Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Mười Một, 2019, 01:03:19 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ  (Đọc 28462 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #60 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:52:36 AM »


HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐÃ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?
TA CÓ THỔI PHỒNG HAY BÓP MÉO SỰ THẬT KHÔNG?
1

VĂN TẠO       

        Tôi được Viện Lịch sử quân sự Việt Nam mời viết tập IX bộ Lịch sử quân sự Việt Nam, về thời kỳ "Vận động Cách mạng Tháng Tám". Mừng vì trong lòng đã ấp ủ từ lâu một mong muốn làm rõ vấn đề là: Vai trò của lực lượng quân sự trong Cách mạng Tháng Tám. Cũng bởi có người coi Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra một cách "hoà bình", "ít đổ máu' nên vai trò của hoạt động vũ trang là không đáng kể.

        Nhưng lúc đầu cũng e rằng "lực bất tòng tâm" vì tuổi đã già, lại không đi sưu tầm được thêm tài liệu. Chỉ nói tài liệu ở trong nước chứ chưa nói tới khối lượng tài liệu đồ sộ ở nước ngoài như ở Nhật, Pháp, Mỹ, Trung Quốc... mà tôi không có điều kiện tiếp cận được. Nhưng cũng phần nào bớt được ngại ngần khi thấy các nhà sử học nước ngoài đã có nhiều công trình viết về thời kỳ này. Sâu sắc nhất là hai công trình xuất bản gần đây: một của Đavít Ma (David Marr), Vietnam 1945-The Quest for Power, NXB Đại học California, Berkeley, 1995 (Việt Nam 1945-Sự tìm kiếm quyền lực); và hai là của Stein Tonnesson, The Vietnamese Revolution of 1945-Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, NXB Sage-London-New Delhi, 1991 (Cách mạng Việt Nam năm 1945-Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong thế giới chiến tranh).

        Các công trình lớn này đã phần nào giúp tôi có thêm tư liệu và có được những quan điểm mới trong việc nhìn nhận một số sự kiện lịch sử, nhất là nhìn từ góc độ quốc tế của các sự kiện đó.

        Nhưng riêng về quân sự thì quan điểm giữa tôi và Xten Tôn-nét-xơn (S. Tonnesson) lại có chỗ khác nhau.

        Trong Lời giới thiệu của công trình kể trên, mục Giải thích Cách mạng Tháng Tám, Xten Tôn-nét-xơn viết: "Giống như nhiều truyền thuyết, câu chuyện về cuộc Cách mạng Tháng Tám chứa đựng khá nhiều sự thật và do đó có thể chấp nhận như một lý thuyết, nhưng nhiều sự việc đã bị bóp méo, cường điệu hoặc bỏ qua. Vai trò của Chính phủ toàn quốc tiền cách mạng (VT gạch dưới) do học giả được kính trọng Trần Trọng Kim đứng đầu, đã bị xuyên tạc… Khối lượng đấu tranh chống người Nhật đều đã được thổi phồng"2

        Về vấn đề Chính phủ Trần Trọng Kim có thể được coi là chính phủ "tiền cách mạng" hay không sẽ xin bàn ở chuyên đề khác. Ở đây chỉ xin tập trung vào vấn đề: Hoạt động của các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Công trình của Xten Tôn-nét-xơn, ngoài nhận xét kể trên còn có chỗ tác giả trích dẫn và phê bình một vài cuốn sử Việt Nam viết về thời kỳ Cách mạng Tháng Tám là đã miêu tả quá chủ quan và sơ sài các trận đánh Nhật, không nói rõ "quân số vũ khí của hai bên, địa danh, địa hình chiến trường, cuộc chiến đấu diễn ra cụ thể như thế nào… mà chỉ thấy nói một cách chung chung: tấn công… đánh đuổi… rồi chiến thắng… ?".

        Điều đó tôi thừa nhận là có thực. Ngay cả tháng 8 năm 1997 vừa qua, một bài tường thuật ngắn của một tác giả, in trên báo Hà Nội mới , vẫn còn viết là ở Hà Đông có một trận đánh Nhật thời kỳ đó, ta đã tiêu diệt "một trung đội Nhật"? Số lượng quân Nhật bị tiêu diệt này là không có thực trong lịch sử.

        Chính vì vậy mà khoa học lịch sử yêu cầu chúng ta phải xác minh tư liệu và không được chọn dùng một cách tuỳ tiện, thậm chỉ dẫn sai tài liệu theo ý muốn chủ quan của mình. Nhưng chính Xten Tôn-nét-xơn trong khi góp ý kiến với chúng ta như trên, tác giả cũng lại thiếu thận trọng và thiếu chính xác khi nói về một số sự kiện lịch sử quân sự của ta. Không những tác giả không coi trọng những cuộc chiến đấu chống Nhật-Pháp và chống quân đội của chính quyền bù nhìn tay sai của chúng ở các địa phương, mà còn vô tình hay cố ý dẫn ra và nhận định sai lầm về một số cuộc chiến đấu mà diễn biến đã được tường thuật khá rõ ràng và chính xác. Cụ thể như hai chiến thắng đầu tiên của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là hạ hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.

------------------------
        1. Tạp chí LSQS số4-1998.

        2. Xten Tôn-nét-xơn. The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, (Cách mạng Việt Nam năm 1945, Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong thế giới chiến tranh), NXB Sage-London-New Delhi, 1991, tr. 2.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #61 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:37 PM »


        Hai cuộc hạ đồn này đã đạt được thắng lợi cả về quân sự lẫn chính trị, đã được người chỉ huy là Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết lại một cách cẩn trọng và đầy đủ trong công trình Từ nhân dân mà ra như chúng ta đã biết. Nay lại được tác giả tường thuật hoàn toàn sai sự thực như sau:

        “Ngày 22 tháng 12 năm 1944 được coi là ngày khai sinh chính thức của quân đội, sau này được gọi là Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Một vài cuộc tiến công táo bạo tiếp theo: Trong đêm giữa 25 và 26-12 (tức đêm tiến công đồn Phai Khắt-VT), một viên cai người Pháp bị dùng mưu bắt và 15 binh sĩ của anh ta bị cắt cổ. Ngày 4 tháng 1, một cuộc tấn công của 200 "phiến loạn" vào một đồn binh khác thất bại3...

        Loại trừ cách dùng khái niệm mà chúng ta không thể chấp nhận được khi gọi các đội quân cách mạng của chúng ta là "quân phiến loạn" vì theo quan niệm của tác giả, cứ ai chống lại chính quyền chính thống đương thời đều bị coi là "phiến loạn"-chỉ bàn về sự kiện lịch sử đã được tường thuật kể trên thì sai lầm ở chỗ nào:

        Hai cuộc chiến đấu ở Phai Khắt, Nà Ngần sau khi thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đối với lực lượng vũ trang ta lúc đó là rất có ý nghĩa, vì là nó mở đầu cho hoạt động của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vừa mới ra đời. Cuộc chiến đấu diễn ra trong tình hình quân số mới được tập hợp lại từ nhiều nguồn, vũ khí thì ít ỏi, thô sơ lại cần phải thực hiện quyết định của lãnh tụ Hồ Chí Minh khi khai sinh ra đoàn quân này là: "Trận đầu ra quân nhất định phải thắng".

        Về vũ khí, như đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thuật lại: "Lực lượng của ta trong thời kỳ trứng nước này còn rất mỏng manh. Vũ khí đã thiếu, đạn dược còn thiếu hơn. Mỗi khẩu súng trường trung bình chỉ có 20 viên đạn. Đánh một hai trận là sẽ bắn đến viên đạn cuối cùng"4...

        Do đó, phương thức tác chiến phải là du kích chiến: phục kích, tập kích…

        Địa bàn hoạt động thì luận chứng khả thi phải là:

        - Nơi đồn giặc đóng có cơ sở quần chúng cách mạng hỗ trợ. Điều cần thiết là phải chuẩn bị kế hoạch cho nhân dân đối phó với sự khủng bố trả thù của địch.

        - Phải trinh sát kỹ lưỡng, nắm chắc được địch tình, nếu có nội ứng càng tốt.

        - Mục tiêu là diệt đồn, thu vũ khí, binh vận (chỉ tiêu diệt kẻ ngoan cố chống đối).

        Một đội quân cách mạng, trước khi ra quân đã có chủ trương cẩn trọng và nhân đạo như vậy, sao lại có thể "cắt cổ 15 binh sĩ người Việt" được?

        Còn diễn biến của trận tập kích thì:

        Phía địch có 17 lính và 1 cai. Đồn trưởng là một tên Pháp đã đi ngựa lên châu, có khả năng quay trở lại lúc ta công đồn. Phía ta có khoảng 50 người chia làm 3 toán nhập đồn với giấy tờ giả trót lọt và cuộc chiến diễn ra nhanh chóng.

        Các chiến sĩ ta đột nhập đồn nhanh với mưu lược như vậy khiến 17 lính và 1 cai bị bất ngờ không kịp kháng cự. Tất cả đã đầu hàng. Giữa lúc tổ canh gác trên đường Nguyên Bình-Phai Khắt, cách đồn khoảng 3 cây số, chạy về báo tin là tên đồn trưởng đang trên đường về. Du kích quân khống chế bọn đã bị bắt ở sau đồn, bố trí phục kích chờ địch. Lệnh là không được nổ súng khi thấy chưa cần thiết, nhưng khi tên đồn trưởng đủng đỉnh cưỡi con ngựa hồng tiến vào thì do lòng căm thù giặc, một chiến sĩ ta đã nổ súng kết liễu đời y. Sự việc đáng tiếc này diễn ra ngoài ý muốn của chỉ huy vì nếu bắt sống được dể làm công tác địch vận thì tốt hơn.

        Với số gần hai chục tù binh đó, một số ít được chọn để bổ sung vào đội quân giải phóng. Số còn lại bị giữ lại vài ngày để phong toả tin tức rồi phóng thích5.

        Với sự tường thuật như trên của người trực tiếp chỉ huy trận đánh thì "sai số" có thể coi là tối thiểu. Sao lại có thể như tường thuật kể trên của Xten Tôn-nét-xơn được?

        Đây là một sự kiện đã quá rõ ràng và có tư liệu trực tiếp là cuốn Từ nhân dân mà ra của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được tác giả dẫn nhiều lần, là một trong những nguồn xuất xứ tư liệu quan trọng. Phải chăng do tác giả vốn coi nhẹ đấu tranh vũ trang của cuộc cách mạng này nên đã bị sai sót như vậy?

----------------------------
        3. Xten Tôn-nét-xơn: Sđd..., Chương IV: "Các kế hoạch xung đột", mục "Kế hoạch khởi nghĩa", tr. 179.

        4. Võ Nguyên Giáp. Từ nhân dân mà ra, NXB QĐND, Hà Nội, 1964, tr. 146.

        5. Võ Nguyên Giáp. Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 153.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #62 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:57 PM »


        Dẫn ra một vài tư liệu, sự kiện kể trên để tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau về những thuận lợi và khó khăn của chúng ta, chứ không phải từ đó mà chúng tôi đánh giá thấp sự cống hiến của tác giả đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ này.

        Điều cần thiết dưới đây là tôi muốn trình bày vắn tắt nhận thức của tôi về hoạt động quân sự của chúng ta trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Theo tài liệu tôi vừa nhận được do Giáo sư Phu-tu-ra Mô-tô (Phutura Moto) cung cấp thì trong cả cuộc chiến ở Đông Dương phía Nhật Bản chỉ bị chết có khoảng 1.500 người. Lịch sử còn ghi lại những trận chiến đấu chống Nhật của ta, đáng kể như trận hạ đồn Tam Đảo mà dư luận phương Tây đánh giá khá cao, ta cũng chỉ diệt được có 7 quân nhân Nhật Bản và bắt 2. Các cuộc đánh Nhật ở các địa phương nhiều lắm cũng chỉ diệt 3-5 tên. Có địa phương lại quan tâm bắt sống Nhật, nếu có điều kiện, hơn là tiêu diệt họ, như trận du kích Lai Khê, Kim Thành, Hải Dương dùng mưu bắt được 4 lính Nhật trông coi cầu Lai Vu rồi giam giữ ở Hải Dương cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công đã trao lại cho phía Nhật.

        Do chủ trương nhân đạo như vậy nên thời kỳ này đã có khoảng 450 quân Nhật chạy sang hàng ngũ Việt Minh. Một số đã có đóng góp nhất định vào cuộc chiến đấu chống Pháp sau này ở Việt Nam.

        Nhưng, không thể chỉ căn cứ vào con số quân nhân Nhật Bản bị tiêu diệt trong hơn 5 năm (1940-1945) ít hay nhiều mà đánh giá thấp hoặc bỏ qua đi không kể đến những hoạt động quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Bởi vì trong quá trình vận động Cách mạng Tháng Tám (1930-1945), đối tượng đấu tranh quân sự của cách mạng Việt Nam không chỉ là Nhật mà là luôn thay đổi theo tình thế. Từ chỗ đối tượng đấu tranh là Pháp-Nhật (6-1940 đến 2-1943), đến Nhật-Pháp (2-1943dế  9-3-1945), rồi từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 mới chỉ còn phát xít Nhật và tay sai.

        Khẩu hiệu đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng từ “đánh Pháp đuổi Nhật” đến "đánh đổ phát xít Nhật-Pháp" đến "đánh đổ phát xít Nhật và tay sai". Như vậy, hoạt động quân sự của quân và dân Việt Nam không thể chỉ bằng vào các cuộc chiến đấu chống Nhật mà phải là bằng vào cả quá trình đấu tranh chống lại ba kẻ thù Nhật, Pháp và tay sai của chúng để đánh giá. Hơn nữa, chủ trương chung của cách mạng là "hy sinh xương máu, chiến đấu để giành cho kỳ được độc lập, tự do" nhưng lại "tiết kiệm xương máu” trong những điều kiện có thể… Cho nên phải nhìn hoạt động quân sự đó một cách khách quan và toàn diện.

        Hoạt động quân sự đó nhằm:

        1. Tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, khống chế, uy hiếp, lôi kéo, cải hoá địch ở địa phương (từ những lực lượng thấp nhất là tuần đinh, lính dõng, xã đoàn, tổng đoàn phản động) đi đến chiến đấu (như đột kích diệt đồn, phục kích địch đi tuần tiễu khủng bố, truy kích địch chạy trốn, đến tao ngộ chiến, trận địa chiến) đến khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa.

        2. Xây dựng lực lượng quân đội từ nhỏ đến lớn, từ tự vệ địa phương, tự vệ thoát ly đến quân du kích, đến Cứu quốc quân, Giải phóng quân… Xây dựng và phát triển qua luyện tập và chiến đấu, chiến đấu từ nhỏ đến lớn để xây dựng các đơn vị từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao.

        3. Xây dựng địa bàn hoạt động quân sự từ thôn làng đến lập các căn cứ địa, khu du kích đến các chiến khu, khu giải phóng. Tác chiến với mọi hình thức có thể để thu chiến lợi phẩm trang bị cho quân đội, tăng thêm quân số và củng cố, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng khu căn cứ, khu giải phóng...

        4. Hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, tạo nên chỗ dựa vững chắc cho lực lượng vũ trang và tạo nên nguồn bổ sung dồi dào cho các lực lượng vũ trang từ Trung ương đến địa phương. Ngay hoạt động của lực lượng vũ trang cũng còn có lúc phải "chính trị trọng hơn quân sự" rồi mới tiến lên "chính trị và quân sự đi đôi"…

        5. Vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng nhằm xây dựng nênQuân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh cho cả hiện tại và tương lai, như trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân mà Hồ Chí Minh đã đề ra.

        Đó là các nội dung cơ bản của hoạt động quân sự thời kỳ này, trong đó đấu tranh quân sự, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch kể cả Nhật-Pháp và tay sai của chúng) là quan trọng. Nhưng đó cũng chỉ là một trong nhiều hoạt động quân sự khác của cách mạng.

        Từ xây dựng lực lượng và xây dựng địa bàn hoạt động đến khởi nghĩa địa phương, khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa; từ làng xã đến tổng, huyện, tỉnh và Trung ương… không đâu không có hoạt động của lực lượng quân sự bao gồm tự vệ địa phương, du kích bán thoát ly, du kích thoát ly đến Cứu quốc quân, Giải phóng quân)... mà lại có thể giành được thắng lợi, xây dựng được chính quyền.

        Có nơi dù không phải nổ súng tiêu diệt một tên địch nào thì vai trò của lực lượng vũ trang cũng vẫn rất quan trọng. Không có nó không thể khống chế lực lượng phản động của địch ở địa phương, kiềm chế lực lượng vũ trang của chúng, để phong trào quần chúng tiến lên giành và giữ được chính quyền.

        Với nội dung ý nghĩa đó, Cách mạng Tháng Tám vẫn là cuộn khởi nghĩa vũ trang nhưng do điều kiện chủ quan và khách quan đặc biệt mà ít phải đổ máu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #63 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:05:55 PM »


BÀN VỀ "KHOẢNG TRỐNG QUYỀN LỰC" TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM1

NGUYỄN MẠNH HÀ       

        Trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mở ra kỷ nguyên mới độc lập, tự do, thống nhất đất nước, là một trong những sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại nhất. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Cách mạng Tháng Tám đều tìm hiểu một cách khách quan, khoa học quá trình dẫn tới thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa. Tuy nhiên, do đây là một cuộc cách mạng diễn ra trên một không gian rộng, có quá trình chuẩn bị trong thời gian dài, diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động lớn, thành quả của cuộc Cách mạng có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, tác động trực tiếp đến mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam tại thời điểm xảy ra cuộc cách mạng và sau đó… nên việc có những quan điểm xem xét, nhìn nhận khác nhau, chưa chính xác về cuộc Cách mạng vĩ đại này, là điều dễ hiểu. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn bàn thêm về một số kết quả nghiên cứu, đánh giá của học giả nước ngoài xung quanh nội dung: Có phải Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi nhanh chóng là do tại thời điểm đó ở Việt Nam tồn tại một "khoảng trống quyền lực"?

        Nhà nghiên cứu lịch sử, nhà Việt Nam học có tiếng người Na-uy Xten Tôn-nét-xơn (Stein Tonnesson), đã có một số công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, trong đó có cuốn "Cách mạng Việt Nam năm 1945-Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong một thế giới chiến tranh"2. Đây là một công trình nghiên cứu công phu, nhiều tư liệu về cuộc Cách mạng Tháng Tám, một sự kiện mà ông đánh giá cao: "Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, những thời điểm 1945 và 1975 nổi lên như là những bước ngoặt lớn, đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc của một quá trình dài chiến tranh và biến đổi xã hội. Cách mạng Việt Nam quan trọng không phải chỉ thuần tuý trong bối cảnh của Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam nằm trong những nguồn cảm hứng chủ yếu của một đường lối đấu tranh lớn khác sau chiến tranh: đó là quá trình phi thực dân hoá. Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cách mạng của những người Việt Nam nổi lên như là một trong những cuộc cách mạng có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất"3.

        Tuy nhiên, trong cuốn sách của mình, ngoài những quan điểm của cá nhân như coi số lượng các cuộc đấu tranh chống Nhật của nhân dân ta là "được thổi phồng", hay vai trò của chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim phải được coi là một chính phủ "tiền cách mạng", hay vai trò của Tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của tình hình ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám… Xten Tôn-nét-xơn nhấn mạnh tình trạng "chân không quyền lực", coi đây là một nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Xten Tôn-nét-xơn viết trong Lời giới thiệu: "Mục đích của công trình nghiên cứu này là… một cuộc thăm dò có hệ thống các nguyên nhân của cách mạng, cuộc thăm dò sẽ đi theo hai hướng chính, mỗi hưởng sẽ đi theo một trong hai đường dây chủ yếu: một dẫn tới tình trạng chân không quyền lực; một dẫn tới việc giành quyền lực". Xten Tôn-nét-xơn nói rõ: "tình trạng chân không quyền lực có thể được mô tả chính xác như là một sự vắng mặt của các lực lượng Pháp và Đồng minh, sự thiếu quyết tâm của người Nhật trong việc nắm giữ quyền kiểm soát cho tới khi Đồng minh tới và sự bất lực của các quan lại và chính quyền của họ để có thể tự tồn tại được". Sau khi dẫn ra những luận cứ, ở cuối cuốn sách, Xten Tôn-nét-xơn nhấn mạnh: "Khoảng trống quyền lực sau sự đầu hàng của Nhật ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn... là chủ yếu trong bất cứ sự giải thích nào về Cách mạng Việt Nam"4.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2000.

        2. Stein Tonnesson. The Vietnamese Revolution of 1945-Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war. Sage Publication, London-New Delhi, 1991.

        3. Stein Tonnesson, Sđd, p. 426.

        4. Stein Tonnesson, Sđd, p. 412.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #64 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:59 PM »


        Từ nhận định của XXten Tôn-nét-xơn, chúng tôi xin trao đổi một số điểm sau:

        1. Nếu bạn đọc, nhất là người nước ngoài, chưa nghiên cứu hoặc chưa có một sự hiểu biết thấu đáo về sự kiện Cách mạng Tháng Tám, hẳn có lẽ đồng ý với Xten Tôn-nét-xơn khi ông tìm cách chứng minh cho nhận định của mình. Như vậy, sẽ dẫn tới việc nhiều người sẽ ngộ nhận về sự "ăn may", về thắng lợi dễ dàng của Tổng khởi nghĩa. Đi xa hơn, sẽ cho rằng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh, vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc cách mạng này là không đáng kể, mờ nhạt... Đây là điều nhận định không đúng với thực tế diễn biến cuộc cách mạng.

        Thứ nhất, có thể khẳng định ràng: không tồn tại một khoảng trống quyền lực nào ở Việt Nam, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945, đặc biệt là từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 19 tháng 8 năm 1945 (kể từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội). Thực tế là sau khi làm đảo chính lật đổ Pháp (đêm 9-3-1945), phát xít Nhật đã nhanh chóng thiết lập quyền thống trị, kiểm soát về mọi mặt trên toàn lãnh thổ Việt Nam và Đông Dương. Vai trò Toàn quyền Đông Dương, vốn của Đô đốc Đờ-cu (Decoux), đã bị Nhật bắt giữ, nay được giao cho tướng Yuichi Tsuchihashi, Tư lệnh Quân đoàn 38 của Nhật-Còn các nhà ngoại giao Nhật ở Đông Dương đóng vai trò tương đương như của các viên Công sứ Pháp trước đó. Tất cả các thành phố lớn ở Việt Nam như Sài Gòn, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng... đều được đặt dưới sự kiểm soát của quân dội Nhật.

        Chính phủ Trần Trọng Kim, do Nhật dựng lên ngày 7 tháng 4 năm 1945, gồm 10 bộ, thực chất không nắm quyền hành gì đáng kể. Nhưng dù sao đây cũng là một chính phủ và chính phủ này, đến tận ngày 17 tháng 8, vẫn còn nắm quyền và cử người "mặc cả" với Việt Minh về việc chia sẻ quyền lực trong tương lai. Trước đó, ngày 14 tháng 8 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim còn ra tuyên bố: "Nhất quyết không chịu lùi một bước trước một khó khăn nào để làm tròn sứ mệnh... và vẫn hợp tác chặt chẽ với các nhà đương cục Nhật"5.

        Thứ hai, như trên đã nói, từ sau 9-3-1945, trên thực tế phát xít Nhật đã thiết lập mọi quyền kiểm soát ở Việt Nam. Cho tới khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh (15-8) thì ở Việt Nam, các lực lượng quân đội Nhật vẫn chưa nhận được lệnh đầu hàng. Quân Nhật vẫn duy trì kiểm soát trật tự, an ninh. Ông Lê Trọng Nghĩa, nguyên ủy viên ủy ban nhân dân cách mạng Bắc Bộ, người trực tiếp đi gặp Đại sứ Nhật Tsukamoto tối ngày 19 tháng 8 năm 1945, cho biết: "phải đến ngày 21, tập đoàn quân 38 của Nhật với hơn 1 vạn quân đóng giữ vùng quanh Hà Nội, mới nhận được lệnh ngừng bắn. Vì vậy, trước đó, trong những ngày 17, 18, 19 quân đội Nhật vẫn có đủ lý do để nổ súng can thiệp, hoặc để tự vệ hoặc để giữ an ninh... mà họ chịu trách nhiệm cho đến khi quân đội Đồng minh đến tiếp quản"6. Ông Nghĩa cũng dẫn ra tài liệu của Nhật về bức điện từ Hà Nội gửi về Tô-ki-ô ngày 19, rằng phía Nhật đã thực hiện một "cuộc dàn xếp thoả hiệp" với Chính phủ (Trần Trọng Kim) nhưng không thành7. Điều này có thể hiểu là Nhật đứng đằng sau hỗ trợ cuộc "mặc cả" của chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh nhằm chia sẻ quyền lực, nhưng thất bại.

        Thực tế trong các ngày 17, 18 tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội cho thấy, xe tăng và các đơn vị quân Nhật bố trí ở nhiều vị trí trung tâm thành phố, sẵn sàng nổ súng, khiến tình hình rất căng thẳng. Mặt khác, tại nhiều địa phương như Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang, Hà Giang... đã nổ ra các cuộc chiến đấu của quân dân ta với binh lính Nhật, để giành chính quyền. Như vậy, không thể nhận định là từ sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng, thì quân Nhật ở Việt Nam "bỏ mặc tình hình", để cho Việt Minh dễ dàng lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

-------------------
        5. Trần Quang Huy, "19-8, Cách mạng Tháng Tám là sáng tạo", Hội Khoa học Lịch sử việt Nam, H, 1995, tr. 26-27.

        6, 7. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Đoàn thanh niên Cứu quốc Hoàng Diệu, NXB Lao Động, H, 1999, tr. 338, 344.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #65 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:32 PM »


        Thứ ba, theo Xten Tôn-nét-xơn, nguyên nhân của sự trống vắng quyền lực là do: "... chính sách của Đồng minh đối với Đông Dương từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945 là ngu dốt và quên lãng, còn chính sách của Pháp đối với Đông Dương là bối rối và bất lực". Thực tế có phải như vậy không? Theo chúng tôi không hoàn toàn như vậy. Mỹ, Anh và cả Pháp đều thừa hiểu sớm muộn tình thế cũng dẫn đến việc phát xít Nhật lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương, trong đó có Việt Nam, nhằm trừ hậu hoạ. Nguyên nhân của sự lật đổ này xin không nêu ra đây. Điều cần nhấn mạnh là tuy đã dự kiến trước sau Nhật sẽ hành động nhưng cả Mỹ, Anh và trực tiếp là Pháp đều không thể làm gì được để ngăn chặn bởi bất lực, bởi (với Anh, Mỹ) còn có những mục tiêu, nhiệm vụ khác quan trọng hơn, cần kíp hơn. Ở đây, đối với Đồng minh không thể giải thích là do ngu dốt và quên lãng, bởi vào thời gian từ tháng 3 đến tháng 8, Đồng minh chưa đủ sức để can thiệp, chứ chưa nói là đánh bại được quân Nhật ở khu vực này. Còn đối với lực lượng Pháp, sau cuộc đảo chính của Nhật, hầu hết bị bắt giam, chỉ còn một số ít chạy thoát sang Lào, Trung Quốc và một số ít khác bí mật tổ chức "kháng chiến" chống lại quân Nhật. Sự tác động của Pháp đến Việt Nam, sau ngày 9-3-1945, có chăng chỉ là bản tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của Đờ Gôn (De Gaulle) và sự tập hợp một cách chắp vá, manh mún một vài đơn vị Pháp ở Xri-lan-ca, ấn Độ, Trung Quốc... chuẩn bị đưa tới Đông Dương. Và đến tận ngày 17 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Pháp mới có quyết định bổ nhiệm tướng Lơ-cléc (Leclerc) làm Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh và Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (D’Argenlieu) làm Cao ủy, để chuẩn bị tới Việt Nam. Thêm nữa, mãi tới ngày 12 tháng 9 năm 1945, đại đội lính Pháp đầu tiên mới theo chân quân Anh tới Sài Gòn, nghĩa là sau hơn nửa tháng khi cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam đã thắng lợi trên phạm vi cả nước. Chúng tôi muốn dẫn ra những sự kiện trên để chứng tỏ vào thời điểm cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra, Pháp không có một vai trò nào đáng kể ở Việt Nam. Đối tượng của cuộc Cách mạng Tháng Tám mà nhân dân ta tiến hành lúc đó chính là phát xít Nhật và hệ thống chính quyền phản động tay sai Nhật. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: thực tế ta giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Cuộc cách mạng nổ ra và giành thắng lợi nhanh chóng cho thấy điều kiện khách quan thuận lợi đã đóng vai trò rất quan trọng nhưng không phải là cơ bản, quyết định thắng lợi mà chính là do nhân tố chủ quan, do sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Đông Dương, của lãnh tụ Hồ Chí Minh và quyết tâm của toàn dân.

        2. Qua nghiên cứu tìm hiểu, chúng tôi khẳng định rằng dù cho điều kiện khách quan thuận lợi đến mấy, nhưng nếu không có sự chuẩn bị xây dựng lực lượng cách mạng quần chúng cần và đủ thì khởi nghĩa không thể giành được thắng lợi. Sự chuẩn bị lực lượng để đón thời cơ đã được Đảng thực hiện một cách tỉ mỉ, cụ thể trong suốt một quá trình lâu dài, trực tiếp bắt đầu từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939) và được đẩy nhanh từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941). Tuy nhiên, do khuôn khổ bài viết, chỉ xin tóm tắt quá trình chuẩn bị này từ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, cũng là ngày mà Xten Tôn-nét-xơn cho là bắt đầu xuất hiện "khoảng trống quyền lực", cho đến ngày 19 tháng 8 năm 1945. Như đã biết, sau sự kiện Nhật hất cẳng Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chỉ thị nhận định: "Sau cuộc đảo chính này, đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể, trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương". Vì thế, khẩu hiệu "Đánh đuổi Nhật, Pháp" được thay bằng "Đánh đuổi phát xít Nhật". Tuy nhiên, về thời cơ, Chỉ thị cho rằng "mặc dầu tình hình chính trị khủng hoảng sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương chưa thực sự chín muồi...". Trên cơ sở nhận định đó, Chỉ thị nhấn mạnh phải: "phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Cao trào ấy có thêm bao gồm từ hình thức bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến phá phách, cho đến những hình thức cao như biểu tình, thị uy võ trang, du kích. Sẵn sàng chuyển qua hình thức Tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện (ví dụ khi quân Đồng minh bám chắc và tiến mạnh trên đất ta). Dự kiến tình hình sẽ phát triển mau lẹ, Chỉ thị yêu cầu: "Ngay bây giờ phát động du kích, chiếm căn cứ địa, duy trì và mở rộng chiến tranh du kích phải là phương pháp duy nhất của dân tộc ta để đóng vai trò chủ động trong việc đánh đuổi quân ăn cướp Nhật Bản ra khỏi nước, chuẩn bị hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực". Đồng thời, Chỉ thị cũng khẳng định: "Song dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương là điều kiện tất yếu cho tổng khởi nghĩa của ta. Vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện… Nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #66 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:19 PM »


        Có thể nói Chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" là một văn kiện lịch sử, có ý nghĩa chỉ đạo hành động chuẩn bị mọi mặt lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa một cách tích cực, chủ động, đã được Đảng ta sớm đề ra và phù hợp với tình hình lúc dó. Chính vì thế, trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945, cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã được Đảng chỉ đạo rất sát sao, cụ thể và đầy sáng tạo. Đó là những cuộc khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương, đưa tới sự mở rộng các căn cứ địa, chiến khu cách mạng. Đó là sự thành lập của hàng loạt các đơn vị, tổ chức vũ trang Cứu quốc quân, Việt Nam giải phóng quân, tự vệ, du kích, hỗ trợ và làm nòng cốt cho đấu tranh chính trị của quần chúng; là sự phát triển của chiến tranh du kích, là các tổ chức, đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh lan rộng chưa từng thấy. Khu giải phóng Việt Bắc ra đời đầu tháng 6 năm 1945, gồm 6 tỉnh và một số vùng phụ cận, chính là hình ảnh thu nhỏ của một nước Việt Nam mới... Chính những kết quả đạt được trong quá trình vận động, chuẩn bị lực lượng đã chủ động góp phần tạo ra thời cơ cách mạng, tình thế cách mạng trực tiếp, tuyệt nhiên không phải chỉ do điều kiện khách quan mang lại.. Điều này càng thể hiện rõ kể từ sau khì phát xít Nhật bị đánh bại, phải tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Một chi tiết cần nêu ra là tuy Nhật đầu hàng Đồng minh nhưng Nhật vẫn chưa nhận được lệnh chinh thức trao quyền quản lý Đông Dương, trong đó có Việt Nam, cho Đồng minh, vì thế vẫn có trách nhiệm quản lý tình hình ở đây cho đến khi Đồng minh đến. Sự tài tình của Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh là ở chỗ đã tận dụng triệt để thuận lợi có một không hai: phát xít Nhật hoang mang, bối rối, chính phủ Trần Trọng Kim yếu thế, bất lực quân Đồng minh chưa vào, quân Pháp tuy lăm le quay trở lại nhưng chưa có thực lực… để lãnh đạo toàn dân vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền. Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào. Tuy trong điều kiện chưa có thông tin chính xác về việc Nhật đầu hàng, nhưng nhận thấy thời cơ khởi nghĩa đã tới, Hội nghị vẫn quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Ủy ban khởi nghĩa, ngay trong đêm 13 tháng 8, đã ra quân lệnh số 1: "Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta". Hội nghị cho rằng: "Tình thế vô cùng khẩn cấp. Tất cả mọi việc phải nhằm vào 3 nguyên tắc: Tập trung: tập trung lực lượng vào những việc chính; Thống nhất: thống nhất mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động, chỉ huy; Kịp thời: kịp thời hành động không bỏ lỡ cơ hội". Cũng trong dịp này, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập". Tiếp đó, ngày 16 và 17 tháng 8, Quốc dân Đại hội, cũng họp tại Tân Trào, tán thành và thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa. Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: "Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go, trở ngại sẽ xảy ra. Chúng ta phải luôn khôn khéo và kiên quyết. "Khôn khéo" để tránh những sự không lợi cho ta. "Kiên quyết" để giành được nền hoàn toàn độc lập Một dân tộc quyết tâm và nhất trí đòi quyền độc lập thì nhất định được độc lập".

        Đại hội Quốc dân đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định thành lập ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong Thư kêu gọi đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "... Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ".

        Chính vì đã có sự chuẩn bị chu đáo, nắm bắt đúng lúc thời cơ tình thế cách mạng trực tiếp xuất hiện, với quyết tâm và sự khôn khéo, mau lẹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Tổng khởi nghĩa đã nổ ra và giành thắng lợi trên phạm vi cả nước chỉ trong vòng 14 ngày (từ 14 đến 28-8-1945), trước khi quân Đồng minh kéo vào. Đây là một sự kiện vĩ đại, được chuẩn bị trong vòng 15 năm, trải qua 3 cuộc vận động cách mạng lớn, đã đi tới kết quả: đất nước được độc lập, nhân dân làm chủ cuộc sống mới của mình, chế độ phong kiến hàng nghìn năm, ách áp bức thực dân hơn 80 năm, bị lật nhào, một Nhà nước mới ra đời: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

-----------------
        8. Ban NCLS Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng 1930-1945, H, 1977, tập 3,

        tr. 385.

        9, 10, 11, 12. Văn kiện Đảng 1930-1945, Sđd, tập 3, tr. 384, 386, 389, 392.

        13. Văn kiện Đảng 1930-1945, Sđd , tr. 410, 411.

        14. Chặt xiềng, NXB Sự thật, H, 1955, tr. 65 (dẫn theo Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, NXB CTQG. H, 1994, tr. 22).

        15. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB CTQG, H, 2000, tr. 554.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #67 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:07 PM »

         
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 BÙNG NỔ TRONG BỐI CẢNH NHẬT BẢN CHƯA ĐẦU HÀNG1

LÊ KIM        

        Cho tới nay, vẫn còn một số bài báo, thậm chí có một vài cuốn sách vẫn viết rằng Cách mạng Tháng Tám 1945 đã bùng nổ “sau khi Nhật Bản chấp nhận đầu hàng không điều kiện các lực lượng Đồng minh chống phát xít".

        Sự thật diễn ra không hoàn toàn như vậy.

        Một thời gian dài sau khi chiến tranh kết thúc, nhiều tài liệu mật tuần tự được tiết lộ, cũng như một số hồi ký của các nhân chứng lịch sử lần lượt xuất bản2 cho biết:

        Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945), Mỹ thiết lập một đài phát thanh đặt tại Xan Phran-xi-xcô, trên bờ biển Thái Bình Dương, hướng về phía châu Á. Hồi đó, nhân dân ta thường gọi là Đài Cựu Kim Sơn. Từ 20 giờ đến 24 giờ đêm 12 tháng 8 năm 1945, đài này liên tiếp phát đi bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc... bản tin đặc biệt loan báo Nhật Bản đã gửi công hàm tới Mỹ, Anh, Trung Quốc, Liên Xô "xin hàng". Nhưng trên thực tế, những công hàm bắt đầu được gửi đi từ ngày 10 tháng 8 tới "Tứ cường" nói trên chỉ là những công hàm "mặc cả về những điều kiện ngừng bắn". Đài Cựu Kim Sơn đã không ngần ngại, phát luôn là Nhật Bản "xin hàng" để gây tác động về "chiến tranh tâm lý".

        - Hồi 23 giờ đêm 13 tháng 8 năm 1945, khi Tổng bộ Việt Minh phát lệnh Tổng khởi nghĩa vũ trang trên phạm vi toàn quốc thì trước đó 9 giờ, tức 14 giờ cùng ngày, Tư lệnh Đạo quân phương Nam của Nhật Bản, đặt Tổng hành dinh tại Đà Lạt, Việt Nam, đã gửi thư về Tô-ki-ô, kiến nghị với Nhật hoàng "tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến, chớ vội ngã lòng nản chí".

        - Đúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 8 năm 1945, vua Nhật Bản Hi-rô-hi-tô (Hirohito) đọc chiếu chỉ trên đài Tô-ki-ô. Toàn bộ bản Tuyên bố này, từ đầu chí cuối, không có chữ nào là "đầu hàng", mà chỉ ngỏ ý quyết định "đình chỉ chiến tranh" (sẽ viết kỹ hơn ở phần dưới). Thậm chí, tới ngày 22 tháng 8 năm 1945, lệnh "đình chỉ chiến tranh" vẫn chưa được truyền đạt tới các đơn vị quân Nhật ở các chiến trường.

        - Ngày 22 tháng 8 năm 1945, khi chiếc máy bay đầu tiên chở phái đoàn "tiền trạm" đầu tiên của Đồng minh (Mỹ) hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm, toàn bộ quân đội Nhật Bản ở Đông Dương vẫn "chưa biết gì về việc vua Nhật Bản tuyên bố đình chỉ chiến tranh" vì Đài Tô-ki-ô hồi đó "phát sóng rất yếu', ngay tại Triều Tiên cũng không nghe rõ. Tuy nhiên, ngay trong ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền tại thủ đô Hà Nội và đã đàng hoàng đón tiếp phái bộ Đồng minh trên cương vị "chủ nhân ông" của nước Việt Nam. Ghi lại đầy đủ và chính xác những chi tiết nổi bật trong giai đoạn lịch sử quan trọng này, chính là để khẳng định một lần nữa sự lãnh đạo sáng suốt, nhạy bén, kịp thời và tài giỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiến hành Tổng khởi nghĩa vũ trang và nhanh chóng hoàn thành cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 trong bối cảnh còn rất nhiều khó khăn, phức tạp: Nhật Bản chưa thật sự đầu hàng, Quốc dân đảng Trung Hoa đang chờ thời cơ thực hiện mưu đồ "Hoa quân nhập Việt", thực dân Pháp cũng đang lăm le quay trở lại Đông Dương...

        Dưới đây là một số diễn biến quan trọng mà trong phạm  vi một bài báo, người viết chỉ có thể dẫn chứng vắn tắt. Bạn đọc có thể dễ dàng tìm thấy toàn văn những tư liệu này, được ghi và dịch bằng các thứ tiếng Anh, Nga, Pháp… hiện lưu trữ tại Thư viện Trung ương Quân đội ở Hà Nội và một số thư viện khác trong nước:

        Ngày 9 tháng 5 năm 1945, phát xít Đức (và trước đó là phát xít Ý) hoàn toàn bị tiêu diệt. Hoà bình được lập lại trên toàn châu Âu và châu Phi. Từ ngày 7 đến ngày 27 tháng 7 năm 1945, tại Pốt-xđam (Nam nước Đức), có một cuộc họp quan trọng giữa ba nhân vật đứng đầu chính phủ ba nước Mỹ, Anh, Liên Xô là: Tơ-ru-man (Truman), Sớc-sin (Churchill), Xta-lin (Xtalin). Phần lớn thời gian Hội nghị bàn về vấn đề Đức. Đến giai đoạn cuối của Hội nghị mới bàn đến việc đay mạnh nỗ lực chiến tranh nhằm thanh toán nốt quân phiệt Nhật Bản, tên phát xít cuối cùng trong phe "Trục".

        Ngày 26 tháng 7 năm 1945, Tuyên bố Pốt-xđam được công bố. Vì lúc này bản Hiệp định "không xâm lược lẫn nhau' được ký kết giữa Liên Xô và Nhật Bản từ năm 1941 vẫn đang còn có hiệu lực, đồng thời cũng để giữ bí mật cho việc tiến công Nhật Bản sau này, nên Xta-lin chưa ký vào bản Tuyên bố Pốt-xđam. Mặt khác, khi bước vào giai đoạn 2 của Hội nghị Pốt-xđam, để bàn về việc lập lại hoà bình ở châu Á, lại có thêm đại diện của Tưởng Giới Thạch cùng tham gia, vì vậy, bản Tuyên bố Pốt-xđam chỉ được mở đầu "nhân danh Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Chủ tịch chính phủ Dân quốc Trung Hoa và Thủ tưởng Đại Anh quốc, đại diện cho hàng trăm triệu nhân dân" các nước đó.

        Sau khi cho biết Hoa Kỳ, Đại Anh quốc và Trung Quốc "đã quyết định mở cuộc tiến công cuối cùng vào Nhật Bản cho tới khi Nhật Bản chấm dứt mọi sự kháng cự", bản Tuyên bố kêu gọi: "Thời điểm đã tới để Nhật Bản quyết định, hoặc là tiếp tục cuộc chiến dưới sự kiểm soát của các thế lực quân phiệt mà những tính toán ngu dốt đã dẫn đế quốc Nhật Bản tới bờ vực của sự hủy diệt, hoặc là đi theo con đường của lẽ phải".

-------------------------------
       1. Tạp chí LSQS số 4-2000.

        2. Đặc biệt, cuốn “Nhật Bản trong những ngày chiến tranh" của I-va-nốp (lvanov), Tham tán Đại sứ quán Liên Xô tại Tô-ki-ô trong thời kỳ này, lần đầu tiên xuất bản năm 1978 rồi tái bản nhiều lần, đã cung cấp nhiều tư liệu rất đáng tin cậy
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #68 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:57 PM »


        Toàn bộ bản Tuyên bố Pốt-xđam gồm tất cả 13 điều, kể cả lời kêu gọi. Dưới đây chỉ lược dịch nội dung chủ yếu của một số điều khoản.
        …
        - Điều 6: Phải vĩnh viễn loại trừ mọi quyền lực và ảnh hưởng của những kẻ đã lừa gạt, lôi cuốn nhân dân Nhật Bản lao vào việc chinh phục thế giới (…)

        - Điều 7: Các lực lượng Đồng minh cần phải được đóng quân tại các địa điểm sẽ được ấn định tại Nhật Bản cho tới khi thiết lập xong trật tự mới và sau khi đã thật sự có chứng cớ là bộ máy chiến tranh của Nhật Bản đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
        …
        -Điều 9: Các lực lượng vũ trang Nhật Bản phải hoàn toàn giải tán, tước bỏ toàn bộ vũ khí, binh lính trở về nhà làm ăn sinh sống hoà bình.

        - Điều 10: Các tội phạm chiến tranh, kể cả những kẻ phạm tội ác đối với các tù binh chiến tranh là người của chúng tôi, phải bị trừng trị theo công lý (...)

        - Điều 11: Nhật Bản được phép giữ lại các ngành công nghiệp phục vụ kinh tế dân sinh nhưng không được sử dụng để tái vũ trang phục vụ cho chiến tranh.

        - Điều 12: Các lực lượng vũ trang Đồng minh sẽ sớm rút khỏi Nhật Bản sau khi Nhật Bản thực hiện đầy đủ các điều khoản trên đây (…)

        - Điều 13: Chúng tôi đòi Chính phủ Nhật Bản phát ngay lệnh đầu hàng không điều kiện tới tất cả các lực lượng vũ trang...

        Sau khi đã nhờ Thụy Sĩ, là một nước trung lập, chuyển bản Tuyên bố Pốt-xđam tới Chính phủ Nhật Bản, Mỹ còn cho máy bay rải hàng triệu tờ in nội dung bản Tuyên bố nói trên đã dịch sang tiếng Nhật xuống Tô-ki-ô và một số thành phố khác. Đáp lại là "một sự im lặng hoàn toàn".

        Ngày 6 tháng 8, Mỹ ném quả bom nguyên tử đầu tiên, hủy diệt thành phố Hi-rô-si-ma của Nhật Bản, song vẫn không nhận được tín hiệu trả lời. 20 giờ tối ngày 8 tháng 8 theo giờ Mát-xcơ-va, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô triệu tập đại sứ Nhật Bản tại Mát-xcơ-va tới văn phòng Bộ, thông báo Liên Xô hủy bỏ Hiệp định trung lập ký năm 1941 và tuyên chiến với Nhật Bản từ 0 giờ ngày 9 tháng 8 năm 1945. Liền sau đó, Đài Cựu Kim Sơn vào hồi 6 giờ ngày 9 tháng 8 cũng thông báo: "Liên Xô chính thức tham gia Tuyên bố Pốt-xđam và đang mở cuộc tiến công Nhật Bản". Trong khoảng thời gian này, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Tô-gô (Togo) cũng nhận được bức điện cuối cùng của sứ quán Nhật Bản tại Mát-xcơ-va gửi về. Nhật hoàng Hi-rô-hi-tô, được Bộ trưởng Ngoại giao và Thủ tướng cấp báo tin "Quốc gia đại sự", vội ra lệnh cho Thủ tướng triệu tập Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh vào lúc 10 giờ. Đối với toà Đại sứ Liên Xô nằm ngay giữa thủ đô, Nhật Bản hối hả cử hiến binh tới canh giữ, cắt hết mọi đường dây điện thoại, niêm phong tất cả các phương tiện thu phát tin tức và ra lệnh "quản thúc đại sứ Liên Xô Ma-lich (Malik) và toàn bộ nhân viên sứ quán ngay trong khuôn viên toà đại sứ". Tuy nhiên, do chuẩn bị trước, sứ quán Liên Xô tại Nhật Bản vẫn giấu được một đài phát vô tuyến điện.

        Đúng 10 giờ, các ủy viên Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh của Nhật Bản (thành lập từ 12-1941) có mặt đông đủ trong phòng họp. Hội đồng này do vua Hi-rô-hi-tô làm Chủ tịch, gồm 6 ủy viên là Thủ tướng, Bộ trưởng Chiến tranh, Bộ trưởng Hải quân, Tổng tham mưu trưởng Liên quân, Tham mưu trưởng Hải quân, Bộ trưởng Ngoại giao.

        Hội nghị vừa khai mạc thì nhận được điện báo: quân đội Liên Xô đang mở cuộc đại tiến công trên trận tuyến dài 4.800km, đã vượt biên giới Mãn Châu, tiến công cả bán đảo Cao Ly (Triều Tiên). Máy bay Liên Xô ném bom Trường Xuân,là nơi đặt Tổng hành dinh đạo quân Quan Đông. Hạm đội Liên Xô bắn phá dữ dội bán đảo Xa-kha-lin và quần đảo Cu rin, chuẩn bị đổ bộ... Lúc 11 giờ 30 phút, lại được tin Mỹ ném quả bom cực mạnh thứ hai xuống Na-ga-sa-ki. Đài Cựu Kim Sơn loan báo đây là bom nguyên tử, có sức hủy diệt lớn…

        Trước tình hình Nhật Bản đang ở vào thế "lưỡng đầu thụ địch", cả hai mặt đều bị tiến công mạnh, Ngoại trưởng Tô-gô dè dặt đưa ra ý kiến "có lẽ nên chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam...". Thì lập tức, Đại tướng, Bộ trưởng Chiến tranh A-na-mi (Anami) và Đô đốc Tô-ê-đa (Toeda) đã gạt phắt. Họ viện cớ, nào "đầu hàng là hèn nhát, là phản bội", nào "Nhật còn hơn 5 triệu quân thường trực chính quy và 20 triệu thanh niên sẵn sàng xả thân bảo vệ ngôi vua", "còn hơn 8.000 láy bay, 600 tàu chiến", lại "đang nghiên cứu loại vũ khí bí thật sức mạnh không thua gì bom nguyên tử", v.v...

        Biên bản cuộc họp được trình lên Nhật hoàng Hi-rô-hi-tô. Vin vào lý do đây là chuyện "đối ngoại", Nhật hoàng gặp riêng Ngoại trưởng Tô-gô một lần nữa, rồi truyền lệnh cho. Ông ta nhờ Thụy Sĩ "nhắn tin" cho Tứ cường biết thái độ của Nhật Bản đối với Tuyên bố Pốt-xđam.

        Như vậy là không có "công hàm của Nhật Bản gửi bốn nước Mỹ, Anh, Trung Quốc, Liên Xô để ngỏ ý xin hàng" như Đài Cựu Kim Sơn đã loan báo trong buổi phát tin tối 12 tháng 8 năm 1945, mà chỉ có "văn thư của Thụy Sĩ ký ngày 10 tháng 8, gửi bốn ngoại trưởng Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc với nội dung đại ý là Nhật Bản sẵn sàng chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam ngày 26 tháng 7 năm 1945 của Mỹ, Anh, Trung Quốc và sau đó có thêm Liên Xô tham gia, sau khi được giải thích và cam kết rõ là bản Tuyên bố trên không bao hàm một đòi hỏi nào có liên quan tới những đặc quyền của Thiên hoàng là vị cầm quyền tối cao của Vương quốc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21750


« Trả lời #69 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:22 PM »


        Sau mấy ngày trao đi đổi lại giữa Nhật Bản và Tứ cường, thông qua hai nước trung lập là Thụy Sĩ và Thụy Điển, Nhật Bản ngỏ ý sẽ chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam nếu được đáp ứng bốn điều kiện:

        1. Giữ nguyên vẹn ngôi vua và thể chế quân chủ.

        2. Nước Nhật Bản không bị chiếm đóng.

        3. Quân đội Nhật Bản tự tước vũ khí và tự giải tán sau khi kết thúc chiến tranh.

        4. Toà án Nhật Bản sẽ tự xét xử những người bị coi là "tội phạm chiến tranh", không cần tổ chức tòa án quốc tế.

        Tứ cường kiên quyết bác bỏ, đòi Nhật Bản phải lập tức tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Mỹ gợi ý: cứ tuyên bố đầu hàng rồi muốn kêu nài điều gì, Tư lệnh tối cao các nước Đồng minh là Đại tướng Mỹ Mắc Ác-tơ sẽ xét sau. Đài Cựu Kim Sơn công bố danh sách 141 tội phạm chiến tranh của Nhật Bản. Các phương tiện tuyên truyền chiến tranh tâm lý của Mỹ đe dọa, "có thể" Mỹ sẽ ném quả bom nguyên tử thứ ba xuống ngay giữa Tô-ki-ô (thực ra lúc ấy, Mỹ đã hết bom nguyên tử dự trữ). Dù sao, lời đe doạ "úp mở" này cũng làm cho Nhật Bản hoảng sợ. Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh lại họp để quyết định trả lời Tứ cường. Khi biểu quyết, ba trên tổng số sáu đồng ý chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam nhưng để "cầu hoà" chứ không phải để "xin hàng", ba ủy viên còn lại thì tán thành "quyết chiến". Do số phiếu ngang nhau 3/3, Nhật hoàng quyết định đưa ra trưng cầu ý kiến toàn thể nội các gồm 14 thành viên. Kết quả là 9 người tán thành "cầu hoà", còn 5 người khăng khăng "quyết chiến". Nhật hoàng ôm mặt khóc và… "đành khuất phục" đa số. Thủ tướng quỳ lạy, xin từ chức. Cựu Thủ tướng Tô-giô (Tojo), người phát động chiến tranh năm 1941, đã tự sát…

        2 giờ sáng ngày 14 tháng 8, Đô đốc Ô-nhi-si (Ônishi), Tư lệnh lực lượng không quân thuộc hải quân, đệ trình Nhật hoàng một "diệu kế chuyển thắng thành bại". Theo Ô-nhi-si, hiện nay đã có 2.000 phi công lái máy bay quyết tử; cứ tính thật rộng rãi, dùng 3 máy bay chứa đầy thuốc nổ lao xuống phá một tàu chiến Mỹ là đủ sức tiêu diệt toàn bộ hạm đội Mỹ đang tập trung tại vùng biển Nhật Bản. Nhật hoàng không chấp nhận.

        Sau đó Nhật hoàng chỉ thị cho nhà báo Ki-ha-ra (Kihara) nổi tiếng là người văn hay chữ tốt, viết giúp Vua bản Chiếu chỉ đặc biệt, trong đó tuyệt đối không được ghi chữ "đầu hàng" mà chỉ viết là "xin chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam ngày 26-7".

        Chiều 14 tháng 8, Bản chiếu chỉ viết xong, được nhà Vua duyệt y và đọc trước vào "đĩa nhựa" để phát đi cho toàn dân nghe vào 12 giờ trưa ngày 15 tháng 8. Đêm 14 rạng 15 tháng 8, một nhóm sĩ quan xông thẳng vào Hoàng cung gây bạo loạn, định ép Vua phải kêu gọi toàn thể quân và dân quyết chiến. Cuộc bạo loạn đã bị dập tắt. Đúng 12 giờ ngày 15 tháng 8, Đài Tô-ki-ô phát đi lời tuyên bố của nhà vua đã ghi trên đĩa  nhựa. Nhưng, do kỹ thuật ghi không chuẩn, Nhật hoàng lại phát biểu rất nghẹn ngào, xúc động, nhỏ nhẹ, nên phe "quyết chiến" tung tin, đây là âm mưu của bọn "hèn nhát cầu hoà", không phải ý kiến của vua. Tư lệnh Ô-nhi-si đã dùng máy bay, rải truyền đơn xuống Tô-ki-ô trong đó ghi: "Bản Tuyên bố trên Đài phát thanh trưa 15 tháng 8 là giả mạo. Hãy giữ vững ý chí, tiếp tục chiến đấu đến cùng?".

        Tình hình rất khẩn trương vì trên các chiến trường quân đội Nhật Bản vẫn tiếp tục chiến đấu. Suốt ngày 16 tháng 8, Đài Cựu Kim Sơn liên tục phát đi “lời mời" của Đại tướng Mỹ Mắc Ác-tơ, nhân danh Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh, hối thúc Nhật Bản cử ngay một phái đoàn quân sự tới Sở chỉ huy tiền phương của Đồng minh đặt tại Ma-ni-la (Phi-líp-pin) để "thảo luận về các biện pháp ngừng bắn, tạo điều kiện an toàn cho Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh tới Tô-ki-ô tổ chức lễ tiếp nhận đầu hàng của Nhật Bản".

        Tối 17 tháng 8, Đài Tô-ki-ô trả lời: "Trong ngày mai, 18 tháng 8, một phái đoàn quân sự do tướng Ca-oa-bê (Kawabe), Phó Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu, sẽ tới Ma-ni-la để "hội đàm”. Mắc Ác-tơ cử tướng Xao-thơ-len (Southerlen) là Tổng tham mưu trưởng đứng đầu phái đoàn Đồng minh gặp đoàn Nhật Bản.

        Buổi họp đầu tiên chỉ tranh cãi quanh vấn đề thủ tục. Buổi hôm sau (sáng 19-8), Mỹ yêu cầu Nhật Bản hạ lệnh ngừng bắn ngay lập tức cho các đơn vị trên tất cả các chiến trường. Nhật Bản vin vào lý do khó khăn về thông tin liên lạc nên sớm nhất phải 48 giờ mới truyền đạt được lệnh ngừng bắn tới các đơn vị đóng trên các đảo ở chính quốc, 4 ngày sau mới tới được Trung Quốc, 6 ngày sau mới tới được Đông Dương, còn các khu vực khác phải vào khoảng 2 tuần.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM