Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Năm, 2020, 11:38:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh  (Đọc 34354 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #230 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:39:32 am »


        Sau một tuần ở Tú Lệ, đội tiếp tục tiến vào vùng Kim Nọi. Trời bắt đầu mưa tầm tã ngày này qua ngày khác. Đèo trơn, suối lũ, cuộc hành trình lúc đó mới bắt đầu vất vả. Suối lũ ở Tây Bắc quả là dữ. Đoàn quân không dài lắm, những người đi trước khi lội qua nước mới chỉ tới quá đầu gối, đến người cuối cùng bước xuống, nước đã ngập ngang cổ. Cũng trong thời kỳ đó, trong lúc toàn đội đang tiến thì quân Pháp đã tập trung hàng mấy trăm tên, từ Lai Châu kéo về, từ Than Uyên kéo ra để chuẩn bị càn mà đội không hề biết.

        Khi tới Cáp Na, chưa tới Kim Nọi, toàn đội đã sa vào trận địa phục kích của địch. Mặc dầu tinh thần chiến đấu rất dũng cảm nhưng bị lâm vào thế bị động, toàn đội buộc phải chia ra làm ba tổ để rút. Đồng chí Luân nắm một bộ phận rút về vùng Bản Khì. Đồng chí Hồng Quân cùng với hai tiểu đội lui trở lại phía Tú Lệ, định liên lạc với đại đội Kim Sơn (nhưng đại đội này đã lên vùng đồng bào Mèo từ trước). Thấy đạn dược của toàn đội bị tiêu hao gần hết trong trận phục kích vừa qua, Hồng Quân quyết định quay trở ra Nghĩa Lộ để bắt liên lạc với quân khu, xin tiếp tế. Trời vẫn mưa, suối lũ vẫn ngập tràn. Tới Ngòi Thia, Hồng Quân cùng anh em chặt chuối làm mảng để vượt qua. Trong khi ấy, ở bên kia sông, một toán địch đi tuần kéo tới.

        Hồng Quân cầm sào nhảy xuống chiếc bè đầu tiên cùng đồng chí Năng - một đội viên trong đội trước kia là chính trị viên tiểu đoàn. Cả hai người vừa mới đẩy bè ra tới giữa dòng thì một băng trung liên từ bụi cây bên bờ bên kia đột ngột nổ xé. Hồng Quân ôm lấy ngực, ngã vật ngửa trên bè. Năng cũng không kịp nói một lời, buông ngay cây sào, ngã xuống... và cứ thế chiếc bè tiếp tục băng băng trôi theo dòng nước lũ. Tất cả những đồng chí còn lại đành gạt nước mắt, quay trở lại Cáp Na, tìm bắt liên lạc với bộ phận của đồng chí Châu Thành đang bám dân, cố thủ ở đó. Mưa vẫn sùi sụt. Bản Khì nằm lọt trong một vùng nước lũ bao quanh. Ta không ra được mà địch cũng không vào được. Cho đến lúc này anh em trong đội mới bắt đầu thấm bài học chủ quan, mới bắt đầu biết là cần phải bám lấy dân, tích cực giáo dục, tổ chức nhân dân mới có thể sống để chiến đấu và chiến thắng.

        Nhân dân Bản Khì vốn đã nghèo đói, nay bị mưa lũ giam chân, địch lại vây chặt bốn phía không đi rừng tìm củ mài, củ sắn được nên càng đói khổ. Tuy nhiên, không có một ai quên bộ đội. Còn một mẩu sắn cũng chia đôi.

        Một tháng sau, trời hửng nắng, lũ rút. Nhân dân lại đeo dao, lên núi kiếm ăn. Anh em võ trang tuyên truyền cũng chuẩn bị lên đường định đi bắt liên lạc với bộ phận đồng chí Luân, nhưng một trận càn nữa lại ập tới: Trận càn này còn lớn hơn trận trước gấp bội. Hơn một nghìn quân từ Mường Cang đánh xuống, hai trăm quân từ Nghĩa Lộ đánh lên. Lần này địch không ồ ạt tấn công như trước mà chia thành từng mũi nhỏ lùng sục tất cả các ngọn nguồn, khe núi. Các cơ sở của đội mới xây dựng bị phá tan hoang. Hàng loạt thanh niên nam nữ bị bắn chết. Bộ phận võ trang tuyên truyền lại bị vỡ môt lần nữa. Một số đồng chí hy sinh, một số dạt lên vùng đồng bào Mèo, một số bật trở lại sồng Hồng, mặc dầu đã vào sâu được khoảng hai trăm cây số.

        Đội xung phong Trung Dũng đi theo một đường khác. Đội này quân số ít hơn, chỉ có mười bảy đồng chí, đại đa số là người dân tộc Thái, quê hương dọc sông Mã. Đồng chí Xích Vân được trao trách nhiệm chỉ huy, đưa anh em vượt sông Hồng, tiến vào đất Sơn La để bắt liên lạc với đồng chí đội trưởng Lê Thanh. Đồng chí Lê Thanh đã hoạt động từ trước ở vùng Mộc Thượng, Mộc Hạ, một vùng cơ sở nhỏ bé còn lại ở phía dưới Mộc Châu thuộc đất Sơn La. Vùng cơ sở này do Tỉnh uỷ Sơn La đã kiên trì giữ vững suốt từ khi địch đánh chiếm Sơn La, bộ đội chủ lực bị bật ra ngoài bờ sông Hồng, sang Phú Thọ, Mộc Thượng, Mộc Hạ có đấy đủ tính chất một căn cứ du kích đặc biệt. Nhân dân nơi này dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ đã rời bản vào các triền núi đã hiểm trở làm lán ở, bất hợp tác với giặc đến cùng. Trong vùng núi đá ấy, nhân dân đã sống triệt để theo quân sự hoá, các gia đình đều chia thành từng tiểu đội, trung đội tương tự như bộ đội. Tất cả nam nữ thanh niên đều vào du kích. Nam thanh niên có nhiệm vụ chủ yếu là canh gác, tuần tra, đánh giặc bảo vệ cho nữ thanh niên làm nương sản xuất. Lương thực thu hoạch được bao nhiêu đem chia đều theo đầu người. Ở đây không còn kinh tế cá thể. Mọi người gần như sống theo chế độ cung cấp, kể cả các tỉnh uỷ viên cũng cùng ở với nhân dân. Khi đồng chí Xích Vân đưa toàn đội đến cũng được cấp phát mỗi đồng chí mỗi ngày một nắm xôi như tất cả mọi người khác trong khu căn cứ. Trước nếp sống chiến đấu rất mới mẻ ấy, các đồng chí chúng ta không khỏi thầm thán phục và hiểu ra: quả là nhân dân Tây Bắc cũng rất anh hùng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #231 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:41:38 am »


        Sau mấy ngày dừng lại ở Mộc Thượng, Mộc Hạ, toàn đội võ trang xung phong Trung Dũng tiếp tục lên đường. Lần này đi đã có thêm đồng chí Lê Thanh, đội trưởng. Toàn đội vẫn hướng về cái đích cuối cùng do Bác đã chỉ thị là Điện Biên Phủ. tới bản A Má, một bản vẫn nằm trong vùng du kích, toàn đội dừng lại vì được tin địch sẽ về sục sạo, khủng bố. Đồng chí Lê Thanh, Xích vân nhất trí với nhau: phải tìm mọi cách bảo vệ dân. Sau khi điều tra, biết bọn địch hay về càn không phải ai xa lại, chính là một tên người làng hiện làm châu đoàn (chỉ huy dõng toàn châu) ở Mộc Châu. Lần nào về, gã cũng đem theo lính để lùng bắt cán bộ quần chúng cơ sở và cướp bóc gà, lợn. Đồng chí Xích Vân, Lê Thanh bèn tìm đến nhà người em ruột của tên châu đoàn. Anh này là một thanh niên tốt. Các đồng chí ta bèn nói với anh Lò Văn Tình (Em tên châu đoàn) cần phải theo dõi mọi hoạt động của tên phản quốc kia và giúp cho đội bắt nó. Anh Tình không những không ngần ngại, mà vui vẻ nhận lời ngay. Quả nhiên hôm sau tên châu đoàn đem lính về, anh Tình đã bày mưu đưa cán bộ ta ập vào nhà bắt. Tới khi tên châu đoàn bị trói chặt, bấy giờ Tình mới khóc: “Dầu sao nó cũng là anh em với tôi, nay đã đưa cán bộ về bắt được nó rồi, tôi chỉ xin đội tha chết cho nó, còn bắt tù bao nhiêu năm cũng được!”. Rất cảm động trước tinh thần cách mạng, lòng yêu nước của người thanh niên hiền lành chất phác này, các đồng chí ta nhận lời sẽ tha giết tên châu đoàn. Lò Văn Tình mừng lắm, đề nghị được đi theo đội. Về sau, dần dần anh đã trưởng thành, trở nên một trong những người cán bộ trung kiên, xứng đáng.

        Sau khi rời A Má, toàn đội bắt đầu đi vào vùng địch hậu theo nghĩa hoàn toàn đầy đủ của nó. Cũng bắt đầu từ đây toàn đội thay đổi chiến thuật, dùng lối “nhảy dù”; có nghĩa là dùng một bộ phận táo bạo đi thật nhanh, thật sâu vào vùng tạm chiếm để tiến. Khi tới một cái đích đã định sẵn, bộ phận này mới dừng lại và tiến hành gây cơ sở. Trong khi đó bộ phận ở phía sau cứ tiến dần, vừa tiến vừa gây cơ sở hai bên đường để nối với cái đích mà bộ phận trước đã “nhảy dù” xuống. Cứ thế liên tục tiến lên, cho tới khi vào tới Điện Biên Phủ.

        Đồng chí Lê Thanh được phân công trực tiếp chỉ huy bộ phận đi trước. Đồng chí Xích Vân chỉ huy bộ phận đi sau. Để che mắt địch cho dễ hoạt động và đi lại được dễ dàng mau chóng, bộ phận “nhảy dù” nảy ra một mẹo nhỏ: giả trang làm binh lính địch về phép. các đồng chí đã cố tìm được một bộ ka-ki giao cho một đồng chí cao lớn nhất mặc giả làm đội, còn các đồng chí khác mặc theo kiểu lính dõng. Sau khi đã giả trang, các đồng chí ta rất yên tâm có thể che mắt được địch, che mắt được cả nhân dân hai bên đường. Nhưng không ngờ qua ba ngày đi đường, các đồng chí ta tới đâu nhân dân cũng đều nhận ra ngay là Bộ đội Cụ Hồ. Bởi lẽ, dù mặc giả địch, nhưng qua cách cư xử, các đồng chí ta vẫn hoàn toàn bộc lộ ra bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng. Đi tới đâu, các đồng chí ta cũng được nghe những câu nói gần như giống nhau: “Không phải Pháp đâu! Lính của Pháp đến chỗ nào là đánh người, trêu phụ nữ, bắt gà, bắt lợn chỗ đó. Các anh không làm như thế, đúng là Bộ đội Cụ Hồ rồi!”.

        Thấy nhân dân nhận ra mình, các đồng chí ta đều lo lắng. Ai dám bảo đảm rằng quân địch sẽ không có chỉ điểm, tạo bản đến báo Pháp: “Việt Minh đã đột nhập vùng này!”. thế nhưng qua ba ngày đóng vai kịch bất đắc dĩ ấy, đi qua hết bản này tới bản khác, toàn đội vẫn hoàn toàn bình yên, vô sự. Thậm chí có nơi tạo bản còn ra lệnh cho dân làng: “không ai được bép xép lộ bí mật của các đồng chí!”. Một lần nữa, các đồng chí ta thêm tỉnh ngộ: trước sau nhân dân Tây Bắc vẫn một lòng yêu nước, vẫn tiến theo lá cờ của Đảng, mặc dầu vẫn đang bị địch kìm kẹp, o ép rất ngặt nghèo, khổ cực. Không một đồng chí nào không đọc được những niềm vui sướng, mừng rỡ trong ánh mắt của từng người dân khi họ rụt rè đến gần và khe khẽ kêu lên: “Ôi, các anh Bộ đội Cụ Hồ...”.

        Sau ba ngày đi miết, các đồng chí ta tới Mường Sài, một bản ở gần sông Mã, cách biên giới Việt – Lào chẳng còn bao xa. Đây là cái đích đã được chọn để cho đội “nhảy dù” cắm lại. Đồng chí Lê Thanh đưa anh em vào rừng làm lán ở tạm rồi cử một đồng chí trong đội trước đây vốn là chủ tịch Mường Sài hồi chưa bị giặc tạm chiếm trở về làng tìm cách bắt liên lạc với gia đình. Trong đội còn có một đồng chí trước làm thư ký uỷ ban một xã ở bên cạnh. Đồng chí này cũng được phái về làng để gây cơ sở.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #232 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:43:53 am »


        Công việc trong những ngày đầu khá trót lọt, tốt đẹp. Các đồng chí ta dựa vào các cơ sở mới được gây dựng lại, chia làm ba nhóm hoạt động rải ra một vết dài mấy bản liền nhau từ Chiềng Khương xuống Mường Sài. Trước tình hình đó, đồng chí Lê Thanh bèn cử người quay lại để đón bộ phận của đồng chí Xích Vân. Nhưng chỉ mấy hôm sau đã có những tin chẳng lành đưa về.Hai đồng chí đi đón bộ phận đồng chí Xích Vân đã bị địch phục kích bắn chết một. Quân địch đang tập trung để kéo về Mường Sài càn quét. Khi các đồng chí ta vừa kịp chuyển địa điểm vào rừng thì quả nhiên cuộc càn quét đã nổ ra. địch bắt bớ nhân dân, lùng rừng, sục núi rất ráo riết. Tất cả các đường dây liên lạc giữa đội và cơ sở đều bị cắt đứt.

        Bọn địch ở đây càn quét rất dai dẳng, có ý dồn các đồng chí ta lâm vào tình thế bế tắc. Đứng không yên nữa, các đồng chí trong đội đã buộc phải rời bỏ Mường Sài, vượt núi kéo sang một bản khác. Bản này toàn người mắc bệnh hủi. Nhưng vì lòng nhân đạo của đảng, vì cần thiết phải có cơ sở trong nhân dân, các đồng chí ta không quản bệnh tật, bí mật lần xuống núi, tìm vào từng nhà đồng bào. Nom thấy các đồng chí ta, mọi người không khỏi ngạc nhiên và cảm động. Tất cả đều khóc: “Ôi! Cụ Hồ, Chính phủ đã không ruồng bỏ những người tật bệnh như chúng tôi..., ơn này biết lấy gì đền đáp...”. Từ buổi đó, các đồng chí ta đã có một chỗ ẩn náu để hoạt động. Nhưng cũng chẳng được bao lâu, quân địch từ Mường Sài đánh hơi thấy quân ta xuất hiện ở đây, lại kéo quân sang truy lùng dữ dội. Giữa lúc đó, bộ phận đồng chí Xích Vân ở phía sau kéo lên. Nhận thấy chưa thể tập trung được, đội vẫn phải bắt buộc phân tán, đồng chí Xích Vân đành phải đưa bộ phận của mình quay trở lại, đồng thời làm nhiệm vụ nghi binh để thu hút địch, đỡ đòn cho bộ phận đồng chí Lê Thanh. Kế hoạch ấy có hiệu quả. Bọn địch ở Mường Sài và ở bản đồng  bào hủi thấy có dấu hiệu quân ta rút lui, bèn hấp tấp kéo quân đuổi theo. Thế là vòng vây được giải toả. Tình hình Mường Sài dần dần trở lại yên tĩnh. Nhưng cũng chỉ được ít ngày, quân địch lại từ các đồn Mai Sơn và Then Luông (trên đất Lào) kéo vào càn quét.

        Trận càn quét này còn có phần ác liệt, dai dẳng hơn trận trước. Các đồng chí chúng ta và nhân dân địa phương lại sống những ngày cực kỳ căng thẳng. Tất cả các bản bị vây chặt. Không một người nào được phép ra rừng. Tất cả các đường mòn, khe suối đều có trạm lính gác. Các đồng chí ta bị dồn lên tận một mỏm núi cao nhất, không có một khe nước nhỏ, không có một thứ củ rừng nào có thể ăn được. Bệnh tật bắt đầu hoành hành cùng với những cơn đói kéo dài đến kiệt sức. Tất cả anh em nhìn nhau lắc đầu, muốn ứa nước mắt. Mấy hôm sau, quân ta bắt đầu rút khỏi vòng vây, đi ngược trở lại, lần tìm trở về căn cứ Mộc Thượng, Mộc Hạ...

        Riêng đội xung phong Quyết Thắng lên đường có phần sớm hơn hai đội kia một vài tuần. Hướng đi của đội theo phía Cam Đường (Lào Cai) – Phong Thổ rồi xuống Tuần Giáo, vào Điện Biên Phủ. Đội xung phong Quyết Thắng vượt sông Hồng vào một đêm tối trời, mưa tầm tã. Đặt chân sang tới bờ bên kia, toàn đội đã bắt đầu sống với núi rừng hoang vu. Các làng, bản đều đã bị địch đốt cháy từ lâu. Nhân dân một phần bị tập trung vào các chân đồn, một phần chạy tản mát vào núi. Toàn đội im hơi lặng tiếng, tìm đường để tiến vào phía Châu Quế, Vũ Lao sau đó sẽ ngược lên Cam Đường. Tất cả các con đường mòn có sẵn địch đều kiểm soát rất ngặt. Các cứ điểm ở đây hình như có phần còn dày hơn ở các vùng phía dưới. Toàn đội đã phải chiếu hướng, xuyên rừng mà đi. Gặp núi vượt núi, gặp suối lội suối, gặp khe xuống khe, phá rừng lấy đường mà đi, gian nan cực khổ không sao kể xiết. Người khoẻ dìu người ốm, toàn đội nghiến răng, cố gắng bước, không một ai chịu lùi. Nhưng đến một hôm, khi toàn đội vừa mới ra khỏi cửa rừng, chưa tới Châu Quế đã gặp địch. Trận đánh diễn ra rất bất ngờ. Quân địch đông gấp bội. toàn đội phải phân tán sau những giờ chiến đấu quyết liệt. Từng đồng chí, từng bộ phận phải hái rau rừng để ăn, chém gốc nứa lấy nước để uống và tìm đường quay trở lại.

        Sau một thời gian củng cố, toàn đội lại vượt sông Hồng lần thứ hai, tiến vào Tây Bắc. Tuy nhiên do chưa già dặn trong công tác ở vùng địch hậu, khi tới gần Châu Quế, anh em lại bị địch vây càn ráo riết. Toàn đội lại bật trở ra một lần nữa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #233 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:45:14 am »


        Thất bại liên tiếp, rồi bệnh tật, ốm đau, hy sinh, không thực hiện được nhiệm vụ. Suốt mấy tháng đầu năm 1948, tất cả các độ võ trang tuyên truyền của liên khu đã phải trải qua những bước đường thật gian nan, những thử thách thật nặng nề! Liên khu uỷ, Bộ tư lệnh Liên khu cũng trải qua những ngày lo nghĩ thật căng thẳng. Phương châm, đường lối của Đảng rất đúng, nhưng tại sao mọi việc vẫn chưa thắng lợi? Chúng tôi dần dần hiểu ra: chúng tôi vận dụng phương châm, đường lối ấy chưa thật tốt trong liên khu, chưa chỉ đạo tốt các đơn vị trong quá trình hoạt động. Chúng tôi chưa làm cho các độ thấm nhuần sâu sắc, triệt để phương châm của Đảng, nên các đội thường quên nhiệm vụ gây cơ sở, thiên về tác chiến với địch. Có đội quên cả nguyên tắc công tác bí mật. Bệnh “công khai” còn rất nặng nề. điều này hoàn toàn trái với phương pháp hoạt động võ trang tuyên truyền. Tổ chức của các đội cũng chưa thật thích hợp với đặc điểm của chiến trường Tây Bắc. Nói chung tổ chức các đội còn nặng nề, cồng kềnh và thiếu rất nhiều cán bộ người dân tộc địa phương. Ngoài ra, các cán bộ, đội viên của các đội đều chưa được huấn luyện tốt. Tất cả hầu như chỉ mới có được một điều cơ bản là lòng trung thành và tận tuỵ.

        Liên khu uỷ, Bộ tư lệnh Quân khu đã nghiên cứu rất kỹ toàn bộ những vấn đề đó để rồi đề ra chủ trương: phải nhanh chóng củng cố lại các đội, tăng cường tới mức cao nhất cán bộ người dân tộc địa phương. Việc tổ chức huấn luyện luân chuyển cho cán bộ, đội viên của các đội cũng được đặt ra một cách khẩn trương.

        Một hội nghị chuyên đề về công tác võ trang tuyên truyền của liên khu đã được mở ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân khu uỷ. Trên Bộ cũng rất quan tâm tới hội nghị này. Đồng chí Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ xuống tham dự hội nghị. Có thể nói đây là một lớp học sống. Biết bao nhiêu thiếu sót, khuyết điểm đã được vạch ra và phân tích cặn kẽ. Khá nhiều kinh nghiệm bổ ích đã được đúc kết lại thành những bài học, những nguyên tắc để tiến lên giành thắng lợi. Cũng từ cuộc hội nghị ấy niềm tin tưởng đã được dần dần nâng cao. Những tâm lý bi quan, dao động đã được dần dần giải quyết.

        Lại một lần nữa, chúng tôi đem hết tâm lực của mình ra chăm sóc cho các đội để anh em lại có thể mau chóng quay trở vào Tây Bắc.

        Cũng trong thời kỳ các đội võ trang tuyên truyền hoạt động, những đại đội độc lập của liên khu đã phải trải qua rất nhiều khó khăn gian khổ. Các đai đội phải phân tán thành từng tổ nhỏ,  “nhảy dù” vào lòng địch. Hàng tháng trời, các chiến sỹ phải ấn náu trong rừng, chịu đựng đủ mọi gian nan, nguy hiểm. Có những nơi bị địch tuyên truyền lừa gạt, nhân dân thấy bóng bộ đội là lẩn trốn. Thậm chí có nơi đã có người đi báo quân Pháp về vây bắt, hoặc vác dao đuổi giết. Cũng có những nơi nhân dân không nghe những lời xảo trá, xuyên tạc của địch nhưng lại sợ uy thế của chúng, nên gặp bộ đội chỉ đành ứa nước mắt, rồi để nghị hãy tạm lánh đi nơi khác, kẻo địch biết, kéo về khủng bố. Trong khi tình hình nhân dân khó khăn phức tạp thì địch lại luôn luôn vây lùng dữ dội. Chúng treo giải thưởng lớn cho những ai cắt được đầu cán bộ bộ đội. Chúng  phục kích trên các nẻo đường, lần theo khắp các khe suối. Đã có một số đồng chí ta bị bắt hoặc bị giết. Có đồng chí bị lạc chạy hàng tháng trong rừng sâu, phải ăn lá cây cầm hơi.

        Nơi ở cả các chiến sỹ thường là những gốc cây, hàng đá những vẫn phải luôn luôn di chuyển. Có nhiều khi đang đem cũng phải trở dậy, để thay đổi vị trí. Anh em đã phải chịu đựng những cơn mưa rừng tầm tã, những đợt gió lạnh nhức xương, những cơn sốt rét ác tính làm mê man bất tỉnh mà không một giọt hồ, giọt cháo, chưa nói tới thuốc men.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #234 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:47:01 am »


        Gian khổ như vậy, nhưng tất cả các chiến sỹ đã thấm nhuần chủ trương của Đảng, với bản chất cách mạng cao đẹp, vẫn kiên trì bám rừng, bám núi để tiến tới bám được nhân dân mà hoạt động. Nói tới những đại đội độc lập vinh quang ở trên các miền Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái phải nói tới đại đội Thắng Bình, thuộc Trung đoàn X. Từ Lao - Hạ rút trở về vùng Phố Ràng vào thu đông năm 1947, đại đội Thắng Bình là một trong những đại đội độc lập đầu tiên được thành lập của liên khu. Trong những ngày đầu vào vùng Lương Sơn, đại đội Thắng Bình phải phân tán trong rừng sâu nghe ngóng một thời gian sau đó mới lần ra nương để tìm gặp dân. Nhưng vừa nom thấy bóng quân ta, đồng bào đã vội vã bỏ chạy, mặc dầu nương lúa đã vàng hoe, sắp đến ngày gặt hái. “Cái giặc nó về đấy!”. Các đồng chí ta lòng xót như sát muối, đành đứng lại để nguyền rủa bọn giặc Pháp quỷ quyệt đã xuyên tạc, lừa bịp nhân dân đến nông nỗi ấy. Nhưng không hề nản chí, thấy nhân dân bỏ nương chạy các đồng chí bèn bảo nhau trông nom vun xới, rào lại cho thú rừng khỏi phá hoại. Khi lúa chín, các chiến sỹ ta ra gặt hái, gánh về làm lán cất giấu cho nhân dân thật chu đáo. Từ cái máng nước bị hỏng, mảnh nương chưa có người làm cỏ, cho tới con đường ra suối lầy lội..., tất cả đều có những bàn tay ân cần, khéo léo của các đồng chí ta tới sửa sang, làm hộ. Những gia đình nghèo khổ thường xuyên nhận được những bức thư thăm hỏi, có kèm theo theo kim chỉ hay muối trắng. Tất cả những hành động ấy dần dần đã lọt vào trong mắt nhân dân, làm cho mọi người phải suy nghĩ, bàn tán. Đồng bào bắt đầu thấy thương những “người tốt bụng” ấy phải ở rừng, ở núi không có cơm ăn, nước uống tử tế. Đồng bào bắt đầu hiểu được: đây không phải là giặc như quân Pháp đã nói. Người ta dần dần nhớ lại tất cả những chuyện trong những ngày còn tăm tối xưa. Trước đây “những người này” kéo về với lá cờ đỏ sao vàng, đã làm cho dân biết bao điều tốt. Không! Họ nhất quyết không phải là giặc mà ngày xưa, mọi người vẫn quen gọi là Việt Minh, là bộ đội.

        Một hôm, một tổ của đơn vị ra nương thấy có gói cơm nếp và mấy bắp ngô để lại. Hôm sau lại thấy như thế. Anh em đón đợi và gặp một cụ già... Từ đó, đại đội bắt đầu có cơ sở quần chúng đầu tiên, rồi dần dần phát triển lên mãi, từ gia đình này tới gia đình khác.

        Tình hình khá lên dần. Các hình thức đấu tranh với địch như: chống đi phu, chống nộp thuế, chống bắt lính bắt đầu được triển khai và đẩy mạnh. Sau đó, các đội du kích được thành lập. Điều kiện hoạt động vũ trang đã tới. Chi bộ đại đội nhận chỉ thị mới của liên khu phải nắm vững phương châm “đẩy mạnh du kích chiến”, cho nên đã đấu tranh thắng lợi với những tư tưởng “ăn to, đánh lớn”, và nhất là tư tưởng trận địa chiến còn khá nặng nề trong đầu óc nhiều đồng chí cán bộ. Sau đó chi bộ chủ trương lãnh đạo bộ đội đánh một trận phục kích nhỏ trên đèo Mã Yên Sơn để lấy thực tế giải quyết triệt để mọi vướng mắc, hồ nghi còn tồn tại. Lúc này địch đang xây cứ điểm Phố Lu và các cứ điểm vừa chiếm được. Chúng phải luôn luôn di chuyển trên các đường giao thông để tiếp tế lương thực cho nhau. Trận Mã Yên Sơn tuy nhỏ nhưng đã giết gọn được năm tên dõng, thu được một số chiến lợi phẩm. Thắng lợi đầu tiên ấy đã là cho tinh thần chiến sỹ và nhân dân đều phấn chấn hẳn lên. Chi bộ đại đội lại chủ trương chuẩn bị kỹ để đánh tiếp một trận nữa ở Cốc Chiếm.

        Trận phục kích nhỏ lần này đã thắng lợi giòn giã, chiến lợi phẩm gồm một súng trường Mỹ, hai mũ sắt, hai con bò và một túi đầy thư từ. Bắt đầu từ đó các chiến sỹ trong đại đội mới thực sự biết thế nào là đánh du kích và đánh du kích tốt như thế nào.

        Không đầy nửa tháng sau, đại đội lại đi phục kích địch ở làng Bon. Cả đại đội đi với mục đích để anh em “tham quan”, còn thực sự tham gia chiến đấu chỉ có một trung đội bố trí rất kín đáo tại một vị trí rất bất ngờ và hiểm trở. Ta lại thắng to, thu hai súng Mỹ, đạn Mỹ và lương thực của Mỹ.

        Từ bấy giờ cho sang tới cuối tháng 5 năm 1948, đại đội liên tiếp đánh nhiều trận khác, tính ra trong ba tháng đại đội đánh mười trận phục kích, hai mươi trận bắn phá. Đơn vị huấn luyện được liên tiếp ba, bốn lớp dân quân. Huấn luyện được lớp nào, tung ra hoạt động ngay lớp ấy. Mặt khác, anh em địa phương cũng nô nức xin đi theo đại đội. Bắt đầu từ đó, đơn vị có anh em người địa phương. Phong trào mỗi ngày một lên cao và mở rộng. Đã có những xã, bộ đội ta đi lại hoạt động công khai giữa ban ngày, trong khi các xã chung quanh địch vẫn còn kiểm soát.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #235 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:49:28 am »


        Tới đầu mùa hạ, quân địch củng cố xong các vị trí, chúng đưa quân từ Lào Cai về thêm, đánh tràn qua vùng Lương Sơn, rồi chiếm đóng các làng chung quanh như Tổng Già, Khe Pịa, Ngòi Mác, Nủ, Trĩ Ngoại, xuống tới cả Bến Cóc... Chúng đã chọc thủng hết khu vực hoạt động và căn cứ của đại đội Thắng Bình. Cơ sở vỡ lung tung. Có đồng chí đã lo lắng phát biểu: “Nếu không rút về Lục Yên Châu, chúng nó sẽ bắt gọn không còn một người”. Trước tình hình ấy, chi bộ đại đội lại đấu tranh để nắm vững đường lối của Đảng và nhiệm vụ của cấp trên giao phó, kiên quyết chủ trương không rút và đã tìm ra được một biện pháp rất tích cực để phá tan âm mưu và kế hoạch vây quét của địch. Chi bộ nêu khẩu hiệu “Đánh ngay vào bụng giặc” và khẳng định: quân giặc muốn đông thế nào cũng không thể diệt nổi một đại đội độc lập của chúng ta. Thừa lúc chúng đang rầm rộ toả xuống để vây càn ở đây, ta phải kiến quyết, dũng cảm, bí mật luồn lên, thúc sâu vào vùng kiểm soát của chúng.

        Sau đó, toàn đại đội đã phân tán ra nhiều tổ, đi làm nhiều ngả, tiến vào vùng chung quanh Phố Ràng, Bảo Hà, Bắc Cuông và ngược lên nữa. Cuộc hành quân rất gian nan vất vả, nhưng tư tưởng đã được thông suốt nên tất cả các bộ phận đều hăng hái luồn rừng, vượt núi, đi đêm, đi ngày không nghỉ. Trận đầu tiên của đai đội là trận phục kích Khe Pịa ngày 6 tháng 6 năm 1948. Trận này ta thu được một cặp tài liệu quý của chính tên đồn trưởng Phố Ràng. Mấy ngày sau đó, bộ phận thứ hai của đại đội lại ở Dốc Sài. Chỉ có một quả mìn nhỏ chôn ở mặt đường và một tổ phục kích, quân ta đã giết được ba tên địch, thu một số súng, có cả khẩu trung liên còn mới nguyên.

        Các bộ phận khác tiến hẳn vào các vùng sau lưng Phố Ràng để phá ngụy quyền. Quân ta đi tới đâu, ngụy quyền bị tan rã tới đó. Trong hơn hai tháng, đại đội đã đánh được ba mươi trận phục kích, hai mươi trận bắn phá vị trí; về chính trị, đã tranh thủ được nhân dân ở khắp các làng trong vùng địch giữa ranh giới ba tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái.

        Cam Pan - chỉ huy trưởng tiểu khu Phố Ràng không dám mải mê với công việc càn quét quy mô nữa. Gã đã bị lạnh gáy và khi quay cổ lại thì thấy ở sau lưng mình đối phương đã làm cho xáo trộn, nghiêng ngả. Cực chẳng đã, Cam Pan phải ra lệnh rút quân bỏ Bến Cóc, bỏ Nủ, bỏ Trĩ Ngoại... bỏ tất cả những nơi vừa chiếm được, tức tốc quay về củng cố lại Phố Ràng. Tình hình trở lại y nguyên như cũ tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho quân ta hoạt động tốt hơn.

        Đại đội Kim Sơn cùng với đội võ trang tuyên truyền xung phong Quyết Tiến hoạt động ở vùng Nghĩa lộ, Than Uyên, Tú Lệ. Cũng giống như đại đội Thắng Bình, đại đội Kim sơn là một trong những đơn vị xuất sắc ở bên hữu ngạn sông Hồng. Đại đội đã giác ngộ được một người thuộc tầng lớp trên của dân tộc Mèo (viên thống lý ở Trạm Tấu) do đó công tác gặp khá nhiều thuận lợi, gây được nhiều cơ sở rất tốt ở vùng bản Lìu, bản Hát, Trạm Tấu... Sự thành công lớn nhất và cũng là đặc điểm nổi bật nhất của đại đội này là chi bộ đã biết nắm vững phương châm hoạt động của Đảng đề ra, lãnh đạo bộ đội tổ chức được cả một vùng đồng bào Mèo thành một vùng cơ sở rất vững, có những đội du kích giỏi, mà nổi tiếng là đội du kích trên dãy núi Cao Phạ. Đội du kích anh hùng này đã hiên ngang giữ vững Than Uyên – Nghĩa Lộ của địch thường xuyên bị anh em cắt đứt. Đường từ Nghĩa Lộ đi Mù Căng Chải cũng luôn luôn bị uy hiếp. Có những gia đình cả hai anh em cùng tham gia du kích và chiến đấu cũng hăng hái, bền bỉ như nhau; có là hai anh em ông Giàng Phố Kỷ. Người đội trưởng đầu tiên của đội là ông Súng Tu, sau đó là đồng chí Lý Nụ Chu. Lúc ấy trong đội vẫn chưa có chi bộ Đảng, đội hoạt động theo sự chỉ đạo của các đồng chí đảng viên bên quân đội và họ chỉ biết rằng Đảng là Cụ Hồ, Cụ Hồ là Đảng. Cụ Hồ bảo tức là Đảng bảo, cứ thế mà làm.... Trong lịch sử chiến đấu của đội chỉ có một lần chín đội viên bị địch bắt. Nhưng cả chín đội viên ấy khi bị giải về Nghĩa Lộ đã lấy súng của giặc bỏ trốn về đầy đủ, không những thế còn tháo cửa nhà giam để cho một số đông nhân dân bị bắt cùng trốn theo. Có lúc bị địch vây càn lớn, đại đội Kim Sơn hoạt động xa, toàn bộ du kích Cao Phạ đã mất liên lạc hoàn toàn với Đảng với chính quyền, với quân đội nhưng vẫn tuyệt đối trung thành, kiên trì chiến đấu liên tục. Cho đến khi trở về, các cán bộ ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy toàn đội du kích ấy vẫn kiên cường hoạt động chiến đấu và đã thu được nhiều thắng lợi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #236 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:50:48 am »


        Tôi đã nói tới những thành công bước đầu của một, hai trong số rất nhiều đại đội độc lập của liên khu. Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng trong thời kỳ đầu, các đội không phải không gặp khá nhiều sai lầm do trình độ nhiều mặt còn non yếu, chẳng khác gì những đội võ trang tuyên truyền. Ngay chính bản thân đại đội Thắng Bình trong thời kỳ đầu cũng có lần không nắm vững phương châm hoạt động đã đem cả hai trung đội đi cường tập Phố Ràng, không những không diệt được đồn mà còn bị tổn hại đến sinh lực, cơ sở. Đại đội Kim Sơn cũng vậy, sau khi vào Tú Lệ gây được cơ sở tốt, lập được chính quyền, sinh ra chủ quan. Địch bất ngờ tấn công, cả đại đội lao đao, phải rút ra vùng tự do, cơ sở tan vỡ một phần lớn. Ở Yên Bái, Sơn La, các cấp uỷ địa phương cũng có những chủ trương không đúng như đưa đại đội độc lập ra vùng tự do để củng cố. Đến khi củng cố xong quay trở vào thì các cơ sở đã bị địch phá tan hoang...

        Liên khu uỷ, Bộ tư lệnh Liên khu đã chăm lo tới việc củng cố, chỉ đạo các đại đội độc lập không kém gì các đội võ trang tuyên truyền. Đối với các tiểu đoàn tập trung cũng vậy. Cả ba hình thức tổ chức ấy đều liên quan rất mật thiết với nhau, cái nọ hỗ trợ cái kia cùng phát triển. Điều chăm lo trước hết vẫn là tăng cường công tác đảng, công tác chính trị. Sinh hoạt Đảng của tất cả các đại đội đều được chỉ đạo chặt chẽ. Do đặc điểm của chiến trường rừng núi của liên khu, do đặc điểm hoạt động phân tán của các đội cho nên chúng tôi đã chú trọng xây dựng, bồi dưỡng các chi bộ có trình độ tự động, độc lập công tác. Làm như vậy nhằm tạo cho mỗi chi bộ khi đi sâu vào vùng địch hậu, dù mất liên lạc với khu vẫn tiếp tục lãnh đạo bộ đội theo đúng phương châm, đường lối của Đảng, giành lấy thắng lợi. Công tác chính trị cũng tập trung xây dựng cho mỗi cán bộ, chiến sỹ có tinh thần cách mạng tốt, tin tưởng ở quần chúng, chịu đựng gian khổ, đoàn kết và kỷ luật, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ.

        Với tất cả những bài học đã có từ khi xây dựng, chỉ đạo các đội võ trang tuyên truyền, cứu quốc quân hồi tiền khởi nghĩa, tới nay trải qua những vấp váp, thất bại đầu tiên, quân khu càng tích luỹ thêm được những kinh nghiệm xương máu và càng hiểu sâu sắc bí quyết, điều mấu chốt để lãnh đạo các lực lượng vũ trang xây dựng, chiến đấu giành lấy thắng lợi. Cũng chính vì thế mà công tác tổng kết kinh nghiệm của Liên khu 10 rất được coi trọng ngay từ những ngày đầu. Mùa hè năm 1949, Liên khu 10 đã đóng góp kinh nghiệm của mình trong Hội nghị chính trị viên toàn quốc bằng hai bản báo cáo tổng kết: Chi bộ tự động công tác và võ trang tuyên truyền, đại đội độc lập.

        Thực tế ngày càng chứng minh một cách rõ ràng cụ thể rằng: nhân dân Tây Bắc trước sau vẫn một lòng hướng theo cách mạng, quyết tâm đi theo Đảng. Nhân dân Tây Bắc đã bào nhiêu năm nay rất cực khổ. Giờ đây ngọn cờ giải phóng của Đảng giương lên đúng lúc, chẳng khác gì mặt trời mọc lên chói lọi giữa đêm tối. Thực tế đã làm cho chúng tôi hiểu sâu sắc thêm: càng phải mạnh mẽ. Chính nhờ có đội ngũ cán bộ mạnh mẽ mà Đảng có quần chúng và giác ngộ, phát động được quần chúng đấu tranh. Tới khi phong trào quần chúng lên cao, đội ngũ cán bộ lại càng phải đông đảo hơn và mạnh mẽ hơn. Trước kia, khi chưa có chính quyền trong tay, còn gặp rất nhiều khó khăn, Đảng ta đã quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ hùng hậu, các đồng chí cán bộ đã quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện mình để trở thành cán bộ của Đảng. Quán triệt những bài học ấy, Liên khu 10 đã rất quan tâm tới công tác đào tạo và bồi dưỡng lực lượng cán bộ.

        Trong toàn liên khu có tới sáu trường lớn: trường Đảng, trường Nguyễn Huệ (bổ túc, đào tạo cán bộ đại đội), trường Hoàng Hữu Nam (bổ túc, đào tạo cán bộ trung đội), trường đào tạo cán bộ tiểu đội và một trường thiếu sinh quân. Ngoài ra, còn có một trường bổ túc cho cán bộ huyện đội và một lớp huấn luyện luân chuyển cho cán bộ, chiến sỹ các đội võ trang tuyên truyền.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #237 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:54:11 am »


        Trong khi trên tiền tuyến, các đội võ trang tuyên truyền, các tiểu đoàn độc lập vẫn lẫn lộn chiến đấu thì ở hậu phương liên khu, các nhà trường đều đặn hoạt động giống như những guồng máy của một xí nghiệp khổng lồ. Trong các nhà trường theo chủ trương của liên khu, thành phần cán bộ dân tộc ít người ở miền núi đã chiếm một tỷ lệ khá cao, có không ít các chiến sỹ người dân tộc được giao nhiệm vụ làm cán bộ và đưa về nhà trường để bổ túc bồi dưỡng thêm. Mỗi khi tới dự khai giảng hoặc mãn khóa một lớp học, chúng tôi cùng các đồng chí Bùi Quang Tạo, Vũ Dương cũng như các đồng chí khác trong Khu uỷ lại thường ôn lại với nhau những kỷ niệm trước đây trong nhà tù. Ở những nhà tù khổ cực ấy, các đồng chí ta tay đeo xiềng, chân mang cùm, án chém lơ lửng trên đầu mà vẫn rất lạc quan, tin tưởng ở tiền đồ xán lạn của dân tộc, của giai cấp. Các đồng chí biến nhà tù thành trường học, mặc dầu thiếu thốn đủ mọi thứ và địch lại ra sức ngăn cản. Lòng ham học, tinh thần lạc quan, nghị lực của các đồng chí ta đã làm cho nhiều tên chúa ngục phải kinh ngạc kêu lên: “Thật là những con người kỳ lạ”. Bây giờ hoàn cảnh đã đổi khác. Đảng ta đã có biết bao nhiêu trường sở. Các học viên giờ đây, dù kháng chiến còn gian khổ cũng đã có bàn tre, ghế gỗ để ngồi... Bây giờ không còn phải giấu giếm, không một ai ngăn cản được đảng viên ta dạy dỗ lẫn nhau và truyền đạt lại cho quần chúng tất cả những tư tưởng lớn lao vô địch và nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin.

        Lớp học này tốt nghiệp xong, lớp khác lại được triệu tập. Cứ thế, đều đặn các nhà trường của liên khu đã góp phần tôi luyện nên những người cán bộ vững vàng để tung ra mặt trận. Một đội ngũ cán bộ đông đảo của liên khu đã hình thành dần dần và đã làm tròn trách nhiệm của mình trước Đảng, trước nhân dân một cách xứng đáng.

        Cuối năm, tính thời gian từ khi các đội vũ trang tuyên truyền được tung trở lại Tây Bắc và các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung được uốn nắn lại các sai lầm cho tới nay cũng chưa quá sáu tháng nhưng tình hình đã sáng sủa trông thấy. Các tin thắng lợi được liên tiếp báo về. Đội xung phong Trung Dũng đã kiên trì giác ngộ nhân dân, tổ chức, củng cố cơ sở, tiến tới sát bờ sông Mã và có bộ phận đã gần tới địa phận châu Điện Biên. Đội xung phong Quyết Tiến đã vào tới Tuần Giáo. Đội xung phong Quyết Thắng đã xuống tới Quỳnh Nhai, đội xung phong Tây Bắc đã tới biên giới Việt – Lào... Các đại đội độc lập cũng hoạt động rất tốt, xây dựng được nhiều khu căn cứ du kích vững chắc ở các vùng Mường Bó (phía dưới Cam Đường – Lào Cai), Kim Nọi, Bản Kết (gần Quỳnh Nhai), Bảo Lạc (dưới phía nam Nghĩa Lộ) và Mường Hung (biên giới Việt – Lào).

        Đến cuối năm, cơ sở ta đã mở rộng được hơn một vạn rưởi cây số vuông, với mấy nghìn đồng bào Mèo và hàng vạn đồng bào Thái cùng đồng bào các dân tộc ít người khác. Những cuộc tổng phá tề đã được mở ra rộng rãi và thu được những thắng lợi giòn giã. Một số đồn lẻ đã bị các tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập tiêu diệt hoặc bức rút. Khối ngụy quân rạn nứt trông thấy. Đã có từng đơn vị tiểu đội, trung đội ngụy vác súng chạy ra xin hàng.

        Trước tình hình ấy, bọn Pháp bắt đầu hoang mang lo sợ. Chúng đã buộc phải rút dần một số đồn nhỏ để lập những cứ điểm lớn và những vùng có phong trào kháng chiến nổi dậy. Các mâu thuẫn khủng khiếp và không sao giải quyết nổi của giặc Pháp đã hình thành bắt đầu từ đấy. Đó là mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, giữa chiếm đóng và cơ động. Muốn chiếm đóng phải rải quân, nhưng rải quân thì dễ bị tiêu diệt. Muốn tránh bị tiêu diệt phải tập trung quân. Nhưng tập trung quân lại phải bỏ vị trí, không thực hiện được việc chiếm đóng đất đai. Thật khó xử!

        Các vùng cơ sở, căn cứ du kích của ta đã làm cho các cứ điểm địch bắt đầu trở thành những hòn đảo cô lập. Chiến thuật “vết dầu loang” đã hiển nhiên bị giảm tác dụng! Bi-gia - một tên sỹ quan vào loại giỏi trong quân đội nhà nghề của Pháp chuyên hoạt động ở Tây Bắc đã đến lúc lo sợ, hoảng hốt kêu lên: “Chúng ta đã bị giam trong các vị trí mất rồi!”.

        Tây Bắc như bừng sáng trở lại sau những đêm dài tăm tối. Cố nhiên đây mới chỉ là bình minh của thắng lợi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #238 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:56:00 am »


        Bước sang năm 1949, đà thắng lợi càng tăng lên. Rõ ràng khi đã có đường lối đúng và tổ chức thực hiện tốt, không có đỉnh cao nào chúng ta không thể vươn tới, không có tình hình khó khăn nào là không thể xoay chuyển lại được. Tháng 1 năm 1949, trước sự trưởng thành mới, liên khu đã chủ trương mở chiến dịch Sông Đà. Chiến dịch này kết quả rất ít, chỉ tiêu hao được một số sinh lực địch, nhưng đã làm cho tinh thần bộ đội, nhân dân rất tin tưởng, phấn khởi vì thấy đây là một dấu hiệu báo rằng: cái thời kỳ long đong, khốn khổ dưới gót sắt của giặc đã chấm dứt... Sang tháng 2 năm 1949, chiến dịch Lào – Hà được mở tiếp. Đồng thời, chiến dịch Sơn La và chiến dịch tây nam Phú Thọ cũng được mở màn. Cả ba chiến dịch cùng gần như song song tiến hành. Bọn địch ở Tây Bắc kêu la lên “Việt Minh đã giành lại được quyền chủ động”.

        Tháng 5 năm 1949, bộ đội của liên khu tham gia chiến dịch Sông Thao cùng hai tiểu đoàn chủ lực của Bộ (tiểu đoàn 54, tiểu đoàn 11). Đồng chí Lê Trọng Tấn – Tư lệnh phó Liên khu trực tiếp làm chỉ huy trưởng mặt trận. Chiến dịch này đã thu được nhiều thắng lợi giòn giã. Cũng tháng 5 năm 1949, bộ đội của liên khu lại tham gia chiến dịch Sông Lô II cùng sáu tiểu đoàn trực thuộc Bộ, phá tan kế hoạch Pô-mô-nơ của Pháp trên dọc sông Lô lịch sử. Đồng chí Bằng Giang làm Tư lệnh mặt trận này. Chiến dịch Sông Lô II cũng đã thắng lợi.

        Tháng 11 năm 1949, chiến dịch Lào – Hà lại mở tiếp. Các đơn vị của Liên khu đã tập kích quyết liệt vào Nghĩa Lộ, Yên Bình Xã. Kết quả: quân địch đóng ở đồng Yên Bình Xã phải rút chạy.

        Cuối tháng 11 năm 1949, chiến dịch Sông Mã - một chiến dịch mở ra đúng lúc địch ở biên giới Việt – Lào đang hoang mang, đã thắng lợi khá giòn giã: tiêu diệt hoàn toàn một cứ điểm địch, gây ảnh hưởng lớn đối với chiến trường Bắc Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho các đồng chí bộ đội Pa-thét Lào tăng cường và mở rộng hoạt động. Tháng 12 năm 1949, tham gia chiến dịch đánh địch ở Hoà Bình, bộ đội của Liên khu đã tiêu diệt gọn được một đại đội lê dương tinh nhuệ.

        Năm 1949 có thể nói là môt năm ta mở chiến dịch liên tục: chiến dịch do liên khu mở, chiến dịch do Bộ mở, liên khu tham gia. Mặc dầu trình độ kỹ thuật, chiến thuật còn kém, trang bị còn rất thiếu thốn, chưa tiêu diệt được thật nhiều sinh lực địch, nhưng bộ đôi của liên khu đã gây được những tác động không nhỏ vè chính trị, quân sự. Cũng trong năm 1949, từ tháng 5, liên khu đã tập trung được hai mươi bảy đại đội trở về xây dựng lại các trung đoàn chủ lực, căn cứ theo chủ trương, phương châm mới của Đảng. Tôi còn nhớ khi thực hiện chủ trương ấy của Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cũng đã nảy ra nhiều cuộc tranh cãi gay gắt trong hàng ngũ cán bộ của Tây Bắc. Có đồng chí cho rằng địch còn mạnh, còn đủ sức để thực hiện chiến thuật “vết dầu loang”. Có đồng chí cho là lực lượng vũ trang địa phương còn quá non yếu, chưa đủ sức giữ vững phong trào. Có đồng chí lo xa hơn: rút bộ đôi về tập trung, khéo lại phạm sai lầm như năm 1948, lại mất đất, bỏ dân, lại từ hữu sang tả... Liên khu uỷ đã kiên trì giải thích để anh em hiểu: sự so sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi, ta đã mạnh lên, địch ngày càng suy yếu. Địch không đủ sức để vừa rải quân ra chiếm đóng, bình định vùng tạm chiếm, vừa đi cướp thêm đất của ta như trước nữa. Hiện nay địch đang co về thế phòng ngự để tránh đòn của quân dân ta tiến công cả ở hậu phương, cả ở tiền tuyến. Trong khi đó, chiến tranh du kích của ta đã phát triển rộng khắp, bộ đội địa phương đã lớn mạnh; nếu không rút những đại đội độc lập về xây dựng thành những lực lượng tập trung lớn hơn thì không thể đánh được những trận lớn, mở những chiến dịch lớn tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch để làm thay đổi sự so sánh lực lượng giữa ta và địch mau chóng hơn. Nói tóm lại nếu không xây dựng được chủ lực mạnh thì không đấy mạnh được vận động chiến tiến lên như phương châm mới của Đảng đã để ra. Cuối cùng, sau những cuộc đấu tranh khá gay go, tất cả các cán bộ trong liên khu mới nhất trí. Và sau đó, khi rút hai mươi bảy đại đội độc lập về, quả như nhận định của Liên khu uỷ, Bộ Tư lệnh Liên khu, phong trào ở các địa phương vẫn hoàn toàn vững chắc, không những thế có nơi lại tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn trước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #239 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2017, 09:58:12 am »


        Năm 1949. Suốt cả năm, liên khu sôi nổi không khí chiến đấu và dồn dập tin thắng lợi. Trong cuộc hội nghị cuối năm kiểm điểm công tác của liên khu trong ba năm kháng chiến, báo cáo của Liên khu uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu đã có những nhận định rất quan trọng: “... Tình hình đen tối của năm 1947 đã hoàn toàn chấm dứt. Về cơ bản liên khu đã thực hiện được chỉ thị của Đảng: biến hậu phương địch thành tiền phương ta, làm cho chiến thuật “cứ điểm nhỏ, vết dầu loang” của địch đã giảm sút và đang dần dần đi tới mất hết tác dụng. Mộng của chúng khép chặt biên giới Việt – Lào, Việt – Trung đã gặp nhiều khó khăn. Âm mưu của chúng định dùng nhân lực, vật lực của Tây Bắc để theo đuổi chiến tranh đã bị phá vỡ về cơ bản... Ở Tây Bắc, ta từ thế bị động hoàn toàn đã tiến sang chủ động ở nhiều mặt trận. Trước kia ta bị địch bao vây, bây giờ tình hình đã đổi ngược lại, địch bị ta vây hãm. Công cuộc xây dựng căn cứ địa Tây Bắc theo chỉ thị của Đảng đã thành công một phần lớn...”.

        Mùa xuân 1950, Chiến dịch Sông Mã thắng lợi làm rung chuyển cả phòng tuyến quân địch ở suốt dọc biên giới Việt – Lào, vang dội sang cả chiến trường Bắc Lào. Theo chủ trương mới của Đảng, mặt trận Tây Bắc đã được thành lập (Liên khu 10 và liên khu 1 sáp nhập thành Liên khu Việt Bắc, đồng thời mặt trận Tây Bắc cũng được tổ chức). Tôi cùng một số cán bộ chính trị, tham mưu đi vào Tây Bắc để tìm hiểu tình hình chiến trường và giải quyết một số vấn đề về tổ chức. Vì cuộc hành quân xa xôi, lại đi qua một số nơi chưa phải đã hoàn toàn giải phóng, hoặc chưa quét sạch phỉ, cho nên chúng tôi phải tổ chức thành bộ đội hành quân chiến đấu, đồng thời phải mang khá nhiều lương thực và vật dụng đi theo. Ngoài trang bị vũ khí ra, chúng tôi còn có điện đài, đèn bão, cà mền, lều vải... lỉnh kỉnh, hai con ngựa thồ không hết.

        Chúng tôi từ Phú Thọ vượt sông Hồng, đi theo hướng Đồn Vàng để sang Vạn Yên (Sơn La). Qua sông Hồng được một chặng, đường đi bắt đầu rậm rạp, gập ghềnh. Đất Đồn Vàng trước đây vốn là đất tạm chiếm, gần đây mới được giải phóng nhưng thỉnh thoảng địch vẫn từ đất Sơn La chọc sang quấy rối. Buổi chiều hôm ấy cả đoàn chúng tôi đang đi, sắp tới Đồn Vàng thì thấy một số dân từ phía trước chạy lại, tưởng có địch, anh em vệ binh của đoàn dừng lại bố trí. Nhưng một lúc sau thấy một đoàn dân công kĩu kịt gánh gạo đi tới. Hỏi ra mới biết anh chị em đang đi tiếp tế cho chiến dịch Lê Lợi. Ngày hôm sau, vượt Dốc Bụt, chúng tôi sang đất Sơn La.

        Càng đi càng thấy sự bao la, hiểm trở, càng thấy rõ mọi vẻ đẹp kỳ diệu của núi rừng Tây Bắc. Việt Bắc có sự hấp dẫn khác thì Tây Bắc cũng có không khí riêng, vẻ mặt riêng biệt hùng vĩ của nó. Càng đi, càng hiểu thấm thía hơn mọi bước đường gian lao và vô cùng anh dũng, kiên cường của các đội võ trang tuyên truyền, đại đội độc lập đã trải qua. Càng đi càng hiểu nhiều điều cụ thể hơn. Đồng bào Tây Bắc rất đáng mến, chỉ trừ một số người thuộc tầng lớp trên, còn tất cả đều đi theo cách mạng, căm thù giặc, yêu Tổ quốc thiết tha. Lòng yêu Tổ quốc, tin tưởng cách mạng đã thể hiện rất giản dị và cụ thể ở lòng tin yêu, ủng hộ cán bộ, bộ đội.

        Đoàn chúng tôi phần nhiều đi ban ngày vì vùng giải phóng đã rộng lớn. đi tới đâu chúng tôi cũng được nhân dân các bản (vẫn tản cư ở trong rừng) tiếp đón ân cần, mừng rỡ đến đó, mặc dầu chỉ biết chúng tôi là “cán bộ, bộ đội” như tất cả các “cán bộ, bộ đội” mà đồng bào đã được gặp. Đồng bào còn rất nghèo khổ vì hầu hết của cải, trâu bò, gà lợn đã bị giặc vơ vét, nhưng còn cái gì quý, có thứ gì ngon đồng bào đều đem cho “cán bộ, bộ đội”. Có một cụ già ở một bản, nghe tin có đoàn chúng tôi đi qua, mang đến cho một con gà và ba quả trứng. Đoàn chúng tôi cám ơn và nhất định không nhận. Ông cụ khóc và nói: “Bố con tôi còn được sống đến ngày nay là nhờ có cán bộ, bộ đội. Nay không nhận cho, lòng dạ tôi khổ sở lắm”. Bản nào cũng đều có người đưa chúng tôi đi theo từng cung đường một (mỗi cung thường là một ngày đường). Người của bản này đưa đoàn chúng tôi tới đầu bản kia ở cuối cung đường, gọi người ra bàn giao lại rất cẩn thận rồi mới quay về. Người của cung đường mới vui vẻ tiếp nhận chúng tôi, rồi hôm sau lại hăng hái đưa đi bàn giao cho trạm mới. Người nào cũng tích cực, yêu cầu là đi ngay, gia đình dù đang bận việc gì cũng để đấy. Đồng bào làm nhiệm vụ của mình một cách rất hồn nhiên, tưởng như vô tư lự, nhưng thực ra đã được giác ngộ, hiểu rõ trách nhiệm của mình từ lâu.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM