Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Năm, 2020, 11:38:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh  (Đọc 34353 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #240 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:59:54 am »


        Sau những ngày đi ròng rã, đoàn chúng tôi đã tới bờ sông Mã. Đứng trên một quả đồi hoa lau nở trắng, nhìn xuống dòng sông êm ả chảy, với những chiếc thuyền độc mộc thon dài, mũi cong vút, trôi xuôi, chúng tôi cảm thấy mọi nỗi mệt nhọc của đường trường như dịu hẳn xuống. Đang mùa xuân, hoa nở suốt một dải bên sông. Những ngọn đồi phủ hoa trắng xoá, nom nhấp nhô xa gần như những đàn cừu ở xứ lạnh. Bầu trời mùa xuân trên biên giới bao la trong vắt. Những dải mây hiền lành trôi từ đất Việt qua Lào soi bóng xuống dòng sông đang tắm mát cho cả hai bờ thân thiết. “Tổ quốc ta thật là tươi đẹp!”. Câu nói ấy ở đây không còn là một cái gì trừu tượng. Thiên nhiên hiền hoà và tươi trẻ của đất nước có lẽ cũng đã góp một phần quan trọng cho việc tạo nên tâm hồn đẹp đẽ, nhuần nhị của mỗi người dân Việt Nam ta. Bỗng nhiên, khi đứng đây tôi lai nhớ tới các đồng chí trong Trung đoàn Bế Sơn Cương, Tiểu đoàn 90... những đơn vị đã anh dũng lập công trong chiến dịch vừa qua. Đã có một số đồng chí vĩnh viễn nằm xuống bên bờ sông Mã cổ kính này. Trong số những đồng chí đã hy sinh có Lê Báo, một cán bộ trẻ tuổi, hăng say, đầy triển vọng. Lê Báo trước đây vốn là bí thư của Bộ tư lệnh Liên khu. Người thanh niên tuấn tú ấy đã bao lần thiết tha xin được ra đơn vị để chiến đấu. Lê Báo đã lập nhiều chiến công đáng kể, nhưng tại đây, một viên đạn của quân thù đã cướp anh đi mất...

        Bên bờ sông Mã, đoàn chúng tôi đã dừng lại gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo các đơn vị và địa phương. Công việc thống nhất các lực lượng đã được đem ra thảo luận và quyết định. Một giai đoạn mới của chiến trường đã mở ra trước mắt chúng tôi, làm dấy lên những niềm hy vọng, vui sướng dào dạt trong lòng.

        Ít ngày sau, đoàn chúng tôi trở về qua đường Hồi Xuân, La Hán. Đã có chỉ thị chuẩn bị mở chiến dịch Lê Hồng Phong I.

        Trung ương nhận định, hiện nay ở Bắc Bộ, Tây Bắc là nơi địch đã yếu và sơ hở nhất, vì cơ sở địch hậu của ta đã rộng rãi, vững chắc, nhất là các vùng Sơn La, Điện Biên Phủ. Những thắng lợi gần đây của quân dân ta ở mặt trận Hoà Bình, của quân Pa-thét Lào và những thắng lợi của Quân giải phóng Trung Hoa ở biên giới Trung - Việt đã có ảnh hưởng rất to lớn, làm cho tinh thần bọn Pháp ở Tây Bắc càng thêm lung lay dữ dội. Hơn nữa, so với các chiến trường khác, công sự của địch ở Tây Bắc chỉ kiên cố ở mức tương đối.

        Chấp hành chỉ thị của Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Lê Hồng Phong I với mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thêm một phần đất đai của Tây Bắc.

        Chiến dịch Lê Hồng Phong I là chiến dịch lớn nhất trên chiến trường Tây Bắc từ trước tới nay, cho nên đã làm cho tất cả cán bộ, chiến sỹ trong mặt trận đều hân hoan, phấn khởi. Riêng đối với tôi và đồng chí Lê Trọng Tấn, đây cũng là lần đầu tiên chỉ huy một mặt trận rộng lớn, quy mô, với binh lực mạnh, tập trung. Bộ đã điều tới một trung đoàn và một tiểu đoàn chủ lực có truyền thống đánh công kiên oanh liệt (Trung đoàn Thủ đô và Tiểu đoàn Phủ Thông) để làm lực lượng chủ yếu cho chiến dịch. Ngoài ra, còn có đại bác 75 ly và phóng pháo 187 ly, một loại súng cối hạng nặng do quân giới ta tự chế tạo, tham gia chiến đấu.

        Phố Lu đã được chọn là điểm công kích đầu tiên và chủ yếu trong đợt đầu của chiến dịch. Tôi đã có dịp đi qua Phố Lu trong những ngày chưa kháng chiến, Phố Lu khi ấy còn là một dãy phố nhà cửa san sát, buôn bán sầm uất bên sông Hồng. Nó được coi như một “cửa ngõ” của Tây Bắc, một “thương khẩu” quan trọng trên con đường giao thông Lào Cai – Hà Nội và xa hơn nữa là Hà Nội – Vân Nam. Phố Lu khi xưa hầu như thâu đêm đỏ lửa. Lửa chài trên sông, lửa trên nhà ga với những chuyến tàu đêm thét còi xuôi ngược. Từ ngày giặc chiếm, Phố Lu bị biến thành một cứ điểm lớn. Tường thành kiên cố bao quanh. Lô cốt nhòm ra bốn phía. Nhân dân bị đuổi hết ra ngoài. Giặc chiếm đóng tất cả các dãy phố làm nhà ngủ, trại con gái, tàu ngựa, nhà kho... Phố Lu trở thành một chỉ huy sở phân khu của địch, một cái ung nhọt rất lớn, rất nhức nhối của Tây Bắc. Đã nhiều lần đi thăm chiến trường của liên khu và các đơn vị, chúng tôi phải vượt núi, đi vòng phía sau lưng Phố Lu, rất gian khổ, vất vả. Từ trên những mỏm núi cao nhìn xuống thị trấn cũ chỉ thấy những bóng giặc đi lại lúc nhúc, những chiếc ống bơ sáng loé ở hàng rào dây thép gai và những lỗ châu mai hau háu...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #241 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:02:48 am »


        Bộ chỉ huy mặt trận Tây Bắc cũng như ban chỉ huy chiến dịch quyết định phải tiêu diệt bằng được Phố Lu để mở đường lên biên giới và nếu có điều kiện thì giải phóng cả vùng biên giới Trung - Việt.

        Trận đánh được giao cho Trung đoàn Thủ đô đảm nhiệm. Chiều ngày 8 tháng 2 năm 1950, cuộc chiến bắt đầu. Thực ra từ buổi trưa, bọn lính tuần tiễu của Phố Lu đã chạm một số đơn vị của ta; súng đã nổ lẻ tẻ, máy bay địch đã kéo lên oanh tạc nhiều đợt vào các cửa rừng và cao điểm quanh thị trấn.

        Chỉ huy sở của mặt trận đặt cách Phố Lu không xa. Đứng ở đài quan sát, chúng tôi có thể nhìn ra trận địa. Sau những trận oanh kích của máy bay địch, chúng tôi điện hỏi ngay trung đoàn về tình hình thương vong của đơn vị. Được trung đoàn trả lời: lực lượng vẫn nguyên vẹn, tinh thần bộ đội  vẫn rất tốt, chúng tôi mừng lắm.

        Giờ G đã tới. Quyết tâm của mặt trận không hề thay đổi. Quả phóng pháo đầu tiên nổ vang dội cả rừng núi. Tiếp sau đó là sơn pháo 75 ly, phóng bom, SKZ...

        Từ trên đài quan sát chúng tôi nom rất rõ những chiến sỹ xung kích chạy theo con đường đất đỏ như son rồi toả ra, tiến vào đồn địch, thấy cả những làn khói moóc-chi-ê bốc chung quanh thị trấn mù mịt.

        Cuộc chiến đấu mỗi lúc một thêm gay gắt. chúng tôi đã đánh giá địch chưa đúng. Địch ở Phố Lu rất mạnh. Điện từ trung đoàn báo về: bộ đội đã xung phong rất quả cảm nhiều đợt nhưng vẫn chưa chiếm được đầu cầu, mấy lần chiếm được một số lô cốt nhưng lại bị đánh bật trở ra.

        Trời tối dần. Đêm tối ở Tây Bắc cũng có những vẻ riêng biệt của nó: dày đặc, giá lạnh. Tất cả mọi người trong chỉ huy sở đều thức trắng. Tiếng súng ngoài Phố Lu vẫn dồn dập dội về.

        Trung đoàn đề nghị cho tiếp tục tiến công. Một đồng chí trong chỉ huy sở nhìn ra đêm tối sốt ruột, bồn chồn:

        - Hay là ta cho đốt dãy phố trước khu nhà ga để lấy ánh sáng cho pháo bắn?

        Tôi vội nói ngay:

        - Ấy chết, sao lại làm thế?

        Hiểu ý tôi từ đó anh không nhắc lại đề nghị ấy nữa. Bộ chỉ huy mặt trận cùng trao đổi ý kiến. Trước tình hình này, có một quyết tâm lớn chưa đủ cần phải có những chủ trương đúng. Chúng tôi điện cho Trung đoàn Thủ đô: chỉ để lại một bộ phận nhỏ bao vây và liên tục quấy rối. Đại bộ phận rút ra, tiến hành rút kinh nghiệm, củng cố để mở đợt tiến công khác.

        Ngày hôm sau, trong các khe núi chúng quanh Phố Lu, các đại đội họp bàn kiểm điểm rất sôi nổi. Chúng tôi càng thấy rõ mình đã đánh giá Phố Lu chưa đúng. Phố Lu rất mạnh. Ngoài ra chúng tôi còn thấy một số vấn đề chưa thoả đáng trong việc tổ chức tiêu diệt viện binh địch và sử dụng lực lượng của trung đoàn... Suốt ngày hôm ấy, máy bay địch lồng lộn bắn phá. Các cuộc kiểm điểm rút kinh nghiệm trận đánh của quân ta vẫn tiến hành đều đặn và sôi nổi. “Dừng lại để tiến mạnh hơn” – Các đơn vị đã nắm được chủ trương của Bộ chỉ huy mặt trận.

        Đợt tấn công thứ hai bắt đầu. Tiểu đồng xung kích 54 mới được thay thế đã xung phong rất gan góc đã làm rung chuyển cả Phố Lu. Nhưng vẫn chưa chiếm được đầu cầu. Những báo cáo gửi về liên tiếp, lần nào cũng gần giống như lần nào: “Đã mấy đợt qua được rào, nhưng vấp tường thành kiên cố, không vào được”.

        Không khí trong chỉ huy sở rất trầm trọng và căng thẳng. Chắc chắn dưới trung đoàn, ngoài trận địa còn căng hơn thế nhiều lắm. Tôi trao đổi ý kiến với đồng chí Cao Văn Khánh - chỉ huy phó mặt trận về vấn đề pháo binh. Chúng tôi đã rút được ra một số vấn đề về tổ chức đột kích của bộ binh nhưng chưa biết pháo binh cần phải làm như thế nào cho tốt hơn.

        Trong chiến dịch Sông Thao, đồng chí Cao Văn Khánh cũng làm chỉ huy phó mặt trận, đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng pháo binh đánh Phố Ràng. Ở đây, đồng chí đã áp dụng những kinh nghiệm ấy: phân tán hoả lực pháo binh, chia khu vực để bắn, nhằm kiểm soát tẩt cả bốn mặt đồn. Nhưng chỗ này lại là Phố Lu, một thị trấn lớn...

        Vấn đề pháo binh đã trở thành một vấn đề quan tâm chung của Bộ chỉ huy mặt trận. Và cuối cùng, sau khi trao đổi ý kiến với các đồng chí chỉ huy trực tiếp của pháo binh, chúng tôi cùng nhất trí phải tập trung hoả lực lại nếu không tập trung hoả lực không thể đột phá được cửa mở, phải tạo điều kiện cho xung kích chiếm lấy “đầu cầu”.

        Một mệnh lệnh mới được gửi xuống cho trung đoàn: Mọi việc đều ngừng lại để củng cố, chuẩn bị cho đợt tiến công thứ ba.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #242 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:04:19 am »


        Trong những ngày trung đoàn kiểm điểm rút kinh nghiệm thì pháo binh chuyển trận địa, Bộ chỉ huy mặt trận cũng phân công nhau xuống từng tiểu đoàn, đại đội để kiểm tra, đôn đốc. Tôi đi tới một khe suối lớn ở ngay bên sườn Phố Lu; lúc đó Tiểu đoàn 54 đang đóng rải rác. Tôi bước tới một nhóm khoảng hơn mười đồng chí đang ngồi sinh hoạt dưới một lùm cây. Quần áo người nào cũng đều lấm láp và loang lổ thuốc súng. Có người đầu quấn băng trắng toát, che kín hết cả vầng trán, chỉ để lộ ra những mớ tóc rậm, cứng, đầy bụi đất và cặp mắt lừ lừ gan góc. Mặt đồng chí nào cũng khô đanh, sạm đi, mắt quầng thâm nhưng súng đạn vẫn kè kè bên người. Tôi biết tinh thần chiến đấu của anh em vẫn còn rất rạo rực.

        Một đồng chí người mảnh dẻ, cặp mắt linh lợi đứng lên báo cáo với tôi là các đồng chí đang họp chi bộ. Tôi đề nghị được cùng tham gia. Đồng chí bí thư - người cán bộ mảnh dẻ ấy quay lại những đồng chí ngồi vòng tròn trước mặt, anh cất tiếng nói, không to lắm, nhưng dứt khoát:

        - Ý kiến các đồng chí thấy thế nào? Chúng ta còn có thể chiến đấu được nữa không?

        Hơn một chục cánh tay cùng giơ phắt lên. Những khuôn mặt đều ngẩng cao:

        - Tôi có ý kiến...

        - Tôi xin nói...

        - Đề nghị trên cho tiếp tục đánh!

        Đằng sau làn da như đã khô đanh và sạm đen vì lửa đạn ấy, tôi như thấy có những cái gì đang dào dạt dâng lên và toả sáng. Chi bộ ấy, hôm mới đây, trước giờ xuất kích có hai mươi đồng chí, bây giờ chỉ còn mười bốn. Nhưng sự vắng vẻ, thưa thớt hôm nay không hề làm cho một ai chùn bước. Chi bộ đã có những đồng chí Hội, Lanh, Tiềm..., những người công nhân Thủ đô mặc áo lính đã chiến đấu như những con sử tử trong những đợt tiến công vừa rồi.

        Rời cuộc họp của chi bộ ấy tôi tới tham gia cuộc họp của các chi bộ khác. Ở đâu tôi cũng thấy bật lên một điều là: đảng viên ta vô cùng quả cảm và rất nhiều mưu trí. Tất cả mọi đơn vị đều quyết tâm đánh thắng.

        Ngày 13 tháng 2 năm 1950, đợt tiến công thứ ba bắt đầu. Lần này, chúng tôi ra tận cửa rừng – nơi các chiến sỹ Thủ đô xuất kích. Vui quá! Trẻ trung quá! Hăng hái quá! Chiến sỹ vừa reo hò vừa lướt qua trước mặt chúng tôi. Trong khi đó những quả phóng pháo lại nổ vang trên nền trời chiều đã bắt đầu mù xám, những loạt sơn pháo 75 ly đã được tập trung lại, gầm lên và vang vọng lai ầm ĩ từ các vách núi.

        Chúng tôi bắt tay từng đồng chí chỉ huy và chiến sỹ xung kích, sau đó lên đài quan sát.

        Cả ba khẩu sơn pháo vẫn tiếp tục nã tập trung vào khu A. Từng mảng tường vỡ tung. Những cột gỗ, ván thép bay lên từng loạt như bươm bướm. Trong những đám khói dày dặc bỗng có một chấm đỏ hiện lên.

        - Cờ của ta kia rồi.

        Một đồng chí trong chỉ huy sở reo ầm.

        Chấm đỏ ấy hiện rõ dần, sau đó những bóng người lố nhố vượt lên và nối tiếp nhau thoăn thoắt vào trong đồn.

        Điện từ trung đoàn báo lên: Xung kích đã chiếm được đầu cầu.

        Tất cả chúng tôi cùng nhìn nhau và gần như cùng thở trút ra nhẹ nhõm.

        Cuộc chiến đấu trong tung thâm tuy cũng ác liệt nhưng chỉ kéo dài thêm một lúc. Cả Phố Lu đã bốc cháy. Ngọn lửa cao trên mười thước. Những phát ba-dô-ca, SKZ nổ rất đanh. Đứng 19 giờ 30 phút, đồng chí Vũ Yên – Trung đoàn trưởng nói qua máy điện thoại: “Báo cáo! Phố Lu đã hoàn toàn bị tiêu diệt”.

        Tất cả chúng tôi trên chỉ huy sở cùng rảo bước xuống núi... Sáu ngày, sáu đêm đã trôi qua. Trận đánh đã kéo dài và quyết liệt ngoài dự kiến. Chiến thắng Phố Lu đã lớn nhưng có lẽ còn lớn hơn nữa đó là những bài học xương máu mà chúng tôi đã rút được ra qua trận thử lửa này, những bài học về đánh đồn, diệt viện, về quan điểm tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta... và nhiều mặt khác nữa.

        Sau chiến thắng Phố Lu, một đơn vị của Tây Bắc đã tiêu diệt Bản Lầu. Rồi một số cứ điểm khác liên tiếp bị xóa sạch trên những đoạn còn lại của phòng tuyến sông Thao như Chợ Châu, Bảo Nhai, Bến Đền...

        Hàng mấy trăm cây số vuông cùng hàng vạn đồng bào Tây Bắc được giải phóng”...

        Trích: Thượng tướng Song Hào, Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng (Hồ Phương thể hiện), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội – 2005, tr. 139 – 193.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #243 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:12:52 am »

             
11. TRUNG TƯỚNG VƯƠNG THỪA VŨ (NGUYỄN VĂN ĐỒI)


        Trung tướng Vương Thừa Vũ sinh ngày 24 tháng 12 năm 1910 tại làng Vĩnh Minh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

        Năm 1937, Vương Thừa Vũ theo học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).

        Cuối năm 1941 – 1942 bị thực dân Pháp bắt, giam tại Bá Vân (Thái Nguyên). Được giác ngộ cách mạng, Vương Thừa Vũ tham gia công tác binh vận, phụ trách huấn luyện quân sự trong tù.

        Tháng 8 năm 1945, đồng chí gia nhập quân đội.

        Năm 1946 tham gia tổ chức và chỉ huy bảo an binh Hà Nội; là Khu trưởng Khu 11, chỉ huy quân sự Khu 2 bảo vệ Hà Nội.

        Năm 1947 – 1948 là Khu phó Khu 4, Phân khu trưởng Phân khu Bình - Trị - Thiên.

        Từ tháng 4-1949 đến 1964 làm nhiệm vụ tổ chức và là Đại đoàn trưởng kiêm chính uỷ Đại đoàn 308, trực tiếp tham gia chỉ huy các chiến dịch: Sông Lô, Đường 4 và tham gia các chiến dịch: Biên Giới, Trung Du, Đông Bắc, Hoà Bình, Tây Bắc và Điện Biên Phủ.

        Từ Mặt trận Điện Biên Phủ trở về tham gia tiếp quản Thủ đô – tháng 10 năm 1954, đồng chí Vương Thừa Vũ được giao nhiệm vụ Chủ tịch Uỷ ban quân chính Hà Nội.

        Từ năm 1955 đến 1963 là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn.

        Từ 1964 – 1980 đồng chí là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, kiêm Giám đốc Học viện Quân chính và trực tiếp là Tư lệnh Quân khu 4 (1964 – 1971).

        Với những công lao đóng góp xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng chí Vương Thừa Vũ đã được Đảng, Nhà nước, trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: được phong quân hàm Trung tướng năm 1974; được trao Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (Hạng nhất, hạng ba), Huân chương Chiến thắng hạng nhất...

        Trung tướng Vương Thừa Vũ là một người chỉ huy sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể và có tác phong rất quyết đoán... Suốt cuộc đời binh nghiệp, điều mà ông trăn trở - theo lời Thiếu tướng Chu Phác ghi lại – đó là về cách đánh, về chiến thuật quân sự mà thường chúng ta phải thực hiện trong hoàn cảnh “yếu đánh mạnh, ít địch nhiều” với quan điểm chiến tranh nhân dân. Về chiến thuật tiến công, ông chỉ đạo tập trung ưu thế đúng mức để đạt được tư tưởng “một diệt, bốn cắt”. Quan trọng là phải diệt được chỉ huy, phá vỡ thông tin của đối phương; phải cắt được pháo binh với bộ binh địch, cắt không quân địch với mặt đất, cắt xe tăng với bộ binh và cắt bộ binh với bộ binh... Từ bài học chiến dịch Điện Biên Phủ đến các trận đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam, ông rút ra 7 chữ: “Quyết, vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt”.

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cương vị Phó tổng tham mưu trưởng, Tướng Vương Thừa Vũ cùng cộng sự xây dựng các kế hoạch tiến công với các loại hình chiến thuật khác nhau. Tất cả đều thể hiện mưu kế hay, nghi binh, thế trận hiểm (vững chắc) và lực tổng hợp. Mưu cao, thế hiểm sẽ tạo thêm lực mạnh. Tướng Vũ cực lực phê phán “Hữu dũng vô mưu” cũng như chân phương khờ dại, ngây ngô. Chính vì vậy mà Tướng Vương Thừa Vũ nêu ra tư tưởng chỉ đạo cách đánh: “Giữ bí mật, tạo bất ngờ, giành chủ động, đánh tiêu diệt”. Bí mật là sức mạnh to lớn, có giữ được bí mật mới tạo được bất ngờ; bất ngờ thì ít thành nhiều, yếu thành mạnh, giữ được bí mật, tạo được bất ngờ thì giành được chủ động và thực hiện được đánh tiêu diệt. Có tư tưởng chỉ đạo chiến thuật đúng, bài binh bố trận hay, theo Tướng Vũ còn điều quan trọng nữa của người chỉ huy đó là “Điều binh khiển tướng”.

        Từ những điều trăn trở và những trải nghiệm của cuộc đời binh nghiệp, Trung tướng Vương Thừa Vũ đã viết nhiều tác phẩm, luận văn quân sự có giá trị. Bên cạnh đó là một số cuốn hồi ký, ký sự lịch sử. Là một vị tướng sinh ra ở Hà Nội, ra đi làm cách mạng, từng được giao đảm nhiệm các chức vụ: Khu trưởng Khu 11, Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội trong 60 ngày đêm khói lửa mở đầu cho toàn quốc kháng chiến; rồi năm 1954 làm chỉ huy các lực lượng vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội... Vương Thừa Vũ đã gắn bó và có nhiều trang viết về Hà Nội. Xin giới thiệu những trang viết về kỷ niệm sâu sắc tại Mặt trận Hà Nội của Trung tướng Vương Thừa Vũ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #244 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:14:02 am »


MẶT TRẬN HÀ NỘI

        “... Tôi rời Hà Nội từ tháng 10 năm 1945, đi làm công tác huấn luyện quân sự. Trước khi lên đường, đồng chí Văn Tiến Dũng, Quân khu trưởng Quân khu II (gồm 8 tỉnh hồi đó là: Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Sơn Tây, Hà Đồng, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) gọi đến giao nhiệm vụ cụ thể cho tôi mở lớp bồi dưỡng cán bộ cấp trung đội, đại đội của quân khu. Lớp này tổ chức tại Ba Thá, từ nhà ở, đến bữa cơm hàng ngày của các học viên đều do Đảng bộ và nhân dân địa phương lo lắng chu đáo. Tiếp đó, Bộ Tổng chỉ huy điều tôi sang trường cán bộ ở Sơn Tây làm huấn luyện viên các khoá V và VI rồi lại sang làm huấn luyện viên khóa I Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn (Nay là Trường sỹ quan Lục quân 1)

        Giữa tháng 10 năm 1946, tôi đang dẫn học sinh đi tập dã ngoại ở chân núi Ba Vì thì nhận được điện của Thường vụ Trung ương Đảng gọi về gấp. Hồi ấy, ở Hà Nội quân Pháp hay giở trò khiêu khích nên các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước không làm việc trong thành phố. Tôi được hẹn đến “dinh tổng đốc Hà Đông”. Đó là một toà nhà xây theo kiểu cổ “kín cổng cao tường”, ở gần cầu thị xã. Từ đường phố chính đi vào phải qua một cổng lớn, như cổng đình, hai cánh cửa lim rất to, chạm trổ cầu kỳ. Qua cổng đến cái sân khá rộng, nói đúng hơn thì đây là một vườn hoa có nhiều cây to, nhiều chậu cây cảnh, đường đi dọc đều lát gạch Bát Tràng. Cuối sân là toàn nhà gạch một tầng, xây trên nền cao, hiên rộng nhiều gian, nhiều cột, mái cong. Tôi đến “dinh tổng đốc Hà Đông:” lúc quá trưa ngày 15 tháng 10 năm 1946. Thường vụ Trung ương Đảng đang họp. Nhưng tôi được phép đi thẳng vào phòng họp. Các đồng chí tạm ngừng làm việc. Đồng chí Trường Chinh tự tay xếp thêm một cái ghế vào bên cạnh rồi thân mật bảo tôi:

        - Đồng chí Vũ ngồi đây.

        Lúc mới vào phòng này thoáng gặp vẻ tư lự  trên nét mặt các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp... tôi đã cảm nhận rằng hình như Thường vụ Trung ương Đảng đang bàn luận về một việc gì hệ trọng lắm. Ngồi một lát, tôi càng thấy nhận xét đó là đúng, bởi vì ngay trong lúc tạm nghỉ các đồng chí cũng không nghỉ, vẫn theo đuổi những suy nghĩ của mình, người ngồi tại chỗ bên bàn họp, người đi đi lại lại nhè nhẹ đặt từng bước chân, không ai ra khỏi phòng, không ai nói gì với ai, căn phòng im lặng. Tôi khoanh tay ngồi, cũng suy nghĩ, băn khoăn tự hỏi: Không hiểu tại sao mình lại được gọi vào đây? Điện gọi mình về nhận chỉ thị cơ mà, vậy thì cớ sao lại ngồi vào bàn họp này? Chẳng tự giải đáp được, tôi ngồi im như phỗng, nghe tim đập thình thịch, hồi hộp chờ đợi. Tôi càng hồi hộp khi tất cả các đồng chí trở vào ngồi quanh bàn họp và ai cũng nhìn đồng chí Trường Chinh. Ban sáng, lúc tôi nhận được điện về gặp Thường vụ Trung ương Đảng, tôi đã nghĩ: có lẽ các đồng chí hỏi mình về tình hình cuộc khởi nghĩa ở Nghĩa Lộ? Suốt dọc đường đạp xe từ Sơn Tây về thị xã Hà Đông, tôi cố nhớ lại quá trình chuẩn bị và diễn biến của cuộc khởi nghĩa cùng những bài học xương máu mà tôi đã rút ra để trình bày mạch lạc với Thường vụ Trung ương Đảng. Từ hơn một năm nay tôi luôn luôn day dứt trong lòng về cuộc khởi nghĩa không đạt yêu cầu này. Cho nên, trong lúc này, ngồi trước các đồng chí lãnh đạo của Đảng, thấy không khí phòng họp nghiêm trang quá, tôi càng tin chắc các đồng chí gọi tôi đến để hỏi về việc đó. Thế là tôi chủ động đứng bật dậy, báo cáo:

        - Thưa các đồng chí, việc khởi sự ở Nghĩa Lộ bị thất bại, về chỉ huy quân sự, tôi xin chịu hết trách nhiệm, chịu tội trước Đảng... tôi xin...

        Tôi mới nói đến đây thì cả phòng họp trang nghiêm rộn lên tiếng cười khiến tôi lúng túng.

        - Không phải đâu - Đồng chí Trường Chinh nói chen vào và nhìn tôi với cặp mắt thân thương.

        Vẫn âm điệu chậm rãi, dịu dàng, đồng chí Trường Chinh nói tiếp:

        - Đồng chí Vũ ngồi xuống! Thường vụ gọi đồng chí đến để giao nhiệm vụ mới, quan trọng, tin rằng đồng chí có thể gánh vác được.

        Chờ tôi trở lại bình tĩnh và căn phòng dứt hẳn tiếng cười, đồng chí Trường Chinh tiếp tục nói, thong thả, rành mạch từng tiếng, giọng đồng chí vẫn dịu dàng nhưng bàn tay đồng chí nắm chắc lại khe khẽ đập xuống mặt bàn theo nhịp từng câu nói:

        - Giặc Pháp đang ráo riết chuẩn bị, sớm muộn thế nào chúng cũng đánh ta, đánh úp Hà Nội, chiếm Thủ đô ta. Trung ương Đảng giao cho đồng chí Vũ làm Chỉ huy trưởng Quân khu XI, quân khu đặc biệt Hà Nội.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #245 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:14:29 am »


        Đồng chí phân tích tình hình, nói ý nghĩa chiến tranh toàn dân kháng chiến lâu dài, rồi chỉ thị cho tôi những việc trước mắt cần phải làm tốt: Hà Nội phải được chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng địch trở mặt gây hấn... Nếu chúng cố tình tấn công đánh chiếm Hà Nội thì ta phải lập tức đánh trả ngay. Phải giành thắng lợi ngay từ trận đầu. Nhưng phải khéo léo, giữ được lực lượng để đánh lâu dài. Phải hết sức khẩn trương chuẩn bị, nhưng cũng cần chú ý tránh mắc mưu khiêu khích của giặc. Ta còn phải tranh thủ thời gian để củng cố mọi mặt vì nếu để chiến tranh nổ ra sớm thì không có lợi...

        Và cuối cùng đồng chí nhấn mạnh:

        - Ngay từ bây giờ phải nhanh chóng chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng ở tư thế chiến đấu để nếu địch trở mặt gây hấn thì ta lập tức đánh trả lại ngay; phải kìm chân địch ở Hà Nội trong một thời gian cho cả nước chuyển sang chiến tranh; phải huy động sức mạnh tiềm tàng của nhân dân thành phố vào cuộc chiến đấu, đồng thời phải biết bảo toàn và bồi dưỡng lực lượng ta để đánh lâu dài...

        Tôi chăm chú nghe từng câu từng ý của đồng chí Trường Chinh, nhưng mắt không rời đồng chí Phạm Văn Đồng ngồi ở hàng ghế đối diện. Được biết đồng chí đi đàm phán với Pháp ở Phông-ten-nơ-blô mới về mươi hôm. Cuộc đàm phán tuy chẳng mang đến kết quả gì, nhưng qua bên đó, với bài diễn văn nảy lửa của mình, đồng chí đã vạch trần chính sách phản động của thực dân Pháp, nêu rõ lập trường sáng ngời chính nghĩa của nhân dân ta là chiến đấu đến cùng cho một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Qua những ngày đàm phán ở Pháp chắc chắn rằng đồng chí hiểu thấu hơn tâm địa của thực dân Pháp. Đối với địch, đồng chí kiên quyết và dứt khoát. Đối với đồng chí thì chan hoà cởi mở và thân mật. Lúc này đây đồng chí đang chăm chú nhìn thẳng vào mắt tôi, đầu gật gật khi đồng chí Tổng Bí thư nói: phải khéo léo giữ được lực lượng để đánh lâu dài. Tôi cũng khẽ gật đầu đáp lại tỏ ý: Vâng, tôi hiểu ý chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng, tôi hiểu ý anh, ta đánh lâu dài, địch sẽ không chịu nổi.

        Tiếp lời đồng chí Trường Chinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho tôi những việc phải làm ngay: Nghiên cứu âm mưu địch, nắm chắc lực lượng ta, đặc biệt chú ý lực lượng tự vệ thành; làm kế hoạch tác chiến, chỉ huy phải kiên quyết, linh hoạt... Đồng chí nhấn mạnh: công việc lớn đây, nhiều khó khăn, phải tích cực khắc phục, nhanh chóng chuẩn bị đầy đủ để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt. Kiên quyết đánh thắng ngay từ đầu!.

        - Báo cáo, tôi đã rõ nhiệm vụ, xin chấp hành.

        Tôi đứng nghiêm chào các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng rồi lui ra ngoài. Bước khỏi phòng họp mà lòng tôi vẫn còn xúc động, chân bước đi cảm thấy như không chạm đất, tôi vội ngồi ngay xuống ghế đá trong vườn hoa trước cửa nhà. Đầu óc tôi cùng một lúc diễn ra biết bao nhiêu suy nghĩ, những dự định và cả những thắc mắc, lo lắng. Nhiệm vụ lớn quá! Mà khả năng của tôi thì có hạn.

        Kẻ địch mà tôi phải trực tiếp đương đầu là những tên thực dân cáo già Va-luy, Moóc-li-e, bạc đầu trong nghề chinh chiến, chúng có quân đông, vũ khí tối tân. Chiến trường sẽ diễn ra là một thành phố to với vùng ngoại thành rộng lớn, dân cư đông đúc, bộ đội, dân quân tự vệ cũng tới hàng vạn, mà tôi tuy đã từng là huấn luyện viên góp phần đào tạo hàng trăm cán bộ quân sự cho quân đội, nhưng thực ra vốn liếng đó chưa đủ đáp ứng nhiệm vụ mới mà tôi vừa được Thường vụ Trung ương Đảng trao. Tôi trầm ngâm suy nghĩ: Nghĩ đến những ngày tù đày ở Bá Vân, Nghĩa Lộ. Nghĩ đến những ngày thực dân Pháp khủng bố đồng bào ta, đàn áp cách mạng trước ngày khởi nghĩa. Nghĩ đến những ngày sắp tới đây thực dân Pháp lại nổ súng đánh ta hòng trở lại thống trị nhân dân ta một lần nữa... máu căm thù quân cướp nước lại sôi sục trong tôi. Tôi xua đuổi tất cả những ý nghĩ gì có thể cản trở nhiệm vụ. Tôi dù có non nớt, mà non nớt thật, thì có Đảng dìu dắt, có đồng chí, đồng bào giúp đỡ. Ngồi trên ghế đá giữa một vườn hoa thơm mát, tôi hít một hơi dài để xua đi những nỗi lo lắng và quay về với nhiệm vụ.

        Ngày mai ra Hà Nội, đến Sở Chỉ huy quân khu nhận chức, tôi sẽ bắt đầu bằng công việc gì đây? Hàng trăm câu hỏi về cách đánh địch và thắng địch cứ lần lượt hiện ra trong đầu óc tôi. Đánh như thế nào có lợi nhất, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Thường vụ Trung ương Đảng vừa trao? Bởi lẽ trận chiến đấu sắp tới đâu phải là một trận chỉ có bộ đội ta chọi lại với quân địch, mà là một mặt trận, một cuộc chiến đấu lớn, nhiều trận, nhiều ngày, cả nhân dân cùng tham gia đánh giặc, chiến tranh toàn dân...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #246 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:14:49 am »


        Bỗng nhiên, tôi nhớ lại hồi tháng 10 năm 1945, khi rời Hà Nội đi làm công tác huấn luyện quân sự, mở lớp đào tạo cán bộ của Quân khu II. Lần ấy, tôi cũng bối rối lắm. Đồng chí Văn Tiến Dũng cho biết số học sinh có khoảng 100 người. Tôi lo lắng: trưởng sở đặt ở đâu bây giờ, phương tiện dụng cụ, bàn ghế ra sao?

        Chỗ ăn, chỗ ở của học viên, lai còn nồi niêu, gạo, thức ăn, nước uống nữa? Cơ quan giúp việc không có, tài liệu chưa chuẩn bị, tiền không có một xu, lấy đâu ra? Nhưng một lời nói của đồng chí Văn Tiến Dũng mở ra cho tôi phương hướng giải quyết bế tắc này: phải dựa vào địa phương.

        Thế là tôi đi liên hệ với địa phương, gặp các đồng chí trong ban lãnh đạo tỉnh Hà Đông trình bày ý định của cấp trên muốn mở lớp huấn luyện quân sự. Đồng chí Ái, Phó chủ tịch tỉnh rất thông cảm với chúng tôi và giải quyết rất nhanh:

        - Anh mở lớp một tháng, ít ra phải có hai tấn gạo, vậy tạm thời cấp bốn tạ, đủ ăn một tuần, rồi sau lo tiếp.

        Tiếp đó đồng chí Lim, công an trưởng, nói:

        - Trong kho các một số vạc và nồi ba mươi, cần mấy cái cho đủ, bọn mình viết giấy cấp phát.

        Tôi nằn nì trình bày ý kiến xin tiền để mua mớ rau, quả cà cho bữa ăn hàng ngày. Các đồng chí bàn soạn với nhau một lát rồi thống nhất ý kiến: Mấy ông quân sự gan thật, không có một xu mà đòi mở lớp võ bị, thôi cố vét cho cậu ấy 100 đồng.

        Thu xếp được cho việc cơ bản, tôi quay về Ba Thá đi liên hệ với các huyện. Vì Ba Thá là nơi giáp ranh của ba huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức, Ứng Hoà. Các uỷ ban huyện đều nhiệt tình ủng hộ, cũng cho gạc cho tiền. Tôi lại đến các thôn Phú Viên, Viên Nội, Viên Ngoại, Xón Đông. Ở các thôn này, tôi dựa vào đoàn thể quần chúng. Hội phụ nữ tổ chức đội nuôi quân lo việc chợ búa, cơm nước. Các cụ bô lão hăng hái đứng ra quyên góp tre, nứa, là, rơm, rạ và huy động nhân công làm trường trại.

        Chỉ hơn hai tuần, mái trường mới đã sừng sững đứng bên sông Đáy. Ba dãy nhà xếp hình chữ môn với gần hai chục gian: năm gian làm giảng đường, năm gian vừa làm nhà bếp vừa làm nhà ăn, bảy gian để ở. Tường cách đất quét phủ vôi trắng, gian nào cũng có cửa ra vào và cửa sổ lắp chấn song. Ba dãy nhà ôm lấy cái sân cỏ rộng ngót trăm mét vuông. Nhìn từ xa đã thấy trường sở khang trang bề thế, vào tận nơi đến từng nhà, từng gian lại càng thích mắt, trong giảng đường, bàn ghế bắng tre nứa, xếp hàng dọc, hàng ngang ngay ngắn. Buồng ngủ có hai dãy giường tre. Bàn ghế trong nhà ăn cũng chỉ bằng tre nứa thôi, nhưng mấy chục cái bàn, cái ghế khuôn khổ, kích thước bằng nhau chằn chặn, xếp thành hàng thành dãy thẳng tắp, nên tuy thô sơ mà vẫn đẹp mắt. Các học viên đến dự lớp huấn luyện, thấy trường sở đàng hoàng, thấy sự chăm sóc ân tình của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, ai nấy đều cảm động, hăng hái học tập.

        Nhớ lại việc mở lớp huấn luyện quân sự Ba Thá, tự nhiên tôi cảm thấy trong người nhẹ nhõm, thoải mái, đầu óc thảnh thơi, hết căng thẳng, lo âu với nhiệm vụ mới vừa được Thường vụ trao cho. Tôi tự nhủ: công tác cách mạng, từ việc nhỏ đến việc lớn, có việc nào dễ dàng đâu? Vấn đề là ở người cán bộ cách mạng phải hiểu rõ nhiệm vụ, thấy hết khó khăn, phải nắm vững đường lối, phương châm công tác cách mạng của Đảng, tích cực động viên tổ chức lực lượng đông đảo quần chúng tham gia thì việc khó mấy cũng thành công.

        Hôm sau, tôi ra Hà Nội bắt tay ngay vào việc tìm hiểu tình hình quân sự của Thủ đô.

        Từ ngày ta nắm chính quyền, chẳng có lúc nào Hà Nội được coi là yên ổn. Theo hiệp ước Pốt-xđam, các nước đế quốc trong phe đồng minh chiến thắng phát xít Nhật phân chia cho quân đội Tưởng Giới Thạch vào nước ta làm nhiệm vụ tước vũ khí quân đội Nhật từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra. Bọn Tưởng đây là thời cơ thuận lợi để chúng thôn tính một nửa nước ta, cho nên đội cái danh đi giải giáp mấy vạn quân Nhật mà chúng huy động đến gần 20 vạn quân, tương đương với lực lượng mà Mãn Thanh đem sang đánh chiếm nước ta hồi năm 1789. Chúng chủ trương “diệt Cộng cầm Hồ” bày ra lắm âm mưu hòng bóp nghẹt, lật đổ chính quyền Trung ương của ta ở Hà Nội, chúng lập chính quyền tay sai của chúng. Nhưng chúng đã liên tiếp thất bại vì nhân dân ta một lòng đoàn kết chung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh, vì Bác Hồ và Đảng ta đã đối phó rất khôn khéo với từng mưu mô, thủ đoạn của chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #247 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:15:07 am »


        Giữa tháng 3 năm 1946, Hà Nội đông nghịt quân đội Tưởng lại xuất hiện thêm một đội quân nữa – quân xâm lược Pháp. Đó là một bộ phận trong số 15.000 quân tiếp phòng Pháp được phép vào Hà Nội thay quân Tưởng theo hiệp định sơ bộ giữa ta và Pháp ký ngày 06 tháng 3 năm 1946. Với khoảng hơn 6.500 quân, chúng từ Hải Phòng theo đường số 5 vào Hà Nôi đóng giữ tại 45 địa điểm khác nhau, trong đó lực lượng cơ động có đến 4.000 tên đóng tại sáu nơi quan trọng: Thành Hà Nội, Trường An-be Xa-rô (Số 2 Hoàng Văn Thụ ngày nay), Phủ Toàn quyền (Phủ Chủ tịch hiện nay),  Trường Bưởi (Trường Chu Văn An, Hà Nội hiện nay), Đồn Thuỷ (Viện quân y 108 hiện nay) và Sân bay Gia Lâm.

        Như vậy là từ cuối tháng 3 đến hết tháng 6 năm 1946, trong Hà Nội lúc nhúc hai quân đội Tưởng – Pháp, đứa mới vào và đứa sắp đi lục đục với nhau vì quyền lợi, bắn nhau nhiều phen ( Ngày 28 tháng 2 năm 1946 theo hiệp ước Hoa – Pháp được ký tại Trùng Khánh. Theo hiệp ước này Pháp đồng ý trả cho Tưởng Giới Thạch các tô giới ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Đông, bán lại đường xe lửa Hà Nội – Vân Nam trên đất Trung Quốc (từ Hồ Kiều đến Côn Minh; Pháp nhường lại cho Tưởng một “khu đặc biệt” ở cảng Hải Phòng, ở đó Tưởng được tự do nhập hàng và có quyền kiểm soát hải quan. Về phần Tưởng sẽ nhường cho quân Pháp thay thế quân Tưởng ở miền Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất nhường quyền thống trị nhân dân ta cho Pháp.

        Tuy vậy, lính Tưởng nhìn lính Pháp vẫn bằng con mắt gầm ghè của những kẻ đang ăn bị kẻ khác đến tranh phần, và xung đột giữa chúng tất nhiên xảy ra ở các nơi. Ở Hà Nội ngày 31 tháng 3, thời hạn rút quân cuối cùng của quân đội Tưởng đã đến, thì cuộc xung đột đầu tiên nổ ra, quân Tưởng nổ súng vào toán lính Pháp. Ngày 1 tháng 4, hai chiếc ô tô của quân Tưởng và quân Pháp đâm vào nhau, quân Tưởng nổ súng luôn. Ngày 21 tháng 4 cuộc xung đột lớn nhất lại xảy ra giữa quân Tưởng và quân Pháp trước cửa hàng bán hoa ở ngã tư Tràng Tiền. Hai bên bắn nhau, súng nổ lan ra nhà thuỷ tạ Bờ Hồ, phố Hàng Da, đường Cột Cờ, đường Mai Hắc Đế. Pháp và Tưởng đều có hàng chục tên lính bị chết và bị thương.

        Quân Tưởng tại Hà Nội đang cố tìm ra một cái cớ để dây dưa ở lại. Cái cớ đó chúng không tìm được ở những va chạm giữa ta với Pháp thì chúng tạo ra bằng những cuộc xung đột nhỏ giữa chúng với Pháp).

        Tháng 7, thực dân Pháp đã mưu tính một kế hoạch lớn. Lấy cớ ngày 14 tháng 7 là ngày quốc khánh Pháp, chúng dự định tổ chức một cuộc diễu binh trọng thể và mời bộ đội ta cùng tham dự với tư cách là “quân đội một nước tự do trong khối liên hiệp Pháp”. Chúng dự định gây ra một vụ nổ nhỏ để châm ngòi cho một vụ nổ lớn. Kẻ châm ngòi là lũ đảng phái phản động Đại Việt và Việt Nam Quốc dân đảng. Lũ này sẽ nổ súng vào một khối trong đội hình diễu binh của quân Pháp (tất nhiên là chỉ bắn vào đám lính da đen). Khi có tiếng súng nổ thì một mặt quân Pháp sẽ quay súng bao vây các đơn vị bộ đội ta cùng tham dự diễu binh với chúng, mặt khác bọn thực dân sẽ lấy cớ “duy trì an ninh” tung lực lượng cơ động ra chiếm các công sở, các cơ quan Chính phủ ta tạo điều kiện cho lũ Việt gian tay sai của chúng làm đảo chính cướp lấy chính quyền Trung ương và Chính quyền ta ở Hà Nội. Nhưng kế hoạch lớn này của các nhà tham mưu thực dân đã thất bại. Bởi vì trước ngày 14 tháng 7, ngay tại Hà Nội, ta tiến hành một đợt hoạt động nhanh như sét đánh, cùng một lúc vây quét hết các ổ phản động. Âm mưu bị lộ, bọn thực dân Pháp liền bãi bỏ cuộc diễu binh này.

        Bấy giờ, trong hàng ngũ tướng lĩnh xâm lược Pháp đã có những mâu thuẫn sâu sắc về biện pháp tiến hành chiến tranh xâm lược. Tướng Lơ-cléc kẻ phải đối địch chật vật với cuộc chiến tranh toàn dân của ta ở Nam vĩ tuyến 16 đã phần nào thấy được vấn đề, không thể dùng biện pháp quân sự được, y chủ trương tiến hành “diễn biến hoà bình”. Nhưng bọn chủ chiến mạnh thế hơn, do vậy, Lơ-cléc đã phải từ chức, về Pháp, và tướng Va-luy lên nắm quyền tổng tư lệnh lực lượng xâm lược, đẩy mạnh các kế hoạch khiêu khích, lấn chiếm trên khắp đất nước Việt Nam.

        Tại Hà Nội, quân Pháp dần dần lấn chiếm nhiều vị trí quan trọng, nhằm tạo ra một thế trận chia cắt các lực lượng ta ở trong Hà Nội và có thể nhanh chóng đánh úp ta chiếm cả thành phố. Ví dụ:  ở ngay trước mặt trại Vệ quốc đoàn Trung ương (Nay là 40 Hàng Bài), địch cắm một trung đội, đóng trong rạp chiếu bóng Ma-giét-tích (sau này là rạp Tháng Tám); đối diện với Bắc Bộ phủ, nơi làm việc của Chính phủ ta, chúng cắm 200 lính trên tầng cao của khách sạn Mê-tơ-rô-pôn (sau là khách sạn Thống Nhất)...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #248 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:15:31 am »


        Thế đó, kẻ địch quân đông, có đủ các loại vũ khí, xe tăng, tàu chiến, máy bay. Mà ta thì lực lượng Vệ quốc đoàn chỉ có 5 tiểu đoàn, người nhiều hơn súng (Vũ khí của ta lúc này có 1.500 khẩu súng trường (trong đó một nửa là súng khai hậu, súng bắn chim, 4 khẩu đại liên 12,7 ly, 7 khẩu cao xạ 75 ly dùng làm pháo mặt đất, một khẩu ba-dô-ca với 5 viên đạn, 20.000 viên đạn các loại, 1.000 quả lựu đạn, 80 bom ba càng, 200 chai xăng Crếp, v.v), chưa được huấn luyện bao nhiêu, lại phải đóng phân tán rải rác khắp nội ngoại thành phố để bảo vệ các công sở, nhà máy; đã thế, tại nhiều vị trí quan trọng như nhà máy điện, nhà máy nước, nhà ga, cầu Long Biên, nhà ngân hàng... ta và địch cùng đóng quân canh gác chung. Vậy làm thế nào để thực hiện đúng như chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng: nhanh chóng chuẩn bị sẵn sàng tư thế chiến đấu, đồng thời phải hết sức tránh không mắc mưu khiêu khích của địch.

        Thật là khó! Bởi vì, nếu không gấp rút chuẩn bị sẵn sàng tư thế chiến đấu thì khi địch trở mặt đánh úp, ta sẽ không kịp trở tay. Ngược lại, ta ráo riết chuẩn bị, sẽ gây nên không khí căng thẳng và đó là cái cớ cho địch gây sự với ta, mà lúc này ta đang cần giữ thế hoà hoãn, tranh thủ hoà bình được ngày nào có lợi ngày ấy, thêm được thời gian củng cố lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Khó nữa là bộ đội ta đang phân tán đóng khắp nơi trong thành phố, thu lại thành đơn vị đại đội, tiểu đoàn tập trung thì cơ quan công sở không có ai bảo vệ, mà cũng dễ lộ ý định, địch sẽ lấn chiếm ngay. Nhưng nếu không tập trung lại thì làm thế nào tranh thủ nắm chắc lực lượng để khi cần là chỉ huy chiến đấu được ngay.

        Khó lắm, ngồi một chỗ mà nghĩ, mà bàn luận với nhau thì chẳng ra mưu kế gì hay, càng nghĩ đầu óc càng thêm rối mù!

        Sau khi thống nhất chủ trương, Bộ chỉ huy mặt trận phân công Trần Độ xuống các đơn vị kiểm tra và cổ động (nay gọi là động viên) cán bộ, chiến sỹ. Tôi lo việc tổ chức các trận địa chiến đấu. Trước hết tôi bỏ ra một tuần lễ liền cùng với đồng chí quân báo cọc cạch hai chiếc xe đạp đi khắp thành phố, qua hết đường lớn đến ngõ hẻm: lúc xem xét một vị trí đóng quân của địch, khi thì gặp gỡ trao đổi bàn bạc với anh em bộ đội, anh em tự vệ. Qua cuộc đi này tôi thu hoạch được nhiều ý kiến hay, vừa giàu trí mưu lược vừa thể hiện khí phách anh hùng của một dân tộc không bao giờ chịu khuất phục uy lực của quân xâm lược.

        Tại Bắc Bộ phủ, các đồng chí ta dự định đào một đường ngầm xuyên dưới nền khách sạn Mê-tơ-rô-pôn, xếp bom vào đó, khi địch trở mặt ta cho nổ tung.

        Bên trại Vệ quốc đoàn Trung ương, các đồng chí cũng dự định đào đường ngầm như thế để đánh bom tiêu diệt bọn địch bên rạp Ma-giét-tích  và một đường ngầm nữa sang nhà tên Bảo Đại ở bên đường Găm-bét-ta (Đường Trần Hưng Đạo ngày nay), đó là đường bí mật cơ động lực lượng từ trong ra, ngoài vào...

        Tôi đã đến nhiều khu phố để xem xét các đơn vị tự vệ Thành chuẩn bị chiến đấu. Số anh chị em này đại bộ phận là công nhân và các tầng lớp lao động khác. Anh chị em vốn sẵn có tinh thần yêu nước, lai bị đế quốc phong kiến áp bức bóc lột nặng nề khi được giáo dục, động viên họ không những hăng hái nhiệt tình mà còn có rất nhiều mưu kế đánh địch, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu quên mình để bảo vệ Thủ đô, bảo vệ Tổ quốc. Đó là một lực lượng đáng quý. Ở Hà Nội, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, do ta phải luôn luôn che giấu lực lượng Vệ quốc đoàn để né tránh các âm mưu của các kẻ thù, cho nên thường xuyên lực lượng tự vệ Thành ở các khu phố phải đảm đương vai trò chính trong việc giữ gìn trật tự, an ninh, kể cả việc đấu chọi với bọn đảng phái phản động và kìm hãm, ngăn chặn những hành động khiêu khích, cướp bác của quân Tưởng Giới Thạch, quân xâm lược Pháp. Bọn phản động, bọn Tưởng Giới Thạch và cả bọn Pháp nữa rất kiêng nể lực lượng “sao vuông” này. Chính vì vậy mà hôm Thường vụ Trung ương Đảng trao nhiệm vụ cho tôi, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã căn dặn kỹ càng: Phải đặc biệt chú ý đến lực lượng tự vệ Hà Nội.

        Trong tự vệ Thành, ngoài nam nữ thanh niên công nhân, những người lao động thủ công, những học sinh, sinh viên, còn có một số người đã đứng tuổi, ngoài 40, bà con trong phố vẫn quen gọi kiểu cũ là ông phán, ông ký, ông La-mốt, ông Ben-la Phô-tô, ông Phúc Tân, v.v. Những anh em này vốn bị bọn thống trị chèn ép, sẵn có tinh thần ghét Tây, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, được cách mạng giáo dục, hun đúc thêm lòng yêu nước nên họ hăng hái gia nhập tổ chức tự vệ Hà Nội, tự bỏ tiền ra may quần áo ka-ki theo kiểu quân sự, lại thích được mọi người gọi là “anh”, là những chàng trai Hà Nội. Họ nhiệt tình hăng hái, xông xáo trong các việc trị an, trấn áp phản động, tâm hồn họ đã trẻ lại trong cao trào cứu nước của toàn dân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #249 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 10:16:03 am »


        Một hôm, nhân đi quan sát vị trí đóng quân của địch bảo vệ nhà viên tướng Moóc-li-e ở phố Hàng Trống (nay là toà báo Nhân dân), tôi tìm gặp hỏi chuyện anh đội trưởng tự vệ phố Nhà Thờ. Anh này mới qua một lớp huấn luyện quân sự tại Trường Hồ Chí Minh, trường đào tạo cán bộ tự vệ do Thành uỷ Hà Nội tổ chức. Anh trình bày ý định chuẩn bị tác chiến vẫn với cung cách của một học sinh hiếu động:

        - Ở đây khó chơi với chúng nó lắm. Anh tỉnh, đầu phố là nhà Moóc-li-e, có gần một trung đội lê dương, cuối phố là khu nhà Pháp kiều. Minh làm gì chúng nó nhìn hết. Nhưng không sao, phải có cách chơi lại chúng nó chứ. Chúng tôi đã bí mật khoan lỗ vào một số thân cây ở hai đầu phố. Đã xoay được mìn rồi. Khi có lệnh, nhét mìn vào lỗ đó, cho nổ, thế là chỉ trong nháy mắt là có vật chướng ngại, cắt đường. Cây đổ đè chồng lên nhau, cài vào nhau thì chắc lắm, xe tăng không húc nổi đâu. Chúng nó mà xua lính ra cưa thì ta tỉa cho ngoẻo ngay.

        Anh đội trưởng dẫn tôi vào một căn nhà ở đầu phố. Anh cẩn thận khép kính cửa ra vào rồi chỉ vào một bộ ghế ngựa kê sát bức tường trông ra ngoài đường và nói: đây là một vị trí chiến đấu. Anh lật một tấm phản lên. Dưới gầm bộ ghế ngựa lộ ra một cái hố mới đào, người đứng đến ngang ngực, và phía chân tường là một lỗ đục dở dang, chỉ cần mấy nhát xà beng, đánh bật một viên gạch ra thì thành cái lỗ châu mai, chĩa súng ra ngã tư đường. Một vị trí chiến đấu khá bất ngờ.

        - Phố này, ngả nào xe tăng, xe thiết giáp địch cũng xộc vào được đến đầu các phố, mà ta thì...

        Tôi đang định đặt một câu hỏi để thăm dò ý định tác chiến của đội tự vệ phố Nhà Thờ thì anh đội trưởng đã nhanh nhảu cướp lời:

        - Vâng, xe của chúng nó sẽ chiếm được hai đầu phố, dễ dàng thôi. Chúng nó sẽ đặt súng bắn dọc đường, kiểm soát suốt dọc phố này. Nhưng thế thì ăn giải gì, phải không anh. Chúng chỉ mạnh ở ngoài đường thôi. Xe tăng có xông được vào trong nhà, trong ngõ đâu? Chúng tôi đã bàn nhau: ta phải kiên quyết đánh giữ từng bờ tường, từng góc sân...

        Những suy nghĩ, những việc làm thực tế của quần chúng dội vào đầu óc tôi, mở ra cho tôi một hướng chuẩn bị tích cực để thành phố đi vào chiến đầu. Tôi dự kiến những vấn đề sau đây sẽ đưa ra Bộ chỉ huy mặt trận thảo luận và quyết nghị:

        Một là, bí mật đào đắp công sự, hố chiến đấu ở trong nhà, trong vườn, trong ngõ ngách. Ở các nhà có ban công hướng ra ngoài đường thì chuẩn bị sẵn những bao cát, khi cần đem ra ban công xếp thành ụ súng;

        Hai là, đục tường thông nhà này qua nhà khác để bí mật có động lực lượng, khi tiến khi thoái, ở trong từng dãy phố, từng khối phố;

        Ba là, chuẩn bị sẵn những vật cồng kềnh, như xe bò, xe rơ-moóc, thùng sắt, thùng gỗ, hòm, bàn, ghế... để khi có lệnh thì lao ra đường, đồng thời chuẩn bị sẵn các phương tiện, công cụ, biện pháp chặt cây, ngả cột điện làm vật ngăn chặn từng quãng đường phố.

        Những kết quả về trinh sát địch, tôi chấm lên bản đồ, cái bản đồ hành chính của thành phố in từ thời Pháp thuộc với những tên phố  mang tên quan lại, tướng ta thực dân. Căn cứ vào những kết quả trinh sát, tôi dự kiến địch sẽ đánh úp ta ra sao? Các mũi tiến quân mà chúng sẽ theo những đường phố, thọc ra tới đâu? Và như vậy ta cần phải tổ chức chặn địch ở những đoạn nào, và phân chia khu vực tác chiến như thế nào cho thích hợp...

        Hồi đó cơ quan chỉ huy chưa có quy củ, việc lập kế hoạch tác chiến cũng chưa có bài bản như hiện nay, thường thì cứ vừa làm vừa bàn bạc với anh em, vừa làm vừa kiểm tra như đặt một điểm chặn, hay một tuyến đường thông tin, một tuyến tiếp tế thì chấm, thì vạch lên bản đồ, rồi lại đạp xe đi xem xét lại thấy chưa ăn khớp thì thay đổi. Tấm bản đồ kế hoạch tác chiến của tôi mỗi ngày một hêm những ký hiệu, những nét tẩy, nét xoá, những ghi chú bổ sung, trông mà rối mù, cuối cùng chỉ mình tôi mới có thể hiểu được, đọc được những ký hiệu, những ý định ghi chi chít dọc ngang, ngang dọc đó.

        Có những lần tôi ngồi cả buổi trước tấm bản đồ rắc rối ấy, cứ như người mê cờ ngồi suy nghĩ về các thế cờ, tính những nước đi trước trên bàn cờ vậy. Ngồi nhìn thế địch mà tôi cứ suy nghĩ làm thế nào để thực hiện được ý kiến của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng chỉ thị cho Mặt trận Hà Nội, trong buổi tôi lên nhận nhiệm vụ:

        - Phải sẵn sàng để khi địch trở mặt là ta đánh trả lại ngay tức khắc; không cho chúng đánh úp Thủ đô ta, bắt chúng đối phó bị động.

        - Phải thực hiện kìm giữ địch một thời gian trong Hà Nội, không cho chúng mở rộng chiến tranh ra ngoài.

        Nghĩ mãi, rồi cũng tìm ra cách đánh, tôi đem những suy nghĩ của tôi trình bày với các đồng chí trong Bộ chỉ huy mặt trận và các cán bộ tham mưu. Nhiều người cùng bàn bạc, nảy thêm lắm ý kiến, đúng có, mà không đúng cũng có, song đúng hay không cũng đều bổ ích cả, vì khi tranh cãi về một ý kiến không đúng thì lại càng thấy rõ hơn phải đánh thế nào mới hợp với sức ta, đúng như phương châm Đảng đã chỉ đạo.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM