Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Mười Hai, 2020, 10:46:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương  (Đọc 17790 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2017, 10:24:13 pm »

Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap

Ban biên soạn:
      Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
      Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
      Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
      Trung tá TRẦN NGỌC ĐOÀN
      Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
      Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
      Trung tá TRẦN NGỌC ĐOÀN
      Đại úy NGUYỀN THÚY CÚC


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn xâm lược phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể dưới dạng hỏi đáp ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng Tủ sách lịch sử Việt Nam nói chung và cuốn sách Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử nguồn cội.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng nhưng bộ sách khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #1 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 11:32:25 am »


Câu hỏi 1: Bối cảnh xã hội nước ta dưới thời vua Tự Đức, trước khi Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 như thế nào?
Trả lời:


Một điều không ai có thể phủ nhận là hơn nửa thế kỷ (1802-1859) trị vì, vua quan nhà Nguyễn đã để lại cho dân tộc Việt Nam một đất nước suy nhược, một chính quyền phong kiến mục ruỗng, một xã hội đầy rẫy loạn lạc, bạo động và cơ cực lầm than. Chỉ với chừng ấy thời gian mà vua quan nhà Nguyễn đã phải chứng kiến và đàn áp trên dưới 450 cuộc nổi dậy lớn nhỏ.

Dưới triều Gia Long (1802-1819) có tất cả 73 cuộc khởi nghĩa, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Thủ lãnh Trấn ở Thanh Hóa (1805), Cao Văn Dung ở Hải Dương (1805), Cả Tổng và Nguyễn Trọng Phan ở Hải Dương (1807).

Triều Minh Mạng (1820-1840), chỉ trong 20 năm trị vì, Minh Mạng phải đối phó với 234 vụ nổi dậy; lớn nhất là các cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định (1821), Lý Khai Bá ở Hưng Yên (1823), Lê Duy Lương ở Ninh Bình, Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833), Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1836)...

Triều Thiệu Trị (1841-1847) với 7 năm cai trị đã có 5 cuộc nổi dậy, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Đinh Tuân ở Tây Ninh (1841), Nguyễn Vi và Lâm Sum (Xâm) ở Trà Vinh (1841), Nguyễn Văn Nhàn ở Sơn Tây (1844), Nguyễn Hữu Chính ở Ninh Thái (1847).

Triều Tự Đức, chỉ kể từ lúc lên ngôi (1847) đến khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862) cũng đã có gần 100 cuộc nổi dậy, đáng kể nhất là cuộc nổi dậy của Cao Bá Quát, Lê Duy Cự và Nguyễn Văn Thịnh ở Bắc Ninh (1854-1855)...

Đó là chưa kể đến các vụ cướp phá của bọn giặc biển, những cuộc nổi dậy lẻ tẻ mà quan lại địa phương không dám báo cáo sợ triều đình khiển trách.

Hầu hết các cuộc nổi dậy đều bị đàn áp nhưng các cuộc nổi dậy đó chẳng những không ngừng làm cho chế độ phong kiến nhà Nguyễn ngày một suy yếu, đất nước ngày một điêu tàn, kinh tế ngày một sa sút mà còn phản ánh sự mất lòng dân ngày một gia tăng đối với triều đình. Triều đình không hề có chủ trương thay đổi chính sách mà chỉ biết tập trung vũ lực để trấn áp.

Xây dựng theo chế độ phong kiến quan liêu, bảo thủ, lạc hậu, rập khuôn từ khuôn mẫu của Trung Quốc, xã hội Việt Nam dưới triều các vua Nguyễn là một xã hội phong kiến điển hình ở châu Á với các đặc trưng mà trong đó mức độ lầm than cơ cực trong đời sống của tầng lớp bị trị là nét nổi bật nhất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 11:33:27 am »


Vua quan nhà Nguyễn bám chặt vào ý thức hệ phong kiến, dùng nó làm vũ khí bảo vệ địa vị xã hội của mình, đã khước từ, bác bỏ mọi đề án cải cách. Thái độ này đã kìm hãm sức vươn lên của dân tộc, dìm đất nước vào vòng nghèo nàn, lạc hậu.

Kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, tầng lớp nhân dân đại đa số là nông dân nhưng ruộng đất lại tập trung vào tay quan lại, địa chủ. Mặc dù người nông dân đầu tắt mặt tối trên mảnh ruộng thuê nhưng vẫn không đủ cái ăn, cái mặc. Nào sưu, nào thuế, nào phu phen, tạp dịch... nào hạn hán, lụt lội, người nông dân không thể sống nổi, phải bỏ làng mạc phiêu tán xứ khác kiếm ăn.

"Dân tình buồn bực
Nửa sợ nửa lo.
Vay mượn nhà giàu không cho.
Cầm tiền mua thì không bán (...).
Vợ con thôi nheo nhóc.
Chồng lại phải phu phen.
Muốn vạch cả trời lên
Kêu gào cho hả dạ.
Cơm thời nỏ (không) có.
Rau cháo cũng không (...)
Còn bộ xương sống
Vơ vất đi ăn mày.
Rồi xó chợ lùm cây.
Quạ kêu vang bốn phía.
Xác đầy nghĩa địa
Thây thối bên cầu.
Trời ảm đạm u sầu
Cảnh hoang tàn đói rét
Dân nghèo cùng kiệt
Kẻ lưu lạc tha phương
Người chết chợ chết đường.
Trừ bọn lòng lang dạ thú không thương
Ai ai thấy nỏ đau lòng xót dạ
Sẵn bút đây ta tả
Để ghi lại vài câu.
Cho ngàn vạn năm sau.
Biết cảnh tình cơ cực
Là cái đời Tự Đức

(Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao, Hát dặm Nghệ Tĩnh, tập 2).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 11:34:10 am »


Người nông dân là thế. Còn người lính thì lương cũng không đủ ăn, thợ mỏ giỏi nhất cũng chỉ có 3 quan tiền và một phương gạo mỗi tháng. Trong khi đó, "mỗi vua đều có hàng trăm bà vợ, chia làm 9 bậc: bậc nhứt mỗi năm được hưởng 1.000 quan tiền, 300 phương gạo, 60 tấm lụa, 48 bộ quần áo; bậc thấp nhất cũng có 180 quan tiền, 286 phương gạo, 12 tấm lụa. Hoàng thái hậu lương mỗi năm 10.000 quan, 300 phương gạo, 60 tấm lụa, gặp thượng thọ thì tiến cung thêm 5 vạn, thượng thọ vua thì tiến cung thêm 2 vạn. Lương thái tử 1.000 quan, 360 phương gạo, hoàng tử 500 quan, 360 phương gạo, công chúa 360 quan, 360 phương gạo. Tất cả những người trong tôn nhân phủ đều hưởng lương cao. Thỉnh thoảng lại có thưởng riêng" (Đại Nam thực lục chính biên).

Khi đang tại vị, ông vua nào cũng chỉ chăm chăm lo xây cái "hậu sự" cho mình thật nguy nga đồ sộ gọi là "nền nhà muôn thuở" (vạn niên cơ) hao tổn không biết bao nhiêu sức người sức của, gây nên bao nhiêu khổ cực cho trăm họ.

Tự Đức lên ngôi vua năm 1847, thừa hưởng cái "di sản" mục ruỗng do hậu quả của chính sách cai trị của các triều đại trước. Vua quan nhà Nguyễn tìm mọi cách củng cố quyền lực của mình dựa trên nhãn quan về thế giới và đường lối tổ chức chính trị theo kiểu Trung Quốc. Trung Quốc vừa được xem như là một kẻ thù chính nhưng chế độ xã hội Trung Quốc lại được coi là mẫu mực cần tham khảo, đối chiếu. Chính chế độ này với hệ thống tư tưởng, học thuật, quan chế, pháp luật... lỗi thời, lạc hậu đã gặm nhấm tiềm năng, sức sống dân tộc Việt Nam. Mặt khác, chính bản thân Tự Đức cũng góp phần thúc đẩy sự khủng hoảng của triều đại nhà Nguyễn ngày càng trầm trọng hơn không gì cứu vãn được. Ý thức được tình hình bi đát của triều đại mình, Tự Đức đã nhiều lần xuống chiếu "tìm người hiền và cầu lời nói thẳng" nhưng thực tế nhiều đề án cải cách, canh tân đều bị vua quan nhà Nguyễn xếp vào ngăn kéo.

Oằn vai vì "gánh nặng di sản", vua Tự Đức thường lúng túng trong việc đối phó với nhiều vấn đề, trong đó, kinh tế là vấn đề nổi cộm. Nguồn tài chính của triều đình chủ yếu chỉ dựa vào thuế thân và thuế ruộng đất, còn tiểu thủ công và ngoại thương thì không đáng kể. Giao thương với các nước phương Tây thì e ngại vô tình tạo điều kiện cho sự xâm nhập của đạo Gia tô. Có thời kỳ Nam Kỳ bán một số lúa gạo cho Philippin, Malaixia, Campuchia thì nặng về chính trị hơn là thương mại. Chính sách bế quan tỏa cảng cũng góp phần không nhỏ trong việc kìm hãm sự phát triển của các nghề tiểu thủ công. Chính sách "bế quan tỏa cảng" và chính sách "trọng nông ức thương" của triều đình nhà Nguyễn đã làm sức dân ngày một hao mòn, cùng kiệt. Ngay khi Tự Đức lên ngôi, Trương Quốc Dụng đã tâu: "Tài lực của nhân dân không bằng năm, sáu phần mười năm trước". Và mười ba năm sau khi bắt đầu chống lại quân xâm lược Pháp, Nguyễn Tri Phương đã phải than rằng: "Quân và dân ta của đã hết, sức đã yếu".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #4 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 11:34:35 am »


Rõ ràng là do cố duy trì một cơ chế xã hội đã lỗi thời kìm hãm sức sống của dân tộc trong nghèo nàn lạc hậu, thêm vào đó là thiên tai, là sự xa hoa của triều đình, người dân chỉ còn mỗi con đường là đứng lên chống đối; đất nước vốn đã nghèo lại càng nghèo hơn, triều đình không còn hơi sức chống đỡ khi bị ngoại xâm, nên việc triều đình Tự Đức tỏ ra lúng túng đối phó với thực dân Pháp khi chúng tấn công xâm chiếm Nam Kỳ là lẽ đương nhiên.

Trong quá trình thực hiện chủ trương bành trướng thuộc địa để thỏa mãn yêu cầu phát triển chủ nghĩa tư bản, thực dân Pháp đã chú ý đến vùng Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là một mục tiêu không thể bỏ qua được.

Qua một số cố đạo trong hội truyền giáo hải ngoại, thực dân Pháp ngày càng tập trung nhiều lượng thông tin về Việt Nam làm cơ sở cho họ đi đến quyết định xâm lược nước ta. Hơn thế nữa, một vài cố đạo như Pellerin, Retord và nhất là Legrand de la Liraye (cố Trường) chẳng những cố thuyết phục Pháp hoàng dùng võ lực để thiết lập một vùng nhượng địa ở Việt Nam mà còn trực tiếp can thiệp vào nội tình nước ta bằng cách tài trợ, xúi giục một vài phần tử phản động, phiêu lưu nổi dậy chống lại triều đình.

Trước khi cho quân đi đánh phá Đà Nẵng vào năm 1858, nước Pháp đã là một đế quốc hùng mạnh có nhiều thuộc địa rải rác ở nhiều nơi: ở châu Mỹ có Martinique, Dominique..., ở châu Phi có Senegal, Saint Louis, Tahiti, Algérie..., còn ở châu Á thì chỉ mới lấy được một số thành phố hải cảng và Caledonie.

Sau khi lấy Caledonie vào năm 1853, Pháp thực sự tiến hành cuộc xâm chiếm Việt Nam.

Chính thực trạng xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã góp phần lý giải nguyên nhân tạo điều kiện cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đồng thời cho thấy sức đề kháng của nhân dân ta và lý do thất bại của sự đề kháng đó trước bão táp của chủ nghĩa tư bản Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #5 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 01:36:40 pm »


Câu hỏi 2: Những đặc điểm của vùng đất Nam Kỳ và chính sách mộ binh đồn điền của nhà Nguyễn như thế nào, đặc biệt là giai đoạn 1853-1859 dưới thời vua Tự Đức?
Trả lời:


Vùng đất Nam Bộ trù phú ngày nay là công sức, mồ hôi, nước mắt, có khi cả xương máu của những người đi "khai cương thác địa". Họ đã gian khổ khắc phục những khó khăn ở vùng đất mới hoang vu đầy rừng rậm, thú dữ:

      Ra đi dao bảy giắt lưng;
      Ngó sông, sông rộng, ngó rừng, rừng cao...
      Chèo ghe sợ sấu cắn chưn.
      Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma.


Biết bao người đi khai hoang, người dân đồn điền đã ngã xuống trong rừng sâu nước độc và bao nhiêu người khác nữa cũng đã vĩnh viễn không trở về vì kiệt sức trong lúc đào kênh khơi nguồn nước ngọt vào đồng ruộng hay đã mất xác vì cá sấu, cọp beo:

      U Minh, Rạch Giá, Thị Quá, Sơn Trường
      Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.


Dân đồn điền là những người tiên phong tiến công vào Đồng Tháp Mười. Họ là người chẳng những có tính cần cù của nông dân mà còn có cái tài của một chiến sĩ. Họ là "tiền hiền", nói theo đồng bào Nam Bộ, nên hình ảnh họ còn mãi trong lòng người dân địa phương.

Bên cạnh thực trạng chung của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, Nam Kỳ còn có những nét riêng. Đó là vùng đất mới khai phá, màu mỡ, thưa dân. Đây vừa là nơi dung thân lý tưởng của đám lưu dân từ miền Bắc, miền Trung vào - khi thấy không thể sống nổi ở quê nhà - vừa là nơi có khả năng cung cấp lúa gạo cho cả nước. Sau hàng loạt các cuộc di dân tự phát, triều đình nhà Nguyễn mới tổ chức những đợt di dân, đưa binh lính, tù phạm tổ chức thành đội ngũ vào với mục đích "giữ giặc, yên dân" nhằm khai phá vùng đất "hoang nhàn" này để giải quyết những mâu thuẫn xã hội.

Xuất phát trên cơ sở đó, chính sách đồn điền ở Nam Kỳ hình thành do động cơ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất đã nhanh chóng biến thành sở hữu lớn của điền chủ và các quan cai quản đồn điền. Từ đó, chế độ tư hữu ruộng đất ở Nam Kỳ có nhiều điểm khác biệt so với miền Trung và miền Bắc. Một bộ phận khá đông lưu dân đến vùng đất mới không đủ sức tự khai phá, họ phải dựa vào thế lực của người giàu có, của sở đồn điền. Do đó, họ nhanh chóng trở thành tá điền. Đành ràng chính sách khẩn hoang thực tế là tăng cường thế lực kinh tế cho tầng lớp điền chủ giàu có, kéo theo đó là nạn bao, chiếm ruộng đất... nhưng về mặt xã hội, đất hoang được khai phá, sản lượng lương thực Nam Kỳ sung túc, đời sống nông dân ở đây có khá hơn miền Trung và miền Bắc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #6 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 01:37:06 pm »


Từ những năm cuối thế kỷ XVIII, lúc Nguyễn Ánh còn chiếm giữ Gia Định, việc phát triển nông nghiệp được chú ý bằng chính sách khai hoang, lập ấp và sau có thêm chính sách khai hoang, lập đồn điền.

Có hai loại đồn điền: Một loại đồn điền được nhà nước phong kiến cấp chi phí và phương tiện canh tác cho quân lính đi khai hoang. Một loại đồn điền khác cũng được nhà nước phong kiến trợ cấp các hình thức như thế nhưng dân mộ được tổ chức thành đội ngũ. Cả hai đều thuộc về nhà nước phong kiến, nhưng điểm khác nhau là đồn điền loại một thì nhà nước phong kiến quản lý toàn bộ sản lượng, còn đồn điền loại hai thì người canh tác được chia một phần sản lượng của mình làm ra.

Năm 1802, khi lên ngôi, Gia Long đã chú ý khai thác vùng đất phương Nam, cho lập đồn điền ở Phước Long (Biên Hòa), Tân Bình (Gia Định), Kiến An (Định Tường) và Định Viễn (Vĩnh Long). Bấy giờ không những quân đội lập đồn điền mà tư nhân cũng được phép lập đồn điền. Nhưng nhìn chung, triều Gia Long thích phát triển đồn điền loại một. Còn loại hai, nhà nước phong kiến tuy có đổi mới bằng chủ trương giảm sưu thuế nhưng dần dần bị quân sự hóa, nghĩa là cũng bị ép phải theo loại một.

Triều Minh Mạng tiếp tục chính sách đồn điền của triều Gia Long. Thời kỳ này, đồn điền được quân sự hóa toàn bộ và được phát triển đến tận Côn Đảo, Hà Tiên với mục đích bảo vệ an ninh biên giới. Minh Mạng lại táo bạo hơn vua cha là cho phép sử dụng lực lượng tù phạm để khai phá đất hoang. Nếu trước kia đồn điền được gọi theo tên đơn vị hành chính địa phương thì từ năm 1822 trở về sau được mang tên theo phiên hiệu quân đội:

Đồn điền ở Phước Long mang tên Gia Phước, đồn điền ở Định Viễn mang tên Gia Viễn, đồn điền ở Tân Bình mang tên Gia Bình, đồn điền ở Kiến An mang tên Gia An (Đại Nam thực lục chính biên).

Cuối đời Minh Mạng, năm 1840, để tăng nguồn thuế, triều đình chủ trương lấy đất đồn điền cấp cho nông dân. Lúc mới thành lập đồn điền, có nhiều trường hợp xâm phạm địa giới đất đai tư nhân, đến khi giải thể sẽ có những "nông dân" lợi dụng quyền thế chiếm hữu những mảnh đất màu mỡ mà không tốn công sức. Việc xáo trộn đất đai này sinh nhiều bất công, uất ức nên đã là một trong những nguyên nhân khiến một vài nơi nổi loạn.

Năm 1841, Thiệu Trị lên ngôi, thấy tình hình diễn biến càng ngày càng khó khăn nên cho giải tán toàn bộ đồn điền ở Nam Kỳ. Từ đó, triều đình chỉ cho phép nông dân khai hoang, lập ấp theo hình thức dân sự.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #7 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 01:38:34 pm »


Tháng Giêng năm Canh Tuất (1850), Nguyễn Tri Phương được cử làm Kinh lược sứ Nam Kỳ thì sáu tháng sau, ông đã dâng sớ trình bày 13 việc, việc đầu tiên là "họp dân lập đồn điền để giúp sinh kế". Tháng 11, ông lại xin sửa sang hai việc ở Lục tỉnh, trong đó có việc "họp dân nghèo túng lại lập đồn điền để giúp kế sinh sống" (Đại Nam thực lục chính biên). Ngoài ra, Nguyễn Tri Phương còn đề nghị nhiều biện pháp táo bạo để khuyến khích người mộ và ứng mộ. Trong ý kiến đề nghị của Nguyễn Tri Phương tuy không nói cụ thể nhưng rõ ràng đây là ý kiến đồn điền loại hai. Triều thần Tự Đức có đem ra bàn bạc nhưng có lẽ chưa hiểu hết ý đồ của Nguyễn Tri Phương và cũng có lẽ ngần ngại hao tốn tiền của mà chỉ đạt ý đồ "yên dân" nên kết luận "việc họp dân chúng làm đồn điền có điều bất tiện" (Quốc triều chính biên).

Chính sách đồn điền bị quên lãng ba năm. Nhờ Kinh lược phó sứ Phan Thanh Giản đồng tình với Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương, thấy mục đích "yên dân" không đủ sức thuyết phục nên đã bổ sung thêm mục đích "giữ giặc" nữa. Kết quả hai mục đích này đã thuyết phục được triều thần, nhất là bản thân vua Tự Đức, nên đầu năm Quý Sửu (1853), đề nghị của Nguyễn Tri Phương được chấp thuận. "Đất Nam Kỳ liền với Cao Miên, dân xiêu tán nhiều, nay mượn điều chiêu mộ để dụ dân về, đôn đốc việc khai khẩn, nuôi dân ăn, thiệt là một cách quan yếu để giữ giặc và yên dân" (Quốc triều chính biên). Nguyễn Tri Phương lĩnh nhiệm vụ thực hiện chương trình của mình đề ra.

So với các triều đại trước, triều Tự Đức không chủ trương trực tiếp đứng ra mộ dân mà giao cho những người tình nguyện. Những người tình nguyện đứng ra chiêu mộ hoặc tình nguyện ứng mộ có thể là người ở Nam Kỳ, người miền Trung, kể cả người Thanh, người Minh Hương, người Khơ Me. Đầu tiên, đồn điền được khôi phục ở An Giang, Hà Tiên..., ưu tiên cho vùng biên giới. Nhưng sau đó, có lẽ Nguyễn Tri Phương tiên đoán bọn tư bản Tây phương sẽ thôn tính Nam Bộ nên đề nghị được phép mở rộng ra khắp 6 tỉnh Nam Kỳ.

Sau một năm vất vả, Nguyễn Tri Phương đạt được kết quả: mộ được 32 ấp ở Gia Định, 60 ấp ở Vĩnh Long, 23 ấp ở An Giang, 9 ấp ở Định Tường, tổng cộng 124 ấp. Ngoài ra Nguyễn Tri Phương còn mộ dân lập được 7 cơ đồn điền ở Vĩnh Long mang phiên hiệu Long Hùng, Long Dũng, Long Tự, Long Hựu, Long Minh, Long Vinh, Long Nghĩa. Lập 2 cơ ở An Giang, phiên hiệu An Vũ, An Dũng. Lập 2 cơ ở Hà Tiên, phiên hiệu Hà Kiên, Hà Nghĩa. Lập 1 cơ ở Biên Hòa là Biên Dũng. Lập 6 cơ ở Gia Định, phiên hiệu Gia Trung, Gia Thuận, Gia Hùng, Gia Nhuệ, Gia Tráng, Gia Tiệp. Lập 3 cơ ở Định Tường là Tường Kiên, Tường Nhuệ, Tường Uy. Tổng cộng 21 cơ.

Riêng những ấp đã khai hoang có hiệu quả ở vùng biên giới, nay vì mục đích bảo vệ an ninh, trong năm 1854 phải dồn lại thành lập 2 cơ đồn điền mang tên Ninh Biên nhất và nhị. Năm sau tiếp tục dồn lại lập cơ tam và cơ tứ (Đại Nam thực lục chính biên).

Đó là những con số do Nguyễn Tri Phương báo cáo khoảng giữa năm 1854. Trong thực tế, những con số này thường xuyên biến động. George Durwell trong Bulletin de la Société des études Indochinoises số 36 năm 1898 cho biết lúc Pháp mới xâm chiếm thì ở Nam Kỳ có 24 cơ đồn điền, chia ra như sau: Vĩnh Long có 5 cơ, An Giang có 2 cơ, Biên Hòa 4 cơ, Gia Định 7 cơ và Định Tường 6 cơ.

Nếu so sánh hai bản thống kê chúng ta thấy ở những vùng xa xôi như Vĩnh Long, Hà Tiên có tình trạng đồn điền bị dồn lại vì dân phiêu tán. Trái lại, ở vùng đất hẹp người đông như Biên Hòa, Gia Định, Định Tường dễ chiêu mộ nên số lượng đồn điền càng ngày càng phát triển. Đồng thời, thực hiện triệt để mục đích "giữ giặc", "yên dân" nên với bất cứ giá nào nhà Nguyễn cũng duy trì đồn điền ở biên giới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #8 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 01:40:02 pm »


Để đạt được kết quả kể trên, nhìn chung chính sách đồn điền của triều đình Tự Đức có nhiều điểm khá rộng rãi:

Thứ nhất, là việc sử dụng nhân sự. Theo quy chế khai hoang lập ấp thì chỉ cần có 10 dân đinh bảo đảm số sưu thuế khoán. Tất nhiên với lực lượng lao động như thế không thể nào tấn công vào thiên nhiên được mà phải dung nạp thêm một số dân lậu. Triều đình quy định như thế tức là chấp nhận dân lậu, khuyến khích những người giàu có đi khai hoang cũng là nhằm mục đích để họ phải bỏ tiền ra đóng thay số thuế cho những người dân lậu.

Quy chế mộ dân lập đồn điền còn linh động hơn nữa. Ngoài việc chấp nhận dân lậu, triều đình còn cho phép sử dụng cả lực lượng tù phạm, nếu tội phạm nào có khả năng chiêu mộ, được hương lý và thân thích bảo lãnh thì tạm tha cho đi mộ. Mộ đủ thì tha tội (Đại Nam thực lục chính biên, có chép: Dân An Giang có tên Bùi Văn Chiếu khổ vì khó tìm cách sinh sống, bèn trình lý trưởng rồi họp bọn với Bùi Văn Uyển và 4 tên nữa để đi ăn trộm hai lần. Chiếu đến cửa cổng thú tội. Tỉnh thần bàn nên phạt Chiếu 100 trượng, còn các tên khác 80 trượng và bắt chúng nhập vào đồn điền để khai thác). Trong khi chỉ đạo thực hiện, dù Nguyễn Tri Phương có nhiều cố gắng nhưng không sao tránh khỏi những bất công, áp bức, nhất là nạn cho vay nặng lãi. Năm 1850, ngay khi nhận chức Kinh lược sứ, Nguyễn Tri Phương đã nhận thấy điều đó nên nhắc lại quy định của triều đình, chỉ cho vay một vốn một lời, mỗi tháng không quá 3 phần. Địa chủ phải giảm tô cho tá điền vào những năm mất mùa. Nhưng chắc chắn những lời kêu gọi suông của Nguyễn Tri Phương không đạt kết quả vì những người đi khai hoang đợt này vốn đã nghèo khổ mà không được chính quyền giúp đỡ, họ chỉ biết trông dựa vào những người giàu có gần gũi họ thôi.

Việc sử dụng dân không căn cước, sử dụng lực lượng tù phạm mà không có biện pháp tích cực giúp họ về tinh thần cũng như vật chất nên khi bị quẫn bách, họ chỉ có hai con đường: hoặc trở lại con đường cũ hoặc bỏ trốn mà sinh ra tình trạng xáo trộn hộ khẩu.

Thứ hai, trong giai đoạn đầu khai hoang lập đồn điền, lập ấp, triều đình chấp nhận khai man diện tích đất đai và giảm thuế khóa để thu hút dân chiêu mộ.

Buổi đầu, Nguyễn Tri Phương đề nghị để người ứng mộ đồn điền tự do khai khẩn đất hoang. Ba năm, công việc thành khoảnh mới khai báo để tiến hành lập bộ sổ. Nông dân khai hoang lập ấp cũng được ân huệ đó. Sau 3 năm mới đóng thuế tượng trưng và sau 10 năm mới đóng thuế theo ngạch ruộng tư. Những quy định này giúp nông dân nhận thấy nếu lỡ thất bại có thể còn lối xoay xở nên dễ bị thu hút vào.

Về biểu thuế, năm 1854, Nguyễn Tri Phương đề nghị mỗi người dân đồn điền đồng niên nộp sưu 2 hộc, người dân lập ấp nộp 3 hộc. Nhưng Tự Đức thấy biểu thuế như thế sợ quá cao nên chỉ cho áp dụng thí điểm một vài nơi, sau ba, bốn năm sẽ quyết định. Cuối cùng, sau ba năm, quyết định mỗi mẫu đồng niên nộp 1,5 hộc mà mỗi người chỉ được khai khẩn tối đa 4 mẫu (Đại Nam thực lục chính biên). Ở Nam Kỳ thời bấy giờ, bất kỳ ruộng công hay tư đồng niên, mỗi mẫu ruộng tốt (thảo điền) nộp 26 thăng và 3 tiền, mỗi mẫu ruộng gò (sơn điền) nộp 23 thăng và 3 tiền (Đại Nam hội điển). Nếu tính theo đơn vị đo lường nhà Nguyễn, mỗi hộc bằng 26 thăng, chúng ta thấy hai biểu thuế tương đương. Tuy thế nông dân vẫn bị việc khai hoang thu hút vào. Bởi thực tế nông dân thời đó bị một cổ hai tròng, ở những vùng đông dân đất hẹp, nông dân phải đóng tô cho địa chủ rất nặng nên lúc nào họ cũng có khuynh hướng tìm đất mới. Biểu thuế như thế vừa lợi ngân quỹ, vừa thu hút nông dân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #9 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2017, 01:40:25 pm »


Một điểm đáng lưu ý là Tự Đức đã thấy những phức tạp sắp xảy ra nên chỉ cho mỗi người khai khẩn tối đa 4 mẫu. Quy định này nhằm hạn chế những kẻ có thế lực chiếm cứ nhiều ruộng đất, làm trung gian trục lợi mà không thực tâm khai phá. Nhưng chắc chắn quy định này không được thực thi triệt để vì trong thực tế có những người quyền thế đã chiếm hữu khá nhiều ruộng đất, ví dụ ở Mộc Bài (Hậu Mỹ, Cái Bè, Tiền Giang) có lãnh binh Trần Đăng Trạch chiếm hữu rất nhiều ruộng đất (không rõ số lượng cụ thể, chỉ biết ông đã chia cho cháu nội là Trần Văn Tâm tu tại chùa Minh Sư ở Cai Lậy - Tiền Giang 100 mẫu).

Bên cạnh đó, triều đình đã nghiên cứu và đưa ra "quy chế thi đua" thật cụ thể. Người mộ được một đội đồn điền được bổ nhiệm chánh đội hưởng suất đội (chánh thất phẩm), người mộ được một cơ được bổ nhiệm cai cơ thí sai phó quản cơ (chánh lục phẩm). Khi khai hoang, cày cấy có kết quả thì cơ chế đồn điền được chuyển sang cơ chế hành chính. Đội được chuyển thành ấp, cơ chuyển thành tổng. Các viên suất đội, phó quản cơ được chuyển qua làm ấp trưởng, tổng trưởng; ở hình thức khai hoang, lập ấp cũng quy định khen thưởng rõ ràng như thế. Người đứng ra chiêu mộ không được các chức tước mà chỉ được các chức hàm dân sự, thấp hơn hai bậc. Người mộ được 30 người thì được tha thuế thân và tha sai dịch suốt đời. Mộ được 50 người thì được thưởng hàm chánh cửu phẩm bá hộ, được 100 người thì được thưởng hàm chánh bát phẩm bá hộ và vẫn được bổ nhiệm các chức vụ tổng lý (cai tổng, lý trưởng).

Hình thức mộ dân khai hoang lập ấp hoàn toàn giao khoán cho tư nhân. Chắc chắn ít khi họ thất bại vì trước khi bỏ vốn ra, họ phải suy tính kỹ lưỡng. Mà dù có thất bại thì cũng chỉ thiệt thòi cá nhân, không ảnh hưởng đến triều đình. Nên ở lĩnh vực này, triều đình chỉ cần khen thưởng, không cần răn phạt. Trái lại, ở hình thức mộ dân lập đồn điền, việc răn phạt đi đối với khen thưởng. Nếu người ứng mộ đã cày cấy được 2 mẫu trở lên (tức được phân nửa quy định) thì người chiêu mộ mới được khen thưởng. Nếu cày cấy chưa được 2 mẫu thì gia hạn cho một năm. Hết gia hạn mà vẫn chưa được 7/10 quy định thì chủ mộ sẽ bị răn phạt (Đại Nam thực lục chính biên). Điều này chứng tỏ triều đình đặt hình thức mộ dân lập đồn điền lên hàng đầu nên có nhiều biện pháp cứng rắn hơn.

Song, nhằm mục đích thúc đẩy các địa phương thi đua thiết lập đồn điền, năm Tự Đức thứ 7 (1854), triều đình cũng quy định khen thưởng và răn phạt các quan lại địa phương. Chương trình thành lập đồn điền dự tính trong ba năm. Năm 1854 là năm đầu các địa phương phải đôn đốc mộ dân khai khẩn 4/10 kế hoạch, năm 1855 và 1856 mỗi năm thực hiện 3/10. Địa phương nào trong năm đầu đôn đốc mộ dân, khẩn ruộng, làm nhà hoàn thành kế hoạch năm ấy thì theo thứ hạng được khen thưởng:

Hạng nhất, quan địa phương được gia 1 cấp; hạng nhì, quan địa phương được thưởng kỷ lục 2 thứ; hạng ba, quan địa phương được thưởng kỷ lục 1 thứ; hạng tư, quan địa phương được thưởng 3 tháng tiền lương.

Nếu trong 4/10 kế hoạch toàn bộ mà năm đầu: Thiếu 1/10 thì quan địa phương bị phạt 6 tháng lương; thiếu 2/10 thì bị giáng một cấp nhưng được lưu nhiệm.

Quy định khen thưởng hai năm sau giống như năm đầu. Tự Đức giao cho tỉnh theo dõi (Đại Nam thực lục chính biên).

Tuy thời gian khôi phục và thực hiện chỉ có bảy năm (1853-1859), nhưng nhờ có Nguyễn Tri Phương tích cực và được Tự Đức ủng hộ nên chính sách đồn điền thời bấy giờ đem lại kết quả khả quan: Khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, nhất là diện tích ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước phong kiến. Nhà nước phong kiến thu được một số sản lượng nông nghiệp, giảm được lượng tiền cấp cho quân đội và tù phạm. Cuối cùng, chính sách đồn điền đã góp phần bảo đảm trị an, bảo vệ được vùng biên giới, sau này trở thành một trong những cơ sở cung cấp sức người, sức của cho các cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Kỳ.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM