Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Tám, 2019, 11:52:44 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam giải phóng quân - Nhớ lại bước khởi đầu  (Đọc 12423 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #120 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:29 PM »


        So sánh lực lượng ta - địch

        Đến 13 giờ ngày 19 tháng 8, bộ đội giải phóng có mặt đông đủ ở làng Thịnh Đán, lực lượng gồm có đại đội Đàm Quang Trung, đại đội Vi, và đại đội Đàm Quốc Chủng. Tất cả khoảng 450 người, được tổ chức thành một chi đội đo đồng chí Lâm Cẩm Như (tức Lâm Kính) (Đồng chí Lâm Cẩm Như tức Lâm Kinh là cháu đích tôn của cụ Nguyễn Thượng Hiền.) làm chi đội trưởng. (Sau Cách mạng tháng Tám, có chi đội tương đương quân số một trung đoàn.)

        Trung đội hoả lực do đồng chí Hồng An phụ trách vác đại liên, súng cối nặng được đồng chí Nhị Quý hướng dẫn men theo rìa dãy núi Tam Đảo xuống xã Quân Chu, qua Bình Định, Tân Cương vượt sông Công ra Thịnh Đán.

        Vì đường xa, vác nặng nên ngày hôm sau mới tới địa điểm tập kết. Bộ chỉ huy trận đánh có hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Đăng Ninh. Giúp việc, có các đồng chí Du Phong tức Nguyễn Chính, đồng chí Lân tức Phan Mỹ, đồng chí Châu Ký và sĩ quan tuỳ tùng Hùng Việt.

        Tối ngày 19 tháng 8, Bộ chỉ huy Giải phóng quân triệu tập một cuộc họp chung với cán bộ lãnh đạo địa phương để thống nhất lực lượng và hoạt động chung "khởi nghĩa giải phóng thị xã Thái Nguyên". Ban tỉnh ủy lâm thời Thái Nguyên cũng được thành lập gồm có các đồng chí Nhị Quý, Lê Trung Đình, Hoàng Thế Thiện, Đào An Thái và đồng chí Nguyễn Thị Tâm.

        Lúc này, địch ở Thái Nguyên đóng thành hai cụm, một cụm lính Nhật và một cụm lính bảo an.

        Quân Nhật khoảng 120 tên, do một tên quan tư chỉ huy, trong số đó có từ 60 đến 70 lính chiến đấu đóng tại trại lính khố xanh cũ và dinh công sứ Pháp trên đồi cao, có công sự kiên cố gần cầu Gia Bảy. Ngoài đồn trại, quân Nhật còn đóng ở các điểm lẻ, trong những ngôi nhà gạch lớn như nhà Gô-chi-ê (Nhà Gô-chi-ê vốn thuộc một hãng buôn lớn của Pháp, có cấu trúc kiên cố, quân Nhật dùng làm sở hiến binh do một tiểu đội đóng giữ.), ty liêm phóng, kho gạo và đồn điền Gia Sàng.

        Khoảng 400 lính bảo an với gần 600 khẩu súng trường và một ít súng máy đóng tại trại lính tây cũ, sát với dinh tỉnh trưởng có cổng thông nhau qua nhà phó sứ ở gần Bến Tượng.

        Mặc dù lực lượng của Giải phóng quân về số lượng không đủ để tiêu diệt địch và trình độ tác chiến còn thấp, nhưng căn cứ vào tình hình đặc biệt lúc bấy giờ, vào tinh  thần hoang mang tan rã của địch, đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định hành động.

        Nhân dân các huyện quanh thị xã Thái Nguyên nổi dậy cướp chính quyền huyện, xã

        Mệnh lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban chỉ huy Khu giải phóng được phổ biến từ mấy hôm trước. Nhân dân các huyện quanh thị xã Thái Nguyên rầm rộ nổi dậy cướp chính quyền ở huyện, xã... Các tổ, đội tuyên truyền và quần chúng trung kiên từ bốn phía kéo về. Quần chúng phía Võ Nhai do các đồng chí Hoàng Thế Thiện và Đào An Thái lãnh đạo kéo xuống. Phía Đồng Hỷ, Phú Bình, quần chúng do chị Tâm lãnh đạo kéo đến vây thị xã.

        Bên trong thị xã, nhân dân mà lực lượng nòng cốt là đội tự vệ vũ trang gồm những thanh niên hăng hái như các anh Mực, Đích, Lê Văn Xuyên, Phạm Nguyên, Hoàng Công, Nguyễn Khanh, Nguyễn Thế Giai... biểu tình, tuần hành thỉ uy.

        Từ chiều 19 tháng 8, nhân dân trong thị xã và các huyện xung quanh kéo về tổ chức một cuộc mít tinh lớn hàng vạn người ở sân vận động thị xã. Các đồng chí Hoàng Thế Thiện và Đào An Thái chủ trì cuộc mít tinh kêu gọi nhân dân đánh đổ ngụy quyền tay sai, thành lập các đoàn thể cứu quốc, vận động anh em bảo an binh rời bỏ hàng ngũ địch. Cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành thị uy lớn, quần chúng nhân dân toả đi các đường phố chính làm cho ngụy quân và ngụy quyền hoang mang cực độ

        Quân Nhật báo động sẵn sàng chiến đấu, song không bắn vào nhân dân.

        Đội tự vệ trừ gian lùng bắt gần 40 tên tay sai thân Nhật và xử bắn tên vệ sĩ của Cung Đình Vận.

        Các đoàn thể quần chúng, nhất là chị em phụ nữ cứu quốc như chị Tư Phòng, chị Bạch Thị Tân tích cực chuẩn bị cơ sở hậu cần để đón Quân giải phóng.

        Tên chỉ huy bảo an bị bộ đội ta bắt. Toàn bộ lính bảo an đầu hàng và nộp vũ khí cho cách mạng.

        Bộ chỉ huy Quân giải phóng vừa đến Thịnh Đán thì được tin đã có một đội tuyên truyền từ Đình Cả đến Thái Nguyên ngay gần Thịnh Đán; một số thanh niên và công chức tỉnh Thái Nguyên đang tổ chức một cuộc mít tinh nhỏ ở gần đấy. Đồng chí chỉ huy trưởng ra lệnh cho tất cả những ai là dân ở đây đều phải đến trình diện tại trụ sở xã mặt khác ra lệnh cấm không cho người ngoài vào tỉnh để phong toả tin tức.

        Một ban tình báo lâm thời được thành lập điều tra ngay tin tức trong số hơn hai chục thanh niên và công chức vừa đến trình diện. Mấy người làm việc ở sở công chính tình nguyện vẽ giúp bộ đội những tấm bản đồ khá chi tiết. Các anh em thanh niên và công chức sau khi cung cấp tin tức, tình nguyện đi dẫn đường cho các đơn vị bộ đội.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #121 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:48 PM »


        10 giờ đêm, Bộ chỉ huy làm xong kế hoạch tác chiến, có phái đoàn quân sự Mỹ, nhất là thiếu tá A.K Tô-mát tham gia ý kiến.

        12 giờ đêm, bộ đội được lệnh xuất quân chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Theo mệnh lệnh chiến đấu, 4 giờ sáng, toàn thể bộ đội và Bộ chỉ huy đều phải có mặt ở địa điểm đã định. 5 giờ 30 (lúc tang tảng sáng) tất cả phải bố trí trận địa xong và sẵn sàng chiến đấu.

        Sở chỉ huy lúc đầu đặt tại ngôi đình thị xã cạnh vườn hoa (ngôi đình này đã bị phá huỷ trong kháng chiến chống Pháp); vị trí thứ hai đặt tại ngôi nhà hai tầng của chủ nhà máy điện tỉnh. Đi theo bộ chỉ huy, có một đại đội vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, vừa là đội dự bị. Sĩ quan tuỳ tùng Hùng Việt được chỉ định làm nhiệm vụ điều động thanh niên đắp chiến luỹ dọc các đường phố.

        4 giờ sáng ngày 20 tháng 8, bộ đội chiếm lĩnh xong vị trí chiến đấu. Chi đội Giải phóng quân đặt dưới quyền chỉ huy của chi đội trưởng Lâm Kính. Điều đáng chú ý là trong khi đại đội của Đàm Quang Trung vây áp sát trại Nhật, một đơn vị bộ đội địa phương Phú Bình tích cực lên phối hợp với Quân giải phóng đã bao vây áp sát nhà điện. Đại đội Vi bao vây chặt đồn bảo an binh và dinh tỉnh trưởng. Đại đội Đàm Quốc Chủng tách ra một trung đội do đồng chí Hiệp là trung đội trưởng làm nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy còn lại hai trung đội bố trí ở đồn điền Gia Sàng làm đội dự bị.

        Sáng sớm ngày 20 tháng 8, tuy đã tiếp nhận tối hậu thư, tỉnh trưởng Bùi Huy Lượng vẫn không chịu trả lời. (Tuần phủ mới là Bùi Huy Lượng được Nhật cử thay Cung Đình Vận. Tuần phủ tỉnh Thái Nguyên là Cung Đình Vận, khét tiếng gian ác và phản động được Nhật triệu về Hà Nội giao cho chức "Bắc Kỳ tiễu phỉ đại sứ”. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, bọn Nhật thay từ "tuần phủ” bằng từ "tỉnh trưởng" đổi tên gọi lính khố xanh thành bảo an binh. Sau Cách mạng tháng Tám, Cung Đình Vận bị ta bắt ở chợ Mơ và đưa ra xét xử tại Tòa án nhân dân Thái Nguyên và xử bắn tại sân vận động thị xã.)

        Trung đội trưởng Lương Thịnh dẫn đầu một trung đội giải phóng quân tiến công vào dinh tỉnh trưởng có một trung đội lính bảo an bảo vệ, bắt tỉnh trưởng Bùi Huy Lượng, tên chỉ huy bảo an và toàn bộ trung đội bảo an. Bọn hiến binh Nhật bắn sang khu dinh tỉnh trưởng. Trung đội giải phóng nổ súng trung liên bắn dữ dội vào trại hiến binh Nhật.

        Bọn hiến binh Nhật chỉ có 18 tên, cử một tên thiếu uý và phiên dịch mặc quần áo lính vác cờ trắng ra  hàng. Trung đội trưởng Lương Thịnh cho giải tên tỉnh trưởng, tên chỉ huy bảo an và tên thiếu uý Nhật về sở chỉ huy. (Có người viết: Tuy đã tiếp nhận tối hậu thư, Bùi Huy Lượng vẫn còn nhùng nhằng mặc cả để chia phần thắng lợi. Bộ đội ta bắn một quả đạn ba-dô-ca vào trại bảo an binh. ngay cạnh dinh tỉnh trưởng. Trước khi thế áp đảo của quần chúng nhân dân đấu tranh đòi chúng đầu hàng, cộng với tiếng nổ của đạn ba-dô-ca và sức vây ép của Giải phóng quân, viên tỉnh trưởng buộc phải cho kéo cờ trắng đầu hàng. Sau khi tuân theo tối hậu thư, trao chính quyền và nhiệm sở cho uỷ ban khởi nghĩa, viên tỉnh trưởng được lệnh khuyên bảo lực lượng bảo an binh đầu hàng, nộp vũ khí cho cách mạng. Người viết bài này ghi lại những ý kiến trái ngược nhau với ý muốn đề nghị các bạn chiến đấu dự trận này bổ sung tư liệu để dựng lại chính xác sự kiện lịch sử này)

        Ta buộc tên tỉnh trưởng phải trao chính quyền và trụ sở của chúng cho ủy ban khởi nghĩa; đồng thời buộc tên chỉ huy bảo an phải ra lệnh cho tất cả binh lính đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí cho cách mạng. Trừ một vài hoạt động chống cự lẻ tẻ không đáng kể, hầu hết binh lính do quản Khiêm chỉ huy đều tuân theo mệnh lệnh của Quân giải phóng nộp toàn bộ súng đạn và kho vũ khí gần 600 khẩu súng trường, một số súng máy, đạn dược và lựu đạn.

        Đến trưa thì giải quyết xong trại bảo an. Hơn 60 anh em binh lính tình nguyện tham gia Giải phóng quân được thu nhận và được biên chế vào đại đội Đàm Quang Trung, kịp thời tham gia đánh địch. Trong số này, nhiều anh em chiến đấu rất dũng cảm, có 7 người đã anh dũng hy sinh khi tiến công đồn trại Nhật. Phần lớn còn lại xin về quê được cấp tiền ăn đường và giấy thông hành. Anh em binh lính rất cảm kích trước tinh thần và lòng bao dung quảng đại của bộ đội cách mạng.

        Chiến lợi phẩm được chuyển về vị trí dự bị của Bộ chỉ huy do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách. Tại đây, anh Ninh lo việc tuyên truyền động viên nhân dân trong thị xã, tiếp tế đạn dược, lương thực cho bộ đội đang chiến đấu.

        Bắt đầu từ 6 giờ 30 sáng hôm ấy, anh Phan Mỹ được Bộ chỉ huy giao nhiệm vụ điều khiển các thanh niên tự vệ tỉnh Thái Nguyên đi thu thập tất cả số vũ khí đạn dược chiến lợi phẩm chuyển ngay về phía Nam thị xã trang bị cho các đội tân binh đã tuyển mộ từ Bắc Giang lên để thành lập một chi đội mới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #122 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:27 PM »


        Tiến công trại Nhật

        Trận đánh Nhật tại thị xã Thái Nguyên đến nay đã gần 50 năm. Đã có nhiều bài viết về trận này. Tôi thích đoạn nhà báo quân đội Trần Cư thuật lại lời đồng chí Đàm Quang Trung kể lại chi tiết trận đánh Nhật trong bài Tại sao có bộ đội Việt - Mỹ? Tác dụng?" đã đăng trên báo Nhân dân năm 1990:

        "Chúng tôi nhận được lệnh tiến về Thái Nguyên. Kế hoạch đánh thị xã được vạch ra tóm tắt như sau: bao vây, gọi hàng, buộc địch trao chính quyền cho Việt Minh. Phân công đại đội chủ lực Việt Minh bao vây quân Nhật ở trong thành; chi đội 3 do đồng chí Lâm Kính phụ trách bao vây và gọi hàng lực lượng bảo an; các lực lượng du kích, tự vệ chiến đấu của địa phương và bộ đội Thái Nguyên toả ra chặn tất cả các ngả đường dẫn đến thị xã.

        Chiều hôm sau, bộ đội ăn cơm tối xong thì có lệnh xuất phát. Anh em thanh niên đưa các đơn vị đến từng ngõ, từng nhà cần bố trí trong thị xã. Đến tảng sáng thì bố trí xong.

        Gần sáng, tôi ra cửa sổ trên lầu hai của căn nhà đối diện với cổng thành quân Nhật đóng, cách xa độ 40 mét, qua khe cửa sổ, tôi thấy tại cổng ra vào có hai tên lính gác. Từ trong thành tiến ra một xe chở nước và bọn lính đi chợ mua thực phẩm. Rồi vài tên sĩ quan Nhật đeo kiếm đứng tụ tập trước cổng thành. Nếu tiến công tiêu diệt chúng thì vào lúc này có kết quả nhất, bởi vì chúng tôi lúc đó có 8 súng máy, 20 tôm-sơn và vài chục khẩu các-bin. Nhưng ta chủ trương bao vây gọi hàng là chủ yếu cho nên tôi lặng lẽ quan sát.

        Bọn sĩ quan Nhật cứ xì xồ gì đó. Rồi thấy trong trại chúng nhốn nháo lên như có báo động. Thì ra chúng ra lệnh tiến công. Sợ lỡ mất thời cơ, tôi liền rút luôn quả lựu đạn ném vào bọn ở cổng thành. Một tên bị thương. Thế là các cỡ súng của ta đồng loạt "lên tiếng". Tôi chạy như bay xuống gác. Đồng chí người Dao đứng gác đã bắn chết tên lính Nhật gác cổng nhưng lại bị một tên khác bắn lại, trúng đầu, gục ngay xuống.

        Trên thực tế, quân ta hồi ấy tinh thần quyết tâm rất cao, nhưng kỹ thuật tác chiến thì còn non kém. Anh em chưa được huấn luyện bao nhiêu, lại chưa có kinh nghiệm đánh những trận như thế này.

        Trận đánh kéo dài đến 8 giờ sáng. Tôi đến gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp thì được đồng chí cho biết: ta đã buộc tên tuần phủ đầu hàng. Nhưng hắn còn mặc cả để chia phần thắng lợi. Ta bèn hạ lệnh bắn vào trong trại bảo an một phát ba-dô-ca. Thế là chúng kéo cờ trắng (làm bằng khăn trải bàn) xin hàng. Đến trưa thì giải quyết xong trại bảo an. Ta vẫn chủ trương bao vây và dụ hàng bọn Nhật; ta đề nghị tạm ngừng bắn để cho tỉnh trưởng mang tối hậu thư của ta hẹn tên quan tư Nhật cử đại biểu ra gặp ta thương lượng, lần thứ nhất không kết quả; lần thứ hai lại vào có mang theo tối hậu thư của bộ đội Việt - Mỹ do ông A.K Tô-mát thảo bằng tiếng Anh".

        Siết chặt vòng vây trại Nhật, diệt các ổ đề kháng bên ngoài trại

        Sau khi ta gửi tối hậu thư vào một lúc thì có một sĩ quan Nhật tay cầm cờ trắng ra đón người đưa thư vào trại. Sau đó phía quân Nhật cử hai phái viên ra gặp Bộ chỉ huy Quân giải phóng.

        Cuộc đàm phán kéo dài hơn một giờ. Phía Nhật viện cớ là sẽ phải giao nộp vũ khí cho quân đội Đồng Minh, không muốn giao nộp cho ta. Thực chất là chúng muốn dây dưa kéo dài thời gian để chờ viện binh từ Hà Nội lên.

        Bộ chỉ huy Quân giải phóng đặt điều kiện cho phía Nhật nếu đến hai giờ chiều không trả lời dứt khoát thì sẽ bị tiến công và cho phép hai phái viên Nhật trở về trại. Để đề phòng quân Nhật tráo trở, sở chỉ huy được chuyển ngay đến vị trí thứ hai là chủ nhà máy điện, phía sau có quả đồi cao, tiện việc quan sát và chỉ huy chiến đấu.

        Trong thị xã ngoài đồn trại, quân Nhật còn đóng ở ba đồn lẻ trong những ngôi nhà gạch lớn, nằm giữa thị xã uy hiếp một số trục đường. Từ những vị trí mật trên mái nhà, trong các cửa sổ, thỉnh thoảng quân Nhật lại bắn một vài phát súng dọc theo đường phố quấy rối sự đi lại và hoạt động bình thường của nhân dân. Đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng thiếu tá A.K Tô-mát cho điều tra và phái từng tổ xung phong, đồng thời dùng ba-dô-ca, lựu đạn lửa tiêu diệt 3 ổ đề kháng đó. Chiến sĩ ta đã mưu trí, anh dũng chiến đấu, nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ, thu được chiến lợi phẩm.

        Tại ngôi nhà Gô-chi-ê (sở hiến binh Nhật) quân địch dựa vào tường, rào vững chắc, ngoan cố chống cự. Tổ ba-dô-ca, do tiểu đội trưởng Hải phụ trách được điều đến, bắn toang một mảng tường nhà. Tiếng ba-dô-ca nổ, áp đảo tinh thần quân Nhật. Tổ xung phong do đồng chí Vũ Ngọc Lê làm tổ trưởng, dùng búa phá cửa sổ, nhảy vào trong nhà, dùng lựu đạn và súng ngắn tiêu diệt quân Nhật, đánh chiếm từng căn phòng một. Hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Đàm Quang Trung, có thiếu tá Tô-mát cùng đi, trực tiếp xem xét tại chỗ sự bố phòng của quân Nhật trong ngôi nhà Gô-chi-ê. Quân ta thu được một lá cờ mặt trời (cờ Nhật), một khẩu súng ngắn pa-ra-ben-lom Đức, mười khẩu súng trường Nhật, nhiều đạn dược và quân trang, quân dụng.

        Tại ty Liêm phóng, quân Nhật bị đánh bật ra khỏi nhà. Chúng dồn vào cố thủ trong một lò nung vôi bỏ không. Tổ xung phong chiến đấu của ta ném lựu đạn vào, địch nhặt ném trả lại. Cuộc chiến đấu kéo dài, phía ta đã có đồng chí bị thương vong. Rút kinh nghiệm tại chỗ, chiến sĩ ta rút chốt lựu đạn cho xì khói, đếm một, hai, ba rồi mới ném, tốp quân Nhật ở đây bị diệt. Thế là cả ba ổ tác chiến của Nhật đều bị tiêu diệt.

        Quân Nhật hoàn toàn bị vây hãm trong trại. Sau đó, sự đi lại trong thành phố mới tương đối an toàn vì không còn bị những tên lính Nhật từ những vị trí bí mật trên mái nhà hoặc cửa sổ lúc lúc lại bắn ra các đường phố. Qua kinh nghiệm đó cũng thấy rõ ràng nếu có những tổ tác chiến gan dạ thì với một số lượng rất ít có thể làm tê liệt sinh hoạt của một đô thị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #123 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:56 PM »


        Thành lập ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh, thành lập chính quyền nhân dân các cấp

        Ngay chiều 20 tháng 8, ta tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng tại sân vận động thị xã; đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, tuyên bố bãi bỏ chính quyền của Nhật và tay sai, thành lập chính quyền nhân dân trong thị xã và trong toàn tỉnh, thực hiện các chính sách của Uỷ ban dân tộc giải phóng, Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh do đồng chí Lê Trung Đình là Chủ tịch ra mắt trước hàng vạn quần chúng nhân dân. Mọi người hò reo, hô vang các khẩu hiệu, vui mừng phấn khởi vì từ nay chấm dứt chế độ quan lại phong kiến thực dân phát xít.

        Sau khi chính quyền nhân dân cấp tỉnh được thành lập, Quân giải phóng tiếp tục bao vây quân Nhật. Các đội tuyên truyền được toả đi vận động nhân dân thành lập chính quyền nhân dân các cấp.

        Các đoàn thể quần chúng cứu quốc vừa mới được tổ chức, bắt tay ngay vào hoạt động. Chị em phụ nữ tiếp tế cơm ăn, nước uống cho bộ đội giải phóng; anh em thanh niên công nhân nhà máy điện, học sinh, viên chức và nhân dân thị xã ngả cây to, khiêng bàn tủ, lật xe bò, xe ngựa xuống đường làm vật chướng ngại cản giặc, phối hợp chiến đấu với Quân giải phóng, các tiểu đội, trung đội vũ trang của các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên... bao vây các đồn trại Nhật ở địa phương mình, cùng nhân dân khởi nghĩa chiếm các huyện ly, cô lập quân Nhật ở các đồn trại lẻ, không cho chúng co cụm về thị xã.

        Hai giờ chiều, viên quan tư Nhật không chịu trả lời. Bộ chỉ huy Quân giải phóng thông báo cho nhân dân thị xã biết, ta tiếp tục tiến công.

        Ba giờ chiều, đại đội của đồng chí Đàm Quang Trung, lúc ấy đã được tăng cường trung đội hoả lực Hồng An, dùng hoả lực súng máy, ba-dô-ca, súng tự động và cả súng cối bắn mãnh liệt vào trại Nhật. Địch dựa vào công sự kiên cố chống trả quyết liệt. Tiếng súng trường, súng máy, tiếng lựu đạn nổ lẫn với tiếng moóc-chi-ê bắn trả của địch làm rung chuyển cả thị xã Thái Nguyên. Bị vây hãm chặt, bị thiếu lương ăn, nước uống, quân Nhật chịu tiếp nhận các điều kiện của ta.

        Cuộc bao vây trại Nhật ở thị xã đã bước sang ngày thứ ba (22-8). Chiều ngày hôm đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận được tờ báo Đông Phát đăng tin ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhân dân Hà Nội đã khởi nghĩa giành được chính quyền, dinh khâm sai đổi tên là Bắc Bộ phủ. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Bắc Bộ và Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội đã ra mắt nhân dân. Đồng chí Võ Nguyên Giáp còn nhận được thư đề ngày 21 tháng 8 năm 1945 của giáo sư Ngụy Như Kon Tum- Giám đốc Việt Nam học xá gửi các ông cán bộ cao cấp Việt Minh ở chiến khu, mời Việt Minh về Hà Nội nắm chính quyền.

        Toàn bộ chỉ huy và bộ đội, nhân dân được tin hò reo vui sướng, các đồng chí Trường Chinh và Nguyễn Văn Trân từ Tân Trào đến Thái Nguyên bàn với đồng chí Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ chỉ huy cần về ngay Hà Nội để lo công việc trong cả nước, trung tâm công việc bây giờ không còn ở Thái Nguyên nữa. Việc chỉ huy đánh Thái Nguyên giao lại cho đồng chí Đàm Quang Trung.

        Sau đó, Giải phóng quân tiếp tục bao vây địch và tiến công chủ yếu bằng hoả lực. Quân Nhật khốn đốn, không có lương ăn và thiếu nước uống nghiêm trọng; tên nào ló ra ngoài là bị bắn ngay. Quân ta vừa tiến công quân sự, vừa làm công tác địch vận. Ngày 24 tháng 8, phía Nhật đề nghị gặp lại ta. Hai đồng chí Nhị Quý và Lê Trung Đình cùng anh Quý (Quý đen) phiên dịch tiếng Nhật, được cử đi tiếp xúc với chúng tại dinh công sứ. Vì bị vây hãm chặt chẽ nên quân Nhật chịu nhận một số điều kiện:

        - Giao nộp vũ khí ở tất cả các đồn lẻ, như Đại Từ, Phấn Mễ, Giang Tiên, Đá Gân, Gia Sàng... cho ta;

        - Riêng ở thị xã chúng xin lùi một thời gian để xin lệnh cấp trên nhưng chịu "án binh bất động" không can thiệp vào công việc của nhân dân ta.

        Tên quan Nhật lại dẫn đồng chí Lê Trung Đình đến các đồn lẻ tiếp nhận vũ khí của chúng, còn bọn lính thì đưa về tập trung tại thị xã.

        Trại Nhật vẫn bị bao vây, song chúng đã được nhân dân ta tiếp tế cho lương ăn, nước uống.

        Ngày 25 tháng 8, Tổng khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi trong cả nước. Khi phái viên của bộ tư lệnh Nhật cùng phái viên của Bộ Tham mưu ta ở Hà Nội lên Thái Nguyên để giải quyết, quân Nhật mới chịu chấp nhận các điều kiện để vũ khí lại cho giải phóng quân, còn binh sĩ thì được ta phụ trách đưa về Hà Nội.

        Thế là toàn tỉnh Thái Nguyên sạch bóng quân xâm lược. Trận đánh Nhật ở thị xã Thái Nguyên là một trong những chiến công ở thời kỳ non trẻ của quân đội ta. Cùng với các trận đánh Nhật ở Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Cạn... trận đánh Nhật ở Thái Nguyên có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong lịch sử Giải phóng quân. Toàn tỉnh Thái Nguyên được giải phóng đã góp phần củng cố và tăng thêm sức mạnh của hậu phương, trở thành chỗ dựa vững chắc của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới được thành lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #124 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:59 PM »


ĐÁNH BẠI CÁC CUỘC TIẾN CÔNG CỦA NHẬT VÀO VÙNG GIẢI PHÓNG TỈNH TUYÊN QUANG

LÊ THUỲ         

        Phát xít Nhật biết rằng địch thủ nguy hiểm nhất, đáng sợ nhất của chúng là Mặt trận Việt Minh, là Giải phóng quân, là chính quyền cách mạng được thành lập, là các căn cứ mới ra đời. Đây cũng là mục tiêu đầu tiên cần xóa bỏ của chúng.

        Trung tuần tháng 5 năm 1945, Nhật tập trung 2.000 quân mở một cuộc tiến công lớn vào vùng giải phóng. Địch chia làm ba mũi tiến sâu vào khu căn cứ ở giữa sông Lô và đường số 3. Âm mưu của chúng là chia cắt vùng giải phóng ra nhiều mảnh và bao vây tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng. Quân dân vùng giải phóng anh dũng chiến đấu dùng du kích chiến, phục kích, tập kích bẻ gãy các cánh quân của chúng ở các hướng Chợ Đồn - Bắc Cạn, Chợ Chu, Định Hóa - Thái Nguyên.

        Ở hướng Tuyên Quang ngày 25 tháng 5 năm 1945, cánh quân chủ yếu của địch từ Chợ Chu phối hợp với cánh quân Thiện Kế lên cùng tiến quân vào châu Sơn Dương hình thành một mũi mạnh uy hiếp vùng núi Hồng (Tân Trào). Đến đèo Chắn chúng lọt vào ổ phục kích của ta. Trung đội của các đồng chí Trần Thế Môn và Long Giang nhất loạt nổ súng. Địch bị ta đánh bất ngờ, chết gần 40 tên và bị thương một số. Bọn còn lại kéo vào xã Thành Cóc ra Đạo Viện về Yên Sơn (Tuyên Quang).

        Đầu tháng 6 năm 1945, quân Nhật tiến đánh châu Khánh Thiện (tức châu Chiêm Hoá). Cánh quân ở Chợ Đồn kéo xuống tạo thành gọng kìm phía Bắc, cánh quân ở Tuyên Quang tiến lên Chợ Bợ, xã Yên Nguyên, Chiêm Hóa, tạo thành gọng kìm phía Nam.

        Trước khi nhận được thông báo tình hình quân Nhật tiến công vùng giải phóng, hai trung đội giải phóng quân của đồng chí Chì và đồng chí Liên đã nhanh chóng tập kết ở xã Yên Nguyên thuộc vùng phía nam Chiêm Hóa. Trung đội tôi về tập kết ở xã Bình Xa chuẩn bị đánh địch ở Chợ Bợ (làng Đồng Vàng, đầu cầu Cả (cách cầu Chợ 8 ki-lô- mét), xã Yên Nguyên). Tôi và đồng chí Liên thống nhất chọn địa hình hiểm trở, hai bên có núi đá cao, đường độc đạo thuận lợi cho phục kích đánh địch, đội hình triển khai kín đáo, có lợi cho ta. Xã Yên Nguyên đã xây dựng được cơ sở Mặt trận Việt Minh từ năm 1944, có lực lượng tự vệ chiến đấu của xã và nhân dân phối hợp đưa đường bám sát theo dõi hành động của địch.

        Ngày 2 tháng 6 năm 1945, địch hành quân từ Tuyên Quang theo đường số 2 đến ki-lô-mét 31, đóng quân ở Chợ Bợ, địch có khoảng 150 tên; chúng lùng sục xung quanh xã Bình Xa, bị tự vệ chiến đấu và một tổ giải phóng quân chặn đánh. Khi chúng tiến vào làng Ba Nhất, Nhân Thọ, bộ đội ta chặn đánh bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Mục đích cuộc hành quân của địch lần này là nhằm càn quét lực lượng giải phóng quân và đánh vào các cơ quan châu Khánh Thiện mới được thành lập, khi cánh quân từ Tuyên Quang lên gặp cánh quân ở Chợ Đồn, Đầm Hồng xuống Chiêm Hóa, thì cùng nhau rút về Tuyên Quang.

        Trung đội giải phóng quân của tôi đang hoạt động ở gần Hàm Yên kéo về xã Bình Xa cách Chợ Bợ ba ki-lô-mét. Trung đội của đồng chí Liên đang công tác ở gần Chiêm Hóa kéo về tập kết ở xã Yên Nguyên. Trung đội của đồng chí Chì hoạt động xung quanh Phố Trinh, bảo vệ cơ quan châu Khánh Thiện đóng ở xã Vinh Quang cũng bị kéo về tập trung ở xã Yên Nguyên. Như vậy cả ba trung đội chuẩn bị sẵn sàng đánh địch từ Chợ Bợ lên Chiêm Hóa. Các trung đội đóng cách nhau từ 3 - 4 ki-lô-mét liên lạc rất thuận tiện. Nhân dân ở đây đã có phong trào Việt Minh từ trước, lực lượng tự vệ chiến đấu xã đã được huấn luyện đánh du kích, anh em rất hăng hái sẵn sàng tham gia đánh địch.

        Khi địch còn đóng ở Chợ Bợ trung đội tôi đã phái một tiểu đội 12 đồng chí do đồng chí Cát làm tiểu đội trưởng trực tiếp chỉ huy tổ chức trận phục kích ở đầu cầu Chợ Bợ. Đây là trận phục kích đầu tiên. Tiểu đội được trang bị một khẩu súng cổ của người Dao Tiền thời trước để lại, chúng tôi gọi là khẩu súng "Thần Công”, súng dài 1,6 mét cỡ 40 ly, mỗi lần nạp đạn mất một nửa ki-lô-gam thuốc đen và hai ki-lô-gam gang vụn đập từ nồi gang hỏng ra. Đồng chí Cát là người Dao Tiền ở Bó Miền người cao to, đẹp trai, khoẻ mạnh đảm đương vác khẩu súng "Thần Công" ra bố trí cách cầu Chợ 50 mét. Khoảng 10 giờ ngày 3 tháng 6 năm 1945, địch có một tiểu đội đi tuần qua cầu, chúng có khẩu trôm-blông VB. Khi địch lọt vào trận địa phục kích của ta, ta phát hoả bằng khẩu súng "Thần Công" trước rồi anh em bắn tỉa tiếp theo. Địch chết tám tên tại chỗ, số còn lại chạy về Chợ Bợ, sau đó cho một bộ phận ra khiêng xác về. Ta rút lui an toàn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #125 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:27 PM »


        Trận thứ 2 vào ngày 6 tháng 6 năm 1945, tôi trực tiếp chỉ huy trung đội gồm 45 tay súng, riêng tôi có khẩu sten; ngoài ra trang bị toàn gióp 3 và gióp 5, mỗi người mang 100 viên dạn, 1 quả lựu đạn. Chúng tôi đã chọn chỗ phục kích ở đầu cầu Cả thuộc xã Yên Nguyên trước hai ngày. Tôi gọi ba đồng chí tiểu đội trưởng là Đắc, Tuỳ, Cát và dặn dò anh em phải phục sát đường từ 5-7-10 mét, nấp kín quan sát địch, dù vắt cắn, muỗi đốt khi địch tới không được nhúc nhích cho đến khi có hiệu lệnh của tôi.

        Tôi giao nhiệm vụ cho toàn trung đội và từng đồng chí "nếu bắn năm viên đạn địch phải chết bốn tên, nếu bắn bốn viên địch chết ba tên, nếu bắn ba viên địch chết hai tên, nghĩa là ta bất ngờ nổ súng khi địch lọt vào đúng giữa trận địa phục kích" thì phải đạt hiệu quả cao. Tôi sẽ dùng khẩu sten phát hoả trước, tận dụng mọi địa hình, địa vật để tiêu diệt địch. Tiểu đội đồng chí Tuỳ phục kích ở đoạn đầu. Tiểu đội đồng chí Đắc phục kích ở giữa. Tiểu đội đồng chí Cát phục kích ở đoạn cuối, trận địa kéo dài 300 mét.

        Sau khi bố trí xong, tôi đi kiểm tra thấy anh em đã nấp kín và chuẩn bị sẵn sàng. Đến 9 giờ ngày 6 tháng 6 năm 1945, địch hành quân lọt vào trận địa. Đi đầu có 6 tên bảo an binh thăm dò. Chúng nói to "Tôi là người Việt Nam đừng bắn tôi nhé?". Sau khi họ đi qua 100 mét thì đến bọn Nhật (có súng máy đi đầu) cúi lom khom đi gần vệ đường.

        Khi đội hình của địch đã lọt vào giữa trận địa phục kích, khẩu súng sten phát hoả, toàn trung đội nổ súng đồng loạt. Đồng chí Đắc bắn trúng hai tên cầm súng máy. Tất cả trung đội tiếp tục nổ súng, số địch còn lại tản ra bắn vào đội hình của ta. Anh em ta tản ra các hốc núi và tiếp tục bắn tỉa từng tên một.

        Cuộc chiến đấu diễn ra từ 9 giờ đến 12 giờ trưa. Trận này địch chết 30 tên, một số bị thương, chúng mang xác những tên bị chết về đốt tại Chợ Bợ. Cuộc hành quân lên Chiêm Hóa lần này của địch bị thất bại.

        Sau trận này, quân ta lại quay về tập kết chỗ cũ rút kinh nghiệm và vẫn bám sát địch ở Chợ Bợ. Trung đội phái một tiểu đội ra phục kích ở đầu làng Bình Xa một ki-lô-mét trên con đường ở Chợ Bợ vào Bình Xa để đánh địch khi chúng vào lùng sục, để thay tiểu đội đồng chí Cát về nghỉ ở nhà ông Hải, còn một tiểu đội đóng ở gần tôi cách nhà ông Hải 800 mét.

        Vào lúc 12 giờ trưa, trời mưa to, cùng lúc tôi đang lên cơn sốt thì nghe thấy tiếng súng nổ lẹt đẹt. Có một số đồng chí chạy thoát về báo Nhật đã đánh úp tiểu đội đồng chí Cát đóng ở nhà ông Hải rồi. Lần này tiểu đội ngủ trong nhà sàn, không ai gác phía sau. Bọn việt gian thân Nhật ở Chợ Bợ đưa đường hai tiểu đội lính Nhật luồn rừng vòng lên núi đá sau nhà ông Hải đánh xuống. Chúng dùng tiểu liên và kiếm phạt khi anh em chạy trên nhà sàn xuống. Độ 5 phút chúng rút lui ngay, không qua chỗ tiểu đội phục kích của ta gác trước nhà ông Hải.

        Ta hy sinh sáu đồng chí, trong đó có đồng chí Cát là tiểu đội trưởng, có bốn người dân tộc Dao Tiền và hai người Kinh. Mẹ ông Hải cũng bị địch sát hại, ta mất sáu súng trường và khẩu súng “Thần Công". Có lẽ địch cay cú trả thù ta sau trận thất bại nặng nề ở đầu cầu Cả. Chúng phán đoán lực lượng ta bị sứt mẻ, tinh thần hoang mang không còn đủ sức tiếp tục chiến đấu được nữa. Lực lượng trung đội tuy có hy sinh sáu đồng chí, nhưng lại bổ sung lực lượng tự vệ chiến đấu vừa đủ một trung đội, lấy súng lực lượng tự vệ chiến đấu bổ sung, ba khẩu khai hậu, ba súng trường gióp 5, anh em sẵn sàng đi đánh Nhật.

        Trận thứ 3, ngày 14 tháng 6 năm 1945, địch có gần một đại đội trên dưới 100 tên chuẩn bị hành quân lên Chiêm Hóa. Quần chúng báo cho biết, địch vẫn đi đường cũ. Trung đội lại tiếp tục hành quân qua đèo Áng xuống làng Đồng Vàng bố trí trận địa tiếp tục đánh địch, nhưng lần này bố trí cách trận địa cũ 200 mét, sát đầu cầu Cả, chỗ này vẫn kín đáo. Bên kia cầu Cả có trung đội đồng chí Liên phục kích cách cầu 300 mét.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #126 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:52 PM »


        Vì đường độc đạo, địch không thể đi đường khác được. Lần này chúng đi rất thận trọng, mỗi tên đi cách nhau 10 mét, bò lom khom hai bên đường tiến cách trận địa tôi phục kích 200 mét, chúng rẽ phải xuống suối Đồng Vàng rồi lên đầu bên kia cầu. Một lần nữa chúng lại bị bất ngờ lọt vào trận địa phục kích của trung đội đồng chí Liên. Đánh nhau độ hơn một giờ, có tên xông vào vật lộn với anh em ta. Có đồng chí ta nấp đằng sau bắn chết tên vật lộn và lấy được một khẩu súng trường Nhật. Trận này địch chết 20 tên, song chúng lên được Chiêm Hóa. Đoạn hai đầu cầu Cả ta bố trí hai trung đội, nhưng chỉ có một trung đội được chiến đấu.

        Trận thứ 4, ngày 24 tháng 6 năm 1945, sau khi địch gặp bọn ở Đầm Hồng kéo xuống, ta đoán thế nào chúng sẽ kéo nhau xuôi về Tuyên Quang. Theo chỉ thị của đồng chí Chì phải tập trung cả đại đội (chỉ có ba trung đội) vì một trung đội của đồng chí Kiên đi Nghĩa Lộ chưa về kịp. Tôi trao đổi với đồng chí Liên và Giáo Huyên, trung đội phó của trung đội đồng chí Chì. Chỗ phục kích cả đại đội cũng vẫn lấy chỗ phục kích cũ xê xích một hai trăm mét.

        Lần này ta phái tổ tự vệ và dân quân xã Yên Nguyên lên đỉnh đèo Gà cách chỗ phục kích hai ki-lô-mét theo dõi sát hành động của địch, nếu địch bắt đầu hành quân từ Chiêm Hóa xuống thì ta sẽ phát hiện trước, ngoài ra còn phái một tổ tự vệ chiến đấu ở xã Vinh Quang lên Chiêm Hóa bám sát địch. Nếu có hiện tượng chúng hành quân xuống xã Yên Nguyên đi về Tuyên Quang thì báo cho biết ta còn tổ chức lực lượng dân quân gõ mõ báo hiệu địch hành quân.

        Lần này chúng đi xuống hơn 200 tên có súng máy hạng nặng. Chỗ nào nghi ngờ, chúng dùng bức kích pháo bắn vào hai bên đường. Đầu tiên chúng vào trận địa phục kích của đơn vị đồng chí Chì trước, nhưng hôm đó đồng chí Chì ở cơ quan châu Khánh Thiện, giao cho đồng chí Giáo Huyên phụ trách trung đội.

        Đợi địch lọt vào trận địa, ta bắt đầu nổ súng. Sau 20 phút chiến đấu một tiểu đội của đồng chí Giáo Huyên dạt vào chân núi, có một bộ phận địch đuổi theo (trong tiểu đội này có bốn đồng chí nữ) còn hai tiểu đội đánh vào sau lưng chúng. Chúng cho một bộ phận đối phó, đại bộ phận địch vẫn tiếp tục hành quân đến chỗ phục kích của trung đội đồng chí Liên đánh nhau kịch liệt trong một giờ. Sau đó anh em tản ra tiến hành bắn tỉa, chúng vẫn tiếp tục hành quân, đại bộ phận đã lọt vào trận địa phục kích của tôi ở đầu cầu Cả.

        Cả hai trung đội đánh địch kịch liệt từ 9 giờ 30 đến 12 giờ trưa. Lúc này chúng không đi đường cái mà dạt xuống đầu cầu Cả theo suối Đồng Vàng, một bộ phận ở lại đối phó với ta bằng súng máy và yểm hộ cho đại bộ phận chúng rút ra ngòi Pác Nhung đi ca nô về Tuyên Quang còn một bộ phận rút về Chợ Bợ. Sau khi chôn những tên bị chết, chúng đốt phá Chợ Bợ rút đi theo đường bộ về Tuyên Quang. Trong trận này ta tiêu diệt gần 50 tên, ta hy sinh một, bị thương hai, trong đó có một dân quân.

        Sau khi địch đã rút khỏi địa phận Chiêm Hóa về Tuyên Quang, ta tổng kết và mít tinh mừng thắng lợi ở xã Vinh Quang thuộc châu Khánh Thiện. Đồng chí Chì nói: Ta đã đánh bốn trận, cả khi địch tiến công lên và khi rút về, ta có thương vong một ít và mất một vài khẩu súng nhưng không đáng kể. Ta tiêu diệt hơn 100 tên địch, trong đó có một tên chỉ huy cuộc hành quân này; ta đã đánh bại quân Nhật tiến công lên vùng giải phóng giành nhiều thắng lợi.

        Đồng chí biểu dương lực lượng giải phóng quân, anh em tự vệ chiến đấu, anh em dân quân và nhân dân các xã Yên Nguyên, Bình Xa đã tiếp tế lương thực đạn dược, nắm địch, phối hợp chặt chẽ cùng Giải phóng quân đánh bại cuộc tiến công của địch.

        Đại đội chủ lực giải phóng quân của tỉnh Tuyên Quang vừa mới được thành lập hơn chục ngày lần đầu tiên xuất trận đánh từ một tiểu đội, một trung đội, đến hai trung đội rồi đến cả đại đội, chủ yếu là đánh phục kích, lấy những loại súng đầu tiên, bí mật bất ngờ tiêu diệt địch rồi tản ra lợi dụng địa hình, địa vật có lợi cho ta, bắn tỉa từng tên một, đó là lối đánh du kích có hiệu quả nhất lúc bấy giờ. Anh em trong trung đội phần lớn là các đội tự vệ chiến đấu bổ sung vào đã được huấn luyện cách đánh du kích. Sở trường của anh em phần lớn là người dân tộc ở miền núi gồm: Tày, Dao Tiền, Cao Lan, Kinh vốn quen bắn súng kíp, hoả mai khi săn bắn thú rừng trước đây nay được trang bị súng trường đã đánh địch có hiệu quả hơn. Mặc dù bị địch đánh bất ngờ, anh em không hề nao núng lo sợ, mà vẫn phấn khởi và tin tưởng, hăng hái chiến đấu trong hàng ngũ Giải phóng quân.

        Bằng những chiến công đánh bại các cuộc hành quân của địch vào vùng giải phóng, Giải phóng quân càng được nhân dân trong vùng cảm phục, tin yêu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #127 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:11:09 PM »


QUÂN GIẢI PHÓNG THAM GIA KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở TUYÊN QUANG

TRẦN TRỌNG TRUNG         

        Từng bước xây dựng cơ sở cách mạng, tiến tới cao trào kháng Nhật trong toàn tỉnh

        Với sự ra đời của chi bộ Cộng sản đầu tiên ở mỏ than Tuyên Quang (tháng 3 năm 1940), phong trào cách mạng trong tỉnh từng bước phát triển, đánh dấu bằng những cuộc đấu tranh của quần chúng trong suốt hai năm 1941-1942 ở thị xã và các vùng lân cận.

        Trong khi đó, cơ sở cách mạng cũng từng bước hình thành trong các vùng dân tộc ít người, trước hết là trên địa bàn hai huyện phía nam tỉnh.

        Sơn Dương và Yên Sơn là hai huyện thuộc Tuyên Quang nối liền với hai huyện Đại Từ và Định Hóa (Chợ Chu) của Thái Nguyên. Từ cuối năm 1941, dựa vào địa hình thuận lợi chung quanh núi Hồng bốn huyện trên đây đã được xây dựng từng bước và dần dần trở thành căn cứ cách mạng của hai tỉnh, lấy núi Hồng làm trung tâm.

        Trong năm 1942, với chủ trương "Xây dựng và củng cố các cơ sở cách mạng vùng chung quanh núi Hồng", các tổ chức Việt Minh đã nhanh chóng phát triển, nhất là trên các vùng đồng bào Dao, Tày... Sang năm 1943, phong trào cách mạng ở Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai phát triển đã tác động trực tiếp đến vùng căn cứ cách mạng trong hai huyện Sơn Dương và Yên Sơn. Hai huyện đã trở thành trung tâm cách mạng của tỉnh, nhất là trong những ngày phong trào ở thị xã gặp khó khăn, do địch khủng bố. Hầu hết các xóm thuộc hai huyện ở sát núi Hồng đã có các đội tự vệ tuy trang bị thô sơ nhưng đã làm tròn nhiệm vụ bảo vệ các cuộc mít tinh quần chúng bảo vệ cán bộ, giữ gìn xóm làng.

        Từ năm 1944, phong trào cách mạng ở Tuyên Quang có một bước phát triển mới, theo tinh thần Nghị quyết tháng 2 năm 1943 của Ban Thường vụ Trung ương (do đồng chí Hoàng Quốc Việt truyền đạt tại hội nghị cán bộ ở Khui Kịch (Sơn Dương) tháng 2 năm 1944).

        Sự ra đời và hoạt động của đội Cứu quốc quân III, sự hình thành chiến khu Nguyễn Huệ (trong đó có tỉnh Tuyên Quang) và nhất là sự lãnh đạo của Xứ ủy... là những điều kiện thuận lợi rất quan trọng đối với phong trào cách mạng Tuyên Quang trong suốt quá trình thực hiện chủ trương của phân khu ủy. Tích cực xây dựng căn cứ, củng cố các đội tự vệ vũ trang, sắm vũ khí, giữ gìn bí mật, chống chủ quan manh động, sẵn sàng đề phòng địch càn quét".

        Cùng với cơ sở cách mạng ở Sơn Dương và Yên Sơn ngày càng được củng cố và phát triển, phong trào ở thị xã cũng từng bước được phục hồi, các tổ chức Việt Minh bước đầu được xây dựng ở Chiêm Hóa và Hàm Yên..., tất cả đã tạo thành thế hỗ trợ và phối hợp liên hoàn giữa phong trào các địa phương trong tỉnh.

        Với thế mới, lực mới đã được củng cố và ngày càng mở rộng, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang có điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp kháng Nhật. cứu nước lên thành cao trào trong phạm vi toàn tỉnh sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945.

        Nghe tin Nhật đảo chính, quân Pháp và tay sai phản động ở thị xã Tuyên Quang bỏ chạy. Suốt mấy ngày sau đảo chính, mọi hoạt động chính trị của các công sở trong thị xã hầu như bị tê liệt. Do chưa chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, nên mặc dù thị xã Tuyên Quang bỏ ngỏ, ta chưa có điều kiện chớp thời cơ thuận lợi để giành chính quyền, khi mà Pháp đã bỏ chạy và hai ngày sau Nhật mới từ Phú Thọ lên chiếm đóng thị xã Tuyên Quang.

        Một ngày sau cuộc đảo chính, tại Khui Kịch (Sơn Dương) Phân ủy phân khu B (chiến khu Nguyễn Huệ) tiến hành hội nghị dưới sự chủ trì của đồng chí Song Hào. Hội nghị nhận định thời cơ đã đến, cần nhanh chóng và mạnh dạn hành động. Phân khu ủy chủ trương "bắt mạch" sự phản ứng của địch bằng cuộc nổi dậy giành chính quyền ở xã Thanh La (Minh Thanh - Sơn Dương).

        Thanh La là một xã gần cơ quan lãnh đạo của phân khu, có cơ sở Việt Minh khá mạnh. Hội nghị nhấn mạnh: cuộc ra quân đầu tiên phải bảo đảm chắc chắn để gây thanh thế của cách mạng, thăm dò khả năng đối phó của địch và làm đà cho cao trào khởi nghĩa ở các địa phương khác, trước hết là trên địa bàn huyện Sơn Dương. Đồng chí Tạ Xuân Thu, người phụ trách vùng Thanh La - Hồng Thái, được phân khu ủy giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc nổi dậy giành chính quyền ở Thanh La.

        Ngay đêm hôm đó (10-3-1945) quân khởi nghĩa tước vũ khí của lính dõng, thu triện đồng, vũ khí của tổng lý, kỳ hào, làm chủ toàn xã Thanh La. Thực tế thắng lợi nhanh gọn của cuộc khởi nghĩa ở Thanh La cho thấy: địch hoang mang, suy yếu, quân khởi nghĩa có thể tiến lên mở rộng hoạt động vũ trang, nhanh chóng giành chính quyền trên nhiều địa bàn rừng núi, mở rộng căn cứ, tiến tới giành chính quyền trong toàn tỉnh.

        Khuếch trương thắng lợi đầu tiên, ba ngày sau, quân khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện lỵ Đăng Châu (tức Sơn Dương). Thóc trong kho được chia cho dân nghèo để giải quyết nạn đói. Hàng trăm khẩu súng, hàng chục hòm lựu đạn thu được của địch đã tạo thêm điều kiện cho quân khởi nghĩa mau chóng phát triển lực lượng, cải tiến trang bị.

        Ngày 16 tháng 3, lần đầu tiên chính quyền cách mạng cấp huyện được thành lập ở Sơn Dương. Từ tháng 4, cao trào kháng Nhật, khởi nghĩa giành chính quyền lan rộng đến nhiều huyện khác trong tỉnh (Chiêm Hóa, Na Hang, Yên Bình) (Lúc này, huyện Yên Bình vẫn còn thuộc tỉnh Tuyên Quang.)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #128 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:11:37 PM »


        Những sự kiện quan trọng diễn ra từ trung tuần tháng 4 đến đầu tháng 6 (Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, đồng chí Hồ Chí Minh về đến Tân Trào, thành lập Khu giải phóng...) đã tác động trực tiếp đến cao trào kháng Nhật của tỉnh Tuyên Quang. Chính quyền cách mạng đã được thành lập trên phần lớn địa bàn tỉnh. Ở thị xã và một số địa phương khác, tuy nhân dân chưa giành được chính quyền, nhưng các tổ chức cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh và các đội vũ trang địa phương đã lớn mạnh, sẵn sàng chờ lệnh nổi dậy giành chính quyền khi có thời cơ thuận lợi.

        Để kịp thời lãnh đạo cao trào khởi nghĩa đang trên đà phát triển trong toàn tỉnh, tháng 7 năm 1945, Tỉnh ủy Tuyên Quang được thành lập. Đồng chí Tạ Xuân Thu được Trung ương chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy. Sự ra đời của tổ chức lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng trong toàn tỉnh là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển từ khởi nghĩa giành chính quyền ở các châu huyện, tiến lên giải phóng toàn tỉnh.

        Giành chính quyền ở thị xã, kết thúc thắng lợi cuộc khởi nghĩa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

        Trung tuần tháng 8, thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã chín muồi trên quy mô cả nước.

        Vào những ngày sục sôi cách mạng này, trong khi tại Tân Trào đang diễn ra hàng loạt sự kiện quan trọng (hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc dân, lễ xuất phát của Quân giải phóng...) thì đồng chí Tạ Xuân Thu đến thị xã Tuyên Quang điều tra tình hình địch, điều động và tổ chức lực lượng, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Lãnh trách nhiệm chỉ đạo cuộc khởi nghĩa ở đây, ngày 16 đồng chí Song Hào ra đến bờ tả ngạn sông Lô thì gặp đồng chí Trần Thế Môn cùng một đơn vị Quân giải phóng vừa hành quân cấp tốc từ Chiêm Hóa về đến Soi Sính.

        Các đồng chí Song Hào, Tạ Xuân Thu và Trần Thế Môn nhất trí thành lập ủy ban khởi nghĩa, do đồng chí Song Hào làm chủ tịch và ba ủy viên là các đồng chí Tạ Xuân Thu, Nguyễn Công Bình (tức Chì ) và Trần Thế Môn. Đồng chí Môn được phân công chỉ huy đánh vào thị xã.

        Nước sông Lô lên to, nhiều đường phố thị xã ngập nước. Quân giải phóng được lệnh tập kết ở Ỷ La, cách thị xã 5 ki-lô-mét về phía Bắc. Từ đây, một đơn vị tiếp tục hành quân lên phía Bắc, giải phóng huyện lỵ Hàm Yên (Bắc Mục) và chặn quân Nhật từ hướng Hà Giang kéo về Tuyên Quang.

        Để giải phóng thị xã Tuyên Quang, Uỷ ban khởi nghĩa chủ trương vừa dùng lực lượng vũ trang bao vây tiến công quân Nhật, vừa phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân biểu tình thị uy làm áp lực, đồng thời triệt để lợi dụng nhân mối đã được tổ chức trong hàng ngũ địch, tuyên  truyền lôi kéo bảo an binh ngả theo cách mạng.

        Lực lượng vũ trang nòng cốt tham gia khởi nghĩa gồm các đơn vị Quân giải phóng và các đội vũ trang tại chỗ (tự vệ cứu quốc, các đội vũ trang quần chúng khác trong và quanh thị xã) Đặc biệt, trong lực lượng vũ trang khởi nghĩa có đơn vị du kích người Dao, trang bị súng kíp, cung nỏ, giáo mác, từ Thành Cóc (xã Hùng lợi - Yên Sơn) và đơn vị tự vệ mỏ than trang bị cuốc chim, choòng, búa...

        Mặc dù thời gian gấp, nước lũ lại đang cản trở việc giao thông hên lạc, điều động lực lượng, nhưng nhân dân thị xã và các vùng lân cận, gồm cả công nhân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, thiếu niên..., đã được huy động, sẵn sàng đi biểu tình thị uy, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang.

        Hai giờ sáng ngày 17, trước khi lực lượng vũ trang khởi nghĩa xuất quân tiến vào giải phóng thị xã, đồng chí Song Hào - Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa của tỉnh đọc Quân lệnh số 1 động viên cán bộ, chiến sĩ quyết tâm chiến đấu và giành thắng lợi.

        Tiến quân đến gần phía bắc thị xã, quân khởi nghĩa chia làm hai cánh: một cánh vòng xuống bao vây phía nam thành Tuyên Quang; cánh quân chính, dưới quyền chỉ huy của đồng chí Trần Thế Môn, tiến thẳng đến khu vực trại bảo an binh, dinh tỉnh trưởng và các công sở.

        Tại trại bảo an binh, khi quân khởi nghĩa tiến đến, người lính gác cổng (nhân mối đã được chuẩn bị từ trước) đã mở cổng. Được binh lính giác ngộ hướng dẫn, quân khởi nghĩa đột nhập thẳng vào phòng của đội Táng - chỉ huy bảo an binh. Việc chiếm trại bảo an binh kết thúc mau lẹ, vì bị bất ngờ, viên chỉ huy cùng tất cả binh lính đều nộp vũ khí và xin hàng. Quân khởi nghĩa thu súng đạn, tập trung binh lính lại, giải thích chính sách của Việt Minh, thu nhận những người tự nguyện đi theo cách mạng và cấp giấy cho những ai muốn trở về quê.

        Từ trại bảo an binh, quân khởi nghĩa toả đi chiếm nhà bưu điện, kho bạc, nhà đoan, sở kiểm lâm.

        Khi quân khởi nghĩa tiến vào dinh tỉnh trưởng bù nhìn Dương Thiệu Trinh thì y đã khăn áo chỉnh tề, chờ Việt Minh đến để xin hàng. Đồng chí Tạ Xuân Thu thay mặt Uỷ ban khởi nghĩa tiếp nhận sự đầu hàng của viên tỉnh trưởng và lệnh cho y gọi điện báo cho quân Nhật trong thành, kêu gọi chúng đầu hàng Việt Minh.

        Riêng đối với quân Nhật, lúc đầu ta không thực hiện được chủ trương dùng chính trị và địch vận để thuyết phục chúng đầu hàng, vì lực lượng tự vệ thanh niên cứu quốc không nắm vững kế hoạch, đã nổ súng bắn vào trạm liên lạc của Nhật, bắt một lính Nhật và bảy tên mật thám. Do thái độ ngoan cố của quân Nhật, Uỷ ban khởi nghĩa chủ trương tiếp tục bao vây chúng trong thành, đồng thời huy động quần chúng gây áp lực.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #129 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:16 PM »


        Nhân dân thị xã và nhiều vùng lân cận kéo về chật đường phố để chào mừng quân khởi nghĩa, chào mừng cách mạng. Khắp nơi, từ nhà dân đến các công sở, từ phố Xuân Hòa đến phố Tam Cờ, từ nóc nhà thờ trên núi Cố đến thuyền bè trên các bến sông Lô, đâu đâu cũng phấp phới cờ đỏ sao vàng... Cuộc biểu tình tuần hành của hàng nghìn người, đội ngũ chỉnh tề, đi dọc theo các phố chính. Trong khí thế của ngày hội cách mạng, quần chúng vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu.

        Việt Nam độc lập muôn năm
        Ủng hộ Mặt trận Việt Minh
        Đả đảo phát xít Nhật


        Trước khí thế của quần chúng cách mạng, lại bước đầu gặp khó khăn về tiếp tế lương thực, thực phẩm, cấp chỉ huy Nhật buộc phải gửi thư xin điều đình để "mở đường cho rút về Hà Nội". Uỷ ban khởi nghĩa chấp nhận và cử đồng chí Tạ Xuân Thu làm đại diện, đến điều đình với chúng. Ta đòi quân Nhật phải tuyên bố đầu hàng, giao nộp vũ khí và tôn trọng mọi quy định của quân khởi nghĩa. Phía Nhật chỉ chấp nhận nộp tất cả vũ khí đã thu được của Pháp hồi đảo chính tháng 3 năm 1945.

        Cuộc điều đình đang tiếp diễn thì đêm 18 tháng 8, có tin một số quân Nhật từ Hà Giang theo đường số 2 kéo về, đã tới Ỷ La, phía bắc thị xã 5 ki-lô-mét. Bọn chỉ huy Nhật trở mặt, không tiếp tục thương lượng nữa. Chúng cho bắn pháo 75 ly và súng máy vào quân khởi nghĩa và trên các đường phố chung quanh thành rồi cho quân phá vây ra đón đồng bọn đang bị chặn lại ở phía bắc thị xã.

        Trước tình hình đã trở nên phức tạp, một mặt Uỷ ban khởi nghĩa ra lệnh siết chặt vòng vây quân địch trong thành, kiên quyết ngăn chặn không cho hai bộ phận quân địch yểm trợ được cho nhau, mặt khác, huy động thêm lực lượng quần chúng xuống đường biểu dương lực lượng, tạo thành khí thế mạnh mẽ, áp đảo tinh thần quân địch.

        Cuộc chiến đấu kéo dài suốt ngày 19. Số quân địch phá vây bị chặn đánh phải quay trở lại trong thành. Cùng với tiếng súng là tiếng trống, tiếng pháo và tiếng hò la vang dậy của quần chúng được tập trung mỗi lúc một thêm đông. Hàng vạn người mang theo cờ, khẩu hiệu, tuần hành thị uy trên các đường phố quanh thành, vừa đi vừa hô to khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Việt Minh và phản đối thái độ ngoan cố của bọn Nhật.

        Do áp lực của quần chúng, lại do tin quân cách mạng đã giành được chính quyền ở Hà Nội, quân Nhật trong thành Tuyên Quang càng muốn mau chóng rút lui an toàn khỏi thị xã về Hà Nội tập kết để chờ ngày hồi hương. Về phía ta, cùng với tin khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, còn có tin một bộ phận quân đội Tưởng Giới Thạch và bọn tay sai Quốc dân đảng cùng một số quân Pháp (chạy sang Hoa Nam hồi đảo chính) đã vượt biên giới vào Hà Giang. Vấn đề quan trọng hàng đầu lúc này đặt ra với Uỷ ban khởi nghĩa là nhanh chóng đẩy được bọn Nhật ra khỏi thành, giải phóng thị xã để kịp thời chuẩn bị đối phó với quân Tưởng sắp kéo về dây.

        Ngày 21 tháng 8 cuộc điều đình giữa ta và bọn chỉ huy Nhật kết thúc. Chúng bàn giao cho ta vũ khí thu được của Pháp trước đây, đổi lấy việc ta để cho chúng rút khỏi Tuyên Quang an toàn.

        Ngày 21 tháng 8, thị xã Tuyên Quang được hoàn toàn giải phóng.

        Sáng hôm sau, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại sân vận động thị xã, chào mừng khởi nghĩa thắng lợi, chào mừng Uỷ ban dân tộc giải phóng lâm thời tỉnh Tuyên Quang được thành lập, do đồng chí Nguyễn Công Bình (tức Chì) làm Chủ tịch.

        Khí thế cách mạng sôi sục khắp nơi.

        Vũ khí thu được từ tay quân đội Nhật nhanh chóng được phân phối về các đội Quân giải phóng và tự vệ. Dự kiến tình hình sắp tới sẽ còn diễn biến phức tạp do quân Tưởng và cả quân khố đỏ do Pháp chỉ huy đang từ vùng biên giới phía Bắc kéo về, Uỷ ban dân tộc giải phóng chủ trương nhanh chóng phát triển và củng cố các lực lượng vũ trang (cả Quân giải phóng và các đội vũ trang địa phương), sẵn sàng đối phó với tình hình mới. Đồng thời, Uỷ ban cũng vạch ra hàng loạt công việc cấp bách trước mắt nhằm khắc phục nạn đói, nạn lụt, ổn định tình hình chính trị, xã hội, bảo đảm đời sống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh mau chóng trở lại bình thường.

*

*       *

        Trải qua 5 tháng, từ trung tuần tháng 3 đến trung tuần tháng 8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn.

        Đó là thắng lợi của đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong quá trình tiến từ chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, rồi chớp thời cơ tiến lên tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước.

        Đó là thắng lợi của quá trình xây dựng từng bước về chính trị và tổ chức, từ chi bộ Cộng sản đầu tiên ra đời trong đội ngũ công nhân mỏ than, đến lực lượng chính trị quần chúng đông đảo gồm mọi thành phần nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh.

        Đó là thắng lợi của nghệ thuật kết hợp giữa tiến công quân sự của lực lượng vũ trang (mà nòng cốt là Quân giải phóng) với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của lực lượng chính trị hùng hậu gồm hàng vạn quần chúng tự giác đứng vào đội ngũ, quyết giành quyền sống.

        Đó còn là thắng lợi của tinh thần nguyên tắc và biện pháp linh hoạt mềm dẻo của Uỷ ban khởi nghĩa, biết từng bước căn cứ vào tình hình cụ thể của địch và của ta, ở địa phương và trong toàn quốc, để có đối sách thích hợp, nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là giành được toàn bộ chính quyền về tay nhân dân trong thời gian ngắn nhất và với những tổn thất thấp nhất ở Tuyên Quang.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM