Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Mười, 2020, 08:58:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những hoạt động phá hoại và lật đổ của CIA ở Việt Nam  (Đọc 11465 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #30 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 09:33:48 pm »

                  Từ các chi nhánh đặt tại một số nước tiếp giáp với bán đảo Đông Dương, CIA hí hửng theo dõi tình hình rối ren hỗn loạn tại Việt Nam. Đã xuất hiện những bản tường trình rất lạc quan của CIA, phân tích một cách chủ quan là, cộng với những khó khăn về kinh tế, những tệ nạn về xã hội do chiến tranh để lại, những tác động về chính trị do sự bao vây phong tỏa của các thế lực phản động quốc tế, những cuộc bạo loạn vũ trang và nổi dậy không vũ trang ở Việt Nam, phá vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam thống nhất, ít nhất cũng trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam vừa mới được giải phóng.

                  Nhưng liền sau đó, CIA lại liên liếp nhận được nhiều nguồn tin làm tiêu tan những ảo vọng quá sớm của chúng. Trong hai năm 1979 - 1980 Các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đáp ứng lời kêu gọi khẩn cấp của nhân dân Cămpuchia đã nhanh chóng đập tan chế độ diệt chủng Pôlpot trên đất Cămpuchia, tiếp đó lại chặn đứng cuộc chiến tranh xâm lược ở khu vực biên giới phía Bắc. Cũng trong thời kỳ này các lực lượng quân đội, công an cùng với nhân dân các dân tộc dã tiến hành nhiều đợt tiến công và truy quét các lực lượng vũ trong phản động FULRO, thu được nhiều thắng lợi rất quan trọng. Nhiều tên phản động đầu sỏ của FULRO đã bị sa lưới pháp luật, tác động lớn đến tình hình nội bộ của bọn chúng.

                  Tên Nahrie Ya Duk gia nhập lực lượng phản đồng từ năm 1964 khi còn mang tên BAJARAKA thuộc dân tộc Koho là một thủ lĩnh đã dẫn 5000 quân FULRO về hợp tác với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Năm 1969 được Thiệu cử làm trưởng ty phát triển sắc tộc tỉnh Bà Rịa, năm 1973 trở thành một con bài của CIA, đã nhận được chỉ thị của CIA thực hiện “kế hoạch hậu chiến” ở Việt Nam. Đài tiếng nói Hoa kỳ cũng như đài phát thanh của CIA đặt tại Manila, trong nhiều buổi phát thanh bằng các thứ tiếng dân tộc Tây Nguyên đã suy tôn Ya Duk là “một thủ lĩnh lỗi lạc của FULRO”. Năm 1976, Ya Duk được đồng bọn phong cấp đại tá phụ trách vùng chiến thuật 4, đến đầu năm 1979 đã được nâng lên cấp chuẩn tướng kiêm phó thủ tướng thứ nhất đặc trách cả nội vụ lẫn ngoại giao. Nhưng chỉ hơn một năm sau, giữa lúc Ya Duk đang “lên như diều gặp gió” thì ngày 13 tháng 8 năm 1980 đã bị bắt sống tại khu vực Lâm Đồng cùng với 10 tên đồng bọn, trong đó có cả bộ trưởng tài chính Liêng Hot K' Thốt và đại tá trợ lý tham mưu bộ quốc phòng Kra Giăn Ha Pủt đã từng tham gia lực lượng biệt kích do cố vấn “mũ nồi xanh” của Mỹ huấn luyện từ năm mới 18 tuổi.

                  Đến năm 1981 lại thêm một loạt võ quan nữa của FULRO bị truy quét và bắt sống tại trận trọng đó có chuẩn tướng Nay Guh, người Êđê, phó tổng tham mưu trưởng FULRO đã từng là chuẩn úy tử ngày đi lính cho thực dân Pháp, tiếp đó lại được CIA đào tạo.

                  Ngày 8 tháng 3 năm 1981 tại thị xã Đà Lạt hàng ngàn nhân dân trong đó có các già làng, mục sư và nhiều thầy giảng đạo Thiên chúa và đạo Tin lành người dân tộc dã chăm chú lắng nghe Ya Duk, cựu phó thủ tướng thứ nhất chính phủ phản động FULRO bị các lực lượng an ninh nhân dân bắt sống rồi được khoan hồng, nói về quá trình phản bội và những kế hoạch mà CIA trao cho trong công tác “hậu chiến”. Mục sư Ha Brôn cũng tố cáo những âm mưu thâm độc của CIA lợi dụng tôn giáo để mê hoặc nhiều người Thượng chống lại cách mạng. Nhiều tên phản động trong lực lượng FULRO trước kia đã từng được giao cho giữ các chức vụ tổng trưởng, tỉnh trưởng, quận trưởng cùng lần lượt tố cáo trước nhân dân ơn cách mạng đã khoan hồng cho bọn chúng sau khi bị bắt.

                  Trước tình hình hàng loạt các đơn vị FULRO bị vây quét, truy lùng, tiễu trừ ở khắp mọi nơi trong khu vực Tây Nguyên và lân cận, đầu năm 1980 bọn đầu sỏ FULRO đã cấu kết với tàn quân Polpot, co cụm lại tại vùng rừng núi ở Môndunkêrê dự định dùng địa bàn này của Cămpuchia làm nơi trú chân để củng cố lực lượng rồi lại tiếp tục vượt biên giới thâm nhập vào trong nước để hoạt động lật đổ. Thế nhưng, trước sự phát triển nhanh chóng của cách mạng Cămpuchia lực lượng tàn quân của Polpot cũng tiếp tục tan rã phải chuyển sang Thái Lan, lần quất lại một số trại “tị nạn” ở biên giởi Thái Lan – Campuchia. Lũ tàn quân FULRO cùng mất một chỗ dựa quan trọng, CIA lại lập tức cứu nguy cho bọn chúng, chuyển bọn đầu sỏ FULRO sang đất Thái Lan để nương náu chờ dịp quay trở lại khu vực Tây Nguyên ở Việt Nam. Theo lời khai của những tên chỉ huy trong lực lượng FULRO. Sau đó bị nhân dân ta bắt giữ trong khi vừa mới mon men, vượt qua biên giới trở về Việt Nam thì năm 1980, CIA đã chuyền dược gần 200 tên FULRO sang đất Thái Lan, lập căn cứ tại Pẹt Ủm. Tại đây, bọn chúng tiềp tục cung cấp đôla và tiền Thái Lan để chi tiêu, nhiều thiết bị thu phát tin và máy liên lạc vô tuyến điện, quần áo, vũ khí. Nhiều vũ khí do Trung Quốc tiếp tế cho Polpôt cũng được “san sẻ” để đưa cho tàn quân FULRO nương náu trên đất Thái Lan. Trong những năm 1981, 1982, 1983, do bị nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân ta truy quét mạnh, bọn FULRO phải giảm khá nhiều hoạt động quân sự. Nhưng CIA lại chỉ thị cho chúng bí mật thâm nhập vào các buôn làng, rỉ tai tuyên truyền lôi kéo thanh, thiếu niên bỏ gia đình chạy ra rừng để FULRO đưa sang Thái Lan gặp CIA, từ đó CIA lại tổ chức cho sang Mỹ huấn luyện rồi trở về nước hoạt động. Từ năm 1987, nhiều gia đình người Thượng ở Tây Nguyên có con em bỏ ra rừng “biệt tích” đã nhận được những lá thư của chính những người thân “bị mất tích” này gửi từ Thái Lan, Philippin và Mỹ về nhà báo tin đang được nuôi dưỡng và hẹn “sẽ có ngày trở lại”. Một số gia đình sau khi nhận được thư đã mang đến báo cáo với già làng và chính quyển nhân dân, cung cấp, cho cơ quan an ninh nhiều bằng chứng cụ thể về việc CIA lừa gạt, lôi kéo lớp tuổi trẻ các dân tộc ít người phục vụ cho kế hoạch “hậu chiến” lâu dài của chúng như thế nào.

                  Cho tới nay, cuộc sống của nhân dân các dân tộc ở Tây Nguyên ngày càng ổn định. Chính sách dân tộc rõ ràng, minh bạch của ta cộng với những biện pháp cụ thể nhằm cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của đồng bào các dân tộc ngày càng thấm sâu vào lòng người. Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên ngày càng giác ngộ cách mạng thì bọn FULRO càng mất hết chỗ dựa để hoạt động. Trên thực tế nhiều đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên mỗi khi phát hiện thấy có những phần tử FULRO xuất hiện đã lập tức tố giác bọn chúng với cơ quan an ninh hoặc chủ động khuyên nhủ bọn chúng ra đầu thú để hưởng lượng khoan hồng.

                  Rõ ràng, nếu không có bàn tay phá hoại của CIA thì cái gọi là “vấn đề FULRO” đã bị xóa bỏ từ lâu. Nhưng mãi tới nay, mặc dù gặp nhiều thất bại CIA vẫn ngoan cố tìm mọi cách nuôi dưỡng, tiếp tế, đào tạo lũ tàn quân FULRO nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại và lật đổ ở Việt Nam. Rất đáng tiếc là chính quyền Thái Lan tuy đã công khai tuyên bố muốn biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường buôn bán nhưng vẫn còn một số người tiếp tục dung túng cho lũ tàn quân Pôlpôt cũng như tàn quân FULRO nương náu, trên lãnh thổ Thái Lan, tiếp tục thực hiện các hoạt động phá hoại và lật đổ. Có nước tiếp giáp với Việt Nam vẫn còn tiếp tế vũ khí cho cả tàn quân Polpốt lẫn tàn quân FULRO


Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #31 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 09:36:13 pm »

15. CIA VÀ NHÓM “LIÊN MINH” CHỐNG VIỆT NAM


                 Lực lượng FULRO bị truy quét mạnh và dần mòn tan rã là một thất bại nặng đối với CIA và cả đối với những thế lực phản động quốc tế ôm ảo vọng sử dụng con bài FULRO chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên CIA vẫn tiếp tục ngoan cố dấn sâu vào các hoạt động tội ác. Từ trên đất Mỹ, bọn ngụy di tản theo quan thầy đang bị lang thang thất nghiệp túng đói trong các trại tỵ nạn đã lại được CIA móc nói, tuyển mộ những tên ác ôn tổ chức thành những toán biệt kích vũ trang đưa trở lại Việt Nam hoạt động. Trong số này có toán biệt kích do Võ Đại Tôn cầm đầu vừa vượt qua biên giới đã bị dộ đội biên phòng và các lực lượng an ninh nhân dân vây đánh, Võ Đại Tôn bị bắt sống ngay tại trận.

                   Theo lời khai của Võ Đại Tôn, hắn vốn là một sĩ quan tâm lý chiến của ngụy, đồng thời cũng là một tên tay sai của CIA, đã lần lượt được trao cho các chức vụ như biên tập chương trình phát thanh của đài “Gươm thiêng ái quốc” và “Liên minh diệt cộng”, huấn luyện chiến tranh tâm lý cho các toán gián diệp biệt kích do CIA tuyên mộ thâm nhập phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa; soạn thảo các kế hoạch thông tin chiêu hồi. Năm 1975 chế độ ngụy hoàn toàn sụp đổ, Võ Đại Tôn cùng với nhiều sĩ quan ngụy khác hoảng hốt di tản với tâm trạng hoang mang tuyệt vọng. Nhưng chẳng bao lâu, tại bang Caliphonia Võ Đại Tôn đã gặp lại được một người quen cũ là trung tá Mỹ Etuốt Hây và đã được Hây giới thiệu làm tay sai một lần nữa cho CIA để phá hoại Tổ quốc, giết hại đông bào.

                   Trong bản khai báo sau khi bị bắt, Võ Đại Tôn viết:

                   “... giữa những ngày đang lang thang kiếm sống trên đất Mỹ, ngày 19 tháng 7 năm 1979 co gặp tướng phỉ Vàng Pao trong khi tôi nói chuyện với khối cộng đồng người Lào và Việt di tản Sang Mỹ. Тіếр đó tôi cũng gặp lại một người bạn cũ là Phạm Tuấn Việt cùng di tản và đang sống vất vưởng tại Lốt Angiơlét. Vào cuối tháng 7 (tôi không nhớ rõ chính xác ngày nào) Phạm Tuấn Việt cho tôi biết: Vàng Pao mời tôi ăn cơm tối và trong bữa ăn cơm này tôi sẽ gặp lại một người Mỹ đã quen biết từ năm 1975 tại Việt Nam sẽ giúp đỡ tôi. Tôi gặng hỏi là ai thì được biết, người Mỹ đó là trung tá Etuốt Hây, hiện đang làm việc trong cơ quan CIA tại Oasinhtơn. Tôi chợt nhớ ra đã làm việc với Hây tại Bộ thông tin chiêu hồi ở Sài Gòn tử Sau năm 1970.

                   Đúng buổi tối đã hẹn, Phạm Tuấn Việt lái xe đưa tôi đến một tiệm ăn Tầu ở Santa Ana thuộc vùng ngoại ô Lôt Angiơlét. Tại dó tôi và Phạm Tuấn Việt được gặp tướng Vàng Pao, trung tá Hây và một người Việt Nam cùng đi với Hây, được giới thiệu trung tá không quân Cộng hòa Việt Nam, tên là Cao Minh Châu, trước năm 1975 làm việc tại phòng kiểm soát không ảnh thuộc bộ tư lệnh không quân đặt tại Tân Sơn Nhất. Tôi còn dược biệt thêm, Cao Minh Châu cũng di tản sang Mỹ từ năm 1975 hiện lúc này đang công tác tại văn phòng nghiên cứu về các vấn đề có liên quan tới Đông Dương, trực thuộc cơ quan CIA tại Oasinhton. Phạm Tuấn Việt và Cao Minh Châu quan hệ với nhau rất mật thiết. Phạm Tuấn Việt là ủy viên chính trị thuộc tổ chức Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc.

                   Sau bữa cơm, Vàng Pao mời chúng tôi về văn phòng của khối cộng đồng người Lào di tản sang Mỹ cũng ở trong vùng Santa Ana. Đây là trụ sở riêng của Vàng Pao có đầy đủ tiện nghi và rất kín đáo. Cuộc họp cũng chỉ có 5 người chúng tôi. Mở đầu, Vàng Pao cho biết rất sung sướng dược biết Hây và tôi đã quen nhau từ trước, như vậy càng dễ dàng cho công cuộc hợp tác chung sau này, đồng thời cũng cho biết thêm là Hây cũng đang cộng tác mật với Vàng Pao trong hoạt động chống cộng sản. Vàng Pao muốn có buổi họp riêng này để xác định lại lời cam kết giúp đỡ tôi trong yêu cầu trở về Việt Nam, Vàng Pao yêu cầu tôi trình bày lại tóm tắt về mục tiêu, địa bàn xâm nhập, thời gian thực hiện để xem có cần bổ túc thêm ý kiến nào trợ lực cho tôi nữa không.

                   Tôi trình bày mục đích của tôi là muốn tạo lập một phong trào tâm lý chiến nhằm phát động những người Việt Nam lưu vong tại hải ngoại cùng nhau tích cực yểm trợ mọi mặt cho Mặt trận phục quốc tại Việt Nam, để cho người bên trong vững lòng đấu tranh khi biết có sự tiếp tay từ bên ngoài. Tôi cũng muốn đích thân về Việt Nam tìm hiểu tình hình cụ thể nếu có thể được hoặc gặp gỡ lực lượ FULRO lại biên giới Lào Việt để thành lập cơ sở liên lạc đầu tiên. Thời gian dự trù cho chuyến đi về này tất cả là 3 tháng. Tôi yêu cầu Vàng Pao giúp đỡ nhân sự bảo vệ an ninh và dẫn đường cho lồi. Địa bàn thuận lợi nhất là vùng Tây Nguyên, vì đó là rừng núi, dễ dàng thâm nhập. Đường đi từ Thái Lan xuyên qua Lào về Tây Nguyên tương đối ngắn, không có những trục lộ giao thông lớn hoặc tỉnh lỵ quan trọng có nhiều đồn kiểm soát.

                   Tôi hỏi Hây đã nghiên cứu được đường xâm nhập nào về Việt Nam dễ dàng thuận lợi chưa, hoặc qua Lào, hoặc qua Cămpuchia, để có thể giúp tôi trở về? Tôi có xin lỗi Vàng Pao khi hỏi như vậy vì đây là cuộc họp nhằm cùng nhau thảo luận tìm con đường tối ưu giúp tôi nhanh chóng thực hiện công việc

                   Hây cho biết, mọi việc do Vàng Pao và tôi chủ động. Hây chỉ giúp đỡ ý kiến hoặc giúp đỡ phương tiện cần thiết cho tôi. Ngay CIA cũng mới chỉ phân tích trên lý thuyết, nghiên cứu những nguồn tin đã thu lượm đưuọc, chưa kết luận chọn lựa hành lang xâm nào được coi là thuận lợi nhất. Tuy nhiên, người Mỹ tin rằng nếu tôi được người của Vàng Pao tại Thái Lan dẫn đường thì sẽ không có gì trở ngại. Tiếp theo, Hây có dặn tôì trên đường về cùng như đường quay trở lại cố gắng quan sát địa hình địa vật nào thuận lợi cho việc tạo hành lang thâm nhập sau này. Lẽ tất nhiên phải có nhiều con đường thâm nhập. Ngoài ra Hây cũng lưu ý tôi chú ý quan sát vùng Tây Nguyên, nhất là các khu vực Plây cu, Công Tum gần biên giới Lào - Việt, để có thể dự trù thiết lập các mật khu kháng chiến khi cần thiết. Các mật khu này sẽ có nhiệm vụ yểm trợ, chỉ huy, liên lạc cho cả hai mặt Lào và Việt Nam tại khu vực Hạ Lào và vùng Tây Nguyên Việt Nam.

                   Vàng Pao phát biểu, xác định vùng Tây Nguyên Việt Nam là địa bàn quan trọng nhất cho chiến lược của cả ba nước Việt Nam - Lào và Cămpuchia sau này, khi đến giai đoạn nổi dậy, vì Tây Nguyên vừa có thể yểm trợ cho Cao Nguyên và trung phần Việt Nam vừa cho Hạ Lào và miền Tây Nam Campuchia, vừa tạo ra được thế liên hoàn bổ sung cho nhau khi cần di động quân tại các mật khu.

                   Hây đồng ý và cho biết CIA đang đặc biệt lưu ý về vùng này, Hây chờ tôi trở ra sau khi hoàn tất công tác để thảo luận cụ thể thêm. Tôi có đề nghị Hây cho biết tên một số nhân vật đang lãnh đạo phong trào FULRO tại Tây Nguyên và giới thiệu tôi với họ để tôi tiếp xúc khi thâm nhập tới Tây Nguyên. Hây cho biết ông ta chỉ phụ trách nghiên cứu về chiến luợc và nắm tình hình chung chứ không phụ trách về nhân sự, vấn đề này có lẽ Vàng Pao rõ hơn.

                   Vàng Pao nói, sẽ chỉ thị cho các sĩ quan dưới quyền của Vàng Pao hiện đang có mặt tại Thái Lan để tìm người lên lạc với FULRO giúp tôi. Tuy nhiên Vàng Pao cho rằng các lực lượng bên trong của Lào và Việt Nam đều phải thường xuyên di động dē báo đảm an ninh chứ không ở một nơi cố định. Vì vậy, dù trước kia có liên lạc với FULRO thì nay cũng chưa chắc chắn 100% tìm gặp dễ dàng những người đã bắt liên lạc từ trước, nhưng sẽ cố gắng giúp.

                   Buổi họp tới đây thì Cao Minh Châu ngỏ lời cáo biệt vì phải ra phi trường bay trở lại Oasinhtơn trong chuyến đêm cùng với Hây. Trung tá Hây cầu chúc tôi thành công, mong gặp lại để cùng họp bàn cho công việc chung, mọi liên lạc sau này với Hây sẽ do Phạm Tuấn Việt hoặc Cao Minh Châu thông báo, Phạm Tuấn Việt cho biết thêm Hây cũng đã gặp Lê Phước Sang để cùng nghiên cứu hành lang xâm nhập về vùng Hòa Hảo ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng như tìm địa bàn thiết lập mật khu tại miền Tây Nam Bộ.

                   Tôi và Phạm Tuấn Việt cùng từ giã Vàng Pao. Trên đường về. Phạm Tuấn Việt cho tôi biết “Hây là người rất nhiệt tình”.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #32 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 09:40:06 pm »

                 Võ Đại Tôn cũng đã khai rõ toàn bộ kế hoạch mà bọn chúng dự định tiến hành, bao gồm từng giai đoạn thứ tự như sau:

                  Giai đoạn 1: Đỡ đầu một đơn vị FULRO, hoặc một đơn vị hỗn hợp FULRO – Việt Nam, có thể là cấp tiểu đoàn hoạt động ở vùng Tây Nguyên để gây tiếng vang tâm lý ở trong và ngoài nước. Đỡ đầu bằng cách:

                  - Cung cấp tiền bạc để đơn vị mua sắm vật dụng lương thực.
                  - Tiếp tế thuốc men các loại.
                  - Cung cấp máy truyền tin loại nhỏ, di dộng, tầm xa khoảng 10 cây số, các máy chụp ảnh, ghi âm.
                  - Cung cấp sách báo, tài liệu tuyên truyền (chưa thể đặt vấn đề cung cấp quân trang, quân dụng và vũ khí vì việc vận chuyển xuyên rừng từ Thái qua Lào về Việt Nam gặp nhiều khó khan).

                  Giai đoạn 2: Thành lập “Binh đoàn Việt Nam hải ngoại” cấp tiểu đoàn trở lên, đưa về đồn trú chung với lực lượng Vàng Pao ở biên giới Thái – Lào, có thể tại vùng 5 hoặc vùng 7 chiến thuật của Lào. Lực lượng sơ khởi để thành lập binh đoàn này gồm có:

                  - Lực lượng của tổ chức “chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc” tại Úc, Mỹ và châu Âu. Hiện nay tại Úc đã có khoảng 50 đoàn viên tình nguyện, còn tại Mỹ và châu Âu thì Phạm Tuấn Việt đang phát triển tổ chức, chưa biết hiện đã có bao nhiêu, chờ ngày tôi từ Việt Nam quay trở ra mới phát động quy tụ.
                  - Lực lượng tuyển mộ tại các trại tị nạn ở Thái Lan, Malaixia.

                  - Lực lượng cựu quân nhân ở châu Âu hiện dang do tướng Trần Văn Trung chỉ đạo.

                  - Ngoài ra tại Mỹ từ năm 1979 bộ Quốc phòng Hoa kỳ có thành lập một đơn vị mới, gọi là “Lực lượng phòng vệ quốc gia” (National guard). Lực lượng này tuyển mộ các cựu quân nhân Việt Nam đã được huấn luyện tại Mỹ trong thời chiến vừa qua, đưuọc đồng hóa vào quân đội Mỹ (nhưng phải đánh sụt một cấp, ví dụ: nếu trước đây là trung tá trong quân đội Viết Nam cũ thì nay chỉ được đóng cấp thiếu tá). Lực lượng này chỉ thu nhận người Việt, còn người Mỹ giữ vai trò cố vấn. Hiện đã có hơn 2000 quân tại hai tiểu bang Têchxơt và Caliphonia. Nhiệm vụ hiện nay là canh gác phòng thủ các căn cứ, quân sự, doanh trại của Mỹ. Có thể tìm cách liên hệ nhờ Mỹ biệt phái một số quân nhân thuộc lực lượng này gia nhập binh đoàn,

                  Giai đoạn 3: Tùy theo nhu cầu tình hình, cho một vài đơn vị nhỏ thuộc binh đoàn này từ các căn cứ thâm nhập về Tây Nguyên để tiếp tay cho FULRO gây rối loạn, gây tiếng vang để từ đó các lực lượng bạo động ở trong nước Việt Nam, nếu có sẽ kéo về gia nhập thêm nhằm bành trướng thế lực, giải phóng vài tỉnh ở Tây Nguyên để làm bàn đạp.

                  Phương pháp thực hiện:

                  Giai đoạn sơ khởi: phát động phong trào quyên góp tiền bạc trong khối người Việt di tản tại ngoại quốc hiện tổng số có tới một triệu. Nếu vận động kêu gọi được 10% thì sẽ có 10 vạn người. Nếu mỗi người đóng góp một Mỹ kim một tháng thì sẽ được 100.000 đôla đổi ra tiền Thái sẽ có 2 triệu đồng BATH của Thái để chi dùng. Nếu hoạt động tốt có tiếng vang có thể còn thu được nhiều tiền hơn.

                  Giai đoạn kế tiếp: Khi đã có cơ sở, đạt được một vài thắng lợi, tạo được tiếng vang quốc tế, sẽ vận động các quốc gia thân hữu tài trợ. Trong giai đoạn đầu tự túc, khi đã có tiền quyên góp được thì sẽ mua quân trang quân dụng hiện đang bán tràn ngập công khai tại biên giới Thái lan - Miến Điện: Một khẩu súng M16 còn nói chi có 1000 đồng Thái...

                  Như mọi người đều rõ, khi vừa lọt qua biên giới để chuần bị gây cơ sở hoạt động bạo loạn, toàn bộ toán biệt kích của Võ Đại Tôn đã bị bao vây, truy quét và tiêu diệt. Võ Đại Tôn và một số tên trong bọn bị bắt sống. Điều mà hắn , “chú ý quan sát” đuợc, như tên trung tá Mỹ Etuốt Hây đã căn dặn, là nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền núi, mặc dù cuộc sống có khó khăn vẫn đoàn kết hăng say lao động, bảo vệ an ninh của Tổ quốc.

                  Nằm trong trại giam được ít lâu, sau khi đã khai báo mọi hành vi và mưu đồ tội ác mà CIA đã chỉ dẫn cho hắn, Võ Đại Tôn xin phép được viết một loạt thư ngỏ gủi trung tá CIA Etuôt Hây, tướng phỉ Vàng Pao, một số quan chức Thái Lan và các “chiến hữu” của hắn. Bức thư Viết:

                  “Thưa quý vị
                  Tôi vẫn ghi nhớ những tấm tình đặc biệt mà quí vị đã dành cho cá nhân tôi cũng như với sự cộng tác chặt chẽ của quý vị đối với tổ chức chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc của tôi. Nhưng hôm nay, với bức thư ngỏ này tôi xin trình bầy về sự chuyển hướng tư tưởng lập trường của tôi vì lợi ích của Tổ quốc va hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

                  Như quý vị đã rõ, trong quá trình hoạt động tại nước ngoài, tôi đã nhiều lần tham khảo ý kiến và nhận được nhiều khích lệ quý báu, sự giúp đỡ chân tình của quý vị cũng như của các bạn đồng minh khác. Gần đây, cũng nhờ sự trợ giúp tinh thần và vật chất của quý vị, tôi đã thực hiện công tác xâm nhập từ Thái Lan xuyên qua đất Lào về vùng Tây Nguyên Việt Nam với mưu đồ thiết lập các cơ sở mật để phát động phong trào nổi loạn trên quê hương của tôi, nhưng công tác đó đã bị thất bại. Song cũng chính nhờ sự thất bại này mà tôi đã chợt tỉnh. Tôi đã thực tế trông thấy sự nỗ lực của toàn thể nhân dân Việt Nam, với tinh thần bất khuất, quyết tâm đấu tranh giữ vững nền độc lập của dân tộc. Trên cơ sở nhận thức này, tôi đã ý thức được rõ ràng tất cả mọi hoạt động của tôi từ trước tới nay tại hải ngoại chỉ dựa trên ảo tưởng, chạy theo chiều hướng sai lệch, phản bội Tổ quốc thân yêu của tôi.

                  Hôm nay, với nhận thức đó qua thời gian suy ngẫm và tìm hiểu, tôi muốn vạch trần mọi âm mưu của Mỹ và một số nước ngoài, và cũng thiết tha mong quý vị hãy thấy rõ qua nhiều sự kiện khách quan, tình hình ba nước Việt Nam - Lào -Cămpuchia là không thể đảo ngược được. Tất cả mọi cố gắng của quý vị, của tôi trong quá khứ chỉ là mộng tưởng hão huyền, ngày càng đưa chúng ta vào thế cùng đường lạc lối trở thành những kẻ có tội.

                  Tôi mong quý vị nhận cho những lời trung thực này. Nếu quý vị vẫn tiếp tục phiêu lưu dấn thân và những âm mưu hiếu chiến của Mỹ thì tôi thiết nghĩ quý vị sẽ chịu một phần trách nhiệm trong sự phá hoại nền hòa bình hiện nay giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Quý vị cần hiểu rõ điều dó. Lịch sử của dân tộc không cho phép mỗi người chúng ta, dù ở bất cứ cương vị hay hoàn cảnh nào, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân lúc nào cũng muốn sống cảnh thanh bình, ấm no hạnh phúc, giao hảo hiếu hòa cùng nước bạn. Chúng ta không được quyền làm lợi cho ngoại Bang, gieo rắc thêm tang thương lên khu vực đã dược ổn định này.

                  Một lần nữa, xin cám ơn quý vị về cảm tình và sự giúp đỡ đã qua đối với tôi và hy vọng quý vị nhận thức rõ chân lý.
                  Trân trọng kính chào quý vị”.

                  Dĩ nhiên, các “chiến hữu” của Võ Đại Tôn khi nhận được “lá thư ngỏ” này đã cho là Võ Đại Tôn bị cơ quan an ninh của ta “bắt buộc” viết “tài liệu tuyên truyền” này. Hơn nữa, chúng dã không cưỡng lại được chỉ thị của CIA tung chúng vào cõi chết. Tiếp theo vụ Võ Đại Tôn lại đến lượt Hoàng Cơ Minh dẫn đầu một tốp biệt kích khác thâm nhập vào Việt Nam. Số phận bi đát lại đến với Hoàng Cơ Minh, thảm hại hơn đối với Võ Đại Tôn. Hắn đã bị bắn chết ngay khi mới vượt qua biên giới Thái Lan.


Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #33 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 09:44:23 pm »

16. BỌN TAY SAI CIA TRONG KẾ HOẠCH LẬT ĐỔ

                 Theo lời khai của bọn tay chân Hoàng Cơ Minh bị các lực lượng vũ trang nhân dân ta bắt sống sau khi “chủ tướng” của chúng bị bắn chết tại trận, tổ chức phản động của Hoàng Cơ Minh được CIA nặn ra tại miền Nam bang Caliphonia Mỹ từ ngày 30-4-1980, vào dịp 5 năm chế độ ngụy Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ. Nhằm mục dịch tuyên truyền chiến tranh tâm lý, CIA đã khoác cho bọn chúng một cái tên rất kêu là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng miền Nam Việt Nam”. Nòng cốt của “Mặt trận” này là một đảng mang tên “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”. Bên cạnh đó còn có một “Hội đồng kháng chiến toàn quốc” có nhiệm vụ đề ra “chiến lược chiến thuật lật đổ chính quyền nhân dân” khôi phục lại chế độ ngụy Sài Gòn tay sai của đế quốc Mỹ.

                  Ý đồ này của bọn chúng đã bộc lộ rõ rệt trong việc chúng dùng lại “quốc ca” và “quốc kỳ” của ngụy quyền Sài Gòn làm biểu tượng của mặt trận, chọn cờ nền xanh có bông mai trắng 6 cánh ở chính giữa làm đảng kỳ của đảng “Việt Nam canh tản cách mạng đảng”, gọi tắt là đảng Việt Tân. Lúc mới đầu thành lập, cái mặt trận này chỉ có vẻn vẹn 6 tên sĩ quan ngụy đang di tản ở Mỹ. Đó là: đề đốc hải quân Hoàng Cơ Minh, trung tá bộ binh Dương Văn Tư, thiếu tá không quân Nguyễn Kim, thiếu tá bộ binh dù Đặng Quốc Hiên, trung tá bộ binh Trương Tấn Lộc, đại úy bộ binh Nguyễn Huy.

                  Trong “cương lĩnh cách mạng” chúng chia thời gian ước định “giải phóng Việt Nam” làm 5 giai đoạn, trình tự như sau:

                  - Giai đoạn 1: gọi tên là giai đoạn “thực hiện sách lược” được tiến hành ngay sau khi thành lập Mặt trận, có nhiệm vụ điều tra, thăm dò bắt liên lạc, tập hợp những phần tử phản dộng trước kia đã từng phục vụ dưới chế độ ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn hiện đang di tản, sống lưu vong phiêu bạt tại nhiều nước trên thế giới, kết nạp chúng vào cái mặt trận chống lại nhân dân này. Cùng một lúc với việc tập hợp lực lượng, bọn chúng cũng tìm cách cầu xin sự viện trợ của các thế lực phản động quốc tế nhằm tìm sự giúp đỡ về tài chính và vũ khí để chống lại nhân dân

                  - Giai đoạn 2: mệnh danh là giai đoạn “đông tiến” dự định sẽ tiến hành trong khoảng thời gian từ 1980 đến 1983. Trong giai đoạn này, chúng đề ra hai “công tác chủ yếu”. Một là kích động một phong trào “chống đối” nội địa Việt Nam chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa. Hai là, tuyển mộ, thành lập lực lượng “kháng chiến quân” ở ngoài nước bí mật đưa về Việt Nam phát động phong trào “kháng chiến” chống lại nhân dân và phá hoại Tổ quốc Việt Nam.

                  - Giai đoạn 3: gọi là giai đoạn “xây dựng hạ tầng cơ sở kháng chiến hạt nhân ở trong nước”, mới đầu dự định sẽ tiến hành trong khoảng thời gian từ 1983 đến 1986, sau lại chuyển thành “từ 1984 đến 1987”. Trong giai đoạn này, chúng dự định xây dụng một số căn cứ địa gọi là “mật khu” tại một số vùng rừng núi hẻo lánh, nhất là khu vực Tây Nguyên,

                  - Giai đoạn 4: gọi là giai đoạn “xây dựng vùng giải phóng tạm”, dự định tiến hành từ 1986 đến 1990 “sau đổi lại là: từ 1987 đến 1990”. Trong giai đoạn này chúng dự định sẽ sử dụng những lực lượng vũ trang phản động cố chiếm lấy một vài xã, ấp để làm “căn cứ địa” và “bàn đạp quân sự”, tiếp đó sẽ đánh thông từ xã này sang xã khác, cố chiếm và giữ một vài huyện.

                  - Giai đoạn 5: gọi là giai đoạn “tổng nổi dậy” dự dịnh tiến hành vào năm 1992. Trong giai đoạn này, CIA dự tính cái “mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” do Mỹ nặn ra đã tồn tại được 12 năm. Trong khoảng thời gian hơn một chục năm đó đủ để cho cơ quan tình báo Trung ương của Mỹ tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý, vừa tuyên truyền phô trương thanh thế cho lực lượng của Hoàng Cơ Minh ở ngoài nước, vừa tuyên truyền kích động gây mầm mống chống đối ở trong nước Việt Nam. CIA cũng dự tính thời gian 12 năm kể từ năm 1980 đủ thời gian nền kinh tế của Việt Nam bị Mỹ và các thế lực phản động quốc tế bao vây phong tỏa sẽ ngày càng kiệt quệ gây ra những rối ren náo động về chính trị. Trong khi đó, lực lượng vũ trang phản cách mạng của Hoàng Cơ Minh do CIA thành lập, nuôi dưỡng và trang bị sẽ “ngày càng lớn mạnh”, xây dựng được một số “vùng giải phóng” ở trong nước, hỗ trợ cho cuộc “tổng nổi dậy” lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, khôi phục lại chế độ ngụy quân ngụy quyền tay sai của đế quốc Mỹ như thời kỳ trước năm 1975.

                  Vẫn theo lời khai của những tên bị bắt sống, từ năm 1981 bọn Hoàng Cơ Minh đươc sự giúp đỡ của một số phần tử cực hữu ở Thái Lan đã thiết lập được 14 “tiền đồn”, được tập hợp thành 4 “căn cứ” đánh số 27, 81, 83, 84. Hoàng Cơ Minh cùng với Dương Văn Tư, Đặng Quốc Hiền, Trần Quốc Lộc ẩn náu tại các căn cứ này. Một số điệp viên CIA đã tới những căn cứ nói trên bày trò “phỏng vấn” Hoàng Cơ Minh rồi chụp ảnh in trên tờ báo “kháng chiến” xuất bản tại Caliphonia, tuyên truyền rùm beng đây là những “căn cứ quốc nội”, những “mật khu” thành lập “ngay trong lòng đất nước Việt Nam” nhằm lừa bịp những người Việt đang di tản trên đất Mỹ, thúc ép cho họ phải quyên góp để “ủng hộ kháng chiến quân”. Ngày 27 tháng 12 năm 1983 CIA còn giúp bọn Hoàng Cơ Minh xây dựng được một đài phát thanh lưu động đặt lại Căn cứ 81 trên đất Thái Lan, gọi là đài “tiếng nói Việt Nam kháng chiến” nhưng do làn sóng quá yếu đài này không được mấy ai biết đến.

                  Cũng từ năm 1981 CIA còn vận động một số phần tử cực hữu ở Thái Lan cho bọn Hoàng Cơ Minh được phép vào các trại tị nạn người Việt trên đất Thái Lan tuyên truyền, mua chuộc, dụ dỗ lôi kéo những thanh niên trai tráng đã rời bỏ Tổ quốc, sung vào cái gọi là lực lượng “kháng chiến quân” của chúng. Mặc dù đã tung khá nhiều tiền của nua chuộc lôi kéo, nhưng bọn Hoàng Cơ Minh chi tuyển mộ dược chưa đầy 200 người làm tay sai cho chúng. Sau khi đã đưa số “tân binh tình nguyện” này về các căn cứ trên đất Thái Lan հuấn luyện, bọn Hoàng Cơ Minh đã xé lẻ số này đưa và 5 đơn vị mà chúng gọi là các “Quyết đoàn”, đánh số: 7683, 7684, 7685, 7686, 7687.

                  Ngày 15 tháng 5 năm 1986, Hoàng Cơ Minh bắt đầu tổ chức cuộc thâm nhập lần thứ nhất, gọi là “Đông Tiến 1” từ biên giới Thái Lan, xuyên qua Lào và Cămpuchia để trở về Việt Nam. Cuộc hành quân này đặt dưới sự chỉ huy của tên trung tá Dương Văn Tư, lúc này đã được chúng thăng vọt lên cấp thiếu tướng tư lệnh lực lượng võ trang kháng chiến. Toàn bộ lực lượng kháng chiến quân của Dương Văn Tư chỉ gồm vẻn vẹn có 51 tên nhưng khi vừa mới chạm đất Lào đã bị lực lượng biên phòng của nhân dân Lào tiêu diệt 42 tên trong đó có Dương Văn Tư, bắt sống 9 tên. Không một tên nào chạy thoát trở về căn cứ 27 của chúng đặt ở khu vực biên giới Thái Lan.

                  Thất bại đầu tiên này đã làm cho cả quan thầy CIA lẫn bọn tay sai Hoàng Cơ Minh choáng váng. Vì vậy, mãi hơn một năm sau, tức là ngày 7 tháng 7 năm 1987 bọn chúng mới tổ chức được cuộc hành quân thâm nhập thứ hai, mang tên Đông Tiến 2. Lần này tất cả các “tư lệnh” chỉ huy các “quyết đoàn” đều đùn đẩy nhau, không tên nào dám xung phong dẫn đầu lực lượng kháng chiến quân thâm nhập vào nội dịa Việt Nam. Cuối cùng, do bị quan thầy CIA thúc giục và một số “chiến hữu” trong lực lượng cực hữu của Thái Lan nói khích, tổng tư lệnh Hoàng Cơ Minh đành liều mạng đích thân chỉ huy cuộc hành quân Đông tiến 2 nhằm “làm gương cho cấp dưới”. Lần này Hoàng Cơ Minh sử dụng toàn bộ 3 quyết đoàn số 7684, 7686, 7687 nhưng toàn bộ lực lượng cũng chỉ gồm có 150 tên. Cũng như lần trước, ngay khi vừa mới đặt chân lên đất Lào, bọn chúng đã bị tiêu diệt 68 tên trong đó có Hoàng Cơ Minh, bắt sống 67 tên. Chỉ còn 15 tên chạy thoát trở về căn cứ 27 đặt trên đất Thái Lan.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #34 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 09:57:36 pm »

                 Hai lần hành quân thâm nhập, cả hai lần đều bị thảm bại. Thế nhưng, CIA vẫn ngoan cố theo đuổi mưu đồ lật đổ và phá hoại ở Việt Nam. Mặc dù tên Hoàng Cơ Minh bị bắn chết trên dường thâm nhập đã được chụp ảnh rất rõ và công bố trên báo chí; mặc dù trong hai phiên tòa xét xử công khai vào ngày 1 tháng 12 năm 1987 và 20 tháng 8 năm 1988, những tên bị bắt sống đưa ra xét xử đã khai báo rõ tất cả quá trình thâm nhập và thất bại của bọn chúng, CIA vẫn cố tìm mọi cách bưng bít, giấu giếm không cho bọn tay sai trên đất Thái Lan cũng như trên đất Mỹ biết tin Hoàng Cơ Minh đã bị bắn chết. Lúc thì chúng phao tin Hoàng Cơ Minh đang “lãnh đạo công cuộc kháng chiến tại một mật khu ở Cao Nguyên Trung phần Việt Nam” lúc thì chúng lại tuyên truyền rùm beng Hoàng Cơ Minh đi “công du” tại một số nước trên thế giới để “mưu cầu ngọai viện”. Từ Caliphonia những tờ truyền đơn và những cuốn sách nhỏ in “lời hiệu triệu” của Hoàng Cơ Minh vẫn tiếp tục được biên soạn, xuất bản và phát hành rộng rãi trong khối cộng đồng người Việt di tản tại nhiều nước trên thế giới.

                 Trên đất Thái Lan, sau khi toàn bộ 3 Quyết đoàn do Hoàng Cơ Minh bị tiêu diệt, những tên cầm dầu còn sống sót trong cái gọi là “mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” lấy lý do những vị trí xuất phát bị lộ, đã triệt thoái và xóa bỏ dấu vết toàn bộ các căn cứ 81, 83, 84 đặt trong huyện Buntharic thuộc tỉnh Ubon của Thái Lan, di chuyển “Sở chỉ huy” vào sâu hơn nữa trên đất Thái Lan, ẩn náu trong vùng núi Phu Mạt thuộc huyện Takan tỉnh Ubon, cách căn cứ cũ hàng trăm kilômét.

                 Bọn chúng lại tiếp tục đi vào các trại tị nạn ở Xikiu, Aranaphathit, Panatnhikom... tuyển mộ “kháng chiến quân”. Theo lời khai của những tên sau này bị bắt, trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1989 bọn chúng đã tuyển mộ được khoảng gần 100 tên “lính mới” đưa về một căn cứ trên dất Thái Lan mà chúng đặt tên là “căn cứ Chi Linh” để huấn luyện về quân sự và chính trị.

                 Tại căn cứ này, bộ tư lệnh tối cao gồm có hai tên: Ba Hoàng và Trần Lộc.

                 Dưới sự chỉ huy chung của Ba Hoàng và Trần Lộc còn có một số tên được chỉ định làm chỉ huy trưởng các quyết đoàn như Trần Quang Đô, Nguyễn Văn Đông, Ngô Biên, Nguyễn Ngọc Hùng, Hồ Xuân Tiến, Lê Văn Tiến, Nguyễn Trung Tấn… Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, khi được chỉ định xúc tiến công cuộc chuẩn bị để thâm nhập Việt Nam tên Nguyễn Trung Tấn chi huy quyết đoàn 1419 đã hoang mang dao động và bỏ trốn. Cho đến tháng 1 năm 1989 trong tay Ba Hoàng và Trần Lộc cũng mới chỉ có 2 quyết đoàn.

                 Do quyết đoàn trưởng Nguyễn Trung Tấn đã bỏ trốn nên Trần Quang Đô được chỉ định làm chỉ huy trưởng Quyết đoàn 1419. Nguyễn Ngọc Hùng là quyết đoàn phó phụ trách tác chiến. Gọi là quyết đoàn nhưng toàn bộ số quân do Trần Quang Đô chỉ huy chỉ có 38 tên.

                 Nguyễn Văn Đông được chỉ định làm quyềt đoàn trưởng quyết đoàn 2589, Dương Hoài Vận làm quyết đoàn phó phụ trách tuyên vận, Lê Văn Tiến làm quyết đoàn phó phụ trách tác chiến. Toàn bộ quyết đoàn này cũng chỉ có 30 tên.

                 Một ban chỉ huy chung gồm 7 tên do Mai Văn Hùng cầm đầu được thành lập để chỉ đạo cả 2 Quyết đoàn này trên dường hành quân thâm nhập Việt Nam.

                 Tháng 6 năm 1989 cả hai quyết đoàn gồm 68 tên đã chuẩn bị xong, sẵn sàng lên đường. Ba Hoàng và Trần Lộc triệu tập các tên chỉ huy của hai quyết đoàn, trao nhiệm vụ:

                 Lập một “căn cứ tạm” ở khu vực giáp ranh các tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng và Gia Lai - Công Tum. Từ căn cứ tạm này sẽ tìm cách bắt liên lạc với lực lượng “kháng chiến quân” đã về nước từ trước (bọn Trần Quang Đô vẫn chưa biết là tất cả lực lượng trong hai đợt hành quân Đông tiến 1 và Đông tiến 2 đều đã bị tiêu diệt) khi có thêm lực lượng, sẽ phát triển xuống vùng châu thổ sông Cửu Long, chọn Châu Đốc là nơi lập căn cứ địa. Từ căn cứ địa này sẽ từng bước phát triển cơ sở phát triển lực lượng. Cùng trong lúc tuyển mộ thêm dân địa phương sẽ tiến hành các hoạt động phá hoại một số mục tiêu quan trọng như cầu cống, đường xe lửa, xí nghiệp... để phô trương thanh thế, tổ chức ám sát cán bộ, công an, bộ đội; thu thập tin tức tình báo gửi về trung tâm ở Thái Lan để rồi sẽ từ Thái Lan chuyển tới đại bản doanh vục tình báo Trung ương ở Mỹ.

                 Ngày 22 tháng 8 năm 1989 lễ chính thức xuất quân được tổ chức trên đất Thái Lan. Mỗi quyết đoàn trưởng được trao cho từ 6 đến 7 lạng vàng để chi tiêu trong cuộc hành quân. Trần Quang Đô được chỉ định làm chỉ huy trưởng cuộc hành quân.

                 Đúng 17 giờ ngày 22 tháng 8 năm 1989 toàn bộ bọn chúng được “các chiến hữu Thái Lan” bố trí đưa lên một xe ôtô vận tải quân sự và 3 xe ôtô nhỏ từ căn cứ xuất phát đi trong đêm tới bờ sông Mê Kông tiếp giáp với Lào. Tới 23 tháng 8 năm 1989 bọn phỉ Lào dùng thuyền gắn máy và 5 thuyền chèo đưa bọn Trần Quang Đô vượt sông Mê Kông vào đất Lào. Chúng dẫn bọn Trần Quang Đô tới chân núi Phu Keo thuộc huyện Vapi tỉnh Xaravan rồi quay trở về căn cứ của bọn phỉ Lào đặt ở Thái Lan. Từ Phu Keo, bọn Trần Quang Đô tự lực dùng bản đồ và la bàn mò mẫm đi theo hướng đông tìm đường về Việt Nam. Thế nhưng chưa đầy 70 giờ sau chúng đã bị các lực lượng vũ trang nhân dân Lào phát hiện và bao vây, truy kích. Trần Quang Đô vội tách lực lượng “hành quân đông tiến” làm hai toán, một toán do Trần Quang đô trực tiếp chỉ huy, một toán do Nguyễn Văn Đông chỉ huy, cố luồn rừng, lủi bụi tìm đường vượt qua biên giới Lào tới vùng rừng núi Việt Nam. Nhưng chúng vẫn không sao thoát khỏi mạng lưới bao vây truy quét dày đặc của nhân dân hai nước Lào Việt. Sau hơn 3 tuần bị lùng sục, truy quét, nhiều tên chết và bị thương, cuối cùng vào ngày 19 tháng 9 năm 1989 Trần Quang Đô cùng với 36 tên còn sống sót dành phải ra hàng.

                 Một lần nữa, kế hoạch Đông tiến của bọn phản động lưu vong di tản sang Mỹ lại bị đập nát vụn. Dĩ nhiên, Cục tình báo Trung ương Mỹ vẫn còn cay cú chưa cam chịu thất bại.

                 CIA đang tìm cách tạo ra “gương mặt mới” cho những con bài chính trị để quy tụ người Việt ở hải ngoại, hình thành lên nhiều tổ chức chính trị phản động, một loạt con bài tay sai của CIA lại đang được chuẩn bị ném vào những cuộc phiêu lưu mới. Một số tướng tá ngụy đang sống vất vưởng ở Mỹ lại dược CIA moi ra hòng tạo dựng nên những con thiêu thân mới trong mưu đồ phá hoại và lật đổ ở Việt Nam.


Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #35 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 10:10:44 pm »

17. NHỮNG MƯU ĐỒ PHÁ HOẠI VÀ LẬT ĐỔ CỦA CIA VẪN TIẾP TỤC
   

   
                 Tháng 4 năm 1990, tại Hà Nội, thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc đã tổ chức cuộc hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa của Việt Nam và thế giới, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người. Nhiều doàn đại biểu quốc tế từ khắp năm châu đã tới dự.

                  Trong đoàn đại biểu Mỹ có một ông cụ tuổi cao sức yếu, đi lại khó khăn phải chồng gậy, vẫn cố gắng tới Việt Nam, không những chỉ dự hội thảo tại Hà Nội mà còn tới tận Kim Liên thăm ngôi nhà tranh đã sinh ra, một vĩ nhân vĩ đại mà đại biểu người Mỹ gọi một cách trân trọng là Bác Hồ. Vị đại biểu người Mỹ này không phải ai xa lạ, mà chính là AKimedixi Patti, nguyên trưởng phòng Đông Dương thuộc sở tình báo chiến lược Mỹ OSS, tiền thân của CIA, người đã gặp Bác Hồ hồi đầu năm 1915 tại Côn Minh, tiếp đó lại dẫn đầu phái đòan quân sự Mỹ tới Hà Nội tiếp nhận sự đầu hàng của đội quân Phát xít Nhật bại trận, sau khi cách mạng tháng tám năm 1945 đã bùng nổ thắng lợi.

                  Năm 1957 Patti đã rời khỏi quân đội với cập bậc đại tá, nhưng đến năm 1959 lại được chính phủ Mỹ mời ra làm cố vấn về các vấn đề Đông Nam Á tại Hội đồng an ninh thuộc Nhà trắng đến mãi năm 1971 mới hưu trí về nghỉ tại bang Vơeginnia. Năm 1982, sau khi hoàn thành cuốn hỏi ký “tại sao Việt Nam?”  Patti đã trở lại thăm Việt Nam với tư cách một nhà báo và nhà nghiên cứu lịch sử. Lần này, Patti lại tới Việt Nam dự hội thảo quốc tế và kỉ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tich Hồ Chí Minh. Mặc dù đã 78 tuổi, sức khỏe giảm sút nhưng dầu óc Patti vẫn còn minh mẫn. Ông đã dành những lời tốt đẹp, chân thành để ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Ông cũng ôn lại nhiều kỷ niệm sâu sắc trong những dịp tiếp xúc với Bác Hồ tại Côn Minh và Hà Nội. Đặc biệt, ông đã nhiều lần nhắc tới câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh chia tay lần cuối cùng với ông tại Hà Nội ngày 26 tháng 10 năm 1945:

                  “Những người như ông lúc nào tới đây cũng dược hoan nghênh”.

                  Đúng là có nhiều người Mỹ, trong đó có cả những quân nhân và tình báo viên, sau một thời gian tiếp xúc với nhân dân Việt Nam, đã có thái độ thiện chí, mong muốn có những quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Mỹ. Về phần mình, nhân dân Việt Nam với truyền thống hòa bình hữu nghị, cũng luôn luôn mong muốn được sống trong khung cảnh hòa bình, ổn định, có những quan hệ bình thường với tất cả các dân tộc, sẵn sang đón tiếp những người nước ngoài tới Việt Nam với tấm lòng bầu bạn. Tuy nhiên, với rất nhiều kinh nghiệm đau sót đã trải qua, nhân dân Việt Nam phải luôո luôn cảnh giác với những người đến đấttnước mình với thái độ thiếu thiện chí, thậm chí lại cό hoạt động thù địch, hoạt động tình báo với mưu đồ diễn biến hòa bình và thực hiện các kế hoạch kích động chính trị gây rối trật tự phá hoại, lật đổ.

                  Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chuyển máy bay lên thẳng cuối cùng đã chở một số quan chức Mỹ trong đó có đại sứ Mỹ Matin từ Sài Gon ra tàu sân bay đậu ở ngoài khơi để về Mỹ. Nhiều người Mỹ khác vẫn còn nán lại miền Nam Việt Nam cùng với những kiều dân nước ngoài khác. Sau khi các lực lượng vũ trang nhân dân đã giải phóng Sài Gòn, chính quyền cách mạng vẫn đổi xử đúng mức với tất cả những người nước ngoài đang sinh sống ở đây. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, cơ quan an ninh của ta đã phát hiện được trong số họ có những người không phải bị “mắc kẹt” phải ở lại, mà là cố tình nán lại để hoạt động do thám. Được nhân dân phát hiện kết hợp với kỹ thuật nghiệp vụ, các chiến sĩ an ninh nhân dân đã nắm chắc trong số người nước ngoài ở lại Sài Gòn sau khi chế độ ngụy sụp có cả thiếu tướng tình báo Mỹ TơCơ đã gây dựng được nhiều đầu mối gián điệp ở Sài Gòn; Brichman một nhân viên CIA ngụy trang dưới chức vụ một quan chức ngành du lịch Mỹ; Mircơ sĩ quan quân báo có vợ là người Việt; Xlruhac, nhân viên CIA có vợ là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Ngoài ra còn có tên Lsacava quốc tịch Nhật Bản; Oaitơ quốc tịch Anh; PieXan quốc tịch Pháp cũng đều là điệp viên CIA. Những vị khách “không giữ mà cứ cố tình ở lại” đã lần lượt bị trục xuất khỏi Việt Nam sau khi cơ quan an ninh của ta đã nắm trong tay nhiều bằng chứng về các hoạt động do thám của họ, vi phạm luật pháp cûa Việt Nam.

                  Sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng khỏi Mỹ ngụy, một số tên tay sai của CIA ra đầu thủ trước chính quyển cách mạng đã khai báo, trong những ngày cuối cùng trước khi buộc phải rời khỏi Sài Gòn, giám dốc chi nhánh CIA tại Sài Gòn là Rônmêt Pônga còn triệu lập những tên tay sai lại và căn dặn: “Hiện các đảng phái chống đối ở miền Nam Việt Nam còn rất yếu và không có cơ sở. Hơn nữa, cộng sản cũng không cho phép tổ chức những đảng phái đối lập. Vì vậy phải tận dụng các tôn giáo là những tổ chức có quần chúng để chống lại chính quyền cộng sản”.

                  Điểm mặt những tên tay sai CIA bị bắt quả tang hoạt động gián điệp và gây bạo loạn ta thấy bọn chúng không chỉ chui vào hoạt động trong đồng bào theo đạo Thiên chúa, đạo Tin lành mà cả trong các tín đồ đạo Phật, đạo Cao đài, đạo Hòa hảo. Tên Nguyễn Văn Ngợi, pháp danh Nguyễn Long Châu can tội hoạt động gián điệp, chống đối chính quyền nhân dân, có âm mưu gây bạo loạn, bị bắt ngày 26 tháng 6 năm 1977 đã thú nhận được CIA bố trí, cài lại hoạt động tại miền Nam Việt Nam, có nhiệm vụ móc nối với nhiều phần tử phản động trong các tôn giáo khác nhằm thành lập một liên minh các tôn giáo chống lại Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, gọi tắt là “Liên tôn chống Cộng”. Hắn đã khai tên một loạt nhân vật trong các giáo hội đạo Phật, đạo Thiên chúa, đạo Tin Lành, đạo Tam Kỳ Phổ độ, đạo Bahai, mà hắn đã tiếp xúc nhằm xúc tiến “kế hoạch” “liên minh” chống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân, chống lại chế độ xã hội cհủ ոghĩa.

                  Từ những ngày đầu năm 1990, trước tình hình diễn biến phức tạp tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, CIA càng ráo riết tìm cách lôi kéo những phần tử xấu trong các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam chống lại cách mạng. Một số tên phản động đội lốt tôn giáo đã ngồi họp với nhau, chuẩn bị khi nào “có thời cơ” sẽ đứng ra thành lập các đảng phái chính trị của tôn giáo theo kiểu các đảng dân chủ Thiên chúa giáo, đảng dân tộc Cơ đốc giáo, liên minh dân chủ Thiên chúa giáo... ở châu Âu, lợi dụng các đảng phái này làm công cụ để chống lại chủ nghĩa xã hội.

                  Cùng trong lúc vẫn tiếp tục tuyển mộ những người Việt di tản vào các tổ chức vũ trang và bán vũ trang, chờ cơ hội thâm nhập vào các vùng dân tộc thiểu số để gây bạo loạn, CIA cũng rất chú trọng đến việc lôi kéo, mua chuộc giới trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên nhằm gây rối loạn trong nước. Tình hình Đông Âu trong những ngày đầu năm 1990 càng kích thích CIA, lao vào những mưu đồ gieo rắc những nọc độc của các tư tưởng cực đoan để gây mầm cho những hoạt động chống đối. Một điệp viển CIA là Alen Kippơ đã nhấn mạnh: “Những cuộc biểu tình và bãi công cũng có thể dẫn đến hành động lật đổ, đôi khi còn hiệu quả hơn là những hoạt động vũ trang bạo loạn”, CIA hiểu rằng muốn có hoạt động chống đối, trước hết phải có tư tưởng chống đối. Để gieo rắc nọc độc của tư tưởng chống đối không gì bằng kích động những phần tử trí thức, văn nghệ tung ra những ý niệm về dân chủ cực đoan, về tự do vô tổ chức, về chủ nghĩa vị kỷ dân tộc,… Những “bùa mê bả độc” về lối sống Mỹ, về cuộc sống phồn vinh hời hợt của “thế giới tư bản” cũng được tận dụng phục vụ cho các âm mưu phá hoại và lật đổ của đế quốc Mỹ.

                  Nếu như trong những ngày đầu tiên sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng CIA tích cực kích động những người Việt Nam di tản ra nước ngoài nhằm gây rối loạn thêm tình hình trong nước, thì đến nay, một mặt vẫn tiếp tục kích dộng di tản, mặt khác CIA lại “ủ mầm” bất mãn, nhằm vào những phần tử bất mãn ở trong nước để dấy lên các hoạt động chống đối. CIA còn ôm ảo vọng lợi dụng cả những đảng viên thoái hóa, xa đọa, bất mãn làm “ngọn cờ cho những phong trào chống đối do chúng nhen nhóm”.

                  Nếu trước kia, CIA chủ trương chính quyền Mỹ cần phải “bao vây phong tỏa” nhằm cô lập Việt Nam về chính trị và kinh tế thì ngày nay CIA lại chủ trương nên thiết lập quan hệ bình thường với Việt Nam rồi tận dụng những quan hệ đó để diễn biến hòa bình và phá hoại. Việc Việt Nam mở rộng cửa để nước ngoài đầu tư và phát triển du lịch cũng được CIA lợi dụng, coi đó là cơ hội tốt để tung tình báo gián diệp thâm nhập Việt Nam, gieo rắc mầm mống gây rối loạn, phá hoại và lật đổ.

                  CIA còn câu kết với các mạng lưới tình báo của nhiều nước đế quốc tư bản cũng như những nước thù địch hoặc không hữu nghị với Việt Nam ở châu Âu và châu Á, hình thành một “liên minh” nhằm chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

                  Những mưu đồ của CIA không phải mới mà đã tồn tại gần nửa thế kỷ nay. Điều cần nhấn mạnh ở đây là, mặc dù suốt nửa thế kỷ qua, chúng đã liên tiếp gặp nhiều thất bại ở Việt Nam, CIA vẫn ngoan cố lao vào những cuộc phiêu lưu mới, áp dụng những hình thức mới, thủ đoạn mới thích hợp với tình hình mới và hoàn cảnh mới nhằm tiếp tục mưu đồ phá hoại và lật đổ ở Việt Nam.

                  Tuy nhiên nhân dân Việt Nam với truyền thống yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa đã xây dựng được những cơ quan an ninh trung thành tận tụy, có những chiến sĩ an ninh dầy dạn kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống kẻ thù giai cấp và được sự hỗ trợ hiệp đồng chặt chẽ của lực lượng vũ trang hùng mạnh, biết dựa vào dân và phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành các cấp, nhất định sẽ làm phá sản mọi mưu đồ thầm độc của CIA cũng như của tất cả các cơ quan gián điệp đế quốc khác.
Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #36 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 10:22:42 pm »

Link ebook định dạng PRC cho ai muốn tải về:
https://drive.google.com/open?id=0B8pjhdNvuCbdR0xReVJ4cXo0MEE
Logged
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM