Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Hai, 2020, 01:02:09 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực  (Đọc 12755 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:07:00 PM »


Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap




Ban biên soạn:
      Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
      Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
      Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
      Trung tá TRẦN NGỌC ĐOÀN
      Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
      Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
      Trung tá TRẦN NGỌC ĐOÀN
      Đại úy NGUYỄN THÚY CÚC


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể, theo dạng hỏi đáp, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam" nói chung và cuốn sách "Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực" nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử dân tộc.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.

Trân trọng giới thiệu!


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #1 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:09:23 PM »


Phần thứ nhất
CUỘC KHỞI NGHĨA NGUYỄN TRUNG TRỰC

Câu hỏi 1: Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Hãy sơ lược tóm tắt lịch sử quan hệ giữa nhà Nguyễn và Pháp đến thời điểm ấy?
Trả lời:


Từ cuối thế kỷ XV, với những phát kiến về hàng hải, người Tây phương đem thuyền bè sang Á Đông, mở rộng sự giao tiếp Đông - Tây thì các nước ở châu Á một khi có biến động lại thấy ngay sự can thiệp của người da trắng. Nước ta thời Đại Việt trong những thế kỷ phân tranh Nam, Bắc, nhờ sự tổ chức chính trị chặt chẽ ở cả hai miền nên đã ngăn chặn được sự quấy rối của các thương nhân Tây phương. Cuộc thử sức giữa thủy quân của Nguyễn Phúc Tần với hạm đội Hà Lan vào cuối năm Quý Mùi (1643) mà kết quả là chiến thắng về tay quân Nguyễn đã làm cho Công ty Đông Ấn Độ - Hà Lan (VOC) - nói rộng ra, các thương nhân Tây phương - chịu bằng lòng đến buôn bán dưới sự kiểm soát của chính quyền phong kiến ở cả hai miền.

Xét lịch sử châu Âu, từ năm 1640, bắt đầu cho một giai đoạn thịnh vượng về kinh tế. Sự tiến triển của hạ tầng cơ sở cứ biến đổi dần, ngấm ngầm mà chắc chắn suốt nửa đầu thế kỷ XVIII. Những người châu Âu ra nước ngoài - buôn bán, truyền đạo, phiêu lưu - chủ yếu nhờ vào những thành quả về tiến bộ kỹ thuật xảy ra trên đất nước họ. Đặc biệt là những phát triển kỹ thuật trong các ngành đóng tàu, dệt, máy hơi nước, chế tạo kim khí,...

Riêng Đông Nam Á, điển hình cho đám người phiêu lưu này ở cuối thế kỷ XVII là Constantin Phaulkon đã làm cho Louis 14 tưởng thực hiện được tham vọng làm chủ một quốc gia: Xiêm La dưới triều Phranarai. Thế kỷ sau, thành công ở Ấn Độ của Dupleix (Pháp), Clive (Anh) về tiền bạc, danh vọng, gây nên sự thèm khát, ganh ghét ở các chính quốc. Vẻ huy hoàng rực rỡ của các triều đình Đông phương vẫn còn làm ngợp những tay phiêu lưu. Công ty Đông Ấn Độ - Pháp suy sụp, đế chính Pháp tan rã, các chức việc, võ quan thất nghiệp đua nhau đem kiến thức phục vụ các ông hoàng Ấn chống người Anh. Trình độ kỹ thuật thu nhận ở quốc gia xuất phát, tinh thần gan dạ kèm với óc tổ chức khiến họ nổi bật lên giữa đám người họ phục vụ. Cho nên, không lấy làm lạ rằng những viên lính thủy đào ngũ của Pháp lại giữ những vai trò điều khiển quan trọng trong thủy quân Nguyễn Ánh sau này.

Hành động song song với đám người phiêu lưu vì tư lợi này còn có những kẻ được gọi là lớp người phiêu lưu của Chúa và của lòng bác ái, tức là các tu sĩ Thiên Chúa giáo. Họ đi truyền giáo với mục đích đem những người ngoại đạo trở về nước Chúa. Ta cũng thấy ở họ tinh thần mạo hiểm không sợ gian nguy. L.M. Laneau can dự vào vụ Phaulkon bị bắt giam ở Ayuthia đến tháng 4 năm 1691 mới được thả. Trong tù, ông viết thư (6-1690) cho Louis 14: Chúng tôi sẽ làm lại như cũ nếu phải bắt đầu làm lại... Nhưng đồng thời, các tu sĩ này cũng không thể nào tách rời quyền lợi đạo giáo với quyền lợi tổ quốc của họ. Viên tư lệnh thành Chandernagor đã nói rõ ràng trong một bức thư gởi cho toàn quyền Pondichéry (12-2-1778): Tôi luôn luôn lấy làm lạ rằng tại sao ông Bộ trưởng không ra lệnh cho các tu sĩ ở các nơi liên lạc thư từ với các người cầm quyền để báo cáo cho họ biết về tình hình chính trị những nơi họ ở, với các chi tiết về buôn bán mà ta có thể gây được ở nơi đó. Điều đó chắc chắn có ích cho quyền lợi chung hơn là vài tên tín đồ mà họ phải chăm sóc. Với lại làm cả hai việc không có gì là mâu thuẫn hết. Trong khi một người là linh mục, họ không nên quên rằng tình trạng tiên khởi của họ là người của vua họ và phải chú trọng đến việc phục vụ cho vua trong mọi việc cần đến họ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #2 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:11:30 PM »


Không phải là chính quyền ép buộc, các tu sĩ cũng công nhận việc phục vụ cho vua họ như một bổn phận thiêng liêng. Laneau trong thư nói trên, không ân hận đã bị bắt, vì điều đó có liên quan quá nhiều đến thanh danh của hoàng thượng. Chính trong cái ý thức tâm lý chung đó của thời đại mà chúng ta thấy các giáo sĩ đều đồng loạt hành động như nhau. Không phục vụ cho vua họ ở chính quốc thì họ phục vụ cho vương quyền nơi họ trú ngụ, nhất là khi đường lối phục vụ này có hy vọng dẫn đến kết quả tốt đẹp cho sự phát triển đạo.

Cụ thể ở Việt Nam, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Ất Dậu (1765), Chúa Vũ Nguyễn Phúc Khoát mất, quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền thay Chúa đổi ngôi, đưa Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi Chúa để dễ bề không chế. Từ đó Đàng Trong bắt đầu đi vào con đường suy thoái, sưu cao thuế nặng, khắp nơi đều vang lên tiếng than oán và cuối cùng dẫn đến việc ba anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa năm Quý Tỵ (1773). Lợi dụng lúc Đàng Trong có nội loạn, Chúa Trịnh xua quân qua sông Linh Giang tấn công Phú Xuân (Huế). Phú Xuân thất thủ, chúa tôi họ Nguyễn phải chạy vào Gia Định, chấm dứt sự nghiệp của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Trong số người chạy loạn có Nguyễn Ánh lúc bấy giờ mới 13 tuổi. Nguyễn Ánh là con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân và bà Nguyễn Thị Hoàn. Năm Đinh Dậu (1777), Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Định, chúa tôi họ Nguyễn phải bỏ thành kéo tàn quân chạy về Định Tường, Cần Thơ. Quân Tây Sơn truy lùng gắt gao, bắt được và giết Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Ánh bắt đầu một cuộc sống long đong và vất vả.

Vài năm sau, Nguyễn Ánh lấy lại được Sài Côn (Sài Gòn) rồi tiến ra lấy lại Bình Thuận. Năm Canh Tý (1780) Nguyễn Ánh lên ngôi Vương ở Gia Định. Năm Nhâm Dần (1782), thấy thế lực Nguyễn Ánh ngày càng mạnh, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ kéo quân vào đánh, Sài Gòn thất thủ, Nguyễn Ánh lại bôn tẩu về Hà Tiên rồi chạy ra đảo Phú Quốc.

Nguyễn Ánh vốn là con người có chí nên ông bất chấp gian khổ, canh cánh trong lòng một mối thù phục quốc. Chính vì thế nên khi biết được giám mục Pháp Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), người có uy tín và thế lực tại Pháp thời bấy giờ đang ở Đàng Trong, Nguyễn Ánh không ngần ngại cho mời giám mục tới và nhờ giám mục làm sứ giả trong việc cầu viện Pháp. Nguyễn Ánh đã để cho con trưởng của mình là Nguyễn Phúc Cảnh mới 4 tuổi theo giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp làm con tin.

Trong thư gửi cho Vua Pháp (Louis 16), Nguyễn Ánh xin Pháp giúp 1.500 lính và tàu bè, súng ống, vật dụng. Để đền bù, Pháp được độc quyền buôn bán ở nước Việt Nam, nhường cho nước Pháp đảo Côn Lôn (Côn Đảo) và cảng Đà Nẵng (có tài liệu nói là cảng Hội An). Kết quả là ngày 28 tháng 11 năm 1787, bộ trưởng De Montmorin đại diện cho Pháp và giám mục Bá Đa Lộc đại diện cho Nguyễn Ánh ký bản hiệp ước tương trợ Pháp - Việt tại điện Versailles. Và Bá Đa Lộc được Pháp cử làm "Ủy viên của Hoàng đế Pháp tại xứ Đàng Trong".

Hiệp ước gồm có 10 điều, tóm tắt như sau:

- Pháp sẽ giúp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến, 1.200 người, 200 pháo binh, 250 lính Phi Châu thuộc địa của Pháp và đạn dược đầy đủ, pháo binh tinh nhuệ.

- Khi nước ta loạn lạc, Pháp sẽ giúp đỡ xứng với sự cần dùng mỗi lúc, nhưng không quá số đã định trong hiệp ước này.

- Ta nhường cho Pháp hải cảng Đà Nẵng và đảo Côn Lôn.

- Pháp được tự do đi lại, tự do buôn bán, trả thuế xuất nhập cảng theo giá như người bản xứ. Tàu binh, tàu buôn ngoại quốc muốn đến nước ta phải treo cờ Pháp và có giấy thông hành Pháp cấp.

- Pháp có thể lập trên lục địa nhà cửa, cơ sở mà họ xét cần dùng cho việc tàu bè giao thông, buôn bán, cho việc sửa chữa, làm ra tàu bè. Về việc cảnh sát ở hải cảng sẽ có tờ giao ước riêng định.

- Ta sẽ bảo hộ sự tự do, sự an toàn thân thể và đồ đạc cho người Pháp. Khi có sự tranh tụng, phải xử phán mau lẹ và công bình.

Hiệp ước Versailles này chính là cái cớ để sau này thực dân Pháp xâm lược nước ta năm 1858.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #3 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:12:35 PM »


Cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn kéo dài đến năm Tân Dậu (1801) Nguyễn Ánh chiếm lại được Phú Xuân và ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Lên ngôi xong, vua Gia Long đưa quân tiến ra đất Bắc, quân Tây Sơn tan rã lần hồi. Đến tháng 6 cùng năm thì vua Gia Long đã thống nhất được đất nước, chấm dứt cuộc Trịnh- Nguyễn phân tranh kéo dài gần 300 năm.

Vua Gia Long không theo đạo Thiên Chúa dù rất biết ơn giám mục Bá Đa Lộc và có nhiều thiện cảm với các giáo sĩ, nhưng Hoàng tử Cảnh đã theo đạo khi ở chung với giám mục Bá Đa Lộc. Một lá thư của Cha Lelabousse viết vào tháng 6 năm 1792 cho biết: "Trong buổi lễ được tổ chức vào khoảng cuối tháng 7 năm 1789, Hoàng tử Cảnh nhất định không đến lạy trước bàn thờ tổ tiên đã làm cho Nguyễn Vương đau khổ tủi nhục và tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ miện, nói rằng ông là một người cha bất hạnh".

Nhưng vua vẫn một lòng kính trọng giám mục, trong một lá thư của giám mục viết cho Hội truyền giáo hải ngoại năm 1795, giám mục kể rằng trong năm đó có mười chín ông quan trong triều đình viết sớ đưa lên cho Nguyễn Ánh xin ngài thận trọng đừng để giám mục lo việc giáo huấn Hoàng tử Cảnh. Nguyễn Vương nổi trận lôi đình, vứt sớ xuống đất và kể những công trạng của giám mục đối với gia đình và sự nghiệp của Vương. Nguyễn Ánh hăm dọa là sẽ phạt thẳng tay những người có ý nghĩ xấu này. Xong Vương vào hậu cung kể lại cho vợ nghe và hai người quyết định là giấu chuyện này không cho giám mục biết. Ngày 19 tháng 12 năm Canh Thìn (3-2-1820), vua Gia Long băng hà thọ 58 tuổi. Vị vua kế tiếp của triều Nguyễn là Minh Mạng.

Vua Minh Mạng tên là Nguyễn Phúc Đảm, sinh năm Tân Hợi (1791) tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, con thứ tư của vua Gia Long và bà Thuận Thiên Trần Hoàng hậu. Khi Hoàng tử Cảnh mất thì Đảm được lập làm Thái tử, khi vua Gia Long băng hà, theo di chiếu lên nối ngôi, lúc này Phúc Đảm đã 30 tuổi và đổi niên hiệu là Minh Mạng.

Minh Mạng không thích đạo Thiên Chúa nên không cho người ngoại quốc vào giảng đạo ở trong nước, ông có ra dụ (sắc lệnh) nói rằng: "Đạo phương Tây là tà đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo". Lúc bấy giờ không phải là một mình vua ghét đạo Thiên Chúa mà thôi, phần nhiều những quan lại cũng đều một ý cả, cho nên sự cấm đạo lại càng nghiệt ngã thêm. Nhưng mà dẫu cấm thế nào mặc lòng, vẫn có người đi giảng đạo Thiên Chúa, nhà vua lấy điều đó làm trái phép nên ra dụ lần nữa nói rằng ai bắt được giáo sĩ đem nộp thì được thưởng. Năm ấy ở Huế có một giáo sĩ phải xử giảo, và các nơi cũng rối loạn vì sự bắt đạo và giết đạo.

Cũng vì việc cấm đạo Thiên Chúa cho nên sự buôn bán với người nước ngoài cũng bị cản trở vì triều đình thấy thỉnh thoảng khi có chiếc tàu buôn đến thì lại có một vài giáo sĩ Thiên Chúa giáo trên đó nên càng lạnh nhạt với người nước ngoài. Vua từ chối không tiếp một tàu ngoại quốc nào ngay cả tàu Pháp. Hai ông quan người Pháp (Chaigneau và Vannier) làm trong triều đình từ thời Gia Long thấy vua Minh Mạng có vẻ không thích người ngoại quốc nên cũng xin từ chức rồi đem gia đình trở về Pháp. Sau này vua Pháp có gởi sứ giả sang xin bang giao với Việt Nam nhưng vua Minh Mạng không tiếp, nước ta coi như bế quan tỏa cảng từ đó.

Vua Minh Mạng mất năm Canh Tý (1840), thọ 50 tuổi, trị vì được 21 năm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #4 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 05:13:18 PM »


Người con trưởng của vua là Hoàng Tử Nguyễn Phúc Tuyền, húy là Miên Tông sinh năm Đinh Mão (1807) được di mệnh nối ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị. Sách nói vua Thiệu Trị là một người hiền hoà, siêng năng, cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Mọi việc đều noi theo cũ không có gì đổi mới.

Từ khi vua Thiệu Trị lên ngôi thì việc cấm đạo Thiên Chúa mới nguôi đi được một ít, nhưng triều đình vẫn ghét đạo và những giáo sĩ ngoại quốc vẫn còn bị giam ở Huế. Có người đưa tin ấy cho trung tá Pháp tên là Favin Lévêque coi tàu Hérone, ông này đem tàu vào Đà Nẵng xin cho năm giáo sĩ được tha. Năm Thiệu Trị thứ năm (1845) có người giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Thiếu tướng hải quân Pháp là Cécile biết, sai quân đem tàu Alcmène vào Đà Nẵng lĩnh giám mục ra.

Năm Ất Tỵ (1847), nước Pháp biết rằng ở Huế không còn giáo sĩ bị giam nữa, mới sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiến thuyền vào Đà Nẵng, xin bỏ những chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới. Lúc hai bên còn đang thương nghị về việc ấy thì thủy binh Pháp thấy thuyền của ta đóng gần tàu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có quân ta đắp đồn lũy, mới nghi có sự âm mưu gì chăng bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền ấy, rồi nhổ neo kéo buồm ra biển.

Vua Thiệu Trị thấy vậy tức giận vô cùng, lại có dụ (sắc lệnh) cấm người ngoại quốc vào giảng đạo và trị tội những người trong nước đi theo đạo. Vài tháng sau thì vua lâm bệnh nặng rồi mất.

Con thứ hai của Thiệu Trị là Hồng Nhậm lên ngôi lúc 19 tuổi, lấy niên hiệu là Tự Đức. Đời vua Tự Đức có rất nhiều loạn lạc (giặc cờ Đen, cờ Vàng, cờ Trắng, nội loạn, phò Lê diệt Nguyễn, v.v...) và cũng là giai đoạn đầu mà Pháp đánh Việt Nam.

Năm Tự Đức thứ 9, có chiến thuyền "Catinat" vào cửa Đà Nẵng rồi cho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam về việc giết đạo Thiên Chúa. Không được trả lời, quân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi. Có ông giám mục Pellerin trốn được lên tàu. Giám mục Pellerin về Pháp thuật lại cho triều đình Pháp cảnh các giáo sĩ Thiên Chúa giáo bị đàn áp dã man ở Việt Nam và nói rằng chỉ cần có loạn là các tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nổi lên đánh giúp, lại có Hoàng hậu Pháp Eugénie rất sùng đạo nên cũng nói giúp ông Pellerin, vì vậy vua Pháp mới quyết định sang đánh nước ta.

Tháng 7 năm Tự Đức thứ 11 (1858), thiếu tướng Pháp là Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu Tây Ban Nha tất cả 14 chiếc vào cửa Đà Nẵng bắn phá rồi hạ thành An Hải và thành Tôn Hải. Theo dự trù, thiếu tướng Rigault de Genouilly tính tiến đánh Huế sau khi hạ Đà Nẵng nhưng chờ mãi mà chẳng thấy tín đồ Thiên Chúa giáo nổi loạn trong khi quân nhà Nguyễn đổ xuống ngày càng đông, quân Pháp lại không quen khí hậu nên ngã bệnh cũng nhiều. Thiếu tướng Rigault de Genouilly tranh cãi với giám mục Pellerin và viết thư về Pháp kể tình hình, giám mục Pellerin giận bỏ về Mã Lai. Thấy đánh Huế chưa nổi, viên thiếu tướng Pháp đổi ý, quay qua đánh Gia Định vì đây là nơi quan quân nhà Nguyễn phòng thủ sơ sài và là vùng đất trù phú hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #5 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:47:24 AM »


Câu hỏi 2: Chính sách "bế quan tỏa cảng" và "trọng nông ức thương" của nhà Nguyễn đã có ảnh hưởng gì đến thực trạng của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ?
Trả lời:


Tư bản Pháp đã chọn đúng lúc để nổ súng xâm lược Việt Nam khi chế độ phong kiến Việt Nam đang đi sâu vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảng nặng từ cuối thế kỉ XVIII. Những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong nước đã xuất hiện và ngày càng mâu thuẫn đối kháng với quan hệ kinh tế phong kiến bảo thủ lạc hậu bao đời thống trị xã hội Việt Nam. Nền kinh tế tiểu nông đang cần được phát triển, nhưng bị chế độ chiếm hữu và bóc lột phong kiến uy hiếp nghiêm trọng. Đây cũng là thời kỳ bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân trên một quy mô rộng lớn trong phạm vi cả nước, đòi hỏi đất nước phải sớm thống nhất. Cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn thắng lợi đã mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa. Nhưng dựa vào thế lực tư bản Pháp, Nguyễn Ánh đã đánh thắng Tây Sơn. Có thể khẳng định rằng triều Nguyễn thành lập là sự thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản động trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ đối với triều đại Tây Sơn tương đối tiến bộ hơn về nhiều mặt.

Ngay sau khi lên ngôi (1802), Nguyễn Ánh lấy niên hiệu là Gia Long và các vua tiếp theo (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) ngày càng đi sâu vào con đường phản động, vừa ra sức phục hồi và củng cố quan hệ sản xuất cũ, vừa cố tình bóp nghẹt lực lượng sản xuất mới đã manh nha phát triển hồi thế kỷ XVIII. Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn.

Bộ máy chính trị triều Nguyễn ngay từ đầu đã mang nặng tính chất quan liêu, độc đoán. Đó là một nhà nước quân chủ chuyên chế tuyệt đối, tập trung cao độ với một chế độ chính trị lạc hậu, phản động. Mọi quyền hành đều tập trung trong tay nhà vua. Vua được coi là "con trời", "thay trời" trị dân; quyền hành nhà vua được coi là thần khí thiêng liêng, vô hạn. Nhà vua trong thực tế là đại địa chủ lớn nhất trong nước, có toàn quyền phung phí tài sản quốc gia trên xương máu của nhân dân. Còn quan lại trong triều và ở các địa phương hầu hết là bọn hủ bại; chính trị thì bảo thủ, cầu an, kinh tế thì tham lam và cuồng bạo. Từ vua đến quan đều rất tự cao tự đại với học thuyết Khổng, Mạnh, xem trật tự phong kiến là bất di bất dịch, mãi đến lúc súng giặc nổ ầm bên tai mới bàng hoàng tỉnh giấc.

Trong hoàn cảnh đó, đời sống của người nông dân trong các thôn xã vô cùng cơ cực. Dưới triều Nguyễn, tổ chức thôn xã đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn cường hào địa chủ nông thôn. Nó trói buộc người nông dân trong những quan hệ địa phương hẹp hòi có lợi cho sự bóc lột của nhà nước phong kiến và cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #6 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:48:10 AM »


Nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm phạm nghiêm trọng. Ruộng đất phần nhiều tập trung vào tay bọn quan lại, địa chủ. Công điền, công thổ chỗ nào màu mỡ béo tốt đều bị bọn cường hào lũng đoạn, còn lại thì bọn hương lý lại bao chiếm, dân nghèo chỉ được những chỗ xương xẩu mà thôi. Cho nên, nói chung nông dân không có ruộng cày, đời sống vô cùng cực khổ. Hiện tượng nông dân không có ruộng đất cày cấy làm ăn phải bỏ làng đi tha phương cầu thực là nét phổ biến dưới triều Nguyễn. Chỉ từ năm 1802 đến năm 1806, nông dân trên 870 thôn thuộc mấy trấn lớn ngoài Bắc xiêu tán đi nơi khác. Đến năm 1826, có đến 108 xã, thôn thuộc 13 huyện của trấn Hải Dương xiêu tán, cộng thêm vào đó là tô thuế rất nặng nề. Đó là chưa kể tới tình trạng vỡ đê lụt lội, mất mùa đói kém thường xảy ra, hầu như không năm nào không có. Đê Văn Giang ở Hưng Yên vỡ 18 năm liền, biến cả một vùng đồng bằng phì nhiêu ở Khoái Châu thành bãi đất hoang, nhân dân vùng này phải từng đoàn lang thang kéo nhau đi các nơi xin ăn. Tại các vùng ở Bắc Ninh, Sơn Tây lại có nạn châu chấu phá hoại mùa màng, vì vậy, nạn đói xảy ra thường xuyên. Ngay trước khi tư bản Pháp sắp nổ súng đánh vào Đà Nẵng (1858), một trận đói ghê gớm đã xảy ra làm cho hàng chục vạn dân các tỉnh Trung Bắc Kỳ bị chết. Đồng thời, cũng do sự bất lực của bọn phong kiến thống trị hồi đó, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hại hàng chục vạn người.

Trước tình hình bi thảm đó, để xoa dịu và ngăn ngừa dân chúng nổi dậy, phong kiến triều Nguyễn đã thi hành một số biện pháp. Minh Mạng ra lệnh cho Nguyễn Công Trứ chiêu dân tiến hành khai hoang miền ven biển lập ra hai huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) trong hai năm 1828-1829; Tự Đức giao cho Nguyễn Tri Phương lo liệu việc mộ dân lập ấp ở Nam Kỳ từ năm 1853. Nhiều dân bị tù tội đã được đưa vào đây khai khẩn. Nhưng tất cả các biện pháp trên đều không mang lại kết quả đáng kể vì đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị. Người nông dân sau một thời gian đổ mồ hôi sôi nước mắt lại thấy ruộng đất do tay mình làm ra bị bọn phong kiến cướp đoạt. Vì vậy, nạn nông dân lưu tán, nhất là đến đời Tự Đức khi tư bản Pháp sắp nổ súng khởi hấn, lại càng trở nên phổ biến khắp cả nước và ngày càng trầm trọng hơn lên. Đó là một trong những nét tiêu biểu của thời kỳ khủng hoảng suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn.

Trong khi nông nghiệp đang lâm vào tình trạng tiêu điều xơ xác như vậy thì công nghiệp nằm trong tay phong kiến triều Nguyễn cũng ngày một bế tắc.

Chính sách của triều Nguyễn về mặt công nghiệp vô cùng phản động. Phong kiến nhà Nguyễn nắm trong tay những ngành kinh doanh lớn. Các công xưởng lớn đúc súng, đóng tàu, đúc tiền; các xưởng nhỏ chuyên chế tạo đồ dùng riêng cho nhà vua, vàng bạc, gấm vóc; các công trường xây dựng cung điện, thành quách, lăng tẩm đều do bộ Công của triều đình quản lý. Chế độ làm việc trong các công xưởng này là chế độ "công tượng" mang nặng tính chất cưỡng bức lao động. Những người thợ giỏi ở các địa phương bị bắt về đây được phiên chế thành đội ngũ, làm việc tập trung, lại chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của quan lại nên rất bất mãn, không phấn khởi với công việc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #7 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:49:20 AM »


Triều đình phong kiến còn giữ độc quyền ngành khai mỏ. Số mỏ được khai thác từ năm 1802 đến năm 1858 là 139 mỏ, bao gồm đủ các loại. Nhưng phần lớn các mỏ đều do bọn quan lại triều đình đứng ra khai thác, chỉ một số ít là do chủ mỏ Hoa kiều hay người dân Việt Nam chủ trì. Phương thức sản xuất trong cả ba loại mỏ căn bản vẫn là lối sản xuất thủ công cá thể với những hình thức bóc lột phong kiến mang nặng tính chất nô dịch. Năng suất trong các công trường mỏ vì vậy thường thấp. Đã thế, triều Nguyễn còn đánh thuế sản vật rất nặng vào các mỏ do Hoa kiều hay người dân Việt đứng ra khai thác. Nhiều phép tắc vô lý làm hạn chế sự phát triển của ngành khai mỏ như quy định những khu vực cấm khai mỏ, giữ độc quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá quy định.

Các nghề thủ công trong nhân dân không có điều kiện phát triển. Tại các công xưởng thủ công, mặc dù không có một chế độ phường hội chặt chẽ theo kiểu các nước phong kiến châu Âu, nhưng các mối quan hệ phức tạp giữa chủ và thợ, giữa thợ cả và thợ bạn, giữa các làng chuyên nghiệp với nhau và rất nhiều luật lệ cấm đoán của triều đình đã làm cho sáng kiến, tài năng của người thợ ngày càng bị bóp nghẹt. Các nghề thủ công nhỏ và nghề phụ gia đình ở nông thôn còn bị đình đốn vì nông dân đói khổ, li tán. Thủ công nghiệp hầu như bị tê liệt.

Thương nghiệp dưới triều Nguyễn sút kém một cách rõ rệt. Chính sách "trọng nông ức thương" của triều đình đã kìm hãm thương nghiệp, về nội thương, một mặt triều đình nắm độc quyền buôn bán nguyên liệu công nghiệp (như đồng, thiếc, chì, kẽm, nhất là lưu hoàng, diêm tiêu), vì sợ nhân dân chế vũ khí chống lại. Mặt khác, lại đặt ra nhiều luật lệ chặt chẽ để kiềm chế, như nắm độc quyền buôn bán cả đối với một số lâm sản quý giá cướp đoạt của đồng bào miền núi (quế, gạc hươu, sáp ong, ngà voi, gỗ quý); đánh thuế nặng vào các mặt hàng quan trọng đến đời sống nhân dân như lúa gạo để hạn chế việc chuyên chở trao đổi giữa các vùng trong nước; cấm nhân dân họp chợ. Việc giao lưu giữa các địa phương vì vậy gặp rất nhiều trở ngại, thị trường trong nước không tập trung và thống nhất.

Ngoại thương cũng bị triều đình nắm độc quyền. Thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, triều đình chỉ mở nhỏ giọt một số cửa biển cho tàu nước ngoài lui tới buôn bán. Chỉ được nhập vào những hàng hóa triều đình cần (như sắt, chì, gang, lưu hoàng để làm súng đạn), còn xuất cảng thì cấm tàu thuyền nước ngoài không được mua tơ lụa, thóc gạo trong nhân dân. Tàu buôn nước ngoài tới buôn bán còn bị khám xét rất kỹ để đánh thuế và định giá hàng, lại còn có thể bị trưng dụng đi phục vụ cho các đợt công tác đột xuất của triều đình (như chở gạo cho quân lính, hay chuyên chở nguyên vật liệu xây dựng lăng tẩm, cung điện). Chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình đã làm cho việc buôn bán với nước ngoài sa sút rõ rệt. Thuế cửa quan, trước có 60 sở, đến năm 1851 chỉ còn 21 sở; một số cảng trước kia buôn bán rất phồn thịnh, nay cũng trở nên tiêu điều vắng vẻ.

Nói tóm lại, nền kinh tế tài chính nước ta trong nửa đầu thế kỷ XIX đã suy đốn trầm trọng về mọi mặt nông, công, thương nghiệp. Do chính sách phản động của triều Nguyễn, các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các khu vực kinh tế đang trên đà phát triển tự nhiên và tiến bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội hồi đó, đều bị bóp nghẹt.

Nền kinh tế hàng hóa vì vậy đã bị co hẹp lại. Trên cơ sở đó, nền tài chính quốc gia ngày một kiệt quệ. Đời sống nhân dân ngày càng cực khổ. Mối mâu thuẫn giữa bọn phong kiến thống trị với nhân dân chủ yếu là nông dân đã trở nên vô cùng gay gắt và đã bộc lộ ra ngoài một cách sâu sắc với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân suốt cả mấy đời vua triều Nguyễn. Trước khi tư bản Pháp nổ súng xâm lược, một số cuộc khởi nghĩa lớn đã bùng nổ: Phan Bá Vành ở Nam Định (1821); Lê Duy Lương ở Ninh Bình (1833); Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833); Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1833); Cao Bá Quát ở Hà Nội và Bắc Ninh (1854)...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #8 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:50:31 AM »


Để duy trì chế độ xã hội nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn đã ra sức củng cố trật tự bằng mọi cách.

Đối nội, nhà Nguyễn ra sức đàn áp, khủng bố các phong trào của quần chúng, huy động những lực lượng quân sự to lớn vào việc dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân trong biển máu. Các cuộc hành quân liên miên một mặt đã làm cho chính lực lượng quân sự của triều đình bị suy yếu dần, mặt khác cũng làm hủy hoại khả năng kháng chiến lớn lao của dân tộc, càng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho tư bản Pháp thôn tính nước ta. Để biện minh cho thủ đoạn tàn bạo trên, nhà Nguyễn đã ban hành bộ luật Gia Long năm 1815. Bộ luật này được soạn ra phỏng theo bộ luật nhà Thanh (Trung Quốc), dưới ý niệm trấn áp nhân dân và giữ vững trật tự phong kiến tuyệt đối. Chúng còn lợi dụng cả văn học để tuyên truyền cho chế độ thống trị đẫm máu của chúng, như Minh Mạng ra 10 điều Huấn dụ, Tự Đức diễn âm Thập điều diễn ca để truyền bá rộng rãi học thuyết Nho giáo trên cơ sở đó củng cố ý thức hệ phong kiến đã bị rạn nứt.

Đối ngoại, nhà Nguyễn ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhân dân bị khánh kiệt. Còn đối với các nước tư bản phương Tây thì lại thi hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan tỏa cảng và cấm đạo, giết đạo. Trước âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của bọn tư bản nước ngoài, nhất là của tư bản Pháp - phong kiến nhà Nguyễn tưởng làm như vậy là tránh được nạn lớn. Cả vua lẫn quan không thấy được muốn bảo vệ độc lập dân tộc, muốn giữ gìn đất nước trong những điều kiện quốc gia và quốc tế bấy giờ, biện pháp thích hợp nhất là mở rộng cửa biển giao thương để duy tân xứ sở, đẩy mạnh phát triển nông, công, thương trong nước, trên cơ sở đó nhanh chóng bồi dưỡng sức dân, sức nước để có thể đối phó kịp thời và hiệu quả với những âm mưu xâm lược ngày càng được đẩy mạnh của tư bản nước ngoài. Trái lại, càng đóng chặt cửa và càng cấm đạo, giết đạo, lại càng tạo thêm lý do cho chúng nổ súng xâm lược sớm hơn.

Rõ ràng là với những chính sách phản động nói trên, nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây, đặc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đã có cơ sở bên trong nước ta nhờ sự hoạt động ngấm ngầm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt con buôn và giáo sĩ. Lịch sử lúc này đã đi tới một bước ngoặt. Một là, triều Nguyễn bị đánh đổ và thay thế là một triều đại khác tiến theo hướng mới của tư bản chủ nghĩa, có khả năng duy tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Hai là, nước Việt Nam bị mất vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc địa. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, khi tiếng súng xâm lược của Pháp bùng nổ, giai cấp phong kiến Việt Nam đã phân hóa ra hai phái: chủ chiến và chủ hòa. Phái chủ hòa gồm phần đông bọn đại phong kiến và quan lại lớn với Tự Đức đứng đầu đã nhanh chóng câu kết với bọn cướp nước để làm tay sai cho chúng đàn áp bóc lột nhân dân cả nước. Đó là tội lớn của phong kiến nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch sử.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #9 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2016, 08:54:13 AM »


Câu hỏi 3: Cho biết thân thế Nguyễn Trung Trực, các giả thuyết về tuổi tác, tên thật và gia đình của ông?
Trả lời:


Ông bà, cha mẹ của Nguyễn Trung Trực vốn người miền Trung. Quê ở xóm Lưới, xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, về sau, cha mẹ ông di chuyển vào Nam lập nghiệp, sinh sống tại làng Bình Nhựt, tổng Bình Cách (Năm Minh Mạng thứ 16 (1836), tổng Bình Cách gồm có 3 tổng: Bình Cách, Bình Cách Trung và Bình Cách Thượng. Thôn Bình Nhựt nằm trong tổng Bình Cách Thượng), huyện Thuận An, phủ Tân An, thành Gia Định. Nay là ấp I, xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Cha của Nguyễn Trung Trực là Nguyễn Văn Phụng, có tài liệu ghi là Nguyễn Trung Thăng (hoặc Nguyễn Cao Thăng), mẹ là bà Lê Kim Hồng. Sau khi rời quê hương Bình Định vào Nam sinh sống, ông bà sinh ra 8 người con mà Nguyễn Trung Trực là trưởng tại Tân An (Long An).

Lúc mới sinh, Nguyễn Trung Trực được đặt tên là Nguyễn Văn Nhơn, sau đó đổi thành Lịch. Vì sau khi chiến thắng trận Nhật Tảo, vua Tự Đức sắc phong cho ông chức Quản cơ Bình Thuận nên người ta thường gọi ông là Quản Nhơn hay Quản Lịch. Vả lại trong Quốc sử Quán triều Nguyễn cũng có ghi: "... Vua phong thưởng cho Lịch làm chức Quản cơ Bình Thuận. Nguyễn Văn Quang và Hoàng Khắc Nhượng (có tài liệu ghi là Nguyễn Văn Sang và Huỳnh Khí Nhượng) cùng 20 người nữa làm cai đội đều được cho ngân tiền. Binh lính tham gia được thưởng chung 1.000 quan tiền. Bốn người bị chết đều được cấp tiền tuất gấp hai...".

Đến năm 1867 vua Tự Đức lại sắc phong cho ông chức Thành thủ úy Hà Tiên. Ông đến nơi nhậm chức thì quân Pháp đã chiếm mất Hà Tiên trước đó mấy ngày rồi, ông rút lui về Hòn Chông (cách Hà Tiên 20km) lập căn cứ chống Pháp. Lúc bấy giờ ông đổi tên là Nguyễn Trung Trực cho đến ngày hy sinh.

Có rất nhiều tư liệu nói về tuổi tác của Nguyễn Trung Trực. Có tài liệu nói ông trên 40 tuổi, lại có tài liệu nói trên 50 tuổi, v.v... Nhưng cũng có nhiều cứ liệu xác định tuổi thật của ông một cách khoa học và có cơ sở hơn như:

Ông Nguyễn Văn Đồ là cháu cố của em ruột Nguyễn Trung Trực cho biết: "Năm cố cả tôi (Trực) qua đời đã ngoài 30 tuổi”.

Theo tờ hôn thú của Nguyễn Thành Truyện lập năm 1909. Người đứng chủ hôn là ông Nguyễn Văn Thơ 59 tuổi (Nguyễn Văn Thơ là em út của Nguyễn Trung Trực - theo tông chi Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau). Như vậy Nguyễn Văn Thơ sanh năm 1850. Trong 8 anh em của Nguyễn Trung Trực, nếu lấy trung bình khoảng cách 15 năm, nghĩa là tuổi anh cả hơn người em út 15 tuổi, thì Trung Trực sinh khoảng năm 1835 (?). Do đó có thể lúc Nguyễn Trung Trực hy sinh năm 1868 đã ngoài 30 tuổi (theo cuốn Nguyễn Trung Trực - Thân thế sự nghiệp - Bảo tàng Kiên Giang xuất bản năm 1989 - trang 202).
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM