Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Một, 2020, 09:33:11 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh  (Đọc 29283 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #270 vào lúc: 07 Tháng Một, 2017, 10:39:03 AM »


TRỞ LẠI CHIẾN TRƯỜNG THAM GIA CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC BẰNG ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

        “Ngày 27 tháng 7 năm 1961, Bộ tư lệnh Quân khu 5 và Quân khu 6 được thành lập.

        Bộ Tư lệnh Quân khu 6 gồm có đồng chí Yblok Eban làm quyền Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Mô (tức Tư Khiêm) – Chính uỷ, tôi với bí danh sáu H – Tham mưu trưởng, đồng chí Trần Phòng bí danh Bẩy Biên - Chủ nhiệm hậu cần, đồng chí Trần Lê – Bí thư Khu uỷ (thay đồng chí chí Bùi San đi nhận công tác khác).

        Quyết định ký ở Hà Nội ngày 27 tháng 7, nhưng đến cuối tháng 8 ở trong này chúng tôi mới nhận được quyết định và tổ chức họp Khu để công bố quyết định và ra mắt Bộ tư lệnh.

        Cuối năm 1961 lực lượng vũ trang Quân khu 6 có ba đại đội bộ binh, một đại đội đặc công và một đại đại đội hoả lực. Bộ đội địa phương Bình Thuận B3 (bắc đường 21) có đại đội còn các tỉnh khác có trung đội.

        Tháng 8 năm 1961, miền Bắc chi viện vào hai khung tiểu đoàn có quân số thiếu là Tiểu đoàn 186 và Tiểu đoàn 365 vào nhập với Tiểu đoàn 120. Tiểu đoàn 120 sau lên đánh ở Tuyên Đức đổi tên thành Tiểu đoàn 840. Một khung tiểu đoàn có ba trăm người, mỗi đại đội có bảy chục người. Vì đã quen thuộc chiến trường (đa số anh em đều là bộ đội tập kết vào) nên các đơn vị chiến đấu được ngay. Tiểu đoàn 840 do đồng chí Hải Chúng là Tiểu đoàn trưởng, anh Nguyện là Chính trị viên tiểu đoàn. Hai đơn vị này sau là chủ lực của Khu.

        Riêng Tiểu đoàn 186 còn mang một cái tên rất thân mật là tiểu đoàn Lá Bép. Lá Bép là một loại lá cây rừng trông giống như lá bưởi, nấu nhừ ăn ngọt như rau ngót, có thể ăn trừ bữa như các rau môn thục, tàu bay, măng, đoóc ở suốt dãy Trường Sơn đã từng nuôi sống bộ đội ta trong những hoàn cảnh khó khăn. Loại rau này có đặc điểm là nếu nấu không kỹ khi ăn vào sẽ bị nôn mửa. Tiểu đoàn này được các mẹ, các chị hội phụ nữ tỉnh Bến Tre đỡ đầu. Cái tên “Lá Bép” đã gắn bó một cách mật thiết với một trong những tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Khu 6. Với những chiến công vang dội trên mảnh đất Cực Nam Trung Bộ, Tiểu đoàn Lá Bép 186 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Nói đến Tiểu đoàn Lá Bép 186 không thể không nói đến thành tích dân vận của tiểu đoàn này.

        Trong chiến dịch tổng hợp phối hợp với lực lượng Bình Thuận giải phóng xã Võ Su và xã Mê Pu là hai xã đồng bào dân tộc của tỉnh Quảng Ngãi bị địch dồn vào ấp chiến lược. tiểu đoàn này đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giải phóng đồng bào hai xã trên khỏi ấp chiến lược. Cùng tiểu đoàn này vừa đánh điểm đồn Quỳnh Hoa cấp trung đội, vừa đánh diệt viện gồm một tiểu đoàn bảo an từ Bảo Lộc nên tiếp ứng. Với thành tích trên Tiểu đoàn Lá Bép 186 được tặng thưởng Huân chương Quân Công hạng ba. Nhiều cán bộ ưu tú đã từng làm chỉ huy của Tiểu đoàn nay, trong đó phải nói đến những người như đồng chí Nguyễn Thông - Tiểu đoàn trưởng quê ở Bình Định, đồng chí Nguyện – Chính trị viên... là những đồng chí có nhiều thành tích trong chiến đấu. Nói đến Tiểu đoàn 186 không thể không nói đến một tấm gương anh hùng của Đại đội 2 thuộc tiểu đoàn này, đó là đồng chí Lương Văn Năm, còn được anh em gọi với cái tên thân mật là đồng chí Năm Lao. Sở dĩ có tên Năm Lao là vì trong chiến đấu khi phát hiện thấy địch là đồng chí Năm “lao” vào tiến công rất quyết liệt cho tới khi giành thắng lợi

        Đồng chí Năm Lao sinh năm 1930 tại xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Năm 1946, đồng chí nhập ngũ và không lâu sau, do chiến đấu dũng cảm, đồng chí Năm Lao đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí Năm Lao xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, bảy trong mười người con của gia định tham gia cách mạng.

        Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí là chiến sỹ bắn trung liên cùng đơn vị chiến đấu nhiều trận thắng lợi. Năm 1954 đồng chí tập kết ra Bắc. Năm 1959, hội thao kỹ thuật bắn súng chiến đấu do Bộ Tổng tham mưu tổ chức, tiểu đội bộ binh do thượng sỹ Lương Văn Năm chỉ huy đã đạt thành tích xuất sắc, được xếp vào hàng những đơn vị giỏi nhất toàn quân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #271 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:05:41 AM »


        Tháng 4 năm 1961, đồng chí Năm Lao cùng đơn vị về Bình Thuận tiếp tục chiến đấu với cương vị Đại đội trưởng Đại đội 2 Tiểu đoàn 186 chủ lực Khu 6. Tháng 10 năm 1962, đồng chí chỉ huy đại đội đánh địch ở Đắc-rơ-bun – Giôn-hắt, diệt hai trung đội biệt kích, bảo vệ an toàn căn cứ của Khu, bảo vệ nhân dân sơ tán và thu lại được số lương thực của dân đã bị địch cướp chưa kịp mang đi. Năm 1965, đồng chí về làm huyện đội trưởng huyện Tánh Linh. Ngày 15 tháng 6 năm 1965, đồng chí trực tiếp chỉ huy đơn vị bám đánh Lữ đoàn 173 Mỹ và Sư đoàn 10 quân ngụy. Một lần, cả đơn vị bị bao vây giữa đồng trống, một bầy trực thăng Mỹ bắn phá chặn đường rút của ta, đồng chí đã bình tĩnh chỉ huy đơn vị đánh trả quyết liệt, đơn vị đã diệt gần hai đại đội Mỹ, bản thân đồng chí bắn rơi hai máy bay trực thăng, sau đó đơn vị đã đưa thương binh, liệt sỹ rút về căn cứ an toàn.

        Sau thời gian đó, đồng chí Năm Lao được trên điều về làm Huyện đội trưởng huyện Hàm Thuận, Thường vụ Huyện uỷ. Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, đồng chí trực tiếp chỉ huy đánh ba lần vào Chi khu Ma Lâm diệt ba lô cốt, bám trụ trong khu vực quận lỵ, đánh phản kích suốt ngày gây cho địch nhiều thiệt hại. Sau chiến dịch Mậu Thân, đơn vị tiếp tục đánh bốt, phá ấp chiến lược, diệt trên một trăm tên địch, giữ vững được phong trào địa phương.

        Đồng chí Năm La là một chỉ huy dũng cảm luôn luôn chủ động tiến công kẻ thù khiến chúng nhiều phen khiếp sợ. Riêng đối với anh em đồng đội, đồng chí sống giản dị, chan hoà, nên được cán bộ, chiến sỹ yêu mến, cấp trên tin tưởng. Tháng 5 năm 1971, trong trận chỉ huy đơn vị đánh vào đồn và ấp Bình Lâm, đồng chí đã anh dũng hy sinh. Đồng chí được tặng thưởng nhiều huân chương, bằng khen chiến sỹ thi đua. Ngày 16 tháng 12 năm 1978, đồng chí Lương Văn Năm (Năm Lao) được truy tăng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Tháng 2 năm 1962, Khu uỷ Khu 6 họp Hội nghị mở rộng để quán triệt Nghị quyết Trung ương Cục lần thứ nhất và bàn định nhiệm vụ công tác của Khu.

        Hội nghị đã phân tích, đánh giá tình hình mọi mặt về địch – ta, nhận định những thuận lợi khó khăn (nất là những khó khăn của một khu mới thành lập), quyết định động viên mọi lực lượng trong Khu tập trung thực hiện tốt ba nhiệm vụ: “Ra sức xây dựng và mở rộng căn cứ địa miền núi; bảo đảm hành lang chiến lược của Trung ương thông suốt vào Nam Bộ và các tỉnh trong khu. Phát động quần chúng nổi dậy giành lại nông thôn đồng bằng, xây dựng và phát triển phong trào ở đô thị, thị xã, phá ấp chiến lược của địch. Ra sức tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển và xây dựng lực lượng ta”.

        Ngày 12 tháng 5 năm 1962, ta lại tiến công Chi khu Lạc Thiện lần thứ hai. Sau lần bị ta tiến công hồi năm 1961, địch đã sửa chữa, củng cố lại chi khu kiên cố hơn. Đồn bảo an, địch tăng cường từ ba lên bảy hàng rào, bên trong có công sực vững chắc hơn. Huyện lỵ cũng có từ năm đến bảy hàng rào. Đồn dân vệ ít hơn, chỉ có từ hai đến ba lớp rào. Xung quanh hàng rào, địch đều có bãi mìn chống đột nhập. Tuy nhiên về cơ bản địch vẫn bố trí đội hình như cũ.

        Trận này tôi và anh Trần Lê cùng đi. Ngoài một đại đội bộ binh người Kinh đánh huyện lỵ, ta còn có một trung đội đặc công tăng cường, một trung đội người Re đánh đồn bảo an, một trung đội người Ba-na đánh đồn dân vệ. Đánh lần này so với năm 1961, ta có nhiều trung liên hơn, có cả đại liên, ĐKZ 57 ly, cối 81 ly, có mìn phá rào.

        Về phương án chiến đấu, chúng tôi thường chọn thời điểm cho những trận đánh mật tập ban đêm vào ngày mùng tám âm lịch. Bởi khi đó trăng không sáng lắm, cũng không tối lắm, trăng chỉ có một nửa đủ soi đường cho bộ đôi ta tiềm nhập và gỡ mìn. Đến 11 giờ đêm thì trăng bắt đầu úa vàng và lặn dần cho đến khoảng 2 giờ sáng trăng lặn hẳn thì ta nổ súng. Ta cố gắng giải quyết đồn nhỏ thì khoảng một giờ, đồn lớn thì chậm nhất là hai giờ là xong và thu dọn chiến trường, rút lui trước khi trời sáng. Lần này quận lỵ Lạc Thiện vẫn được ưu tiên nổ súng trước, nhưng mũi chủ yếu không đánh thẳng từ đường ô tô vào  như lần trước mà vòng bên trái đánh từ sau lưng nhà bếp, qua khu vực đổ rác đánh lên vào chiếm một và đánh chiếm tầng hai luôn.

        Theo đúng kế hoạch lúc 2 giờ sáng, sau khi dò mình xong, ta tiến công ngày. Trên hướng đồn bảo an và dân vệ, ta giải quyết rất nhanh gọn, chưa đầy một tiếng đồng hồ là chiếm lĩnh xong, bắt tù binh, thu vũ khí.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #272 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:06:34 AM »


        Còn tại quận lỵ, trận đánh diễn ra quyết liệt, không trót lọt như phương án. Vì sau khi hai tốp đội đặc công đã lọt vào bếp ăn, đến tiểu đội bộ binh vào thi anh em đi không khéo để đá rơi vào ống bơ gây tiếng động khiến địch báo động. Ta buộc phải nổ súng đánh luôn. Trước trận đánh, khi hiệp đồng chúng tôi đã quy định một phát pháo hiệu đỏ là chiếm xong, hai phát pháo hiệu đỏ là khó khăn. Lúc đó, tôi nắm trung đội dự bị người Kinh cùng hoả lực ĐKZ và cối 81 ly, ở ngoài nhìn vào thấy một phát pháo hiệu đỏ vút lên, anh em trong sở chỉ huy huy nghĩ là đã chiếm được quận lỵ rồi liền vỗ tay hoan hô. Nhưng sau đó, tiếng lựu đạn và từng tràng trung liên của ta và địch vẫn nổ lên. Sau này ta mới vỡ lẽ là có hai quả pháo hiệu chỉ huy trận đánh lại giao cho hai đồng chí giữ, đến khi phát lệnh bắn hai phát pháo hiệu đỏ thì một đồng chí lại lạc sang hướng khác không bắn được, nên chỉ có một phát pháo hiệu được bắn lên. Thật là tình huống ta không lường trước.

        Xác định hướng chủ yếu đang gặp khó khăn, nên tôi rời vị trí chỉ huy ra ngã ba lối rẽ vào chi khu để quan sát cho rõ hơn, đồng thời cho người bắt liên lạc để nắm cụ thể tình ình. Quả nhiên đồng chí chỉ huy quay ra báo cáo đúng như vậy. Tôi cho ĐKZ cơ động vào gần bắn trực tiếp vào lô cốt địch gần cổng chính, sau đó cho trung đội dự bị người Kinh đánh thẳng vào. Bọn địch đang tập trung ngăn chặn ta ở hướng nhà ăn phía sau lưng nay bị đánh vỗ mặt thì rất hoảng sợ, lực lượng bị phân tán. Nhân lúc đó, trung độ đặc công ào lên đánh chiến dinh quận trưởng. Quân trưởng bị tiêu diệt ngay tại chỗ. Đến 4 giờ sáng, ta mới kết thúc trận đánh và thu dọn xong chiến trường. Ta lấy năm xe ô tô của địch trong đó dành riêng hai xe ô tô để chở toàn bộ trang thiết bị dụng cụ y tế , thuốc men của một bệnh viện ngụy đem về căn cứ trang bị cho bệnh xá của ta. Ba xe ô tô còn lại liên tục chở anh em ta cùng súng đạn và chiến lợi phẩm về căn cứ.

        Mặc dù trận này hướng chủ yếu bị lộ, trong khi địch lại đông gần hai đại đội gồm cả bộ binh và biệt kích nên ta đánh cũng khó khăn hơn, nhưng ta cũng giành thắng lợi, tiêu diệt được Chi khu Lạc Thiện lần thứ hai. Ta bị hy sinh tám, bị thương mười đồng chí. Địch bị diệt một đại đội và bị bắt hơn một trung đội, số còn lại bỏ quận lỵ tháo chạy.

        Tại thị trấn có một trung đội ngụy đang an dưỡng số này do môt tên trung uý chỉ huy. Ngay trong đêm, anh em ta bắt cả trung đội địch ra sân tập trung để nghe giải thích chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Đồng chí cán bộ của chúng ta hỏi đám lính ngụy:

        - Phòng trung uý đâu?

        Một tên lính chỉ vào gian phòng ở đầu dãy nhà:

        - Thưa các ông, phòng đó.

        Anh em ta vào đến nơi chỉ thấy căn phòng trống trơn, trên bàn vẫn còn bộ quân hàm trung uý. Đồng chí của ta lại ra sân hỏi đám lính ngụy:

        - Vậy trung uý chỉ huy trốn ở đâu?

        Tên lính ban nãy nói:

        -  Khi nãy tên trung uý ngồi cạnh tôi. Nhưng tại các ông hỏi phòng trung uý đâu nên tôi chỉ phòng, nếu ông hỏi trung uý đâu thì tôi chỉ vào nó. Bây giờ thì nó trốn mất rồi.

        Những chuyện tưởng chứng nhỏ nhặt như vậy, bộ đội ta sau cũng phải rút kinh nghiệm tránh sai sót. May mà không gây hậu quả.

        Để ngăn chặn địch từ Bụôn Ma Thuột tiếp viện tới, ta sử dụng một trung đội tăng cường và bố trí trận địa mình phục kích chặn đánh. Lúc 12 giờ trưa, địch lọt vào vị trí phục kích, anh em bám sườn núi, hàng đá quần nhau với địch hơn một giờ đồng hồ. Địch đông, chúng huy động cả máy bay ném bom, bắn pháo vào trận địa ta. Trước tình hình như vậy, anh em ta chủ động rút lui, bảo toàn lực lượng.

        Như vậy riêng quận lỵ Lạc Thiện, trong vòn hai năm 1961 và 1962, ta đánh đi đánh lại hai lần đều giành thắng lợi. Từ những trận đánh của ta ở Chi khu Lạc Thiện, các tỉnh khác trong khu cũng hoạt động đều hơn, mạnh hơn, phối hợp với toàn miền đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-Diệm.

        Chủ trương của Khu 6 lúc đó là tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, thực hiện phương châm ba mũi tiến công (quân sự, chính trị và binh vận), ba vùng (rừng núi, đồng bằng và đô thị) đánh bại kế hoạch Sta-lây – Tay-lo của Mỹ - Ngụy. Địch dự kiến kế hoạch bình định miền Nam trong vòng mười tám tháng, triệt tiêu tận gốc phong trào cách mạng miền nam. Chúng tăng lực lượng cố vấn Mỹ từ 948 tên cuối năm 1960 lên 10.960 tên vào cuối năm 1962, chủ lực ngụy từ mười bảy vạn tên lên mười chín vạn tên. Cùng với việc bắt dân vào ấp chiến lược, địch mở hàng loạt chiến dịch càn quét từ cấp trung đoàn trở lên. Ta đánh liên tục, tiêu hao, tiêu diệt từ bộ phận nhỏ của địch, chống bắt dân vào ấp chiến lược, chống càn bảo vệ căn cứ, đánh một số trận lớn để thối động, hỗ trợ phong trào của quần chúng. Lúc này địch bắt một số dân ở đồng bằng đưa vào ấp chiến lược, còn ở vùng núi nam Tây Nguyên, đại bộ phận dân bỏ buôn làng chạy sâu vào trong rừng sống phân tán, bất hợp pháp, làm hầm chông, cạm bẫy đánh địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #273 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:09:04 AM »


        Sáng ngày 4 tháng 10 năm 1962, địch sử dụng Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 ngụy có ba cố vấn Mỹ, đánh thẳng vào căn cứ Khu 6 và Quân khu ở chân núi Kông Kơ Rin nằm ở đông nam Buôn Ma Thuột.

        Lúc này trong lãnh đạo Khu có hai ý kiến. ý kiến thứ nhất là nên rút khỏi căn cứ để  bảo tồn lực lượng chiến đấu lâu dài, tránh chỗ mạnh của địch. Ý kiến thứ hai là quyết tâm bám trụ, chống càn, bảo vệ dân, bảo vệ căn cứ, bảo vệ hành lang. Trong số ý kiến này, tôi và anh Trần Lê – Bí thư Khu uỷ, Chính uỷ Quân khu đều nhất trí với ý kiến thứ hai.

        Quả là việc bám trụ lại lúc đầu chúng tôi gặp không ít khó khăn.

        Do địch càn quét mạnh nên ban ngày anh em không thể ra rẫy để trồng cây và thu hoạch, mọi việc đều phải mò mẫm làm vào ban đêm, đèn đuốc cũng không được dùng nên mất rất nhiều công. Đã thế, các bãi trồng ngô ở ven sông Krông Nô lại thường xuyên bị ngập lụt vào trước dịp thu hoạch nên ngô bị thối rất nhiều. Anh em ta phần vì đói, phần vì tiếc công sức bỏ ra nên dù ngô thối vẫn bê về để hầm lên, nhưng thối quá không ăn được. Có anh cố ăn vào liền bị ngộ độc miệng nôn, trôn tháo. Nhưng rồi anh em ta vẫn nghĩ ra cách, đó là rửa qua nhiều nước cho sạch, đem phơi khô, sau đó đem rang lên vừa đỡ thối vừa không bị đau bụng.

        Không chỉ thiếu ăn, chúng tôi còn thiếu muối. Anh em ăn nhạt lâu ngày thì phù chân, tới mức không đi được. Khu bộ cũng chỉ còn ít muối dự trữ, tôi bảo chị nuôi lấy ra một hũ cấp cho mỗi đơn vị một ít, còn lại tôi bảo cô Dần nấu ăn cắt kỹ để đến tết còn có muối ăn. Hôm sau, tôi hỏi cô Dần:

        - Đã cất kỹ chưa?

        Cô bảo:

        - Em đã giấu kỹ lắm rồi.

        Tôi hỏi:

        - Cô giấu ở đâu?

        Cô Dần bảo:

        - Em đào bếp lên chôn muối ở dưới đó rồi lại đặt bếp lên không ai biết cả.

        Sau đó anh em ta lấy cỏ tranh đốt lên, lọc lấy nước muối theo cách của đồng bào dân tộc để khắc phục tạm thời tình trạng thiếu muối khi chưa kịp tiếp tế.

        Với quyết tâm bám trụ chống càn, đánh bại âm mưu của địch, ta tổ chức đánh tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ, khiến chúng không dám thọc sâu vào nữa. Lực lượng của ta để một phần nhỏ ở căn cứ tiếp tục chống càn, còn đại bộ phận luồn ra ngoài đánh chặn đường tiếp tế của địch, tập kích vào chi khu và các đồn nhỏ ở xung quanh.

        Ta với địch quần nhau trong hai tháng 10 và 11. Địch không bắt được dân, không đánh trúng cơ quan của ta.

        Giữa tháng 11 năm 1962, theo chủ trương của Thường vụ Khu uỷ, ta hạ quyết tâm tập trung lực lượng tiến công sở chỉ huy địch ở Đàm Roòng để tiêu diệt cơ quan đầu não, phá tận gốc kế hoạch càn quét của địch. Cuối tháng 11, tôi cử anh Kha là Tham mưu phó dẫn một bộ phận đặc công trinh sát qua sông Krông Nô chuẩn bị chiến trường kết hợp với địa phương, sau đó tôi qua nắm tình hình điện về báo cáo đồng chí Trần Lê.

        Sở chỉ huy của địch nằm trên một thung lũng tương đối bằng phẳng. Cái khó khi đánh căn cứ này là xung quanh căn cứ có năm ngọn đồi đều có lực lượng địch án ngữ để bảo vệ. Tại đây có sở chỉ huy trung đoàn và ba tên cố vẫn Mỹ, có trung tâm thông tin, hai khẩu pháo 105 ly và lực lượng chiến đấu gồm một tiểu đoàn bộ binh.

        Lực lượng tác chiến của ta gồm có Tiểu đoàn 840 (thiếu), một đại đội đặc công của Khu và một đại đội của Tiểu đoàn 186, một đại đội bộ binh của tỉnh, một trung đội đặc công của tỉnh, một trung đội trinh sát, một trung đội thông tin. Hoả lực trợ chiến có hai khẩu ĐKZ 75 ly và hai khẩu cối 81 ly.

        Khi phổ biến nhiệm vụ, tôi thấy tình hình căng thẳng quá, có một tổ đặc công xin để tháng sau đánh. Anh em nói: “Hôm nay ngày mùng bảy trăng sáng tiềm nhập rất dễ bị lộ”.

        Tôi giải thích:

        - Tôi và đặc công, trinh sát cùng chỉ huy tiểu đoàn đã vào tận nơi trinh sát thấy địch mới triển khai đội hình đóng quân nên hàng rào còn sơ sài, chỉ có hai lớp. Nếu để sau một thời gian nữa, số hàng rào sẽ nhiều lên, số mìn cũng dày đặc thêm, sẽ càng khó khăn cho ta.

        Một đồng chí nói:

        - Trên quyết tâm thì anh em cũng xin quyết tâm, nhưng đánh xong để thương binh, liệt sỹ lại có được không? Vì địch đã chiếm giữ năm ngọn đồi xung quanh căn cứ, ta rút ra sẽ rất khó khăn, nên việc mang thương binh, liệt sỹ ra khỏi trận địa là điều không dễ dàng.

        Tôi bảo:

        - Bằng giá nào cũng phải đem thương binh, liệt sỹ ra, không được bỏ lại trận địa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #274 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:11:23 AM »


        Thảo luận đến 6 giờ tối hôm đó vẫn chưa xuôi, tôi cho anh em về ăn cơm nghỉ ngơi. Buổi tối, tập trung chi uỷ lại họp, tôi hỏi:

        - Đánh trận này, trong thâm tâm anh em ta lo lắng nhất là điều gì?

        Một đồng chí nói:

        - Điều lo lắng nhất của anh em ta là đánh xong không ra được, vì bị địch án ngữ năm điểm xung quanh.

        Tôi đưa ra phương án mới:

        - Ta sẽ tổ chức thêm một đại độ bộ binh và đặc công diệt gọn trung đội địch án ngữ trên một quả đồi để mở rộng cho bộ đội rút. Khi đi chuẩn bị, tôi đã chú ý các ngọn đồi về phía bắc giáp căn cứ của ta có cao hơn và địch đóng đông hơn, còn quả đồi phía nam thấp hơn nên tôi quyết định chọn diệt địch chốt trên ngọn đồi này. Như vậy địch chiếm năm ngọn đồi này, nay ta tiêu diệt một ngọn đồi để lấy đường đưa thương binh, liệt sỹ ra. Trung tâm được ưu tiên nổ súng trước, chiếm xong bắn hai phát pháo hiệu đỏ. Khi trung tâm nổ súng thì cũng tiêu diệt luôn điểm án ngữ của địch ở phía nam, nhanh chóng đưa ĐKZ 57 ly và cối 81 ly lên bắn kiềm chế căn cứ và các điểm cao khác.

        Chi uỷ đồng ý với phương án đó và chúng tôi triển khai kế hoạch luôn. Sáng hôm ấy, mỗi người mang một khẩu AK và sáu quả lựu đạn, chúng tôi hành quân tiến về phía sở chỉ huy địch.

        Đúng 2 giờ sáng đêm mùng 5 tháng 12 năm 1962, cũng là ngày mùng tám âm lịch, ta nổ súng tiến công. Sau 55 phút chiến đấu ta đã làm chủ trận địa, diệt gọn sở chỉ huy của địch, tiêu diệt ba trăm tên, trong đó có ba cố vấn Mỹ và tên Trung đoàn trưởng trung đoàn 44. Ta huỷ hai khẩu pháo 105 ly, thu một máy thông tin PRC-25 và mười hai khẩu tiểu liên Mỹ. Sau trận này, địch phải từ bỏ kế hoạch càn quét và căn cứ của ta. Ta hy sinh năm đồng chí, trong đó có đồng chí Huệ là Tham mưu trưởng tỉnh và và đồng chí Kim là Đại đội trưởng đặc công, bị thương mười lăm đồng chí.

        Đánh xong, trên đường về căn cứ, đồng chí đặc công hôm trước xin hoãn đánh gặp tôi thành thực nói:

        - Cấp trên quyết tâm là đúng, nay đã ba bốn lớp rào rồi, nếu để một tháng nữa thêm rất nhiều rào và mình thì sẽ rất khó đánh.

        Trận đánh Đàm Roòng gây được tiến vang lớn có ảnh hưởng tốt trong nhân dân các vùng ở Nam Tây Nguyên, được Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tuyên dương, Bộ Quốc phòng tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.

        Trong giai đoạn này, ở các vùng kiểm soát của địch, các đội vũ trang công tác lợi dụng khi địch huy động lực lượng đi càn quét căn cứ đã đột nhập vào các ấp phát động quần chúng, xây dựng cơ sở, tuyên truyền chính sách, thắng lợi của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, chống lại các chính sách và thủ đoạn lừa mỵ của địch.

        Thực hiện chính sách “chia để trị”, lúc này địch đưa ra một âm mưu khá nham hiểm nhằm vào đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên, đó là thuyết “Tự trị” dưới sự bảo trợ, giúp đỡ của người Mỹ. Với âm mưu này chúng đã mở nhiều cuộc vận động gọi là tương trợ đồng bào tỵ nạn “Cộng sản”, chúng tung ra một số gạo, muối, vải vóc để mua chuộc những người nhẹ dạ. Bọn chúng rêu rao người Mỹ sẽ trả lại đất cho người Thượng, ai vào “Tự trị” sẽ có đặc quyền, đặc lợi. Chúng còn vờ nói xấu Ngô Đình Diệm, làm một số người tin theo. Nguy hiểm hơn từ âm mưu trên, Mỹ đã lôi kéo được một số người Thượng tham gia lực lượng vũ trang, làm gián điệp chống phá ta. Riêng số đồng bào bị chúng đưa vào trại tỵ nạn “Cộng sản” thực chất là đưa vào ấp chiến lược, đồng bào đã sớm nhận ra chân tướng của kẻ địch và bắt đầu tẩy chay cái gọi là “Tự trị” kiểu Mỹ.

        Từ đầu năm 1963 trở đi, địch đã mở nhiều cuộc càn quét lớn như cuộc càn mang tên “Nhơn Hoà”, “Dân Thắng 401” ở B3 (đầu năm 1963), chiến dịch “Thiểm Đầu Thuỷ” (tháng 6 và 7 năm 1963 ở thung lũng sông “Tô Hạp” thuộc huyện Khánh Sơn) với hai nghìn năm trăm quân và pháo hạm ở Cam Ranh chi viện. Các cuộc càn quét cũng như chiến dịch tiến công dài ngày như “Thiểm Đầu Thuỷ” kéo dài tới bốn mươi ngày. Cuối cùng, địch cũng bị du kích, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và nhân dân các dân tộc dựa vào các tuyến bố phòng được xây dựng từ trước chống trả quyết liệt, khiến chúng bị tiêu hao, tiêu diệt nhiều và phải bỏ chạy. Lưu vực sông “Tô Hạp” đã trở thành “ Thung lũng tử thần” của chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #275 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:12:42 AM »


        Phối hợp với căn cứ miền núi chống càn, ở đồng bằng, bộ đội địa phương huyện Vĩnh Xương đánh đứt đoạn đường xe lửa từ Phú Vinh đi Suối Dầu, đặc công tỉnh đánh vào sân bay Nha Trang, phá huỷ ba máy bay địch.

        Tháng 3 năm 1963, Quân khu mở hội nghị quân chính để kiểm điểm, rút kinh nghiệm về hoạt động xây dựng các lực lượng vũ trang và đề ra nhiệm vụ chống địch càn quét lấn chiếm; chống phá “Quốc sách ấp chiến lược” của địch, xây dựng và hình thành ba thứ quân, chú trọng nâng cao chất lượng. Lúc này, Trường Quân chính Quân khu cũng kịp thời bổ sung cho các đơn vị, địa phương tỉnh, huyện trên 200 cán bộ đại đội, trung đội đã được bổ túc và đào tạo.

        Tháng 4 năm 1963, lực lượng của quân khu được tổ chức, biên chế lại cho phù hợp với tình hình thực tế lúc bấy giờ. Quân khu chỉ giữ lại hai tiểu đoàn bộ binh (Tiểu đoàn 186 và Tiểu đoàn 840) và một khung tiểu đoàn trợ chiến với quân số mỗi tiểu đoàn chỉ có từ 250 đến 300 tay súng, còn lại bổ sung cho lực lượng vũ trang bên dưới còn quá yếu. Tuy lực lượng tập trung còn ít như vậy nhưng việc đảm bảo hậu cần cho anh em cũng rất khó khăn, lương thực, thực phẩm thường xuyên lúc đó là: mỳ, măng, môn, muối nên chiến sỹ ta vẫn gọi đùa là công thức “Bốn M”. Tiểu đoàn 186 thường ăn lá bép trừ cơm nên được gọi vui là “Tiểu đoàn Lá Bép”.

        Từ giữa năm 1963 trở đi, tuy địch vẫn còn tiếp tục càn quét, đánh phá, nhưng mật độ và quy mô có giảm. Do lực lượng địch bị tiêu hao, đặc biệt là sau chiến thắng Ấp Bắc (1-1963), ta bắt đầu chuyển lên cao trào đánh phá “ấp chiến lược”. Các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận” của Mỹ, ngụy trong “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, đã làm sụp đổ lòng tin của quân ngụy vào trang bị kỹ thuật hiện đại và lực lượng yểm trợ cơ động nhanh của Mỹ. Ngược lại, sự thất bại của quân ngụy trên chiến trường đã làm sụp đổ lòng tin của quân Mỹ vào quân ngụy. Trận chiến thắng Ấp Bắc chứng tỏ quân và dân miền Nam hoàn toàn có khả năng thắng Mỹ về quân sự trong cuộc “Chiến tranh đặc biệt” này.

        Tháng 7 năm 1963, ta đánh đồn ENa. Trước khi đánh đồn, các cán bộ đại đội và trung đội kết hợp với đội vũ trang công tác của tỉnh ra quân bám dân, nắm địch. Đội gồm những đồng chí biết tiếng dân tộc, mỗi đội từ năm đến mười người vào dân làm công tác nắm và tuyên truyền vận động. Trong đợt ra quân này, ta dùng Tiểu đoàn 186 bộ binh và một tiểu đội đặc công kết hợp với hai đội vũ trang công tác của tỉnh. Do kết hợp tốt công tác quân sự với công tác dân vận và tuyên truyền binh vận, ta đã giải phóng được bảy ấp chiến lược, thu trên ba trăm khẩu súng các loại. Trong bảy buôn có buôn Ena, buôn Bla, buôn Edrak ở nam Buôn Ma Thuột, khi ta vào dân làm công tác dân vận, đồng bào nói:

        - Nếu các anh đánh đồn Ena thì chúng tôi sẽ có cớ để đấu tranh với địch. Chúng tôi sẽ nói: “Đến đồn ENa có hầm hào, lô cốt, súng đạn đầy ra đấy mà các ông còn chả giữ được, thì làm sao chúng tôi giữ được ấp?”

        Đồn ENa do một trung đội ngụy người Kinh đóng giữ. Để đánh đồn này, ta dùng một tiểu đội đặc công và một trung đội bộ binh. Bị ta đánh bất ngờ, địch chống cự yếu ớt. Sau mười phút, ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thu vũ khí.

        Sau khi ta diệt xong đồn Ena, dân đốt đèn đuốc tổ chức mít tinh luôn. Đồng bào yêu cầu mượn súng của bộ đôi bắn một phát vào cột nhà để sáng mai có cớ đấu tranh với địch. Ta làm theo yêu cầu của dân và hỏi: “Vậy thì cách mạng đi bằng đường nào?”. Khi có ý kiến: “Cách mạng cứ đi thẳng cổng chính mà vào”, thì anh dân vệ gác ở cổng chính giãy nảy lên không chịu, vì sợ địch phạt. Dân liền mang dao ra phá một đoàn rào ở cách cổng chính một đoạn khá xa, có người còn lấy đế dép cao su in lên hai bên bờ hào để lừa địch. Một chị phụ nữ hỏi:

        - Có cần bắt con gà cắt cổ cho máu chảy ra chỗ đánh nhau không?

        Bộ đội ta bảo:

        - Không cần.

        Trong ba buôn có buôn Edrak ta cũng đã bàn trước, nhưng đến phút cuối anh trưởng buôn lại dao động nên lệnh cho dân vệ đóng cổng không cho ta vào buôn. Buổi tối, ta gọi một số thanh niên ra bàn bạc ở ngoài rừng, trong số thành niên ra rừng có con trai của trưởng buôn. Ta đã vận động con trai trưởng buôn gọi cha mình mở cổng buôn, con trai trưởng buôn nói:

        - Cách mạng đông lắm cha ơi, các buôn kia đã giao súng cả rồi, cha không mở cửa giao súng, người ta đánh vô chết hết.

        Nghe con kêu gọi thống thiết quá, sau một hồi thì cổng buôn mở, bộ đội vào lúc đó đã 12 giờ đêm. Sau khi thuyết phục trưởng buôn kêu gọi dân vệ giao súng, ta tập trung đồng bào mít tinh luôn giải thích chính sách của cách mạng và nhận gạo thực phẩm tiếp tể của dân. Đến 3 giờ sáng, ta rút khỏi buôn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #276 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:15:06 AM »


        Đêm đầu tiên ta đã diệt một đồn, phá ba ấp, thu một trăm năm mươi khẩu súng. Lực lượng của ta và dân hoàn toàn vô sự. Trên đà thắng lợi, đêm hôm sau ta giải quyết nốt bốn buôn còn lại thu thêm một trăm năm mươi súng. Các buôn này không có đồn bốt, bộ đội ta vào bàn với dân, thống nhất với dân vệ phá rào, thu súng, treo cờ mít tinh.

        Ngày tiếp sau, địch cho hai trực thăng bay tới buôn Ena, một chiếc chở ba sỹ quan Mỹ, một chiếc chở năm sỹ quan Ngụy. Chúng đáp ngay xuống sân nhà Rông ở giữa buôn. Chúng cho lệnh hạ cờ của ta xuống. Trong khi các sỹ quan ngụy chạy lăng xăng đi tìm dân để hỏi han về tình hình Việt cộng, chụp ảnh các dấu vết thì các sỹ quan Mỹ không đi xa khỏi chân cột cờ giữa buôn. Trước khi lên máy bay trở về, một sỹ quan Mỹ tuyên bố với các sỹ quan ngụy, một số người dân lảng vảng gần đó cũng nghe được:

        - Đây là một trận chiến đấu chưa bắt đầu, mà đã kết thúc! Nếu chỉ nhìn vào những vết đạn bắn, những hàng rào bị phá thì có thể coi đây là một trận đánh rất quyết liệt, nhưng tại sao cả hai bên, cả dân từ già đến trẻ không có ai chết và bị thương?.

        Nói xong, cả lũ cay cú lên máy bay chuồn thẳng.

        Nhân đà này, cũng với phương thức trên, những tháng cuối năm 1963, B6 (gồm thị xã Buôn Ma Thuột và các vùng xung quanh), tiếp tục phá banh hàng loạt ấp chiến lược.

        Vậy là, Khu 6 bước đầu trải qua những năm tháng chiến đấu hết sức gian khổ, trong những điều kiện vô cùng gian nan, phức tạp của chiến trường. Mặc dù vẫn còn nhiều nhược điểm, khó khăn, nhưng đến giai đoạn này Khu 6 đã vượt qua được bước thử thách của mấy năm đầu, kể từ sau ngày được thành lập. Với tư tưởng cách mạng tiến công, với phương châm đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, tư tưởng kiên định bám trụ chiến trường, xây dựng lòng tin tuyệt đối vào Đảng, vào cách mạng của đồng bào dân tộc Nam Tây Nguyên, giữ vững đường hành lang chiến lược, chuyển phong trào đồng bằng lên thế “hai chân, ba mũi, ba thứ quân được” được hình thành, thế trận chiến tranh nhân dân không ngừng phát triển.

        Khuyết điểm của ta lúc này ở Khu 6 là lúc đầu còn chủ quan, chưa thấy hết âm mưu, thủ đoạn của địch; về sau khi bị địch phản kích thì đánh giá chúng cao, ta thấp, nhẹ công, nặng thủ; chưa coi trọng mũi đấu trang chính trị, binh vận; chưa coi trọng vận dụng các phương châm, phương thức tiến công cách mạng phù hợp với từng vùng, từng giai đoạn.

        Đầu năm 1964, tôi được Bộ tư lệnh Miền cho ra Bắc công tác kết hợp với điều trị bệnh. Căn bệnh này đã có tiền sử từ trước.

        Trước khi vào Nam năm 1960, cấp trên có cho tôi đi kiểm tra sức khoẻ ở Viện quân y 108. Lúc này tôi rất khoẻ, tôi nặng bảy mươi ba cân, nhưng bác sỹ trưởng phòng khám lại kết  luận:

        - Phổi có vết đen, phải đi an điều dưỡng hai tháng để uống thuốc, điều trị.

        Tôi báo cáo với bác sỹ:

        - Hiện nay tôi đang có công việc gấp, không thể đi điều trị ngay được. Đề nghị cho tôi thuốc uống hai năm để bác sỹ đơn vị tôi điều trị.

        Tôi không thể nói rõ nhiệm vụ đi B của tôi cho bác sỹ vì vào thời điểm năm 1960, việc vào miền Nam chiến đấu là một công việc hết sức bí mật, không thể nói cho ai biết kể cả vợ con. Bác sỹ cấp thuốc rồi bảo:

        - Đồng chí có thể đi an dưỡng hai tháng tại Sầm Sơn.

        Tôi nhận thuốc rồi vào chiến trường luôn. Cuối năm 1963, tôi bị một trận sốt rét ác tính khá nặng. Lúc này, tôi đã uống hết thuốc điều trị bệnh phổi nên khi sốt rét lui thì bệnh phổi lại tái phát. Trọng lượng cơ thể tôi lúc này chỉ còn năm chục cân. Các anh ở Khu thấy tôi ốm quá liền báo cáo Miền cử tôi ra Bắc vừa điều trị bệnh, vừa mang tài liệu của Khu ra Bộ báo cáo. Đồng thời tôi đi chuyến này còn có nhiệm vụ xin lực lượng, vũ khí, thuốc men và trang bị cho Khu 6.

        Nhóm chúng tôi gồm ba người. Ngoài tôi ra, trong nhóm còn có một đồng chí cán bộ quân lực của Khu cũng bị ốm từ lâu và một đồng chí công vụ.

        Mới có bốn năm mà con đường Trường Sơn đã thay đổi khá nhiều. Khi chúng tôi vào nhiều chỗ phải vạch rừng mà đi nhưng khi ra thì nhiều chỗ đã có đường xe đạp thồ. Đường rộng hơn một mét, khá phẳng phiu. Những đoạn qua sình lầy, bộ đội ta lót cây, đan phên nứa lát xuống mặt đường. Anh chị em thồ hàng bằng xe đạp, lúc quay về đạp xe không, họ phóng vèo vèo trên đường rừng trông thật vui mắt. Nếu như khi vào, chúng tôi phải đi mất hơn bốn tháng, thì bây giờ trở ra chỉ đi mất hai tháng. Lúc vào, dù đoàn nhỏ thì anh em cũng phải dậy thật sớm nấu cơm ăn, cơm vắt, nước uống bằng hăng gô, đổ ra đổ vào đến mấy lần, nhưng giờ anh em ra vào đoàn nhỏ và vừa đã có trạm lo cơm nước cho rất chu đáo nên không phải dậy sớm hì hục nấu nướng. Khi vào, anh em cán bộ đi đoàn lẻ vẫn phải tự mang ba lô, còn bây giờ đi ra, anh em giao liên buộc ba lô vào xe thồ đèo hộ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #277 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:17:46 AM »


        Khi ra đến Vinh, tôi điện ra ngoài Bộ báo cáo, các anh cho xe vào đón. Vì lý do bảo mật nên từ khi ra Bắc, chúng tôi tạm thời thay tên đổi họ, không tiếp xúc với ai. Tôi được mang tên mới là Hoàng Trang và được phát một giấy chứng nhận tạm thời với lý do làm mất chứng minh thư sỹ quan. Ở Hà Nội, tôi được kiểm tra sức khoẻ, điều trị ngoại trú một tháng, sau đó cấp trên cho tôi ra Sầm Sơn vừa điều trị kết hợp với an dưỡng, vừa tranh thủ xem lại tài liệu của Khu. Sau hai tháng trên cho xe ra đón về Hà Nội báo cáo tình hình.

        Đại tá Phan Hàm - Cục phó Cục tác chiến phụ trách miền Nam đã trực tiếp đưa tôi đến báo cáo với đồng chí Văn Tiến Dũng cả một ngày. Sau đó, đồng chí Văn Tiến Dũng chỉ thị cho tôi nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang Khu 6 trước tình hình mới, đó là đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh ở Việt nam. Tiếp theo tôi báo cáo tình hình Khu 6 với đồng chí Lê Quang Đạo – Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Sau đó, Ban Bí thư triệu tập tôi và anh Phan Hàm vào làm việc với đồng chí Nguyễn Duy Trinh. Chúng tôi được anh Nguyễn Duy Trinh mời ăn một bữa cơm thân mật. Rồi tôi tiếp tục làm việc với Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh - Trưởng ban thống nhất Trung ương.

        Trở ra đúng vào dịp Quốc hội đang họp, các đồng chí lãnh đạo điều rất bận, nhưng đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng bố trí gặp và nghe tôi báo cáo tình hình Khu 6. Tôi giở bản đồ ra báo cáo được năm phút thì đồng chí Lê Duẩn nói luôn:

        - Khu vực Hoài Đức và Tánh Linh có nước ngọt không?

        - Báo cáo đồng chí, nước ngọt nhiều lắm, nhưng dân thì thưa thớt – Tôi nói.

        Đồng chí Lê Duẩn chụp cả năm ngón tay phải lên vùng đất Hoài Đức, Tánh Linh trên tấm bản đồ trước mặt hỏi tôi:

        - Nếu ta tổ chức hai trăm điểm dân cư, mỗi điểm hai trăm người cả nam và nữ, cấp gạo nuôi ăn hai năm, thì sau đó đã tự sống được chưa? Nếu được, ta sẽ điều số này ở Nam Bộ ra.

        - Báo cáo đồng chí – Tôi nói – Có thể chỉ một năm sau đã tự sống được vì đất đai vùng này rất tốt, nước nhiều, khi hậu thuận lợi cho việc canh tác.

        Đồng chí Lê Duẩn giải thích:

        - Khu 6 là bàn đạp để tiến công theo hướng đông bắc vào Sài Gòn. Khi phong trào còn yếu thì hướng phát triển ra phía bắc. Khi phong trào lên mạnh, ta sẽ hướng vào phía nam, áp sát Sài Gòn phối hợp với Quân khu 7, tạo bàn đạp để chủ lực đứng chân đánh vào Sài Gòn. Cho nên phải tiêu diệt địch ở Hoài Đức, Tánh Linh, xây dựng vùng này mạnh lên về mọi mặt.

        Trong khi tôi đang ở Chú thăm và làm việc với đồng chí Điềm – Tư lệnh và đồng chí Nam Khánh – Chính uỷ Lữ đoàn dù thì nhận được điện của Hà Nội gọi tôi về làm việc với các đồng chí ở Bộ. Theo chỉ dẫn, tôi đến một căn nhà ở bờ Hồ Tây. Vào nhà, tôi thấy đồng chí Nguyễn Chí Thanh đang chờ sẵn. Sau mấy phút thăm hỏi, tôi giở bản đồ ra báo cáo tình hình một cách ngắn gọn. Nghe báo cáo xong, đồng chí Nguyễn Chí Thanh hỏi:

        - Khu 6 có tiêu diệt được địch ở Hoài Đức, Tánh Linh không?

        Tôi trả lời:

        - Ở Hoài Đức và Tánh Linh địch còn mạnh, đánh được nhưng thương vong nhiều.

        - Cậu nói đó là tình hình cũ. Nay thằng Diệm đã chết, tình hình thay đổi nhiều rồi. Cậu nhớ rằng con người ta khi khoẻ có thể đánh chết con voi, nhưng khi đã ốm thì thậm chí muốn đi vệ sinh cũng phải có người dắt đi – Anh cười hóm hỉnh - Về trong đó phải chuẩn bị phương án ngay, sớm giải phóng Hoài Đức, Tánh Linh. địa phương và bộ đội chủ lực phải phối hợp thực hiện tốt nhiệm vụ này.

        Làm việc với đồng chí Nguyễn Chí Thanh xong, tôi gặp và báo cáo với đồng chí Văn Tiến Dũng lần cuối, chào anh trước khu vào Khu 6. Đồng chí Văn Tiến Dũng cho phép tôi vào bằng tàu thuỷ cho nhanh. Đó là tuyến đường của những con tàu mà sau này gọi là đoàn tàu không số, đi theo con đường Hồ Chí Minh trên biển.

        Chuẩn bị cho tôi vào Nam, đồng chí Văn Tiến Dũng giải quyết bổ sung cho Khu 6 một tiểu đoàn bộ binh là tiểu đoàn 130; hai đại đội bộ binh độc lập là đại đội 54 và 55, cùng một đại đội hoả lực. Ngoài lực lượng được điều cho Khu 6, Bộ còn điều trực tiếp mười thùng tiền giấy miền Nam, mười thùng bản đồ cho Khu 6. Anh Vũ Văn Cẩn lúc đó là Cục trưởng Cục Quân y (sau này là Bộ trưởng Bộ Y tế) đã điều cho Khu 6 thêm mười thùng thuốc tây và dụng cụ y tế, trong đó có năm bộ đồ mổ trung phẫu và đại phẫu, giao cho tôi trực tiếp mang vào chiến trường.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #278 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:19:23 AM »


        Đến lúc sắp đi, đồng chí Lê Quang Đạo – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị còn gọi điện cho đồng chí Văn Tiến Dũng, đề nghị tôi đi cùng đồng chí Tố Hữu sang Cu ba trong đoàn ngoại giao của Trung ương. Đồng chí Văn Tiến Dũng nói:

        - Không được, chiến trường cần đồng chí ấy về gấp. Anh xem số anh em cán bộ cao cấp đang an dưỡng, có ai lấy được thì lấy một người mà đi.

        Đồng thời, đồng chí Văn Tiến Dũng cũng lưu ý tôi tình hình tàu khu trục Mỹ đang hoạt động ở vùng biển miền Bắc. Lúc này là sau sự kiện ngày 2 tháng 8 năm 1964, phân đội 3 (Đoàn 135, Bộ tư lệnh Hải quân) gồm ba tàu phóng lôi 333, 336, 339 đánh đuổi tàu khu trục của Mỹ xâm phạm vùng biển miền Bắc. Sự kiện này bọn Mỹ gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ.

        Còn đồng chí Lê Quang Đạo lại điều tiếp cho Khu 6 một đoàn văn công và một hoạ sỹ tên là Châu sắp tốt nghiệp trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và nhà văn Nam Hà.

        Về hoạ sỹ Châu, nhà văn Nam Hà và đoàn văn công, tôi còn nhớ một số kỷ niệm về các anh chị. Khi còn ở Thanh Hoá, anh Châu có kể lại cho tôi nghe câu chuyện anh lên đường đi B, anh Châu nói:

        - Anh Hoàng Minh Thi lúc đó là Cục trưởng Cục Tuyên huấn gọi tôi về để làm công tác tư tưởng, trước khi vào chiến trường, anh Thi nói: “Cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở miền Nam đang cần sự cổ vũ của các văn nghệ sỹ, trước mắt chúng ta đang cần một hoạ sỹ trẻ có khả năng thể hiện tốt đề tài chiến tranh cách mạng, để vào chiến trường cực Nam Trung Bộ”. Tôi hỏi: “Vậy thì ai sẽ đi?”. Anh Thi bảo: “Cậu đi!”. Tôi ngạc nhiên nói: “ Tôi mà đi được à? Tôi chưa ra trường, người lại gầy yếu, chẳng bao giờ nghĩ mình lại có thể được vào chiến trường để vẽ”. Anh Thi động viên: “Đi được, cho cậu ba ngày để thu xếp công việc”. Thế là tôi chuẩn bị một ít giấy, màu vẽ và đi B, thật chóng vánh, nhẹ nhàng. Trước khi đi B, tôi không viết thư mà gửi cho cô người yêu một bức tranh vẽ một chiếc lồng chim cửa lồng đã mở, ý muốn nói cô ấy không còn bị ràng buộc gì với tôi nữa.

        Tôi nhớ một buổi trưa ở cơ quan Khu 6, anh Châu sang chỗ tôi uống nước, vừa xoay xoay cốc cà phê, anh Châu nói:

        - Cái nghề hoạ sỹ lạ lắm anh ạ. Nếu anh vẽ giống hoàn toàn, người ta sẽ bảo là anh cóp py, là truyền thần. Còn nếu anh vẽ không giống, người ta bảo là anh bịp.

        Anh Châu rất vui tính nên được anh em Khu 6 rất quý. Họ thường gọi anh với cái tên thân mật là “ Châu bôi”. Có lần anh Châu mượn của tuyên huấn chiếc máy ảnh về, rối rít gọi mấy chị em phục vụ cơ quan Khu ra chụp ảnh, nhưng chị em không ai chịu ra. Thấy lạ, tôi hỏi nguyên nhân thì chị em phục vụ nói:

        - Lần trước anh Châu đã vặn đầu vặn cổ chị em để chụp ảnh mãi mà chẳng được cái ảnh nào, nên hôm nay chúng em dứt khoát không chụp nữa. Chụp ảnh đau lắm.

        Trong đoàn văn công vào Khu 6 có ba cô gái, trong đó có một cô nhà ở Yên Phụ tên là Thanh Tước hay hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, sau này chồng cô hy sinh ở mặt trận phía Nam. Khi ba cô văn công chuẩn bị vào Khu 6 đã có mặt chuẩn bị đi B thì ở Hà Nội có một cô chuẩn bị vào Khu 5 được vinh dự vào gặp Bác Hồ trước khi vào chiến trường. Khi vào chào Bác, cô này bế luôn cả đứa con nhỏ vào Phủ Chủ tịch. Không ngờ Bác thấy tình cảnh ấy liền giữ lại ngoài Bắc. Cô này trình bày với Bác là Khu 6 cũng có ba cô được đi. Thế là Bác điện cho anh Song Hào lúc đó là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, anh Lê Quang Đạo là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị để cả ba cô đang chuẩn bị vào Khu 6 ở lại. Khi đi ngang qua chỗ ba cô văn công chuẩn bị vào Khu 6, tôi thấy ba cô đang lúi húi cời cời đốt đốt ở góc sân, liền hỏi:

        - Các cô đốt gì thế?

        Ba cô gái tủm tỉm cười không ai nói gì, cứ hí húi đốt, tôi lại gần thấy các cô đang thản nhiên cho từng lá thư vào đống lửa. Tôi bảo:

        - Các cô không phải đốt thư nữa, trên đã điện vào thông báo cả ba cô phải ở lại rồi.

        Các cô đang vui cười nghe được thông tin ấy bỗng khóc nức nở đề nghị tôi cố gắng xin cho các vào, nhưng tôi biết đây là ý kiến của Bác không thể thay đổi được.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22380


« Trả lời #279 vào lúc: 08 Tháng Một, 2017, 12:22:43 AM »


        Còn nhà văn Nam Hà là một cây bút xông xáo như một người lính thực thụ. Đồng chí đã xung phong vào những nơi gian khổ ác liệt và đã viết được nhiều tác phẩm văn học có giá trị phản ánh chân thực cuộc chiến đấu của quân và dân Khu 6 cũng như trên chiến trường miền Nam.

        Lại nói tiếp về chuyến đi vào miền Nam lần nay. Trước khi đi, đồng chí Lê Quang Đạo mời tôi vào Tổng cục Chính trị. Tôi vào đến nơi đã thấy anh ngồi đợi trong phòng khách, trên bàn bày sẵn một nải chuối và hai cốc nước cam. Đồng chí Lê Quang Đạo ân cần mời tôi:

        - Đồng chí ăn đi, vừa ăn ta vừa nói chuyện – Anh bẻ cho tôi quả chuối rồi nói tiếp – Nghe tin đồng chí sắp vào chiến trường, thay mặt Tổng cục Chính trị tôi tiễn đồng chí, chúc đồng chí mạnh khoẻ, hoàn thành nhiệm vụ, tôi cũng chuẩn bị vào.

        - Cảm ơn anh đã quan tâm đến tôi – Tôi nói.

        - Vậy đồng chí đi bằng cách nào? – Anh hỏi.

        - Báo cáo anh, anh Dũng cho tôi đi tàu biển từ Hải Phòng vào – Thấy anh hơi nhíu mày khi nghe nói đi bằng tàu biển, tôi nói – Báo cáo anh, mấy chuyến trước rất gọn.

        - Thế thôi cậu cứ đi theo phương án đó, cậu phải chuẩn bị chu đáo.

        Đúng 4 giờ sáng ngày 20 tháng 8 năm 1964, Chiếc xe U-oát của Bộ Tổng tham mưu đưa tôi xuống cảng Hải Phòng. Chỗ tôi đến là một đơn vị hải quân thuộc đơn vị tàu không số. Anh em bảo vệ từ Hà Nội đã xuống Hải Phòng từ trước. Các anh cho biết “ tình hình yên ổn”. Trong thời gian này anh Nguyễn Bá Phát – Tư lệnh Quân chủng Hải quân đến thăm anh em chúng tôi và nói đã giao nhiệm vụ cho anh em chuẩn bị chu đáo cho chuyến đi này. Chúng tôi ở đây một tuần để nghỉ ngơi và nghe phổ biến xử trí các tình huống có thể xảy ra trên biển. Chuyến tàu này chở một trăm tấn vũ khí các loại, mười thùng tiền, mười thùng bản đồ, năm bộ đồ mổ y tế và ba người khách gồm có tôi, anh Tộ là Chủ nhiệm hậu cần Khu 6 và một bác sỹ của đồng chí Nguyễn Chí Thanh.

        Lúc 21 giờ ngày 26 tháng 8 năm 1964, chuyến tàu không số của chúng tôi xuất phát từ cảng Hải Phòng. Trong đêm, tàu của chúng tôi chạy thẳng ra đảo Bạch Long Vỹ. Trên đường đi, tàu và bờ bắt liên lạc lần cuối xong, sau đó tàu chạy về hướng đông bắc. Qua khỏi đảo Bạch Long Vỹ, tàu ta nhẹ nhàng chạy rất êm trong ánh trăng đêm lúc mờ lúc tỏ giữa những đám mây trắng ngổn ngang trên bầu trời. Tôi đứng trên boong nhìn thấy ngoài biển có những quầng sáng và sau đó là ánh điện lung linh hiện lên trên mặt sóng. Tôi hỏi một đồng chí thuỷ thủ:

        - Tàu nào điện sáng thế đồng chí?

        - Tàu khu trục của Mỹ đấy, kệ nó - Người thủy thủ đáp.

        Tàu chạy gần đến bán đảo Lôi Châu khi trời đã sáng rõ mặt người. Mấy hành khách chúng tôi đều say cả. Gần đến cảng có tàu hải quân Trung Quốc ra đón. Tàu bạn bắn hai phát pháo hiệu xanh, tàu ta bắn hai phát pháo hiệu đỏ, sau đó tàu bạn quay mũi dẫn đường cho tàu ta vào quân cảng Lôi Châu ăn trưa. Buổi chiều, tàu chạy qua thành phố Hải Khẩu thuộc đảo Hải Nam. Bạn cho tàu ta vào giữa đội hình tàu hải quân của bạn.

        Tàu chưa kịp rời Hải Khẩu thì gặp bão, đành phải ở lại đây một tuần. Chúng tôi gặp hai anh đi chuyến trước bị ốm đang nằm ở bệnh viện Hà Khẩu. Sau một tuần bão tan, chúng tôi lại xuất phát, chúng tôi lại xuất phát. Hai tàu của bạn kèm hai bên dẫn tàu ta rời cảng Hà Khẩu đi về hướng nam. Mơi đi được một ngày một đêm thì lại có bão, tàu phải quay về cảng Du Lâm phía nam đảo Hải Nam để tránh. Anh em chúng tôi phải ở lại đây mười hai ngày. Hàng ngày, bạn tiếp tế gạo, thực phẩm và nước ngọt cho đoàn.

        Sau gần một tháng tránh các cơn bão ở Lôi Châu và Hải Nam, cuối tháng 9, tàu của chúng tôi lại tiếp tục hành trình vào Nam.

        Đang đi, tàu bạn rẽ ngang và quay lại, tôi hỏi anh Trung là Chính trị viên trên tàu:

        - Tại sao tàu bạn đang đi lại quay trở lại?

        Anh Trung bảo:

        - Gần giới tuyến quân sự tạm thời rồi, giờ ta tự đi.

        Sau đó, tàu ta chếch hướng đông nam đi tiếp. Trên mũi và đuôi tàu, ta bố trí súng 12,7 ly. Súng ống được che kín bằng những tấm lưới đánh cá. Tất cả chúng tôi đều mặc đồng phục tím than như những công nhân đánh cá trên biển.

        Khi tàu đi đến gần hải phận của Phi-lip-pin, lúc đó đã quá nửa đêm, tàu chuyển hướng về phía tây. Đi thêm một ngày và gần một đêm nữa, chúng tôi đã nhìn thấy ngọn hải đăng Vũng Tàu như một ánh sao lung linh từ đất liền tổ quốc dõi theo con tàu. Từ đó tàu đi dọc bờ biển vào Bến Tre.

        Đêm khuya, trời yên biển lặng. Tôi đoán tàu đang đi cách bờ không xa.

        Đang nằm tôi bỗng thấy như có người đấm “bịch!bịch!bịch!” ba nhát dưới sống lưng, thấy ớn cả xương sống. Tôi nghe nước chảy ào ào trên boong, nhìn ra cửa kính thấy nước ngập băng. Cũng cần nói thêm, con tàu của chúng tôi chở đầy hàng nặng nên chỉ có một phần của tầng trên và ca bin nhô lên khỏi mặt nước. Tàu vốn nhỏ lại chỉ nhô lên một phần rất ít nên được ngụy trang tốt, máy bay rất khó phát hiện hiện. Một lát sau anh em thuỷ thủ lịch bịch chạy xuống nói:

        - Báo cáo đồng chí, tàu đang bị mắc cạn, mời đồng chí lên ngay.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM