Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Một, 2020, 09:41:38 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh  (Đọc 29285 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #50 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:33:38 PM »


        Cuộc chiến đấu của hai tiểu đoàn ta với lính Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 kéo dài đến 20 giờ ngày 17 tháng thì kết thúc. Ta đã diệt 400 tên của Tiểu đoàn 1 và 1 đại đội hành quân của Tiểu đoàn 2. Trong trận chiến đấu này, các chiến sỹ của chúng ta đã nêu lên những tấm gương dũng cảm vô song, khí phách anh hùng và lòng quả cảm. Kết thúc trận đánh, ta đã đánh thiệt hại nặng Lữ dù 3, tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 1.

        Ngày 19 tháng 11 năm 1965, Lữ dù 3 rút chạy khỏi khu chiến. Lần đầu tiên quân Mỹ bước vào chiến đấu ở Tây Nguyên và cũng là lần đầu tiên chúng phải rút chạy về chiến dịch.

        Sau khi ta làm chủ chiến trường, chúng tôi đi kiểm tra trận địa. Địa hình hàng chục ki-lô-mét vuông bị đảo lộn, cây gãy đổ ngổn ngang không còn đường lối. Địch chết thành đống, có chỗ năm ba tên, xen lẫn vào đó là thi thể chiến sỹ ta. Nhiều đồng chí nằm đè lên xác lính Mỹ, lưỡi lê còn cắm vào ngực tên Mỹ. Có đồng chí hy sinh tay vẫn nắm chặt quả lựu đạn bên sườn. Có tổ ba người hy sinh phía trước và phía sau anh em có hàng chục xác quân Mỹ.

        Chiến thắng Plây Me là trận đánh phủ đầu quân Mỹ ở Tây Nguyên. Lần đầu tiên trên chiến trường ta tiêu diệt 1 chiến đoàn quân Ngụy và Tiểu đoàn quân Mỹ. Thắng lợi tiêu diệt tiểu đoàn quân Mỹ là cái mốc lịch sử của quân và dân Tây Nguyên. Trong chiến dịch này ta đã buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta. Bài học lớn nhất của Plây Me – Ia Đrăng là bài học dám đánh và quyết tâm thắng Mỹ.

        Với chiến công xuất sắc đó, chiến dịch Plây Me được Quân uy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng nhất. Trong bức điện Quân uỷ Miền gửi Bộ tư lệnh Tây Nguyên, anh Nguyễn Chí Thanh giải thích: Quân đội ta không có huân chương nào cao hơn Huân chương Quân Công hạng nhất, nhưng để xứng đáng với chiến thắng Plây Me, nên tặng chiến thắng này hai Huân chương Quân công hạng nhất.

        Sau chiến thắng Plây Me, lãnh đạo và chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên đứng trước những khó khăn lớn buộc phải tìm cách giải quyết một các kiên trì và chủ động. Các đơn vị từ miền Bắc chuyển vào cùng với lực lượng tại chỗ đưa tổng quân số lên đến 32 nghìn người, lương thực (gạo) chỉ có 40 tấn. Chúng tôi phải xuống Đắc Lắc bàn với Tỉnh uỷ huy động được gần 20 tấn gạo để đưa Trung đoàn 320 xuống đó hoạt động. Có chuyện thế này: Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất Trung ương khi nhận báo cáo của Bộ chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí báo cáo lên Bộ Chính trị: “Gạo đã chở vào đầy đủ nhưng Bộ tư lệnh không chịu cấp phát cho bộ đội”. điều dễ hiểu, 40 tấn gạo chia cho 32 nghìn quân, phải chăng đó là đầy đủ? Sự việc này làm tôi suy nghĩ mãi. Nhận được điện của đồng chí ấy, tôi phải trả lời chi tiết. Qua báo cáo xác thực của Bộ Tư lệnh Tây Nguyên, Tư lệnh Quân khu 5 có chỉ thị: Giải thể Mặt trận Tây Nguyên, 3 trung đoàn bộ binh chuyển cho các tỉnh Quảng Đà, Quảng Ngãi, Bình Định, cán bộ cơ quan của mặt trận điều về quân khu một số, bộ phận còn lại vào Trung ương Cục, hoặc ra Hà Nội, cán bộ chỉ huy mặt trận do Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương điều động.

        Sau khi nghiên cứu điện của quân khu, Thường vụ Đảng uỷ Mặt trận họp thảo luận và báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu 5: Chiến trường Tây Nguyên có khả năng đánh tiêu diệt lớn quân địch, nhưng phải qua một thời gian chủ động đánh địch sáng tạo chiến trường. Trước khó khăn tạm thời, nếu giải thể Mặt trận Tây Nguyên, quân Mỹ có thể thực hiện được ý định giữ vững Cao Nguyên Trung Phần, uy hiếp và ngăn chặn con đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam, chia cắt Đông Dương. Giải pháp tích cực nhất chúng tôi đề nghị; Trong khoảng 6 tháng trước mắt cho phép bộ đội Tây Nguyên vừa chiến đấu, vừa sản xuất, xây dựng căn cứ hậu phương trực tiếp, sau đó chuyển sang chiến đấu là chủ yếu; đồng thời tiếp tục sản xuất. Đề xuất này được Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Quân khu đồng ý. Sau 6 tháng bộ đội đã trồng trên 30 triệu gốc sắn, vườn rau, chăn nuôi phát triển ở hầu hết đơn vị và cơ quan mặt trận.

        Vào mùa đông năm 1966, các đơn vị tại chỗ cũng như lực lượng hành quân từ ngoài Bắc qua căn cứ Tây Nguyên, tuy gạo còn thiều nhưng sắn thì đủ no. Các đơn vị hành quân nghiêm chỉnh thực hiện yêu cầu nhổ một gốc sắn phải trồng vào đó một gốc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #51 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:34:47 PM »


        Sau khi có căn cứ hậu phương vững trực tiếp, bộ đội cùng nhân dân bắt đầu mở những con đường hành lang C01 chuyển hàng chi viện cho căn cứ kháng chiến các tỉnh Bình Định, Phú Yên. Với sự hình thành đường hành lang bắc – nam, đông – tây các xã huyện vùng giải phóng ba tỉnh Tây Nguyên được nối liền thành căn cứ hậu phương tại chỗ, bảo đảm chỗ đứng chân xây dựng và tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân.

        Nhưng cũng sau chiến thắng Plây Me - Ia Đrăng, do hành quân dài ngày đến nơi là chiến đấu ngay, liên tục và ác liệt, thương vong của ta tương đối cao, mỗi đại đội chỉ còn hơn nửa quân số. Ăn uống kham khổ thiếu thốn. Muỗi rừng hành hạ gây bệnh sốt rét, có cả sốt rét ác tính. Trong các bệnh xá trung đoàn, bệnh binh nhiều gấp mấy lần thương binh. Hầu hết các đơn vị đều nảy sinh hiện tượng sinh hoạt rời rạc, kỷ luật nội bộ không nghiêm, kỷ luật dân vận sút kém, thậm chí có những hành động xấu. Có một số ít cán bộ cho tình hình này là nghiêm trọng.

        Quân viễn chinh Mỹ biết chừng nào đó tình hình đối phương, chúng tưởng đây là cơ hội làm giảm sút sức chiến đấu của bộ đội Tây Nguyên. Chúng ra sức dùng thủ đoạn chiêu hồi bằng máy bay L19, OV10, thả truyền đơn, chúng tuyên truyền kêu gọi ra rả suốt ngày. Qua việc này chứng tỏ chính quyền và quân viễn chinh Mỹ không hiểu dân tộc Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính chủ quan kiêu căng sẵn có của họ sẽ khiến họ nhận lấy hậu quả khó lường.

        Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng nói trên là do một số cán bộ dù đã qua chiến đấu ác liệt, chiến thắng vẻ vang nhưng đây mới là bước thử thách cao độ lần đầu. Lập trường chính trị, ý chí chiến đấu chưa được rèn luyện vững chắc, buông lỏng lãnh đạo tư tưởng, quản lý sinh hoạt cán bộ cấp dưới và chiến sỹ. Trong lúc khó khăn, thái độ của cán bộ đối với chiến sỹ thiếu ân cần chăm sóc mà lại quát mắng làm cho cấp dưới và chiến sỹ càng chây lười, nên mệnh lệnh không có hiệu lực. Nội bộ một số đơn vị mất đoàn kết dẫn đến quan hệ quân dân có những biểu hiện xấu. Những thiếu sót này nếu không kịp thời chấn chỉnh sẽ dẫn đến mất sức chiến đấu nghiêm trọng.

        Tôi còn nhớ 7 tháng 12 năm 1965, cơ quan chính trị mặt trận tổ chức buổi gặp mặt một số dũng sỹ diệt Mỹ xuất sắc của Trung đoàn 66. Anh em về nơi tập trung thì trời tối, cán bộ tuyên huấn cho anh em tắm giặt, ăn cơm rồi nghỉ để hôm sau làm việc. Sáng hôm sau các dũng sỹ kể lại tinh thần và  kinh nghiệm đánh Mỹ. Tôi và anh Đặng Vũ Hiệp cùng ngồi nghe, thấy chiến sỹ ta rất vui vẻ. Bữa cơm chiều “chiêu đãi” anh em có gạo nương do đồng bào địa phương tặng, có sắn, thịt gà và canh rau. Sáng hôm sau, anh Đặng Vũ Hiệp cho biết: Dũng sỹ C đã không về đơn vị. Ít ngày sau cán bộ đi tìm, thấy C bên bờ sông Nậm Bạc. Được cán bộ động viên, chiến sỹ C vui vẻ về đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ. Qua việc này nhiều người nhận thấy: một chiến sỹ cách mạng kiên cường, bền bỉ vẫn phải được giáo dục thường xuyên để sẵn sàng đón nhận nhiều thử thách, nhiều gian nan ác liệt.

        Trước tình hình trên, Đảng uỷ Mặt trận chủ trương tiến hành củng cố bộ đội toàn diện. Trước hết tập trung nâng cao ý chí chiến đấu, phẩm chất đạo đức cách mạng, chủ yếu cho đội ngũ cán bộ. Trên cơ sở đó nâng cao trách nhiệm chính trị, xây dựng quyết tâm bền bỉ, đánh quân xâm lược Mỹ đến toàn thắng.

        Tiếp sau là học tập chính trị, xây dựng tư tưởng cho đơn vị chiến đấu và cơ quan. Sau đợt chỉnh huấn chính trị đến tập huấn quân sự bằng tổng kết về địch và về ta.

        Thực hiện chủ trương trên, từ ngày 25 tháng 12 năm 1965 đến ngày 5 tháng 1 năm 1966, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức lớp chỉnh huấn chính trị đầu tiên cho 166 cán bộ trung cao cấp trong toàn mặt trận, trong đó có 13 cán bộ trung đoàn 29 cán bộ tiểu đoàn, 124 cán bộ thuộc các cơ quan trung đoàn và mặt trận.

        Nội dung đợt chỉnh huấn chính trị lần này chúng tôi tập trung quán triệt tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam nói chung và tình hình chiến trường Tây Nguyên nói riêng. Nội dung thứ hai, học tập truyền thống và bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Qua đó, mỗi người tự liên hệ kiểm điểm. Trong quá trình học tập, cán bộ còn được nghe bài viết của đồng chí Trường Sơn (bút danh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh). Ngoài ra, cán bộ còn được nghe bác sỹ phòng dịch nói về cách phòng và chống bệnh sốt rét....
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #52 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:35:31 PM »


        Chúng tôi chủ trương phát động tư tưởng cho cán bộ nói hết tâm tư vướng mắc của mình, qua đó trao đổi cùng nhau giải quyết. Đối với cán bộ trung cao cấp phải tự giác đề cao tự phê bình và phê bình, mỗi người làm hai bản kiểm điểm một bản nêu rõ ưu điểm và một bản nêu rõ những suy nghĩ và hành động trái với truyền thống và bản chất cách mạng của Đảng và Quân đội ta.

        Đây là đợt học tập tập trung đầu tiên đối với cán bộ trung cao cấp toàn mặt trận. Một cuộc sinh hoạt chính trị nghiêm túc và sâu sắc, một cuộc đấu tranh không khoan nhượng trên lĩnh vực tư tưởng giữa một bên là tư tưởng cách mạng tiến công, quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi cuối cùng với một bên là tư tưởng ngại gian khổ hy sinh, dao động, giảm sút ý chí chiến đấu. Những cuộc trao đổi thảo luận, cả những cuộc tranh luận gay gắt trong cán bộ, lãnh đạo chỉ huy các đơn vị để phân biệt đúng sai và có tác dụng thiết thực, làm chuyển biến nhận thức theo chiều hướng tích cực. Từ đó dần dần thống nhất được nhận thức về mối quan hệ giữa đánh lâu dài và tranh thủ thời cơ, thống nhất được nhiệm vụ của lực lượng vũ trang trên chiến trường. Càng về cuối đợt học tập tinh thần phấn khởi, lạc quan càng được nâng lên.

        Hôm kết thúc chỉnh huấn chính trị, tôi cầm hai tập giấy khá dày nói:

        - Đây là bản kiểm điểm của các đồng chí. Phần ưu điểm các đồng chí giữ lấy, để phát huy trong hoạt động chiến đấu lâu dài, còn đây là những bản trình bày khuyết điểm, tôi đọc và thấy các đồng chí đã tự phê bình một cách nghiêm túc trách nhiệm chính trị của mình trước Đảng và nhận rõ mỗi người đều có phương hướng phấn đấu cụ thể, thiết thực nên không cần phải giữ lại nó nữa. Tôi tuyên bố đốt tất cả những bản về khuyết điểm.

        Đợi cho những tờ giấy cuối cùng cháy thành tro, tôi mời chính uỷ các trung đoàn 66, 33, 320 lên rồi trao cho mỗi đồng chí một sợi dây thừng để trói tù binh Mỹ trong tiếng vỗ tay vang dậy cả một cánh rừng.

        Suốt cuộc chỉnh huấn, ngành hậu cần của mặt trận đã cố gắng lớn. Gạo không đủ, thêm sắn, khoai, thịt trâu hầm chuối xanh, có bữa thêm  thịt lợn và các loại rau rừng. Bữa ăn của cán bộ đủ no, có chút cải thiện. Trong bữa cơm chiều, trước khi về đơn vị mỗi cán bộ với lòng tin và niềm vui ai cũng háo hức về củng cố và nâng cao sức chiến đấu của đơn vị mình, sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ mới, thực hiện tốt kế hoạch của trên.

        Thường vụ Đảng uỷ Mặt trận họp và đánh giá kết quả chỉnh huấn: Qua chiến đấu ác liệt với chiến công có ý nghĩa lớn lại nảy sinh hiện tượng tư tưởng hữu khuynh tiêu cực khá nghiêm trọng. Trong cuộc chỉnh huấn cán bộ đã tự giác thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc. Ý chí chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược và nghị lực được nâng cao. Thực tế đã rèn luyện anh em có bước trưởng thành vững chắc. Bộ đội chủ lực không những trụ vững ở chiến trường mà còn đủ khả năng phát triển. Khả năng chiến trường Tây Nguyên đánh lớn sẽ đến trong tương lai không xa...

        Trích: Đại tướng Chu Huy Mân, Thời sôi động, đại tá Lê Hải Triều thể hiện.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #53 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:45:10 PM »


3. ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI: (HOÀNG VĂN XIÊM)


       
        Đồng chí Đại tướng Hoàng Văn Thái, sinh năm 1915 trong một gia đình nông dân yêu nước, tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình - một vùng quê giàu truyền thống cách mạng.

        Năm 18 tuổi, đồng chí rời quê hương đi làm công nhân ở mỏ than Hòn Gai và sau đó là mỏ thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng. Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1936, đồng chí trở về Tiền Hải hoạt động trong phong trào Mặt trận bình dân, tổ chức các hội Tương tế, Ái hữu, tham gia chống thuế, chống bắt phu, bắt lính,  tuyên truyền và tổ chức xây dựng cơ sở cách mạng trong nhân dân.

        Tháng 5 năm 1938, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí tích cực góp phần xây dựng tổ chức Đảng ở các xã Tiền Hoàn, Đại Hữu, An Khang thuộc huyện Tiền Hải, Thái Bình. Tháng 9 năm 1940, đồng chí bị địch bắt; không tìm được chứng cứ, địch buộc phải thả.

        Tháng 10 năm 1940, đồng chí được Đảng đưa về hoạt động bí mật ở căn cứ Lạng Giang, Hiệp Hoà tỉnh Hà Bắc, tham gia xây dựng và làm Đội trưởng Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn.

        Tháng 9 năm 1941, đồng chí được Đảng cử đi học quân sự ở nước ngoài. Tháng 10 năm 1944 về nước, đồng chí được giao nhiệm vụ quan trọng là tham gia tổ chức Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, phụ trách công tác tình báo và tác chiến.

        Tháng 4 năm 1945 phụ trách Trường Quân chính kháng Nhật.

        Tháng 9 năm 1945, đồng chí được cử giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Uỷ viên Quân uỷ hội, Uỷ viên Ban quân sự Trung ương.

        Năm 1948 được phong hàm Thiếu tướng.

        Tháng 9 năm 1958 là Trung tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao Trung ương.

        Tháng 2 năm 1966, đồng chí nhận nhiệm vụ vào truyền đạt Nghị quyết 12 của Trung ương Đảng cho các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy miền Nam.

        Tháng 7 năm 1966 nhận nhiệm vụ ở lại làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 5, quyền Bí thư Khu uỷ Khu 5.

        Tháng 10 năm 1967, làm Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, Phó Bí thư Trung ương Cục kiêm Phó Bí thư Quân uỷ Miền.

        Năm 1974, đồng chí được phong quân hàm Thượng tướng.

        Năm 1980, được thăng quân hàm Đại tướng.

        Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, đồng chí giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương; được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá III, IV, V và đại biểu Quốc hội khoá VII.

        Với những cống hiến xuất sắc và phẩm chất trong sáng, đồng chí Hoàng Văn Thái đã được Đảng, Quốc hội, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công (hạng nhất, hạng nhì). Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất; ba Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

        Là vị tướng trận mạc đã trải qua thực tiễn hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; với kiến thức và tài năng quân sự hiếm có, Hoàng Văn Thái đã trở thành một nhà chỉ huy quân sự xuất sắc. Đồng chí là người tổ chức và chỉ huy đầu tiên của Bộ Tổng tham mưu – cơ quan chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam; là “người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Đồng chí Hoàng Văn Thái được các tướng lĩnh cáo cấp trong Quân đội ta đánh giá: “Là một nhà chỉ đạo, chỉ huy toàn diện, rất coi trọng nhân tố chính trị, yếu tố nhân dân và là một nhà tham mưu lão luyện”, “ là một vị tướng có đức độ và tài năng”, “không những có kinh nghiệm về công tác tham mưu mà còn là một vị tướng chỉ huy có tài năng”.

        Cũng từ những năm tháng bám sát thực tiễn, hết sức gắn bó với các chiến trường, gần gũi chiến sỹ, kết hợp nhuần nhuyễn quân sự và chính trị, tác chiến của bộ đội chủ lực và chiến tranh du kích, lại được đào tạo qua trường quân sự, đồng chí Hoàng Văn Thái đã trở thành một trong những người giỏi về lý luận, khoa học quân sự của Quân đội ta.

        Từ những trải nghiệm trên chiến trường và trên nhiều cương vị công tác, trong suốt cuộc đời mình, Đại tướng Hoàng Văn Thái có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác nghiên cứu khoa học quân sự, tổng kết chiến tranh và xây dựng ngành lịch sử quân sự Việt Nam. đồng chí đã viết hơn mười tác phẩm hồi ký và luận văn quân sự cùng hàng trăm bài viết đăng trên các báo, tạp chí. Khối lượng lớn các tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học mà Đại tướng Hoàng Văn Thái để lại mãi mãi là tài sản tinh thần vô giá cho Đảng, Quân đội và nhân dân ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #54 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:18 PM »


TẤT CẢ CHO CHIẾN TRƯỜNG TRỌNG ĐIỂM

        (Giới thiệu về những kỷ niệm sâu sắc về chỉ đạo công tác tham mưu trong chiến dịch mang tên Bác Hồ của Đại tướng Hoàn Văn Thái).

        Sau cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 31 tháng 3, cơ quan Tổng hành dinh bước vào những ngày đầu tháng Tư với một không khí sôi động và nhịp độ khẩn trương lạ thường, hơn cả những ngày tháng Ba lịch sử. Tất cả cho chiến trường trọng điểm, quyết góp phần xứng đáng nhất giành toàn thắng trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn vào những ngày tháng Tư này, thực hiện trọn vẹn quyết tâm chiến lược của Bộ Thống soái.

        Chúng tôi xác định nhiệm vụ của Bộ Tổng tham mưu lúc này là phải tập trung cao độ vào mấy việc quan trọng có quan hệ trực tiếp tới trận quyết chiến chiến lược cuối cùng:

        Một là, theo dõi và giúp trên chỉ đạo các chiến trường tác chiến, tạo thế cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn, nhất là chỉ đạo cánh quân ven biển đang đánh địch trong hành tiến đến khu vực tập kết đúng thời gian quy định.

        Hai là, đôn đốc và theo dõi việc điều động những lực lượng chiến lược và trang bị kỹ thuật lớn vào mặt trận trọng điểm Sài Gòn càng nhanh càng tốt.

        Ba là, nghiên cứu để đề đạt cách đánh chiến lược, chiến dịch trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

        Trong hai nhiệm vụ thứ nhất và thứ hai, Bộ Tổng tham mưu phải đồng thời đáp ứng hai yêu cầu chiến lược dường như mâu thuẫn nhau đối với cánh quân đang tiến trên ven biển miền Trung.

        Một mặt, địch đang trong quá trình co cụm chiến lược, ta phải nhanh chóng tiêu diệt, làm suy yếu chúng, làm thất bại ý đồ chiến lược của chúng ngay trong quá trình co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến trường trọng điểm Sài Gòn. Làm như vậy cũng tức là tranh thủ mở rộng vùng giải phóng, nhanh chóng làm chủ các địa bàn chiến lược quan trọng ven biển miền Trung từ Nha Trang trở vào, trong đó có quân cảng quan trọng bậc nhất là Cam Ranh, không để cho địch kịp phá hoại các trang bị kỹ thuật của cảng, không để chúng kịp bốc dân các tỉnh Cực Nam Trung Bộ theo chúng. Đó là nhiệm vụ trước mắt của cánh quân ven biển, ra đời từ đầu tháng 4 năm 1975.

        Nhưng mặt khác, yêu cầu rất gay gắt đối với cánh quân này là phải nâng tốc độ hành quân hơn nữa, để đến khu vực tập kết kịp thời gian tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Quá trình hành quân của cánh này không chỉ là đánh địch mà đi, mở rộng đường mà tiến, mà còn là quá trình bổ sung và sáp nhập các đơn vị lớn ngay trên dọc đường, hình thành ngay đội hình chiến đấu; tiếp tục giải quyết hậu cần, trang bị phương tiện vận chuyển để bảo đảm tốc độ hành quân. Đó cũng là một nhiệm vụ cấp bách của cánh quân rất quan trọng này trên đường tiến quân vào chiến trường trọng điểm.

        Trong việc điều động và sử dụng lực lượng một cách linh hoạt để các đơn vị hoàn thành cả hai nhiệm vụ tranh thủ tiêu diệt địch, giải phóng đất đai và đến nhanh vị trí tập kết kịp tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn, có một trong trường hợp nổi lên cần nói đến là trường hợp sử dụng Sư đoàn 10 (thuộc Quân đoàn 3, Tây Nguyên. Quân đoàn 3 thành lập ngày 27 tháng 3 năm 1975, do đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh và đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính uỷ). Cuối tháng 3, sư đoàn này ở gần Nha Trang nhất và có điều kiện phát triển theo ven đường biển nhanh nhất.

        Trước khi hình thành cánh quân ven biển, sư đoàn đang làm nhiệm vụ đánh địch trên đường 21. Theo chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị (nhanh chóng đưa lực lượng B3 vào chiến trường trọng điểm) hồi cuối tháng , anh Dũng và Bộ tư lệnh Tây Nguyên đã cho Sư đoàn 10 ( cũng như các đơn vị phía trước, sau khi bàn giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 25 đánh trên đường 21, sẽ rút theo, để hành quân cấp tốc vào B2).

        Trên đường vào Nam, ngày 1 tháng 4, anh Sáu Thọ (Sau cuộc họp ngày 25 tháng 3, theo sự phân công của Bộ Chính trị, ngày 28 anh Lê Đức Thọ vào chiến trường B2, cùng các anh Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng thay mặt cho Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn) cũng điện ra cho anh Ba và anh Văn đề nghị không nên cho Sư đoàn 10 tiếp tục phát triển xuống Cam Ranh rồi sau đó tiến theo dọc đường biển vào B2, mà nên từ Tây Nguyên vào gấp chiến trường trọng điểm. Anh Thọ cho rằng lực lượng Khu 5 cộng với một bộ phận lực lượng Tây Nguyên cũng đủ sức giải phóng Quy Nhơn – Bình Định, rồi phát triển xuống Phú Yên, Khánh Hoà, Cam Ranh và cả Phan Rang, Phan Thiết. Các đồng chí lãnh đạo Khu 5 có kinh nghiệm vận dụng kết hợp ba thứ quân, kết hợp tiến công và nổi dậy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #55 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:39 PM »


        Nhưng hai ngày trước đó, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã căn cứ vào tình hình thực tế mà thay đổi chủ trương sử dụng sư đoàn này. Ngày 30 tháng 3, khi nghe Bộ Tổng tham mưu báo cáo tình hình, Quân uỷ nhận thấy sau khi địch thất bại ở Đà Nẵng, đang diễn ra tình hình mới ở Cực Nam Trung Bộ, nhất là sau khi ta giải phóng Quy Nhơn, địch đang rút chạy khỏi Tuy Hoà, bắt đầu chuyển các cơ quan lãnh sự Mỹ và bộ máy Ngụy ở Nha Trang và Cam Ranh về Sài Gòn, dự kiến địch có thể bỏ cả Cam Ranh. Trước tình hình đó, sau buổi giao ban, Bộ Chính trị và Thường trực Quân uỷ nhất trí cho rằng, ta cần có chủ trương thật linh hoạt để lợi dụng thời cơ cụ thể này, nên đã quyết định sử dụng Sư đoàn 10 nhanh chóng tiêu diệt quân dù và quân địch còn lại trên đường 21, tiến xuống đánh chiếm Nha Trang và Cam Ranh, rồi theo hướng ven biển mà tiến về phía nam. Như vậy vừa tiêu diệt được địch trong lúc chúng đang rút chạy, kịp giải phóng mà không để địch phá một quân cảng quan trọng bậc nhất, đồng thời phát triển thế liên tục tiến công thắng lợi, mở thêm một con đường để tiến về phía đông Sài Gòn mà không ảnh hưởng lớn đến thời gian.

        Quyết định trên được chuyển ngay vào chiến trường Tây Nguyên ngày 30 tháng 3 (điện số 940).

        Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp với suy nghĩ của anh Dũng và Bộ tư lệnh Tây Nguyên.

        Đêm ngày 30 tháng 3 (khi còn chưa nhận được điện số 940 của Quân uỷ), anh Dũng cùng Bộ tư lệnh Tây Nguyên cũng ban việc sử dụng Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 phát triển xuống đánh chiếm Nha Trang, Cam Ranh, sau đó sư đoàn này theo đường 11 lên đường 20 vào miền Đông Nam Bộ. Như vậy, tranh thủ diệt nốt được lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 Ngụy, giải phóng thêm một vùng chiến lược quan trọng mà sư đoàn vẫn đủ thời gian hành quân vào chiến trường trọng điểm. Quyết định rồi nhưng các anh còn băn khoăn vì sử dụng sư đoàn này như vậy có trái với chủ trương trước ngày 30 tháng 3 của Bộ Chính trị và Quân uỷ là nhanh chóng đưa lực lượng B3 vào miền Đông không?

        Giữa lúc anh Dũng và các anh ở B3 đang triển khai quyết tâm đã thống nhất đêm 30 tháng 3 với ý định là “chịu trách nhiệm rồi báo vế Quân uỷ Trung ương và Bộ Chính trị”, thì nhận được điện 940. Anh Dũng vội điện ra. Điện có đoạn viết:

        “Tôi mừng quá vì thật là tâm đầu ý hợp giữa lãnh đạo và người ở chiến trường”.

        Hôm sau, ngày 31 tháng 3, trả lời điện của anh Thọ, anh Vă cho biết Sư đoàn 10 đang đánh quân dù, sẽ tiến đánh Nha Trang, Cam Ranh và tiếp tục phát triển tiến công theo hướng ven biển, vừa tiêu diệt được địch, giải phóng cảng lớn, vừa đánh lạc hướng địch.

        Sau khi Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã quyết định hướng phát triển của Sư đoàn 10, ngày 1 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu thông báo tình hình địch cho sư đoàn và đôn đốc tranh thủ từng giờ, từng phút phát triển thật nhanh vào hướng Nha Trang, Cam Ranh. Điện nói rõ: Nếu cần thì cho đơn vị nhỏ thâm nhập trước để không cho địch có thời gian phá hoại cơ sở kỹ thuật và bốc dân. Cùng lúc, chúng tôi lại nhận được tin Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 và Lữ dù 3 Ngụy đang hoảng loạn chạy theo đường bộ về hướng Sài Gòn và đêm ngày 1 tháng 4, dừng lại ở Phan Rang. Cùng với điện gửi sư đoàn, Bộ Tổng tham mưu thông báo ngay cho Khu 5 để kịp thời huy động lực lượng, kể cả Trung đoàn 25 ở đường 1, Trung đoàn 95B ở đường 7 cùng với lực lượng tại chỗ phối hợp đánh địch rút chạy trên hướng Tuy Hoà, Nha Trang, Cam Ranh; đồng thời điện cho Khu 6 dùng các lực lượng tại chỗ dọc đường 1 phối hợp với sư đoàn này ngăn chặn và tiêu diệt địch. Ngày hôm sau, qua tin kỹ thuật, chúng tôi được biết cụ thể thêm: Địch đang dùng chừng 3 nghìn xe chở quân rút chạy từ Cam Ranh vào Sài Gòn. Sáng ngày 2 tháng 4 đoàn xe đã đến địa phận Bình Thuận. Chúng cho rằng đường 1 bị cắt ở gần Xuân Lộc nên chỉ có thể rút chạy theo đường ven biển qua Hàm Tân, Bà Rịa ra Vũng Tàu. Bộ Tổng tham mưu điện cho Quân khu 6 và Quân khu 7 sử dụng ngay lực lượng vũ trang ở Bình Tuy, Phước Tuy, tìm mọi cách ngăn chặn địch, kể cả phá đường, đánh nhỏ, làm chậm bước rút chạy của chúng. Hai quân khu cũng được thông báo: Sư đoàn 10 của Tây Nguyên đang tiến công giải phóng Nha Trang, Cam Ranh và sẽ phối hợp với địa phương truy kích tiêu diệt địch chạy qua Phan Rang, Phan Thiết vào phía Nam. Quân khu 6 và Quân khu 7 cần phối hợp ngay với Sư đoàn 10 đánh địch; giải phóng đến đâu, dùng bộ đội địa phương tiếp quản đến đấy để sư đoàn có thể tiếp tục tiến nhanh vào miền Đông Nam Bộ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #56 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:55:40 PM »


        Riêng với anh Thọ, vẫn đang trên đường vào Bộ tư lệnh Miền, anh Văn điện tiếp để anh biết tình hình các binh đoàn đang trên đường vào B2, trong đó có Sư đoàn 10 đã tiêu diệt Lữ đoàn dù địch và đang tiến về phía nam. Để anh yên tâm, bức điện nói rõ: “Về thời gian, theo anh Dũng cho biết thì cúng không muộn hơn là quay trở lại đi theo hướng đường cũ. Chúng tôi thấy như thế có lợi, anh Ba cũng đồng ý”.

        Hôm sau, ngày 3 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu nhận được điện anh Thọ gửi anh Ba, anh Văn, đồng thời gửi anh Dũng, nhất trí với cách xử trí của Bộ Chính trị và Quân uỷ. Điện viết: “...Nếu Sư đoàn 10 đã tiến sâu như vậy thì có thể giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10 và thêm một sư đoàn của Khu 5, phát triển giải phóng Phan Rang, Phan Thiết và tiến xuống giải phóng Bà Rịa, Ô Cấp. Hiện nay nhiệm vụ Khu 5 đã xong, có thể rút đi một sư đoàn để thêm sức với Sư đoàn 10 mà đánh. Tiến như vậy rất bất ngờ, có thể nhanh chóng tiến sát, bao vây Sài Gòn về hướng đông. Đường tiếp tế tuy có kéo dài ra, nhưng ta lợi dụng được đường  và phương tiện vận chuyển trong dân vùng mới giải phóng thì có thể vận chuyển tiếp tế tương đối nhanh và thuận lợi hơn là hướng từ miền Đông xuống...”.

        Như vậy là từ ngày 31 tháng 3, trong lúc sư đoàn khẩn trương phát triển từ đường 21 xuống phía Nha Trang, Cam Ranh thì các bức điện trao đổi đã dẫn đến sự nhất trí về việc sử dụng sư đoàn này cũng như toàn cánh quân ven biển – cánh quân hướng Đông.

        Tình hình phát triển khẩn trương và những mục tiêu còn lại ở ven biển Cực Nam Trung Bộ đặt ra yêu cầu cấp bách về mặt chỉ đạo chiến lược là tăng thêm lực lượng cho cánh quân này, cũng tức là tăng thêm lực lượng cho hướng đông và đông nam của chiến trường trọng điểm. Qua các bức điện trao đổi, anh Thọ, các anh ở B2 và Khu 5 đều nhất trí như vậy. Ngày 4 tháng 4 anh Ba cùng Thường trực Quân uỷ đã quyết định tăng thêm  sư đoàn: Sư đoàn 3 (đang ở Bình Định), Sư đoàn 325 và Sư đoàn 304 (đang ở Đà Nẵng), cùng các đơn vị pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh vào đội hình cánh quân hướng Đông. Nhiệm vụ của cánh quân này là tiêu diệt quân địch trong hành tiến, nhanh chóng đánh chiếm Bà Rịa, Ô Cấp, khoá chặt sông Lòng Tàu và phát triển về hướng Sài Gòn từ phía đông nam.

        Để tăng cường chỉ đạo chỉ huy cánh quân hướng Đông (gồm Quân đoàn 2 do anh Nguyễn Hữu An, Tư lệnh; anh Lê Linh, Chính uỷ; Sư đoàn 3 và các đơn vị phối thuộc), ngày 5 tháng 4 các anh Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hoà và Nam Long đã vào đến Đà Nẵng. Anh Tấn được giao nhiệm vụ Tư lệnh cánh quân hướng Đông. Đồng thời Thường trực Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Ban cán sự lâm thời của cánh quân này do anh Lê Quang Hoà làm Bí thư. Khi vào đến miền Đông Nam Bộ, cánh quân này sẽ thuộc quyền lãnh đạo và chỉ huy của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Mặt trận Sài Gòn.

        Trở lại “sự kiện” sử dụng Sư đoàn 10. Sau khi giải phóng Nha Trang và Cam Ranh, được sự giúp đỡ của quân và dân Khu 6, Sư đoàn 10 đã từ Ba Ngòi xuyên qua căn cứ Bác Ái đến Tân Mỹ (đường 11) để lên Tuyên Đức rồi theo đường 20 hành quân về vị trí tập kết của Quân đoàn 3 trên hướng tây bắc Sài Gòn. Hàng ngàn quân dân huyện Bá Ái, quê hương của Anh hùng Bi Năng Tắc, đã hăng hái lao động suốt ngày đêm, sửa lại con đường Ba Ngòi – Tân Mỹ để bộ đội hành quân nhanh chóng.

        Trong những ngày này, Bộ Tổng tham mưu nhận được tin địch đã điều sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 3 ra Xuân Lộc, đưa Lữ dù 2 ra Phan Rang và tăng cường phòng thủ thị xã này, thực hiện chủ trương phòng thủ từ xa; đồng thời nhận được tin anh Tấn và anh Hoà sáng 10 tháng 4 đã từ Quy Nhơn đi Nha Trang, có thể đến nơi trong ngày và tin Sư đoàn 325 xuất phát từ Đà Nẵng ngày 9, Sư đoàn 304 sẽ đi tiếp theo.

        Ngày 13 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu nhận được điện anh Tấn cho biết tình hình hậu cần cho Quân đoàn 2 chưa gặp khó khăn gì lắm. Đơn vị đã được cấp một tháng lương thực và thực phẩm. Dọc đường hành quân của quân đoàn, ở Cam Ranh có hơn 2.000 tấn gạo, ở Quy Nhơn có 245 tấn xăng, 175 tấn ma dút, ở Nha Trang có 4.000 tấn xăng và 1.000 tấn ma dút, v.v... Nghe báo cáo, Thường trực Quân uỷ yên tâm về khả năng bảo đảm vật chất kỹ thuật cho cánh quân hướng Đông, nhưng phải làm sao đưa lực lượng này vào chiến trường trọng điểm nhanh hơn. Nhiệm vụ và hướng phát triển của Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 đã được Thường trực Quân uỷ Trung ương nhất trí. Cụ thể là: Sau khi giải quyết xong Phan Rang, sẽ phát triển đánh chiếm thị xã Bà Rịa và căn cứ Vũng Tàu, cắt đứt đường bộ từ Biên Hoà đi Vũng Tàu, khống chế hoàn toàn sông Lòng Tàu. Nếu địch co về phòng thủ Biên Hoà thì sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể lúc đó mà cho lực lượng tiến về phía đông và đông nam Sài Gòn, vượt sông đột phá vào trọng điểm khu vực này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #57 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:56:55 PM »


        Đến ngày 11 tháng 4, có tin địch có thể tăng cường củng cố thêm Phan Rang để ngăn chặn đường tiến của quân ta. Sư đoàn 968 của ta chưa quen đánh cứ điểm lớn có tổ chức phòng thủ vững chắc. Chúng tôi điện để anh Tấn nghiên cứu xem, nếu đánh Phan Rang mất thời gian và để kịp tiến nhanh về miền Đông thì có thể nghiên cứu cách nào vòng qua, còn ở Phan Rang chỉ để một đơn vị bao vây buộc địch phải phân tán đối phó. Nếu đi đường vòng, cố nhiên phải khắc phục khó khăn về hậu cần và đường cơ động cho binh khí kỹ thuật.

        Mấy ngày sau, Bộ Tổng tham mưu nhận được báo cáo: một bộ phận của cánh quân ven biển do anh Tấn chỉ huy, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương Quân khu 6 (Gồm các tỉnh Cực Nam Trung Bộ), đã đánh chiếm sân bay Thành Sơn và thị xã Phan Rang. Du kích Bác Ái Đông từ lâu đã bám sát vành đai sân bay Thành Sơn, tạo thế rất thuận lợi cho bộ đội chủ lực tiến công địch. Đêm ngày 7 tháng 4, bộ đội đặc công cùng với bộ đội địa phương Ninh Thuận thọc sâu đánh chiếm thị trấn Tháp Chàm, sau đó bám trụ trong thị xã Phan Rang. Bộ phận này đã đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, sau đó góp phần quan trọng cùng với bộ đội chủ lực giải phóng thị xã Phan Rang, mở đường cho cánh quân hướng Đông phát triển thuận lợi. Ở Bình Thuận, cũng từ ngày 7 tháng 4, Trung đoàn 812 (chủ lực của Quân khu 6) từ Tuyên Đức xuống Bình Thuận, ngày hôm sau tiến công tiêu diệt chi khu quận lỵ Thiện Giáo (Ma Lâm), tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương diệt các vị trí địch còn lại.

        Trung đoàn 812 bám trụ Phú Long (cửa ngõ vào thị xã Phan Thiết) trong suốt năm ngày, từ 14 đến 18 tháng 4, dưới hoả lực phi pháo ác liệt của địch, đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng cùng với đơn vị của Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng Phan Thiết.

        Thế là, tiếp theo việc giải phóng hoàn toàn các tỉnh Lâm Đông (ngày 30 tháng 3), Tuyên Đức (ngày 3 tháng 4), gần như toàn bộ địa bàn Khu 6 đã được giải phóng, ý đồ phòng ngự từ xa của địch hoàn toàn bị phá sản. Nhìn vào bản đồ chiến sự, đến hạ tuần tháng 4, dễ dàng nhận thấy một thế chiến lược vô cùng thuận lợi của ta đã được tạo ra trước khi mở màn chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Một vùng giải phóng rộng lớn kéo dài suốt từ Cực Nam Trung Bộ, qua Khu 5, Tây nguyên đến Trị - Thiên, nối liền với hậu phương miền Bắc. Như vậy là cả nước đã tiến quân trên mảnh đất Thành Đồng, đã tiếp cận thành phố Sài Gòn – Gia Định và đang hướng mọi hành động vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng trên chiến trường trọng điểm: Sài Gòn.

        Trong những tin chiến thắng dồn dập bay về Tổng hành dinh mấy tuần đầu tháng 4, chúng tôi đặc biệt chú ý tin ngày 8 tháng 4, phi công Nguyễn Thành Trung lái một máy bay F5E của không quân Ngụy ném bom “dinh Độc Lập” rồi bay ra vùng giải phóng hạ cánh xuống sân bay Phước Long và tin bộ đội hải quân phối hợp với lực lượng vũ trang Khu 5 bắt đầu giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, đầu tiên là đảo Song Tử Tây.

        Riêng trên hướng đông bắc Sài Gòn, theo chủ trương trước đó của Trung ương Cục, Quân đoàn 4 đã bắt đầu trận Xuân Lộc từ đêm ngày 9 tháng 4.

        Chúng tôi được tin địch đưa thêm quân tăng cường ra hướng đó và vì ta chuẩn bị chưa thật đầy đủ nên đã gặp khó khăn, chưa thực hiện được trận thối động mạnh. Từ ngày 12, cùng với việc chuẩn bị thêm, ta đã chuyển sang bao vây và diệt viện ở bên ngoài, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18 và Lữ dù Ngụy, đánh chiếm Dầu Giây, làm chủ ngã ba đường 1 và đường 20, chia cắt Xuân Lộc về phía tây, uy hiếp tuyến phòng thủ Biên Hoà – Hố Nai. Trước tình hình đó và sau trận Phan Rang, sức ép của ta trên hướng đông ngày càng mạnh, buộc địch phải rút chạy khỏi Xuân Lộc (đêm ngày 20 tháng 4). Tuyến phòng thủ phía đông Sài Gòn của địch bị chọc thủng, bàn đạp tiến công của ta trên hướng này được mở rộng. Ta có thêm điều kiện thuận lợi mới trước khi bước vào chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

        Cùng với việc theo sát và giúp trên chỉ đạo tác chiến của cánh quân ven biển Cực Nam Trung Bộ, Bộ Tổng tham mưu quan tâm theo dõi tình hình chuẩn bị lực lượng chính trị của ta ở Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, nhằm chuẩn bị phối hợp với đòn tiến công của chủ lực trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

        Trong các buổi giao ban, tuy tin tức nhận được về công tác chuẩn bị cho quần chúng nổi dậy không nhiều, chúng tôi vẫn đặt thành nhiệm vụ cho Cục tác chiến và nhất là Cục Dân quân thường xuyên báo cáo những bước chuẩn bị nổi dậy của quần chúng trên chiến trường trọng điểm,nhất là sau khi phát hiện những nhân tố mới về phương thức này trong chiến dịch giải phóng Đà Nẵng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #58 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:59:15 PM »


        Ngày 17 tháng 4, Bộ Tổng Tham mưu điện hỏi cơ quan tham mưu B2 về tình hình chuẩn bị lực lượng quần chúng ở nội đô và vùng xung quanh Sài Gòn, ở đồng bằng sông Cửu Long. Được biết ngày 12 tháng 4, Thường vụ Thành uỷ Sài Gòn ra nghị quyết về các tổ chức chính trị và vũ trang nội thành và vùng ven để chuẩn bị khẩn trương cho quần chúng nổi dậy phối hợp với chủ lực khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn mở màn. Khoảng 700 cán bộ nội thành và 1.000 cán bộ vùng ven đã được chuẩn bị sẵn sàng đón thời cơ phát động quần chúng nổi dậy. Gần 40 tổ chức “biến tướng” được củng cố và trở thành cơ sở của ta ở vùng ven và nội thành. Ta đã làm chủ với mức độ khác nhau 40 lõm chính trị, đã xây dựng được 233 tự vệ mật trong thành phố và hơn 3.000 du kích vùng ven. Đây là một lực lượng chưa phải lớn, nhưng rất quan trọng để thực hiện kết hợp tiến công và nổi dậy trong trận quyết chiến cuối cùng sắp tới. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Cục (tức là nghị quyết ngày 29 tháng 3 năm 1975 về địa phương chuẩn bị tự giải phóng bằng lực lượng của chính mình khi có thời cơ), các địa phương trong Khu 9 đã tuyển hàng nghìn chiến sỹ mới, bổ sung cho lực lượng vũ trang tỉnh và huyện. Các tỉnh đã nâng số tiểu đoàn địa phương từ 15 lên 24, đưa số đại đội ở huyện lên thành tiểu đoàn và tổ chức thêm được 60 đại đội khác. Dân quân du kích toàn Khu 9 đã nhanh chóng nâng từ 32.900 (tháng 3 năm 1975) lên 54.900 (tháng 4 năm 1975). Ở Khu 8, do kết quả tuyển quân và đưa 2.440 du kích lên, cộng với việc rút 1.200 du kích trong vùng sâu ra, toàn khu đã thành lập thêm được 7 tiểu đoàn, 36 đại đội và 150 trung đội bộ đội địa phương. Riêng tỉnh Bến Tre đã phát triển bộ đội địa phương từ 3 lên 5 tiểu đoàn đủ; mỗi huyện có từ 1 đến 2 đại đội, mỗi xã có từ 1 đến 2 trung đội du kích và dự kiến số quần chúng đưa vào thị xã (khi có lệnh khởi nghĩa) lên tới khoảng một vạn người được tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn, có chỉ huy chặt chẽ; cùng với hàng ngàn gia đình binh sỹ Ngụy tham gia công tác binh vận. Tỉnh Mỹ Tho tuyển gần 1.000 chiễn sỹ mới, đưa hàng nghìn du kích lên bộ đội địa phương, nên đã bổ sung cho tỉnh 3 tiểu đoàn, xây dựng thêm 28 đại đội huyện và phát triển thêm 1.500 du kích xã ấp, trong đó có khoảng 100 du kích mật của thi xã; đã huy động chừng 40 nghìn lượt người đi vận chuyển vũ khí cho bộ đội và 4.000 lượt người đêm đêm ra phá lộ 4, đắp vật chướng ngại trên kênh Chợ Gạo. Các tỉnh Long An, Kiến Tường, Sa Đéc... cũng rất cố gắng phát triển lực lượng vũ trang – chính trị nên đã có lực lượng cần thiết để sẵn sàng thực hành nổi dậy kết hợp với tiến công khi có thời cơ.

        Vào khoảng trung tuần tháng 4, khi Bộ Tổng tham mưu báo cáo tổng hợp tình hình phát triển lực lượng chính trị và vũ trang vùng ven Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đều rất vui khi nhận thấy khả năng quần chúng nổi dậy trên chiến trường B2 có thể phát triển sâu rộng hơn so với những gì đã diễn ra trong trận tiến công Đà Nẵng. Mô hình tiến công và nổi dậy mà Bộ Chính trị nhấn mạnh trong cuộc họp ngày 25 tháng 3 đã có cơ sở để biến thành hiện thực.

        Cùng với việc theo dõi và chỉ đạo hoạt động tác chiến tạo thế cho cuộc đọ sức cuối cùng trên chiến trường trọng điểm, Bộ Tổng tham mưu tập trung vào việc chỉ đạo điều động binh lực và vật chất kỹ thuật vào chiến trường B2 với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa” mà Bộ Chính trị đã đề ra trong các cuộc họp cuối tháng 3.

        Vấn đề chuẩn bị và điều động lực lượng cho Mặt trận Sài Gòn được đề ra khá sớm, từ những ngày chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng đang diễn biến khẩn trương. Cuối tháng 3, đặc biệt là sau cuộc họp ngày 31 của Bộ Chính trị, vấn đề lo lắng của cơ quan Tổng hành dinh cũng như của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy trên đường 559 và các chiến trường phía Nam là bất luận trong tình hình nào cũng không được vì điều động lực lượng mà để lỡ thời cơ chiến lược.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #59 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2016, 11:59:41 PM »


        Một đoàn cán bộ tham mưu và hậu cần được cử đi giúp đồng chí Phùng Thế Tài, Phó Tổng tham mưu trưởng, chuyên trách việc đôn đốc hành quân trên trục đường 559. Quán triệt phương châm “thần tốc, thần tốc hơn nữa”, hoạt động của guồng máy chi viện chiến lược được đẩy lên với tốc độ ngày càng cao. Ở cơ  quan tham mưu hậu cần, trên đường 559 cũng như ở B2, các cán bộ lãnh đạo đều tập trung theo dõi hành trình của Quân đoàn 1 xuất phát từ phía nam đồng bằng Bắc Bộ; của các lực lượng B, xuất phát từ nhiều hướng trên chiến trường Tây Nguyên; của Sư đoàn 320b xuất phát từ Trị - Thiên; của Sư đoàn  từ Bình Định, các Sư đoàn 325 và 304 từ Đà Nẵng, v.v... Hai cơ quan tham mưu và hậu cần chiến lược đặc biệt quan tâm theo dõi việc vận chuyển đạn lớn, nhất là đạn cho xe tăng. Điện hỏi và điện trả lời liên tục. Động viên, đôn đốc, thúc giục để cùng nhau chạy đua với thời gian, với thời tiết, với quân thù. Làm sao giành được thắng lợi trọn vẹn trước khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống. Từ tháng 3 Bộ Chính trị đã từng khẳng định: Lỡ thời cơ chiến lược là có tội. Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng là mệnh lệnh chiến đấu, là khẩu hiệu hành động để biến quyết tâm đó thành thắng lợi. Mà bất ngờ và chắc thắng lúc này chủ yếu là khâu thời gian. Phải làm sao cho thời gian, vốn đã ủng hộ chúng ta, sẽ ngày càng ủng hộ chúng ta nhiều hơn nữa.

        Việc gấp rút tập trung lực lượng để hình thành thế bao vây và chia cắt quân địch trên chiến trường trọng điểm đã được Bộ Chính trị đề ra từ các cuộc họp cuối tháng 3. Chủ trương đó đã được phổ biến tới các cấp lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ.

        Quân đoàn 1. do anh Nguyễn Hoà làm Tư lệnh, anh Hoàng Minh Thi làm Chính uỷ, từ cuối tháng 3 đã được lệnh hành quân cấp tốc với hai sư đoàn và các đơn vị binh khí kỹ thuật. Riêng Sư đoàn 308 được chọn ở lại bảo vệ hậu phương lớn. Yêu cầu đặt ra với quân đoàn là phải hết sức khẩn trương để khoảng ngày 10 tháng 4, đơn vị đầu tiên đã đến khu vực Đồng Xoài. Bộ Tổng tham mưu đã phải gấp rút bổ sung quân trước ngày quân đoàn lên đường vì trong những tháng cuối năm 1974, đầu năm 1975, một số khá đông lực lượng của quân đoàn đã được rút đi để tăng cường theo yêu cầu khẩn trương của chiến trường lúc đó. Chúng tôi chuyển điện của anh Văn cho anh Thọ biết tin về hành trình của Quân đoàn 1 vì dọc đường vào B2, anh Thọ điện ra cho anh Ba và anh Văn yêu cầu cho Quân đoàn 1 lên đường sớm.

        Riêng cánh quân ven biển do anh Tấn chỉ huy, mặc dù phải nâng tốc độ tiến công trong hành tiến vào những ngày giữa tháng 4, sau chiến thắng Phan Rang, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương cũng như các anh ở B2 luôn điện hỏi bao giờ những đơn vị đầu tiên của đơn vị này đến Bà Rịa. Các anh chờ đợi việc áp sát tuyến phòng thủ Biên Hoà - Hố Nai, cắt đường 15 và sông Lòng Tàu, để cùng với việc giải phóng Xuân Lộc, hình thành thế bao vây Sài Gòn trên hướng đông và đông nam. Những ngày từ 16 đến 20 tháng 4 luôn có những bức điện đôn đốc cánh quân ven biển nâng tốc độ hành quân hơn nữa và những bức điện hỏi nhu cầu vật chất cần giải quyết để bảo đảm hành quân thần tốc.

        Không những Đoàn 559 (Sở chỉ huy của đồng chí Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Đoàn 559, lúc này đã vào Quy Nhơn) mà bộ tư lệnh Khu 5 cũng được chỉ thị giúp đỡ về mọi mặt, nhất là về lương thực, phương tiện vận chuyển và xăng dầu để cánh quân hướng Đông sớm tới chiến trường trọng điểm.

        Tháng Tư, toàn quân hướng về chiến trường trọng điểm mà xốc tới. Những binh đoàn từ miền Bắc, Trị - Thiên đến Tây Nguyên và Khu 5 nườm nượp lên đường. Từng binh đoàn, xuất phát từ nhiều địa bàn khác nhau và những thời điểm không giống nhau, đi trên nhiều trục đường khác nhau và bằng những phương tiện cũng không giống nhau, nhưng đều hành quân với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa”. Có đơn vị vừa đi vừa đánh địch để mở đường, có đơn vị vượt cung, tăng trạm. Theo sát và nắm vững hành trình của các binh đoàn đang thi đua lao nhanh về phía chiến trường trọng điểm, đối với cơ quan tham mưu lúc này là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Hai trục đường vận chuyển chiến lược Đông và Tây Trường Sơn đã mở rộng, vươn dài. Lại có thêm tuyến đường 14 và đường 1. Rõ ràng so với trước, ta có thêm rất nhiều thuận lợi trong việc cơ động bộ đội từ các hướng đổ cả về hướng trọng điểm. Nhưng một khó khăn không nhỏ là xe cơ giới không đủ để đáp ứng yêu cầu, mặc dù Bộ Quốc phòng đã được phép huy động mọi phương tiện có thể huy động được ở hậu phương, đã tận thu xe địch, huy động cả xe của dân trong những vùng mới giải phóng. Ngoài lực lượng bộ đội quá lớn cần hành quan gấp, còn có hàng ngàn, hàng vạn cán bộ Đảng và chính quyền, mặt trận được cử vào cũng với tinh thần “thần tốc”, để nhanh chóng tham gia củng cố vùng mới giải phóng vừa mới mở ra quá rộng, vượt mọi dự kiến của các ngành, các cấp.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM