Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Năm, 2020, 11:05:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tướng lĩnh QĐND VN qua hai cuộc chiến tranh  (Đọc 34348 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #170 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2017, 11:48:22 pm »


        Với cách đánh đó, nhu cầu về lựu đạn gài và mìn rất lớn. Thứ vũ khí này quân dân Long An có thể tự sản xuất được và có nguồn nguyên liệu khá dồi dào từ chính bom đạn lép của Mỹ. tỉnh đội chủ trương phát động một phong tào toàn tỉnh thu gom đạn lép. Hồi đó có chỉ tiêu, số lượng và mức khen thưởng thích đáng. Kết quả thu gom thật khả quan. Công binh xưởng các cấp hoạt động hết công suất, sản xuất được rất nhiều mìn và lựu đạn gài các loại, phổ biến nhất là lựu đạn làm bằng vỏ hộp cá mòi. Lúc đó vỏ hộp cá mòi rất nhiều, ở đâu cũng có. Cách chế tạo lựu đạn bằng vỏ đồ hộp này rất giản đơn, chỉ cần nhồi thuốc nổ vào đầy hộp rồi gắn kíp là xong.

        Trong mùa khô năm 1966, phong trào đánh Mỹ của nhân dân Long An phát triển khá cao nhưng chủ yếu ở các huyện phía Bắc, vì lúc đó quân Mỹ đánh xuống phía Nam chưa nhiều. Phong trào đánh Mỹ thu hút cả phụ nữ, người già và trẻ em. Trong nhân dân đã xuất hiện các hiện tượng vay mượn thành tích để được cấp danh hiệu dũng sỹ. Lúc đó tỉnh cấp rất nhiều danh hiệu dũng sỹ cho nhân dân và bộ đội.

        Cách đánh Mỹ của nhân dân tuy không tiêu diệt được từng đơn vị, không bẻ gãy được từng cuộc càn; nhưng khi nó đã trở thành phong trào, phát triển trên một diện rộng thì số lượng diệt địch rất đáng kể: và điều quan trọng hơn là làm cho lính Mỹ mệt mỏi về tinh thần, dần dần nhận ra tính chất phi nghĩa của chiến tranh, từ đó dẫn đến các hành động phản chiến, không đi hành quân...

        Mùa khô năm 1966, lực lượng vũ trang Long An không đánh quân Mỹ được trận nào lớn, mà chủ yếu cùng nhân dân đánh chông mìn, cạm bẫy, đưa chiến tranh du kích phát triển rộng khắp. Về phía Mỹ, chúng cũng không làm thay đổi được tình thế thất bại trước đây của Sư đoàn 25 ngụy. Vùng giải phóng được giữ vững, quân ngụy vẫn không ngóc đầu dậy được.

        Cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của Mỹ đã chấm dứt mà không mang lại kết quả cụ thể gì. Chúng tiếp tục chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Quân dân Long An chuẩn bị đối phó với cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ với chủ trương đánh quân ngụy vào mùa mưa, đánh vào chỗ dựa của quân Mỹ.

        Mùa khô năm 1966 – 1967, quân Mỹ phải thực hiện cuộc phản công với “hai gọng kìm” là “tìm diệt” và “bình định”, nhưng phạm vi tiến công hẹp hơn lần trước. Chúng tập trung vào các cụm căn cứ của ta ở Dương Minh Châu (Tây Ninh), Bình Dương, Long An, Hậu Nghĩa. Đó là mũi “tìm diệt”. Mũi “bình định” là các cuộc hành quân hỗ trợ quân ngụy và triển khai đóng thêm các căn cứ.

        Từ giữa tháng 12 năm 1966, Mỹ triển khai hàng loạt các cuộc càn lớn trên khu vực phía bắc Sài Gòn. Lớn nhất là cuộc hành quân Gian-Xơn Xi-ty, có tới 21 tiểu đoàn Mỹ tham gia. Đồng thời với các cuộc hành quân đó, Mỹ triển khai đóng căn cứ ở phía nam Sài Gòn. Sư đoàn 9 Mỹ đổ quân đóng ở Rạch Kiến thuộc Cần Đước, Long An, sau đó đóng căn cứ ở Bình Đức, Mỹ Tho.

        Vào mùa khô năm 1966 – 1967, trên cả hai vùng nam bắc lộ số 4 của Long An đều có quân Mỹ hoạt động. Ở phía bắc lộ tuy không có căn cứ Mỹ nhưng thường xuyên có một lữ đoàn của Sư đoàn 25 Mỹ ở Đồng Dù kéo xuống càn quét yểm trợ “bình định”. Ở phía nam, chúng xây dựng Rạch Kiến thành một căn cứ lớn đóng được từ một tiểu đoàn đến một lữ đoàn. Mỹ chọn Rạch Kiến có lẽ vì đó là vị trí trung gian giữa Cát Lái – Nhà Bè với Bình Đức, Mỹ Tho, để hình thành tuyến phòng thủ từ xa cho phía nam Sài Gòn. Mỹ đóng ở Rạch Kiến còn nhằm phá khu giải phóng quan trọng nhất của ta ở phía nam lộ số 4. Nếu để chúng bung ra hoạt động thường xuyên ở khu vực này, ta sẽ không còn một lõm căn cứ nào ở địa bàn nam lộ số 4 nữa.

        Quân Mỹ vừa đổ xuống Rạch Kiến, chúng tôi đã nghĩ ngay đến việc hình thành “vành đai diệt Mỹ”. Hình thức “vành đai” diệt Mỹ đã xuất hiện sớm ở Khu 5, sau đó là miền Đông Nam Bộ, như ở Trảng Lớn (Tây Ninh), Củ Chi, Hậu Nghĩa. Những kinh nghiệm về tổ chức vành đai chúng tôi đã tham khảo và chuẩn bị trước khi Mỹ đóng căn cứ trên đất Long An. Tuy nhiên, những nơi đó đều có những điều kiện và tính chất riêng, nơi dựa vào núi, nơi dựa vào rừng, nới dựa vào địa đạo. Tất cả những điều đó ở Rạch Kiến không có. Nhưng Rạch Kiến lại là địa bàn tương đối đông dân, đó là đặc điểm mà các vành đai khác không có. Vấn đề chúng tôi nghiên cứu là làm sao hình thành một vành đai diệt Mỹ bằng chiến tranh nhân dân, với sự tham gia trực tiếp và rộng rãi của nhân dân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #171 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2017, 11:51:24 pm »


        Quá trình quân Mỹ xây dựng căn cứ Rạch Kiến, tôi cùng anh Tư Chiểu, anh Sáu Châu xuống Cần Đước trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức vành đai diệt Mỹ; đồng thời điều Tiểu đoàn 2, một trung đội đặc công tỉnh và ba khẩu cối 82 của nữ pháo binh Long An xuống hoạt động ở nam lộ 4. Lúc này, lực lượng tại chỗ có một đại đội bộ đội địa phương Cần Giuộc (của anh Chín Tài), một đại đội ở Cần Đước (của anh Sáu Nam), mỗi xã có hàng chục du kích và dân quân.

        Căn cứ Rạch Kiến nằm lọt giữa một vùng giải phóng khá rộng ở thượng Cần Đước và hạ Cần Giuộc (gồm mười xã giải phóng của Cần Đước và hai xã của Cần Giuộc). Địa hình ở đây rất trống trải, thế đất lại thấp, không thể xây dựng được địa đạo như ở Củ Chi. Địa hình ấy cũng không cho phép ta đánh đối mặt với quân Mỹ vì chúng có hoả lực mạnh, có thể huỷ diệt trận địa và đủ phương tiện cơ giới, máy bay để bao vây trận địa ta. Thực tế đã diễn ra là một trung đội của Cần Đước đánh quân Mỹ càn quét đã bị hy sinh hết; bọn Mỹ còn cắt đầu anh em ta đem về cắm ở hàng rào căn cứ Rạch Kiến.

        Căn cứ vào lực lượng và địa hình, ban chỉ huy vành đai tổ chức theo kiểu ban chỉ huy tổng hợp trong các đợt hoạt động trước, gồm cả ba cấp tỉnh, huyện, xã, có đủ các thành phần quân sự, chính trị, binh vận. Lấy Rạch Kiến làm trung tâm, khu vực vành đai được chia thành ba vòng hoạt động với tính chất, nhiệm vụ khác nhau. Vòng trong cùng là các xã, ấp giáp hàng rào căn cứ. Lực lượng ở đây chỉ có du kích và du kích mật; nhiệm vụ chủ yếu là gài mìn, lựu đạn xung quanh căn cứ và quan sát các hoạt động của địch để báo cáo cho ban chỉ huy. Vòng thứ hai, do bộ đội địa phương Cần Đước và lực lượng tỉnh đảm nhiệm, có nhiệm vụ phân tán nhỏ lẻ đánh quân Mỹ khi chúng đi càn quét. Vòng thứ ba, giao cho du kích địa phương vận động nhân dân tham gia đánh Mỹ bằng mọi hình thức, mọi vũ khí có trong tay.

        Vấn đề cốt lõi của Rạch Kiến là phải hình thành và duy trì được hình thức vành đai chiến tranh nhân dân. Vành đai phải có dân, được đông đảo nhân dân tham gia bằng nhiều hình thức, không quân sự đơn thuần.

        Tổ chức và phân công nhiệm vụ như vậy, nhưng để hoạt động có hiệu quả là cả một quá trình tìm tòi đầy hy sinh gian khổ. Khi Mỹ vừa đóng xong căn cứ Rạch Kiến, chúng tôi tổ chức đánh phủ đầu chúng bằng một trận tập kích hoả lực. Đặc công của ta đã tiếp cận sát căn cứ, dùng hơn 30 quả đạn H12 (bắn ứng dụng bằng cọc nạng - gọi là bắn lủi) và một số đạn B41 đánh căn cứ, diệt một số địch. Cách đánh này đạt hiệu quả cao, ta ít bị thương vong nhưng không có nhiều đạn H12 và B41 để đánh liên tục được. Khi bọn Mỹ ở Rạch Kiến bung ra đóng chốt tiền tiêu ở Long Khê (Xoài Đôi), chúng tôi quyết định tập kích. Anh Tư Chiểu trực tiếp chỉ huy trận đánh. Khi bàn phương án, tôi đề nghị anh Tư Chiểu tập kích xong cho bộ đội rút về sát hàng rào Rạch Kiến. Đó là hướng bất ngờ bọn Mỹ sẽ không bắn pháo chặn. Đúng là rút hướng đó đỡ bị pháo nhưng lại chịu hoả lực bắn thẳng khá dữ đội, bộ đội ta phải bò và lết đến rách hết quần áo – anh Tư Chiểu cũng vậy. Đó là cách đánh của bộ đội tập  trung tỉnh, nhưng hình thức thường xuyên của các tuyến thế nào thì lại phải tiếp tục tìm tòi từ thực tế.

        Thời kỳ đầu, chúng tôi tổ chức cho anh em thảo luận để xác định quyết tâm và tìm cách đánh. Anh em đều cho rằng lính Mỹ rất chậm chạp không tinh mắt, nhưng hoả lực của chúng rất mạnh và trình độ hiệp đồng tác chiến giữa các binh chủng rất cao, không nên đánh dàn mặt với chúng. Sau nhiều cuộc thảo luận, cuối cùng một chiến sỹ của Tiểu đoàn 2 xung phong đi đánh trước để rút kinh nghiệm. đồng chí ấy chọn vị trí phục kích ngay sát con đường lính Mỹ thường đi từ căn cứ ra. Vị trí ấy có đường chạy vào một cụm địa hình có công sự cách đó khoảng 200 mét. Đồng chí bắn chết tên lính Mỹ đi đầu rồi rút về công sự phía sau an toàn, mà quân Mỹ hoàn toàn không phản ứng kịp bằng súng bộ binh. Sau đó chúng mới gọi pháo binh bắn chặn ở một số nơi.

        Trận đánh tuy đơn giản nhưng giải quyết được vấn đề tư tưởng và chiến thuật cho hình thức đánh nhỏ lẻ. Để quân Mỹ đến thật gần, đánh nhanh và rút nhanh sẽ tránh được hoả lực của chúng. Từ kinh nghiệm đó, nhiều tổ, nhiều cá nhân xung phong đi đánh Mỹ. Và rất nhiều chiến sỹ vành đai đạt danh hiệu “dũng sỹ diệt Mỹ”.

        Ở vòng ngoài cùng, nhân dân và du kích đánh Mỹ bằng nhiều hình thức rất phong phú như gài lựu đạn, chôn mìn, đào hầm chông, có người nuôi cả ong bò vẽ và rắn độc để đánh Mỹ.

        Một vấn đề rất khó khăn xuất hiện ở vành đai là quân Mỹ thường bắn pháo rất dữ dội vào các làng xóm làm bà con phải chạy giạt đi nhiều nơi. Nếu dân đi hết thì vành đai không tồn tại được. Vì vậy, bộ đội phải hết sức tránh các trận đánh trực diện với Mỹ ở những khu đông dân, vừa để bảo vệ tính mạng nhân dân, vừa để bảo vệ địa hình và làm cho dân không phải chạy giạt.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #172 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2017, 11:52:15 pm »


        Ở vành đai bắt đầu xuất hiện các hình thức đấu tranh chính trị do nhân dân sáng tạo ra. Khi bọn Mỹ bắt dân khiêng  tên lính bị thương vì chông vào căn cứ, thay vì đi tắt cho gần, bà con đã khiêng tên này đi vòng qua nhiều làng mạc để mọi người thấy tác dụng của vũ khí thô sơ. Một trường hợp đấu tranh chính trị thành công nữa là khi ta tìm được một xác tên lính Mỹ trong một trận đánh, ban chỉ huy vành đai quyết định giao cho chị em phụ nữ đưa xác tên này vào căn cứ trao cho phía Mỹ và đưa yêu sách đòi Mỹ không được bắn pháo, ném bom bừa bãi vào làng xóm. Bọn Mỹ đã chấp nhận yêu cầu này. Điều đó rất có lợi vì nhân dân đỡ phải chạy giạt. Các hoạt động của vành đai phát triển ngày càng sôi nổi, phong phú và sáng tạo.

        Sau một thời gian, bọn Mỹ ở Rạch Kiến đóng thêm hai đồn ở chợ Tảo và Bình Tịnh. Chúng tôi lập tức cho bộ đội tỉnh nghiên cứu và tập kích vào hai đồn này. Tuy không diệt gọn được từng đại đội Mỹ, nhưng gây cho chúng nhiều thiệt hại, cuối cùng chúng phải rút bỏ.

        Nhìn lại hai mùa khô đánh Mỹ, mặc dù quân dân Long An vẫn giữ được các vùng giải phóng quan trọng và giữ được thế chủ động trên chiến trường, nhưng rõ ràng hiệu suất chiến đấu không cao như thời kỳ 1964 – 1965. Lực lượng vũ trang chưa tạo được trận đánh nào lớn, chưa tiêu diệt được nhiều đơn vị cấp đại đội của Mỹ. Về hình thức chiến thuật, chủ yếu là đánh nhỏ, lẻ bằng chông mìn, lựu đạn và thực hiện một số trận tập kích nhỏ, diệt từng trung đội Mỹ như ở Bàu Sen, Long Khê, Bình Tịnh và Nhật Tảo. Trong khi đó, quân Mỹ đánh phá ngày càng ác liệt hơn, địa hình bị tàn phá nhiều, dân phải chạy giạt ở một số nơi. Trong lực lượng vũ trang, một số anh em tỏ ra ngán ngại hoả lực Mỹ. Đó là thực tế do tương quan lực lượng ở chiến trường tạo ra. Đó cũng là những khó khăn mới mà tỉnh đội đang tìm cách khắc phục.

        Lúc Mỹ chưa vào Long An, trong các cuộc thảo luận để xác định quyết tâm và tìm cách đánh Mỹ, có ý kiến cho rằng Mỹ vào thì không thể đánh du kích được. Vì chúng đi càn theo đơn vị lớn, có xe tăng, xe bọc thép, máy bay yểm trợ. Nhưng thực tế hai mùa khô đánh Mỹ ở Long An tình hình diễn ra ngược lại. Lực lượng ta chưa thể đánh lớn với Mỹ, mà chỉ đánh du kích mới phát huy được tác dụng. Ngay cả lực lượng tập trung của tỉnh, có lúc phải phân tán nhỏ để đánh theo kiểu du kích. Cách đánh phong phú, đa dạng của du kích và nhân dân tuy không tiêu diệt gọn từng đơn vị, không bẻ gãy được từng cuộc càn của quân Mỹ, nhưng đã đánh vào chỗ yếu nhất của đội quân xâm lược là tinh thần. Sau này khi đọc lại những cuốn sách do chính người Mỹ viết, càng thấy rõ người lính Mỹ trên chiến trường Long An mệt mỏi và sợ hãi như thế nào khi rơi vào cách đánh du kích và nhân dân. Do vậy, phần đông lính Mỹ có tâm lý cầu an bảo mạng, chờ đợi hết thời hạn phục vụ ở Việt Nam để được về Mỹ. Qua đó càng thấy rõ vai trò to lớn của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân.

        Trong chiến tranh giải phóng cũng như chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhất định phải có tác chiến lớn mới giành được thắng lợi cuối cùng. Nhưng rõ ràng muốn đánh lớn phải trên cơ sở chiến tranh du kích phát triển cao. Phải kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến du kích với tác chiến tập trung lớn mới tạo được sức mạnh tổng hợp quyết định thắng lợi của chiến tranh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #173 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2017, 11:53:07 pm »


TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY Ở PHÍA NAM SÀI GÒN

        Cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ đã thất bại trên phạm vi toàn miền. Ở Long An, lực lượng vũ trang và nhân dân vẫn giữ được những vùng giải phóng rộng lớn. Vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến tiếp tục phát huy tác dụng, trở thành hạt nhân của chiến tranh nhân dân trên chiến trường toàn tỉnh.

        Gần cuối mùa mưa năm 1967, Long An nhận được sự chỉ thị chuẩn bị cho nhiệm vụ mới cùng với sự thay đổi lớn về tổ chức chiến trường. Long An không còn nằm trong đội hình Quân khu 8 mà chia thành hai phân khu trực thuộc sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chỉ huy Miền, đồng thời chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, cùng các phân khu bạn tiến công vào thành phố Sài Gòn khi có lệnh.

        Lúc ấy, về nhiệm vụ, chúng tôi không được biết gì hơn ngoài những điều đã nói trên. Chúng tôi cho đây là một chủ trương mang tính chiến lược của Đảng, phải bảo đảm bí mật tuyệt đối nên không thắc mắc gì, chỉ lo chấp hành cho tốt. Mọi công việc được xúc tiến khẩn trương. Chúng tôi bắt tay ngay vào công tác tổ chức theo sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Miền về cả địa bàn, lực lượng và cán bộ.

        Phân khu 2 gồm các huyện phía Bắc của Long An và các quận, huyện phía tây Sài Gòn như Bình Tân, Quận 10, Quận 11. Lực lượng gồm có hai Tiểu đoàn 267, 269 và một số đơn vị do Miền đưa về, tổng cộng sáu tiểu đoàn vừa bộ binh, đặc công và pháo. Về cán bộ, anh Võ Trần Chí làm Bí thư Phân khu uỷ cùng với các anh Tư Chiểu, Ba Mỹ, Hai Phải (cán bộ Long An). Anh Hai Lâm được điều từ Khu 8 về làm chỉ huy trưởng, anh Hai Hoàn, chỉ huy phó phân khu.

        Phân khu 3 gồm các huyện nam lộ số 4 của Long An cộng thêm các Quận Nhà Bè, Quận 4, 6, 7, 8. Lực lượng có bảy tiểu đoàn, trong đó có Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của Long An. Anh Chín Cần được điều từ Mỹ Tho về làm Bí thư Phân khu uỷ 3, tôi làm chỉ huy trưởng quân sự cùng với các anh Mười Xưởng, Tư Ấp, Hai Lơn... phần lớn là cán bộ của Long An. Lộ số 4 trở thành ranh giới giữa hai phân khu. Mỗi phân khu đều có đủ ba vùng là đô thị, vùng ven và nông thôn. Mặc dù đã chia đôi, đã có tên mới nhưng mọi người vẫn quen gọi Phân khu 2 Long An, Phân khu 3 Long An. Trong tình cảm của cán bộ chiến sỹ, không có sự phân chia, nhất là trong nhân dân, vấn đề phân chia coi như không có.

        Công tác chuẩn bị được tiến hành hết sức khẩn trương vì trên cho biết là thời gian còn rất ít mà công việc thì nhiều, vừa mới lạ, vừa khó khăn. Địa bàn vùng ven và thành phố là nơi chúng tôi chưa nắm được tình hình, nên phải cử cán bộ bắt liên lạc với bên trong. Vấn đề quan trọng nhất là làm sao điều tra nắm được các mục tiêu quân sự nằm sâu trong thành phố và các đường tiến quân. Khối lượng công tác hậu cần cũng rất lớn và khó khăn. Làm sao đưa được hàng chục tấn vũ khí, đạn dược từ biên giới xuống vùng sát Sài Gòn trong điều kiện địch càn bố liên tục. Bộ đội phải lo đánh giặc và dựa vào dân. Rất nhiều đoàn dân công được huy động, có người đã đi liên tục hàng tháng trời. Nếu nhân dân Long An không tham gia tích cực, không thể hoàn thành được công tác hậu cần quan trọng này.

        Về tổ chức và chuẩn bị lực lượng, một số đơn vị trên bổ sung cho phân khu vẫn chưa về đến, các đơn vị khác chưa đủ quân số, vũ khí. Hầu hết bộ đội huyện và du kích xã được điều lên bổ sung khẩn trương cho các tiểu đoàn.

        Ngoài ra, còn phải huy động thêm hàng trăm thanh niên tòng quân. Do vậy, ở các địa bàn nông thôn, thời gian này gần như không còn lực lượng. Song song với công tác tổ chức, biên chế, vấn đề huấn luyện đánh tập trung, nhất là đánh thành phố được đặt ra khẩn trương.

        Hàng núi công việc chồng chất, nhưng khí thế rất phẩn khởi, sôi nổi nên mọi người vượt qua được sự mệt nhọc và căng thẳng để lao vào công việc. Sự phấn khởi , hào hứng của chúng tôi bắt nguồn tự nhận thức: lần này nhất định “dứt điểm”. Mặc dù trước mắt còn nhiều khó khăn, có những vấn đề còn chưa tìm ra cách giải quyết nhưng ai cũng nghĩ rằng, đó là cái khó riêng của đơn vị mình, địa phương mình thôi. Trung ương, cấp trên đã tính toán kỹ cả rồi, chắc phải có cách nào chắc ăn mới làm, vì đây là chuyện lớn, đâu phải là một trận đánh của một địa phương. Đến lúc được phổ biến nhiệm vụ và hiệp đồng chiến đấu, mọi người phấn chấn hẳn lên. Như vậy, đây là “tổng công kích - tổng khởi nghĩa” lấy tổng khởi nghĩa làm trung tâm kết thúc thắng lợi. Mũi tổng công kích đóng vai trò hỗ trợ cho tổng khởi nghĩa. Các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu có nhiệm vụ tiến vào các mục tiêu chiến lược trong thành phố để hỗ trợ cho biệt động và hàng nghìn quần chúng, thành niên, sinh viên, học sinh nổi lên giành chính quyền. Chúng tôi có nhiệm vụ đưa quân vào hỗ trợ, còn công việc chủ yếu là cướp chính quyền thì do các anh trong thành phố tổ chức nhân dân đứng lên thực hiện. Thế thì chắc ăn rồi!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #174 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2017, 11:53:30 pm »


        Công tác chuẩn bị được tiến hành rất khẩn trương, nhưng chưa ai biết thời điểm tiến công chính xác ngày nào. Thời gian qua thật nhanh, thấm thoát đã đến mùa khô 1967 – 1968, Tết âm lịch MậuThân gần kề. Đài phát thanh Giải phóng và đài Sài Gòn đều tuyên bố lệnh ngừng bắn trong mấy ngày Tết để nhân dân đón xuân mới theo phong tục cổ truyền. Như vậy có đánh cũng phải sau Tết, ai cũng nghĩ như vậy.

        Để chuẩn bị phương án tác chiến cho Tiểu đoàn 1 là cải trang thành lính Sài Gòn, dùng xe hơi chạy thẳng vào mục tiêu trong thành phố, tôi và anh Mười Xưởng (lúc đó anh Mười Xưởng là Tiểu đoàn trưởng) đã đi nghiên cứu lộ số 4 vào ban ngày được một lần. Đến dịp Tết, chúng tôi định cải trang để đi nghiên cứu một lần nữa cho kỹ hơn. Thực ra chúng tôi cũng chưa vào sâu được trong thành phố. Vấn đề người dẫn đường làm chúng tôi lo lắng, nhưng trên nói là cứ yên tâm, có lực lượng tự vệ thành đảm nhiệm. Do yêu cầu bí mật, bao giờ có lệnh tiến công người dẫn đường mới được đến.

        Do nhận thức về nhiệm vụ như vậy nên trong dịp Tết, chúng tôi vẫn chỉ đạo các đơn vị tổ chức ăn Tết. Như những Tết trước, đơn vị vẫn tổ chức sẵn sàng chiến đấu, một số cán bộ, chiến sỹ được về thăm gia đình hoặc mời gia đình ở xa đến thăm. Riêng cán bộ lại càng bận rộn vì phải tranh thủ những ngày ngừng bắn để đi nghiên cứu, chuẩn bị các mục tiêu. Bộ phận vận chuyển của hậu cần cũng phải tận dụng mấy ngày này. Tối 30 Tết âm lịch, tôi định tranh thủ nghỉ ngơi một chút để sáng mai đi nghiên cứu lộ số 4 với anh Mười Xưởng. Nhưng gần đến giao thừa, chúng tôi ngạc nhiên khi nghe Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn huỷ bỏ lệnh ngừng bắn vì Việt Cộng đã tiến công vào các thành phố miền Trung, nhất là Huế. Lúc đó không ai hiểu vì sao lai có tình trạng này. Không lẽ chúng tôi chỉ chuẩn bị có tính chất nghi binh cho ngoài kia làm thiệt? Nếu không phải vậy thì tại sao chúng tôi không nhận được lệnh tiến công. Ngay cả những bức điện có tính chất nhắc nhở, gợi ý cũng không có? Không lẽ Sài Gòn và miền Nam phải tiến công sau Huế và miền Trung? Làm như thế có lợi gì về mặt quân sự? Tôi không biết điều đó sẽ như thế nào trên phạm vi toàn chiến trường miền Nam, riêng đối với Sài Gòn, như vậy đã mất đi một phần yếu tố bất ngờ khi ta tiến công.

        Mọi người bàn tán xôn xao, nhưng không ai tìm được các giải thích hợp lý. Chúng tôi đón giao thừa trong tâm trạng băn khoăn. Suốt đêm đó chúng tôi chờ đợi xem có bức điện nào trên gửi xuống không, nhưng tất cả đều im lặng.

        Khoảng bốn giờ sáng, tất cả chúng tôi bừng dậy vì nghe tin các anh trong Bộ chỉ huy tiền phương cánh Nam Sài Gòn vừa đến. Nhìn thấy các anh, chúng tôi biết là đang có cái gì vô cùng hệ trọng đầy! Gần như không kịp chào hỏi chúc tụng nhau, các anh nói ngay: Tình hình khẩn trương lắm, lệnh đêm nay phải tiến công Sài Gòn. Phương án cũ của Phân khu 3 không thực hiện, các tiểu đoàn phải tìm cách tiến công bằng được vào Sài Gòn. Nghe xong mệnh lệnh, tôi chỉ biết kêu trời, anh Chín Cần thì điềm tĩnh hơn. Anh nói với tôi: “Ông có kêu trời thì cũng chẳng ai làm thay, mình phải cùng nhau gắng sức làm thôi!”. Anh ấy nói đúng! Lúc đó chẳng có phép tiên nào giải quyết nổi những khó khăn của chúng tôi. Chỉ còn 20 tiếng đồng hồ, mà một nửa là ban ngày không đi lại được qua các cánh đồng, làm sao kịp tổ chức chiến đấu? Triển khai giao nhiệm vụ cho gần 10 tiểu đoàn đang đóng quân rải rác và phân tán, một số cán bộ, chiến sỹ đang đi ăn Tết, lại còn bổ sung lương thực, đạn dược, và phải thay đổi một số trang bị cho Tiểu đoàn 1 mới có thể đánh được. Trước đó Tiểu đoàn  trang bị rất nhẹ theo kiểu biệt động cải trang. Lại còn đường hành quân và phương tiện qua sông? Đến giờ này vẫn chưa có người dẫn đường thì làm sao chọn được đoạn nào để vào thành phố và đi cách nào đến mục tiêu? Toàn là những câu hỏi hóc búa, không có cách trả lời, nhưng không thể không làm.

        Có lẽ các anh trong Bộ chỉ huy tiền phương cánh Nam cũng ở vào tình thế khó khăn như chúng tôi. Anh Trần Hải Phụng và anh Tư Chu chỉ huy các lực lượng biệt động thành mà giờ này còn ở đây, chắc là trong lòng như lửa đốt. Còn anh Trần Bạch Đằng sôi nổi giơ hai bàn tay lao về phía trước nói: “tiến công, tiến công vô!”. Có lẽ anh nóng lòng muốn tiến công ngay vì cho rằng lực lượng quần chúng và sinh viên, học sinh trong nội thành đang sục sôi khí thế tổng khởi nghĩa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #175 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2017, 11:54:03 pm »


        Chiều mồng một Tết Mậu Thân, chúng tôi buộc phải cho bộ đội hành quân từ 16 giờ, mặc dù biết như thế rất nguy hiểm. Có thể các đồn bốt địch quan sát thấy sẽ kêu pháo bắn. Nhưng không còn cách nào khác, vì nếu đi muộn hơn, có thể bộ đội chưa đến thành phố trời đã sáng. Chúng tôi đến đơn vị nào thì giao nhiệm vụ cho đơn vị ấy và ra lệnh lập tức hành quân chiến đấu. Các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn cũng kêu trời như chúng tôi vì không biết làm sao gom được số cán bộ, chiến sỹ đang về nhà ăn Tết và làm sao bảo đảm đưa đơn vị đến vị trí đúng giờ quy định. Đúng là vừa chạy vừa xếp hàng cũng không kịp! Có lẽ mỗi người chúng tôi sau khi nghe lệnh phải tiến công Sài Gòn đều đã biến thành người khác nên mới có đủ sức làm việc với một cường độ căng thẳng như thế.

        Tiểu đoàn 1 vượt sông Cần Giuộc trong tình trạng không xuồng, bè, qua hết sông thì đã quá nửa đêm. Đến được sông Quán Cơm thì trời đã hửng sáng.

        Ngay trước mặt là bốt cảnh sát Kiều Công Mười. Tình thế ấy buộc phải đánh để mở đường mà đi, nhưng súng bộ binh và B40 không tiêu diệt được mục tiêu này. Lúc ấy các hoả lực như ĐKZ, 12,7... còn nằm ở phía sau do anh Chín Cần nắm nên chiều hôm đó tôi phải lội ngược lại để điều hoả lực lên. Sau khi diệt được bốt cảnh sát Kiều Công Mười. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn Phú Lợi mới tiếp tục tiến vào Quận 8 rồi phát triển về phía cầu Nhị Thiên Đường.

        Cánh Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn Đồng Nai vào Quận 6; cánh của Tiểu đoàn 5 Nhà Bè chỉ vào được đến Tân Quy, giáp Quận 4. Ngày đầu tiến vào Sài Gòn diễn ra khác hẳn so với dự kiến của ta. Các tiểu đoàn mũi nhọn không thể tiến nhanh được,vì vũ khí của ta nhỏ, nhẹ, đạn dược lại ít, còn quân địch thì rất đông, dựa vào nhà cửa kiên cố và đường phố chằng chịt đánh chặn quyết liệt. Nhân dân đón tiếp bộ đội với thái độ rất tốt, nhưng không thấy ở đâu hình thành các cuộc biểu tình lớn. Thanh niên, sinh viên cũng chỉ có số ít tiếp xúc với bộ đội, không thấy lực lượng này đấu tranh bằng các đội ngũ đông đảo như đã từng làm trước đó.

        Thế là chúng tôi phải tiến hành một cuộc chiến đấu bằng các trận đánh quân sự đơn thuần. Không phải đóng vai trò hỗ trợ cho tổng khởi nghĩa của quần chúng. Các trận đánh ấy lại tiến hành trong những điều kiện vô cùng khó khăn, phải đột phá mới tiến quân được, nhưng lại không có các loại vũ khí đột phá.

        Ngày thứ hai của cuộc tiến công, tình hình chung toàn mặt trận không có gì chuyển biến lớn cả về quân sự và chính trị. Ở các mũi, tốc độ tiến quân của các tiểu đoàn bắt đầu giảm. Địch phản kích mạnh ở một số nơi. Đến lúc đó chúng tôi nhận ra việc giữ phía sau là hết sức cần thiết để duy trì sức mạnh chiến đấu lâu dài cho các tiểu đoàn đã vào thành phố. Do đó, tôi quyết định điều Tiểu đoàn Phú Lợi lui ra đứng ở Hưng Long – Đa Phước để giữ phía sau cho Tiểu đoàn 1 và cho cả phân khu.

        Lúc ấy các anh trong Bộ chỉ huy cánh Nam Sài Gòn vẫn ở cùng chỗ với Bộ chỉ huy Phân khu 3. Đến ngày thứ hai, các anh cũng không nhận được tin tức gì bên trong thành phố. Không biết ta có chiếm được các mục tiêu chiến lược chưa? Các phân khu khác thuận lợi hay khó khăn? Chúng tôi đánh theo dõi tin tức qua đài phát thanh Sài Gòn và hỏi những người dân từ trong thành chạy ra... Theo các nguồn tin ấy, có vẻ như các phân khu khác cũng giống như Phân khu 3. Trước tình hình ấy, Bộ chỉ huy cánh Nam chỉ thị cho chúng tôi tổ chức một bộ phận thọc sâu để bắt liên lạc với các cánh và nắm tình hình báo cáo. Chúng tôi chọn một số anh em của Tiểu đoàn 2 và trinh sát tổ chức vượt sông ở bến Lê Quang Liêm. Bộ phận này ra đi nhưng không thấy trở lại. Sau này chúng tôi được biết là anh em đã hoàn thành nhiệm vụ bắt được liên lạc với Phân khu 2 tại chợ Thiếc gần đường Trần Quốc Toản nhưng không thể trở về đường cũ vì bị địch ngăn chặn hết.

        Súng vẫn nổ dữ dội trong thành phố. Quân địch dần dần hồi phục qua cơn bất ngờ choáng váng. Phía ta, đạn dược ngày một ít, phải giải quyết thương binh, tử sỹ, lại ở vị trí không lợi về chiến thuật nên sức chiến đấu giảm dân. Trong khi đó mũi đấu tranh chính trị của quần chúng và sinh vên học sinh vẫn chưa thấy nổi lên. Cuộc tiến công của ta vào Sài Gòn lệch hẳn về mặt quân sự đơn thuần, nhưng ta ở thế bất lợi về tương quan lực lượng và vũ khí trang bị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #176 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2017, 11:55:35 pm »


        Sau mấy ngày chiến đấu, các đơn vị phải lui dần ra vùng ven. Vừa ra khỏi thành phố, chúng tôi nhận được lệnh để lực lượng bám vùng ven chờ lệnh tiến công vào Sài Gòn đợt sau. Chúng tôi chấp hành mệnh lệnh, nhưng trong lòng không khỏi băn khoăn: không biết sẽ tiếp tục đánh vào thành phố bằng cách nào, liệu đợt sau này ở trên có tung ra “bửu bối” gì mới không? Nhưng dù thế nào, chúng tôi cũng phải tranh thủ trang bị lại cho các tiểu đoàn bằng các loại hoả lực mà phân khu hiện có, để khi có lệnh đánh vào thành phố các tiểu đoàn không lúng túng như lần trước.

        Sự chờ đợi ở vùng ven thật căng thẳng. Hầu như ngày nào cũng chống càn mà đội hình các tiểu đoàn không có quyền thay đổi nếu không được sự đồng ý của Bộ chỉ huy Miền. Vì vậy bộ đội không có điều kiện nghỉ ngơi, củng cố, số mới bổ sung chỉ xấp xỉ bằng số tiêu hao trong các trận chống càn.

        Thời gian này, chính tôi cũng mất đi đứa con trai chưa đầy 20 tuổi trong một trận càn của chúng ở vùng ven. Con trai tôi tên là Kháng. Năm 14 tuổi đi theo chú Mười Xưởng. Cháu rất nhanh nhẹn, hoạt bát và hay giúp đỡ mọi người nên được các chú rất thương. Thấy cháu còn nhỏ quá chưa dám cho ở đơn vị chiến đấu, các anh ấy đưa về làm bảo vệ cho Tỉnh uỷ để tôi có điều kiến chăm sóc và rèn luyện cháu thêm. Sáng sớm hôm ấy, bộ phận tôi và anh Chín Cần vừa từ Long Cang về đến Mỹ Lộc, Cần Giuộc thì gặp quân Mỹ càn. Chúng bắn hết đến mấy nghìn quả pháo vào địa hình nơi chúng tôi đang ở. Cháu Kháng lo tìm hầm cho tôi và anh Chín Cần rồi ra công sự tiền duyên quan sát địch. Cháu hy sinh trong loạt pháo bọn Mỹ bắn khi chúng đổ quân ngoài cánh đồng trống. Tôi ngồi bên xác đứa con trai 17 tuổi lòng đau tê tái. Tôi nói với cháu như nói với người còn sống: “Con đã tham gia bộ đội sớm, con hy sinh trong một trận chống càn lớn với bọn Mỹ như thế này là con đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng”. Rồi tôi phải đi ngay vì công việc. Chiều hôm đó anh em về báo tin cho má cháu lên để lo chôn cất. Mỹ Lộc, Cần Giuộc là quê vợ tôi, nhà chỉ cách đó khoảng hai, ba ki-lô-mét. Có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của người mẹ mất con... Sau khi cháu Kháng hy sinh, những năm sau, vợ tôi lại lần lượt đưa các con là Chiến và Thắng đi tòng quân. Vợ tôi bảo nếu giữ con ở nhà, cũng bị bọn ngụy bắt lính. Lúc ấy thành ra cha con, anh em bắn nhau, chết cũng khổ mà sống cũng khổ. Có thể nói, hầu hết phụ nữ Long An thời đó đều có nỗi đau mất con. Tôi thấy trong chiến tranh, phụ nữ quê tôi vất vả hơn cả đàn ông. Hoạt động bí mật, phụ nữ là người nuôi giấu cán bộ rất chí cốt. Nhiều chị, nhiều má bị ta tấn tàn khốc nhưng dù chết vẫn không khai hầm bí mật. Đến lúc có chiến tranh phụ nữ cũng tham gia tất cả các công việc nặng nhọc của đàn ông như làm du kích, đào hầm chông, gài mìn, thậm chí còn lập đội nữ pháo binh. Các chị cũng vác đạn, vác những khẩu súng cối mà ngay cả thanh niên không phải ai cũng vác được. Đặc biệt, phụ nữ tham gia dân công rất nhiều. Anh em thương binh và quân y thường nói: phụ nữ mà càng thương thì khỏi phải lo, các chị dù chết cũng không bao giờ bỏ chiến thương. Việc chăm sóc thương binh và chôn cất tử sỹ hầu như do phụ nữ đảm nhiệm. Trong chiến tranh, phụ nữ còn phải lo việc nhà, vừa phải nuôi chồng nuôi con chiến đấu.

        Công lao của phụ nữ lớn lắm. trong chiến tranh nhân dân, không có các chị, các má kiên cường, dũng cảm, hy sinh như thế sẽ không có chiến công, không có anh hùng dũng sỹ! Ở Long An có biết bao bà mẹ có đến ba, bốn, thậm chí bảy, tám con trai, con gái liệt sỹ. Những bà má đó xứng đáng hưởng những phần thưởng cao quý nhất.

        Thời kỳ này Mỹ bắt đầu sử dụng máy bay ném bom chiến lược B52 ở Long An và vùng ven. Đầu tiên chúng ném bom xuống các vùng căn cứ ven Vàm Cỏ Đông của Đức Hoà. Sau đó chúng trải thảm liên miên suốt từ biên giới Ba Thu xuống đến các địa hình vùng ven giáp Sài Gòn. Ở Phân khu , chúng tập trung oanh tạc vào vùng giải phóng thượng Cần Đước, hạ Cần Giuộc và các địa hình ven sông Vàm Cỏ Đông của Tân Trụ.

        Cùng với nhiệm vụ bám vùng ven để chuẩn bị tiến công vào thành phố, chúng tôi còn được quán triệt tư tưởng chỉ đạo là: Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa là một quá trình. Chúng tôi hiểu câu đó là sẽ tiến công vào thành phố nhiều lần nữa.

        Sau ba tháng chờ đợi, chúng tôi đã nhận được lệnh tiến công đợt hai, nghe phổ biến lệnh tiến công lần này, chúng tôi không bất ngờ đến mức kêu trời như lần trước, nhưng lại băn khoăn về tổ chức, trang bị và cách đánh không có gì thay đổi so với đợt một, thậm chí có mặt còn giảm sút hơn, như không có lực lượng đánh trong nội thành như đợt một mà chỉ có pháo kích từ ngoài vào. Thế nhưng nhiệm vụ của chúng tôi là phải đưa lực lượng vào càng sâu càng tốt, lúc đó gọi là đưa lửa chiến tranh vào sào huyệt địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #177 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2017, 11:56:40 pm »


        Nếu ai có chút hiểu biết về quân sự và đã từng chỉ huy bộ đội tiến công vào Sài Gòn trong đợt một, sẽ thấy ngay tính chất khó khăn của nhiệm vụ này.

        Trước hết, ta không còn yếu tố bất ngờ về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, quân địch đã tổ chức và chuẩn bị phòng thủ Sài gòn rất chặt chẽ. Chúng chia chiến trường này thành 6 khu vực (ABCDEF) tương ứng với từng hướng tiến công của ta và bố trí lực lượng thành ba tuyến: ở nội thành, mỗi khu vực có từ bốn đến năm tiểu đoàn chủ lực Mỹ - ngụy, cùng với cảnh sát, chiêu hồi, chỉ điểm liên tục đánh phá hầu hết cơ sở của ta. Ở vùng ven, các tiểu đoàn của Mỹ và quân chủ lực ngụy luôn bám sát các tiểu đoàn mũi nhọn của ta và tìm cách đẩy ta ra xa đô thị. Ở vòng ngoài, các đơn vị lớn của Mỹ - ngụy tổ chức các cuộc càn quy mô lớn nhằm ngăn chặn, giữ chân các sư đoàn chủ lực của ta. Trong điều kiện như thế, đưa lực lượng qua hai tuyến ngoài của địch để đến được mép tiền duyên của thành phố đã là chuyện khó, chưa nói đến chuyện đưa lực lượng vào sâu trong nội thành.

        Thực tế chiến đấu ở đợt một cho thấy, với đặc điểm địa hình ở thành phố, ta không thể luồn lách để tiến quân, nhất là các đơn vị lớn, mà buộc phải đột phá để tiến quân. Về mặt quân sự, ở thành phố, bên phòng ngự có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, bên tiến công phải có vũ khí mạnh vượt trội mới có thể đánh bật được bên phòng ngự ra khỏi các khu nhà có kiến trúc kiên cố. Nhưng chúng tôi chỉ có vũ khí nhẹ của bộ binh, phải đối đầu với cả xe tăng, xe bọc thép đang chiếm giữ các mục tiêu kiên cố. Bên tiến công còn phải đưa lực lượng của mình vào thật sâu. Điều ấy thật khó giải thích về mặt quân sự, người chỉ huy sẽ làm phương án tác chiến như thế nào, xác định cách đánh ra sao?

        Những vấn đề ấy chúng tôi đều nêu ra và thảo luận rất kỹ trong Bộ chỉ huy Phân khu và Phân khu uỷ. Cuối cùng chỉ thống nhất với nhau được một vấn đề là phải chấp hành thật nghiêm mệnh lệnh chiến đấu, dù phải hy sinh cục bộ để phục vụ cho ý đồ chiến lược toàn cục... Đúng là chúng tôi vào đợt hai với tinh thần của những đội quân cảm tử.

        Chúng tôi chọn cầu Chữ Y làm hướng đột phá chủ yếu. Ngoài ra còn một mũi ở Quận 4. Chọn cầu Chữ Y là hướng tiến công chủ yếu vì đây là cây cầu rất quan trọng ở phía nam Sài Gòn. Chiếm được nó sẽ tạo được bàn đạp để tiến vào trung tâm thành phố mà mục tiêu gần nhất là nhà máy điện Chợ Quán và Tổng nha cảnh sát ngụy trên đường Trần Hưng Đạo. Hai tiểu đoàn chủ yếu của phân khu là Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 cùng lực lượng đặc công được sử dụng vào hướng đột phá chủ yếu, nhưng Tiểu đoàn 2 làm nhiệm vụ giữ sườn và phía sau cho Tiểu đoàn 1 và đặc công đánh chiếm cầu Chữ Y.

        Đêm 5 tháng 5 năm 1968 là đêm N của đợt hai. Tiếng súng tiến công chỉ nổ được ở một nửa mặt trận Sài Gòn, đó là hướng tây và hướng nam; hướng bắc và hướng đông chưa tiến công được vì lực lượng ta bị địch ngăn chặn ở tuyến trung gian, chưa tiếp cận được thành phố.

        Trong đợt này, Phân khu 2 tổ chức lực lượng thành trung đoàn, tiến công vào hướng Phú Lâm; một trung đoàn của Sư đoàn 9 tiến công hướng Bà Quẹo – ngã tư Bảy Hiền. Các trận đánh ở hai khu vực này rất ác liệt. Tuy nhiên, bộ đội cũng chỉ vào sâu như đợt một, có những mũi không bằng. Chiến sự diễn ra trên các đường phố, chưa tiến công được vào mục tiêu quân sự hay chính trị nào của địch. Các trận đánh trên hướng này kéo dài lâu nhất là được năm ngày.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #178 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2017, 12:02:39 am »


        Ở Phân khu 3, tình hình cũng diễn ra tương tự. Tiểu đoàn 5 Nhà Bè chỉ vào được đến Tân Quy, không đủ sức đánh sang Quận 4. Riêng cánh Tiểu đoàn 1 cũng chỉ đánh chiếm được một đoạn đường Phạm Thế Hiển sát phía nam đầu cầu Chữ Y, rồi bám trụ ở đó suốt một tuần lễ. Trong khi đó Tiểu đoàn 2 phải đứng ở cánh đồng để giữ sườn và phía sau cho Tiểu đoàn 1. Trận đánh ở cầu Chữ Y diễn ra vô cùng ác liệt. Tiểu đoàn 1 phải đánh quân ngụy. Những ngày đầu, bọn Mỹ chỉ đánh bằng hoả lực. Bom đạn Mỹ đã phá huỷ hầu hết nhà cửa trên đường Phạm Thế Hiển, dân phải bỏ đi tản cư. Mấy ngày sau, chúng bắt đầu tung ra những trận đánh thăm dò từ hai hướng cầu Mật và cầu Ông Lãnh. Mấy ngày cuối, cả lữ đoàn quân Mỹ tập trung đánh vào trận địa ta. Chúng tôi lo nhất là việc bảo đảm hành lang phía sau cho Tiểu đoàn 1. Làm sao hàng ngày phải tiếp tế lương thực, đạn dược cho đơn vị và phải đưa được thương binh tử sỹ ra ngoài. Tất cả đều phải dựa vào tuyến rạch Cây Khô. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng để bộ đội có thể bám được dài ngày. Nếu Tiểu đoàn 1 đánh vào sâu hơn, sẽ khó giữ mối liên hệ thường xuyên với phía sau và khó có thể bám được dài ngày. Yếu tố quan trọng nhất để tiểu đoàn có thể bám lâu được là tinh thần chiến đấu của bộ đội và vai trò chỉ huy của anh Mười Xưởng và anh Tư Ấp. Sự có mặt thường xuyên ở trận địa, sự bình tĩnh và lạc quan của các anh là chỗ dựa tinh thần quan trọng đối với anh em chiến sỹ trong những trận đánh quân địch đông hơn ta rất nhiều lần với ưu thế tuyệt đối về hoả lực máy bay và pháo binh.

        Đến ngày thứ sáu, bọn Mỹ đổ quân xuống cánh đồng Phú Lạc, đánh vào phía sau lưng của Tiểu đoàn 1. Nhưng chúng đã bị Tiểu đoàn  đánh ngay khi vừa đổ quân xong. Không có Tiểu đoàn 2 giữ hướng này, Tiểu đoàn 1 sẽ rơi vào tình thế bị ép ở cả bốn mặt. Trận đánh kéo dài sang ngày thứ bảy. Mặc dù bộ đội vẫn còn khả năng giữ vững trận địa nhưng chúng tôi thấy tình thế lúc đó vô cùng bất lợi. Các đơn vị tiến công của Phân khu 2 và Sư đoàn 9 ở phía tây cũng bị lui ra vùng ven. Trong khi đó ở phía bắc và phía đông các tiểu đoàn của các Phân khu 1, 4 và 5 vẫn chưa vào được thành phố. Như vậy chỉ còn duy nhất mặt trận cầu Chữ Y đang chiến đấu. Cuộc chiến đấu đơn độc kéo dài, địch có khả năng tập trung lực lượng bao vây toàn bộ khu vực cầu Chữ Y. Đến lúc đó ta có rút ra cũng khó, vả lại tình hình chung đã như vậy, dù Tiểu đoàn 1 có đứng lại được một tuần hay một tháng nữa cũng chẳng có tác dụng gì về mặt quân sự cũng như chính trị, mà chỉ làm cho lực lượng ta bị tiêu hao, yếu đi. Ngay đêm Tiểu đoàn 1 rút ra, bọn Mỹ đổ quân trực tiếp xuống khu vực trận địa và dùng pháo bầy bắn chặn ở đầu rạch Cây Khô. May mà Tiểu đoàn 1 vừa rời khỏi trận địa và chưa về đến rạch Cây Khô. Sau khi các đơn vị Phân khu 2 và 3 rút ra vùng ven một thời gian, một số đơn vị của Phân khu 1 ở phía bắc mới vào được thành phố.

        Quân địch có điều kiện tập trung toàn bộ lực lượng vào đối phó với các đơn vị này, làm cho cuộc chiến đấu trở nên ác liệt và ta phải chấp nhận tổn thất lớn.

        Để chi viện cho cánh bắc, Bộ chỉ huy Miền chỉ thị cho Phân khu 2 tiếp tục tổ chức tiến công vào Sài Gòn. Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 308 (mới được bổ sung từ miền Tây lên) được lệnh tiến công vào khu vực Chợ Lớn, nhưng bị thiệt hại nặng nề. Bộ phận chỉ huy Phân khu 2 tổn thất nặng. Anh Hai Hoàng (Võ Văn Hoàng) – Phó tư lệnh Phân khu 2 hy sinh.

        Qua đợt tiến công vào Sài Gòn, sau này khi có điều kiện tiếp xúc, tôi được biết tình hình ở các phân khu khác cũng tương tự như ở Phân khu 3 và Phân khu 2. Đến nay mỗi khi nhớ lại sự kiện này, tôi vẫn còn những băn khoăn suy nghĩ. Trước hết là về chủ trương chiến lược, tôi vẫn không hiểu vì sao lúc đó lại tiến công thành phố, khi mà tương quan lực lượng chiến lược còn quá nghiêng về phía địch và sao lại chọn cách đánh như vậy. Thực tế sau này khi Mỹ rút hết chỉ còn quân ngụy, muốn giải phóng một quận lỵ vùng rừng núi, giáp biên giới như Lộc Ninh, ta phải mở chiến dịch của chủ lực, có xe tăng và cơ giới tham gia mới đánh chiếm được. Đến cuối năm 1974 đầu năm 1975, đánh chiếm một tỉnh lỵ như Phước Long ta cũng phải sử dụng lực lượng và vũ khí như vậy. Đến năm 1975, khi đánh vào Sài Gòn trong điều kiện quân địch đang tan rã mà ta phải có lực lượng tương đương nhiều quân đoàn, được tổ chức hùng mạnh, có xe tăng, pháo binh và không quân đánh chiếm thành phố. Vậy tại sao năm 1968 ta chỉ sử dụng các tiểu đoàn địa phương, trang bị rất nhẹ phối hợp với biệt động lại đánh chiếm các mục tiêu chiến lược nằm sâu trong nội thành Sài Gòn?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23650


« Trả lời #179 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2017, 12:03:23 am »


        Về mặt quân sự, ta có thể dùng lực lượng biệt động, đặc công đánh tiêu diệt một mục tiêu nào đó. Nhưng để giữ được mục tiêu đó lại tuỳ thuộc vào tương quan thực tế; còn đánh tiêu diệt mục tiêu có thể chỉ tùy thuộc vào yếu tố bất ngờ.

        Về mặt quân sự đơn thuần, thì không thể hạ quyết tâm chiếm Sài Gòn bằng cách đánh và lực lượng như đã diễn ra mà phải kết hợp với tổng khởi nghĩa. Nhưng vì sao mũi chính trị lại không mở ra được? Tình hình quần chúng Sài Gòn và sinh viên, học sinh như thế nào mà lúc đó lại có nhận định: hàng triệu quần chúng đang sục sôi khí thế cách mạng sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập tự do! Khi chúng tôi vào Sài Gòn, thực tế tình hình không phải như thế. Quần chúng ghét chế độ Mỹ - ngụy bóp nghẹt dân sinh, dân chủ nhưng chưa đến mức “sục sôi” và chưa “sẵn sàng hy sinh tất cả” để có thể xuống đường đối đầu với súng đạn, lật đổ ngụy quyền trung ương Sài Gòn, thiết lập chính quyền cách mạng. Sinh viên, học sinh là lực lượng có tổ chức nhưng lúc đó, không tập hợp được đội ngũ. Sau tiến công đợt một, mọi vấn đề đã bộc lộ rất rõ, tổ chức lực lượng và cách đánh ấy hoàn toàn không phù hợp, không thể tiến đến các mục tiêu, thương vong của ta rất lớn. Không hiểu vì sao khi tiến công đợt hai trong điều kiện khó khăn hơn nhiều so với đợt một, ta vẫn duy trì tổ chức, trang bị và cách đánh như cũ?

        Trong cuộc đời chỉ huy chiến đấu của tôi, Tết Mậu Thân năm 1968 là giai đoạn căng thẳng nhất. Không phải do tính chất ác liệt của các trận đánh, mà chủ yếu là do không giải quyết nổi các mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ với thực lực và biện pháp tiến hành. Ở vào tình trạng ấy, người chỉ huy như bị bó tay, không còn hành động một cách tự tin nữa.

        Tết Mậu Thân năm 1968 là những ngày tháng, những kỷ niệm và những kinh nghiệm xương máu không thể nào quên trong mỗi cán bộ, chiến sỹ Long an chúng tôi. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Xuân Mậu Thân trên toàn miền Nam là hết sức to lớn, góp phần làm cho quân Mỹ và chư hầu phải rút khỏi nước ta. Nhưng ôi cũng nghĩ như một số đồng chí khác, nếu biết dừng lại sau đợt một (đợt Tết Mậu Thân), đưa lực lượng về giữ các căn cứ và vùng nông thôn đồng bằng, sẽ tránh được tổn thất lớn và hậu quả nặng nề trong nhưng năm 1969 – 1970”...

        Trích: Thiếu tướng Huỳnh Công Thân, Ở chiến trường Long An, (Nguyễn Hữu Nguyên ghi) Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội – 1994, trang 72 – 144.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM