để đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        - Loại hình tác chiến chiến lược được thực hiện là kết hợp tiến công và phản công.

        c) Giai đoạn thứ ba, từ năm 1969 đền hết tháng 1 năm 1973.

        - Đế quốc Mỹ thi hành chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, xuống thang chiến tranh rút dần quân Mỹ về nước, nhưng kéo dài cuộc chiến tranh và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia.

        - Ta phối hợp với hai nước Lào và Cam-pu-chia đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, đánh bại lần thứ hai cuộc chiến tranh phá hoại mà đỉnh cao là cuộc tập kích đường không chiến lược tháng 12 năm 1972, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta.

        - Loại hình tác chiến được thực hiện là tiến công và phản công.

        d) Giai đoạn thứ tư, từ sau Hiệp đinh Pa-ri đến tháng 4 năm 1975.

        - Sau Hiệp định Pa-ri, Mỹ tiếp tục chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, chỉ huy ngụy quân, ngụy quyền tiến hành cuộc chiến tranh “lấn chiếm và bình định” với mục đích biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia thân Mỹ.

        - Ta tạo lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        - Loại hình tác chiến giai đoạn này là tiến công chiến lược.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25050


« Trả lời #29 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 09:16:56 pm »


        B. KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CỦA TỪNG GIAI ĐOẠN CHIẾN LUỢC.

        Phần trên đã làm rõ, do tương quan lực lượng trong cuộc chiến tranh, ta chỉ đề ra đường lối kháng chiến để giành thắng lợi, ta cũng chưa có điều kiện, khả năng làm kế hoạch tác chiến cho từng giai đoạn kháng chiến mà chỉ đề ra chủ trương với nội dung chủ yếu là xác định mục đích, vận dụng phương châm tác chiến, vận dụng loại hình tác chiến. Kế hoạch tác chiến được xây dựng hằng năm, hằng mùa. Trải qua hai cuộc kháng chiến ta có nhiều kế hoạch tác chiến khác nhau:

        1. Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ và chỉ đạo tác chiến với từng chiến trường, chưa tổ chức được đòn tiến công hoặc phản công chiến lược trên chiến trường lựa chọn.

        Muốn tổ chức một đòn tiến công hoặc phản công chiến lược thường phải có thời gian chuẩn bị. Vì vậy thường giữa các đòn tiến công hoặc phản công chiến lược, để giữ tác chiến liên tục Bộ Tổng tư lệnh thường giao nhiệm vụ và chỉ đạo các chiến trường tác chiến.

        - Giai đoạn một cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đòn tiến công vào các thành phố và trước chiến dịch phản công Việt Bắc (Thu Đông năm 1947), cụ thể là Hè Thu năm 1947 Bộ Tổng tư lệnh đã làm kế hoạch tác chiến bằng giao nhiệm vụ và chỉ đạo cho các chiến trường, không có đòn tiến công chiến lược.

        - Giai đoạn đầu trong kháng chiến chống Mỹ đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Bộ Tổng tư lệnh chủ yếu cũng chỉ thực hiện việc giao nhiệm vụ và chỉ đạo các chiến trường tác chiến.

        2. Bộ Tổng tư lệnh tổ chức và trực tiếp chỉ huy đòn tiến công phản công chiến lược trên chiến trường chính và giao nhiệm vụ chỉ đạo các chiến trường khác tác chiến phối hợp với chiến trường chính.

        - Giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Bộ Tổng tư lệnh đã trực tiếp tổ chức chỉ huy đòn tiến công chiến lược ở Hà Nội bằng một đợt tác chiến (chưa hình thành chiến dịch) và tổ chức đòn phản công chiến lược khi địch tiến công lên Việt Bắc.

        - Giai đoạn hai có đòn tiến công chiến lược giải phóng Biên Giới (1950).

        - Giai đoạn ba có một loạt các đòn tiến công chiến lược: ba đòn liên tiếp ở trung du - đường 18, Hà Nam Ninh (1951), giải phóng Thượng Lào (1953).

        - Giai đoạn đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” trong kháng chiến chống Mỹ có: đòn phản công chiến lược đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty ở miền Đông Nam Bộ; đòn tiến công chiến lược Tết Mậu Thân năm 1968 vào một loạt đô thị.

        - Giai đoạn đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” có: đòn phản công chiến lược đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn - 719” ở Đường 9 - Nam Lào, đòn tiến công chiến lược trên chiến trường Trị - Thiên. Các đòn tiến công và phản công chiến lược trên chỉ thực hiện bằng một chiến dịch. Các chiến dịch đó được gọi là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược.

        3. Bộ Tổng tư lệnh tổ chức nhiều đòn tiến công chiến lược đồng thời trên nhiều chiến trường khác nhau, các đòn tiến công đó liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành một chiến lược.

        - Cuối năm 1951 và đầu năm 1952 Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ huy đồng thời hai đòn tiến công chiến lược: đòn tiến công đánh bại địch hành quân lên Hoà Bình và đòn tiến công vào đồng bằng Bắc Bộ. Hai đòn tiến công đó đã liên kết chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau nên bước đầu hoàn thành chiến cục.

        - Đông Xuân 1953-1954 Bộ Tổng tư lệnh mở một loạt các đòn tiến công chiến lược trên các chiến trường khác nhau, liên kết chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau, đặc biệt tạo điều kiện để đánh thắng địch trong chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Đông Xuân 1953-1954 đã hoàn thành đầy đủ một chiến lược.

        - Mùa Xuân năm 1975 ta mở liên tiếp 3 đòn tiến công chiến lược, liên kết chặt chẽ với nhau, đòn trước tạo điều kiện trực tiếp cho đòn sau. Đây cũng là một chiến cục với đầy đủ yếu tố của nó.

        4. Đòn tiến công chiến lược có thể thực hiện bằng một chiến dịch như trên đã nói. Trong mùa Xuân năm 1975 các đòn tiến công chiến lược đều thực hiện bằng 2-3 chiến dịch đồng thời hoặc kế tiếp. Đòn tiến công chiến lược giải phóng địa bàn quân khu 2 của địch được thực hiện bằng hai chiến dịch, chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch giải phóng ba tỉnh đồng bằng Khu 5. Đòn tiến công chiến lược giải phóng Trị - Thiên và chiến dịch giải phóng Quảng Ngãi và Quảng Tín (Quảng Nam ngày nay) chiến dịch kế tiếp, chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Đòn tiến công chiến lược giải phóng quân khu 3 và đặc khu Sài Gòn gồm hai chiến dịch đồng thời, chiến dịch giải phóng Xuân Lộc và chiến dịch giải phóng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, chiến dịch kế tiếp giải phóng miền Đông Nam Bộ bao gồm cả đặc khu Sài Gòn.

        Đòn tiến công chiến lược được thực hiện bằng một số chiến dịch đồng thời hoặc kế tiếp được gọi là chiến dịch chiến lược (phân biệt với chiến dịch có ý nghĩa chiến lược đã nói ở trên).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM