Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Một, 2019, 11:20:33 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ  (Đọc 28328 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #40 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:50 AM »


        Tham gia phong trào Tây Sơn, Ngô Văn Sở thành vị thủ lĩnh tài ba đánh quân Nguyễn ở phía Nam trong các trận ở Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận năm 1773. Ngô Văn Sở theo Nguyễn Huệ đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định năm 1783, đánh quân Trịnh ở phía Bắc năm 1786. Là một thuộc tướng của Võ Văn Nhậm, sau Nhậm làm phản bị Nguyễn Huệ giết (5-1788), Ngô Văn Sở được Nguyễn Huệ giao trọng trách trông coi 11 trấn Bắc Hà. Trong dịp này, các quan chức và tướng lĩnh được giao cai quản Bắc Hà như: Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Hộ bộ Trần Thuận Ngôn, Học sĩ Ngô Thời Nhậm đều theo Ngô Văn Sở giữ Thăng Long. Nguyễn Huệ nói rằng: "Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngô là lòng dạ của ta. Nhậm là bề tôi mới của ta. Nay ta lấy cái việc quân vụ và Quốc chính của 11 trấn Bắc Hà ủy thác cho. Ta thuận cho theo tiện nghi mà làm việc, phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì cũ mới mà xa cách nhau. ĐÓ là điều mong mỏi của ta vậy"176.

        Cuối năm 1788, vua Càn Long nhà Thanh cử 29 vạn  quân, do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy, kéo sang xâm lược nước ta. Trước binh lực hùng hậu của giặc Thanh, Ngô Văn Sở cho đánh cầm chân địch rồi rút quân về giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ninh Bình), cử Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết vào Phú Xuân cấp báo cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đánh giá rất cao "nước cờ Tam Điệp" của Ngô Văn Sở. Trong cuộc kháng chiến chống Thanh, Ngô Văn Sở được vua Quang Trung cử làm tướng tiên phong, đã góp phần vào thắng lợi huy hoàng chống quân Thanh xâm lược vào năm 1789.

        Năm 1790, Ngô Văn Sở được vua Quang Trung giao cầm đầu đoàn sứ gồm có Đặng Văn Chân, Phan Huy ích, Võ Huy Tấn, Võ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công đưa Phạm Công Trị (người giả làm vua Quang Trung) sang Yên Kinh mừng thọ vua Càn Long nhân dịp 80 tuổi. Vua Thanh đón tiếp hết sức nồng hậu, cũng là một thành công về hoạt động ngoại giao của Ngô Văn Sở. Về nước, Ngô Văn Sở tiếp tục được giao nhiệm vụ phụ trách 11 trấn Bắc Hà cho đến thời Cảnh Thịnh.

        Năm 1795, vụ biến ở kinh đô Phú Xuân do phe phái Võ Văn Dũng buộc vua Cảnh Thịnh bắt nộp Bùi Đắc Tuyên. Sau khi nhấn chìm Bùi Đắc Tuyên chết, Võ Văn Dũng làm giả chiếu lệnh của Tiết chế Nguyễn Quang Thùy, cho người bắt Ngô Văn Sở, vu là phe phái của Bùi Đắc Tuyên, đóng cùm đưa về Kinh, lại sai Nguyễn Văn Huấn đem binh vào Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ, con của Bùi Đắc Tuyên giải về, khép vào tội phản nghịch, đều cho dìm xuống nước mà chết177.

        Đó là cái chết oan nghiệt, thê thảm của Đại tư mã Ngô Văn Sở do phe cánh thanh trừng lẫn nhau dưới thời Cảnh Thịnh. Còn Ngô Văn Sở trước sau vẫn là một tướng lĩnh tài ba, phục vụ hết mình vì sự nghiệp Tây Sơn.

----------------
        176. Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 30, Sđd, tr. 119.

        177. Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 30. Sđd, tr. 187.

        - Đại Nam thực lục, tập 2, NXB Sử học, Hà Nội, 1963, tr 214-215.

        - Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, tập 2, Hà Nội, 1984, tr. 221.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #41 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:13:52 AM »

               
PHẦN HAI


VỀ VAI TRÒ CỦA HOÀNG ĐÌNH KINH (CAI KINH) VỚI BUỔI ĐẦU KHỞI NGHĨA YÊN THẾ (1887-1913)1

HOÀNG MINH THẢO        

        Kể từ ngày bắt đầu, khởi nghĩa Yên Thế diễn ra cách đây đã hơn 100 năm. Trong thời gian đó, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu lịch sử nào đề cập đến vai trò của Hoàng Đình Kinh-một trong những thủ lĩnh quân sự lúc ban đầu của phong trào nông dân Yên Thế. Đó là một khó khăn lớn khi chúng tôi nghiên cứu vấn đề này. Song cũng chính vì thế mà việc nghiên cứu để làm sáng tỏ vai trò của thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Đình Kinh càng thôi thúc chúng ta tích cực nghiên cứu hơn lúc nào hết.

        Có ý kiến cho rằng phong trào nông dân Yên Thế chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: từ 1887 đến 1891 do ông Đề Nắm, Bá Phức, Hoàng Đình Kinh, Đề Công, Đề Dương, Đề Thảo lãnh đạo. Giai đoạn thứ hai: tử 1892 đến 1913 do Đề Thám - người có tên tuổi nổi nhất trong số những lãnh tụ của khởi nghĩa Yên Thế, lãnh đạo. Tên tuổi của Hoàng Hoa Thám được ghi đậm nét, chân dung của ông được đặt ngang hàng với các thủ lĩnh đương thời như Phan Đình Phùng… Việc phân định và nội dung như vậy là hợp lý.

        Nhưng tên tuổi và sự nghiệp của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh thì thế nào?

        Từ khi Pháp đánh chiếm miền Bắc, một số lớn quan lại cũ đã không chịu thi hành lệnh giải giới của triều đình Huế, kẻ thì về ở ẩn, người thì cầm súng kháng chiến… Trong số những người quyết tâm kháng chiến chống Pháp có ông Hoàng Đình Kinh. Ông đã rút vào một dãy núi hiểm trở để  kháng chiến. Vì thế dãy núi đó được gọi là dãy Cai Kinh. Khu vực Yên Thế nằm trọn vẹn giữa dãy núi đá Cai Kinh (Bắc Giang và Lạng Sơn) cùng với dãy núi trùng trùng điệp điệp ở miền thượng lưu sông Thương và sông Cầu. Tại đây, ông cùng với Đốc Ngữ đã tập hợp được một số nghĩa quân đông đảo để tung ra hoạt động trong và ngoài khu vực thung lũng vùng Phố Bình Gia (Thái Nguyên); phong trào do ông dấy binh khởi xướng còn ảnh hưởng trong một vùng rộng lớn lân cận. Sau đó, phong trào đã phát triển rầm rộ hơn khi hoà vào phong trào chung, với căn cứ được đặt ở Yên Thế, dưới sự chỉ đạo của Hoàng Hoa Thám.

        Việc chọn căn cứ có đủ điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài thường là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu của mọi cuộc chiến tranh, nhất là khi giữa ta và địch, tương quan lực lượng chênh lệch nhau. Thực dân Pháp, cậy có quân đội nhà nghề và vũ khí tinh xảo, muốn nhanh chóng bình định và nắm quyền cai trị trên toàn bộ đất nước ta trong một thời gian ngắn. Vì vậy, để đương đầu với chúng, nghĩa quân phải kháng chiến từng vùng, từng giai đoạn với nhiều hình thức tác chiến thích hợp: đánh nhỏ, lẻ, phục kích, tập kích... nhờ hình thế hiểm yếu, Yên Thế trở thành một căn cứ kháng chiến vững chắc, là nơi không những nghĩa quân có nguồn nhân tài vật lực dồi dào mà còn tiếp giáp với Trung Quốc, do đó, có thể phối hợp với một bộ phận nghĩa quân của Trung Quốc lúc ấy cũng đang chống Pháp. Mặt khác, từ Yên Thế nghĩa quân có thể rút lui khỏi căn cứ để bảo toàn lực lượng một cách thuận lợi cũng như tung các đội quân sang hoạt động ở các vùng Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên… để mở rộng địa bàn và thanh thế của căn cứ kháng chiến. Căn cứ Yên Thế đã thỏa mãn những yêu cầu: Căn cứ khó bị bao vây, tinh thần kháng chiến nhân dân trong vùng rất cao, địch chưa kiểm soát được dân, dễ giao lưu các nhân tài, tóm lại là vừa hiểm trở vừa thông suốt, rất thích hợp với lối đánh du kích sở trường của nghĩa quân.

        Để có thêm cơ sở khách quan cho việc đánh giá căn cứ Yên Thế, xin dẫn ra đây một nhận xét của quân Pháp:

        “Căn cứ Yên Thế là một tập đoàn cứ điểm vừng chắc, với các công sự dày đặc và hào giao thông hình răng sấu, phía Đông có nhiều tiền đồn được thiết lập trên con đường Đình Thép-Yên Thế và sau hết một trung tâm kháng chiến hết sức vững chắc ở phía Bắc phòng tuyến, nơi ông Phức (Bá Phức) đặt tổng hành dinh".

---------------------------------------
       1.Tạp chí LSQS số 4-1993.
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:28:06 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #42 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:58 AM »


        Trong giai đoạn 1 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, có hàng chục trận đánh lớn nhỏ của nghĩa quân tiến công quân Pháp và đã 4 lần thực dân Pháp mở những cuộc hành quân tiến công căn cứ Yên Thế. Lần thứ nhất vào ngày 18 tháng 9 nam 1889 với lực lượng khoảng 750 quân. Lần thứ hai vào tháng 11 năm 1890 với 800 quân tiến công liên tục trong vòng 15 ngày có pháo binh yểm hộ (50 khẩu sơn pháo 80 ly, 2 khẩu pháo hạm). Lần thứ ba vào ngày 4 tháng 12 năm 1890 với 900 quân. Lần thứ tư vào tháng 3 năm 1892 với trên 1.000 quân có hàng chục khẩu sơn pháo, súng cối và công binh đi cùng. Sau 4 lần tiến công, thực dân Pháp tỏ ra lúng túng và bị bất ngờ trước sức mạnh của nghĩa quân không những không tiêu diệt được căn cứ mà còn liên tiếp nếm đòn thất bại. Với hàng trăm lính Pháp, lính khố đỏ bị chết, bị thương và bị bắt, trong đó có hàng chục sĩ quan cấp úy, thực dân Pháp phải tạm ngừng ý đồ đập tan căn cứ kháng chiến này.

        Những con số và dẫn chứng qua các tài liệu của Pháp trên đây đủ để nói lên một điều: Căn cứ kháng chiến Yên Thế là một căn cứ hiểm trở, lợi hại, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. Nghĩa quân Yên Thế không chỉ bó hẹp hoạt động ở núi rừng vì thế căn cứ Yên Thế không phải là căn cứ chỉ để cố thủ. Trên thực tế, có lúc căn cứ gần như vãn quân vì nghĩa quân hoặc cơ động để tiến công nơi khác, hoặc để ngay sau đó lại tụ họp lực lượng tại đây kháng chiến đến cùng. Thủ đoạn chiến thuật của nghĩa quân rất linh hoạt, đó là phục kích, tập kích, đánh đồn, chặn đường giao thông, đánh tiếp viện… với tính cơ động cao, lúc tập trung, lúc phân tán linh hoạt, lại có tinh thần chiến đấu rất dũng cảm và được nhân dân hết lòng đùm bọc, chở che, nghĩa quân chẳng những đã gây cho địch nhiều tổn thất mà còn đánh lui được nhiều cuộc tiến công càn quét lớn nhỏ của địch, giữ được căn cứ, bảo toàn được lực lượng.

        Thủ lĩnh quân sự Cai Kinh chỉ tham gia trực tiếp với phong trào nông dân Yên Thế trong một thời gian rất ngắn. Ông hy sinh trên đường rút sang Trung Quốc sau trận Phố Bình Gia ngày 6 tháng 7 năm 1888, nhưng những thủ lĩnh như Đề Phức, Đề Thám vẫn tiếp tục một cách xứng đáng sự nghiệp kháng chiến, duy trì được cuộc chiến đấu lâu dài tới 20 năm sau.

        Mặc dù vậy, với công lao gây dựng, đặt nền móng cho phong trào ở buổi ban đầu, phải chăng Cai Kinh cũng cần được coi là một trong những linh hồn chủ chốt của cuộc kháng chiến. Ngoài vai trò nói trên, Cai Kinh còn là người trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo nên những thủ lĩnh kế cận, hun đúc trong lòng họ ngọn lửa yêu nước và niềm tin vào sự tất thắng của cuộc kháng chiến. Tiêu biểu cho những thủ lĩnh quân sự được Cai Kinh "dìu dắt" là Hoàng Hoa Thám. Từ một người dân bình thường, nghèo khó phải đi làm mướn để sinh nhai ở làng Bằng huyện yên Thế, Đề Thám đã tham gia đội quân khởi nghĩa của Trần Quang Loan ở vùng Bắc Ninh. Khởi nghĩa thất bại, ông nhập cuộc với Đề Phức-một lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp ở vùng Yên Thế. Cuối cùng vì thất bại liên tiếp, cả hai ông đều tìm đến hợp tác với Cai Kinh đang hoạt động ở vùng thượng lưu sông Thương (Bắc Giang). Trong thời gian này, họ của Đề Thám được đổi từ Trương Văn sang Hoàng Hoa và ông được phong chức "Đề" với ý nghĩa là những người cùng chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào nông dân Yên Thế.

        Có lớp người kế cận như Đề Thám và một số thủ lĩnh tài ba khác, phong trào Yên Thế, sau cái chết đột ngột, sự ra đi quá sớm của Hoàng Đình Kinh cũng như sự thoái trào của Đề Phức, vẫn không hề bị mai một mà trái lại vẫn tiếp tục được duy trì-"Ngọn tọa đăng Đề Thám" vẫn rực sáng hơn bao giờ hết.

        Xét về mặt ý thức, cái chết của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh trước lưỡi gươm của kẻ thù càng hun đúc thêm chí căm thù và củng cố thêm quyết tâm chiến đấu của nghĩa quân Yên Thế, càng làm tăng uy tín của một căn cứ kháng chiến chống Pháp mạnh nhất thời bấy giờ.

        Xét về mặt thực tiễn, những hoạt động quân sự cụ thể của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh chính là đặt tiền đề vật chất quan trọng cho sự tồn tại và lớn mạnh của phong trào Yên Thế. Điều đó gợi cho chúng ta những suy nghĩ, nhận xét đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về vai trò và ý nghĩa tác động của thủ lĩnh quân sự Hoàng Đình Kinh.

        Trong thời kỳ cận đại, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm. Đó là cuộc khởi nghĩa độc đáo, mạnh mẽ và lâu dài nhất của nhân dân ta. Trước sức mạnh của đế quốc xâm lược Pháp, cuộc khởi nghĩa không những đứng vững ở một địa bàn chiến lược hiểm mà còn lan ra trên một phạm vi rất rộng lớn ở rừng núi và trung du Bắc Việt. Giá trị lớn lao của nó là chống lại kẻ địch có vũ khí hiện đại. Với vũ khí thô sơ và trong tương quan lực lượng khá chênh lệch mà duy trì được kháng chiến lâu dài như thế là do đâu? Trước hết là do được sự ủng hộ của nhân dân, là tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường của nghĩa quân và cuối cùng là có nghệ thuật chỉ huy và tác chiến tài giỏi. Song lời giải đáp trên chắc chắn còn chưa đủ; hy vọng rồi đây các công trình nghiên cứu khác sẽ giải quyết thấu đáo hơn sự kiện lịch sử độc đáo này. Khởi nghĩa Yên Thế, bằng sức mạnh vật chất và tinh thần hàm chứa trong lòng một dân tộc, đã cản trở và làm phá sản kế hoạch “bình định” của thực dân Pháp đối với nước ta trong một thời gian ngắn.

        Khi đánh giá ý nghĩa của khởi nghĩa Yên Thế, chúng ta không thể tách rời với việc đánh giá vai trò của các thủ lĩnh quân sự mà tên tuổi của họ gắn liền với những chiến công mà nghĩa quân đã đạt được. Cũng như xem xét vai trò của Hoàng Hoà Thám không thể bỏ qua việc đánh giá những thủ lĩnh đầu tiên của phong trào, trong đó có Hoàng Đình Kinh. Chúng ta hy vọng và chờ đón những công trình lịch sử tới đây trên ý nghĩa đó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #43 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:19:23 AM »


VỀ SỰ HY SINH CỦA LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI1

NGUYỄN PHƯƠNG NAM       

        Năm 1916, Hồ Tùng Mậu, tên thật là Hồ Bá Cự (biệt hiệu là Hồ Quốc Anh, Mộc Công, Lương Tử Anh, Phan Tài), người làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, cùng với một số thanh niên yêu nước sang Thái Lan, rồi Trung Quốc hoạt động cách mạng. Trong số này nổi bật có Lê Hồng Phong, Lê Văn Phan tức Lê Hồng Sơn, Lê Quang Đạt và Trương Văn Lệnh... Họ đã đến Quảng Châu, nơi có rất đông Việt kiều sinh sống. Theo báo chí Trung Quốc thì có đến 7-8 ngàn người đi vào võ nghiệp ở đây.

        Đầu những năm 1920, Phan Bội Châu đã quay sang quan điểm chống Pháp sau một thời gian ở tù và thử nghiệm tư tưởng thoả hiệp với Pháp. Tên tuổi của ông vẫn có sức lôi cuốn quần chúng mạnh mẽ, nhưng hoạt động không có hiệu quả.

        Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn và những thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết đã thành lập một tổ chức mới gọi là "Tâm tâm xã" (Hiệp hội của những người cùng chí hướng-dịch sát nghĩa là Hội những trái tim cùng nhịp đập). Do chưa có kinh nghiệm về đấu tranh cách mạng và có lẽ chịu ảnh hưởng của những triết lý khuyến khích nổi dậy ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha2 thế kỷ XIX và với tính cách sôi nổi, họ đã áp dụng phương pháp tuyên truyền và hành động ám sát để gây chấn động, thức tỉnh nhân dân đứng lên đấu tranh chống Pháp.

        Tháng 6 năm 1924, nhân Toàn quyền Đông Dương Mac-xi-an Méc-lanh sang thăm Quảng Đông, nhưng người lãnh đạo Tâm tâm xã đã quyết định ám sát viên Toàn quyền này bằng cách cho nổ bom trong buổi lễ được tổ chức ở đảo Sa Điện - tô giới Châu Âu.

        Lúc đầu, Lê Hồng Sơn, người đã từng ám sát một tên gián điệp hai mang trong nội bộ Đảng, được giao nhiệm vụ này. Nhưng sau khi cân nhắc, do Lê Hồng Sơn bị các nhà chức trách biết rõ tung tích, nên Phạm Hồng Thái đã đảm nhiệm thay.

        Phạm Hồng Thái là con trai một công chức tỉnh Nghệ An tham gia phong trào Cần Vương. Thời thanh niên, Phạm Hồng Thái đã học trường Pháp-Việt ở Hà Nội và sớm say mê lý tưởng cách mạng. Sau khi học xong, Phạm Hồng Thái vào làm thợ cơ khí ở một ga-ra Ô tô và sau đó làm việc ở mỏ than. Tuy mới từ trong nước sang và mới trở thành thành viên Tâm tâm xã, nhưng khát khao được cống hiến cho sự nghiệp cứu nước, Phạm Hồng Thái đã xung phong nhận nhiệm vụ đầy nguy hiểm; mang bom đến mục tiêu định trước.

        Tối 19 tháng 6 năm 1924, các quan chức Pháp tổ chức một đại tiệc ở khách sạn Vích-to-ri-a để chào mừng Méc-lanh. Khi bữa tiệc vừa bắt đầu, món súp vừa được bưng ra, Phạm Hồng Thái đã ném quả bom tự tạo qua cửa sổ phòng tiệc. Tiếng nổ kinh hoàng vang khắp Sa Điện. Năm thực khách chết tại chỗ, hàng chục người bị thương. Toàn quyền Méc-lanh thoát chết với một tâm trạng hoảng hốt.

        Sau những phút giây hoảng loạn, bọn cảnh sát, mật vụ hò nhau đuổi bắt. "Trong khi tìm cách chạy vào đất liền, Phạm Hồng Thái đã nhảy từ trên cầu xuống Châu Giang và chết đuối"3.

        Méc-lanh vội vã trở về Hà Nội trên một chiếc tàu chở khách vì lo sợ bị tấn công lần nữa. Vụ nổ bom ở Sa Điện đã khiến thực dân Pháp ở Đông Dương lo ngại và gây chấn động dư luận thế giới, góp phần thúc đẩy phong trào chống Pháp của nhân dân Đông Dương lên cao.

        Mặc dù việc ám sát cá nhân không phải là phương pháp cách mạng đúng đắn nhưng "tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến đấu. Nó bắt đầu một thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân"4.

        Chính phủ của Tôn Dật Tiên đã dựng một ngôi mộ cho người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tại Hoàng Hoa Cương, trên ngọn đồi ở Quảng Châu, nơi yên nghỉ của 72 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc tấn công vào Dinh Tổng đốc Quảng Đông (tháng 3-1911).

        Sự thật về cái chất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái là như vậy. Đáng tiếc là lâu nay, nhiều tài liệu lưu hành trong nước đã gọi sự hy sinh cao cả của liệt sĩ Phạm Hồng Thái là "tự tử".

        Trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, xuất bản năm 1981, Ban Biên tập Nhà xuất bản Sự thật đã chú thích ở trang 318: "Bị đuổi bắt, Phạm Hồng Thái đã nhảy xuống sông tự tử".

        Trong Tổng tập văn học, tập 36, in xong ngày 30 tháng 4 năm 1980, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành, Hội đồng biên tập, khi chú thích bài "Những vấn đề châu Á" cũng viết: "Bị đuổi bắt, Phạm Hồng Thái đã nhảy xuống sông tự tử".

        Chưa hết, Nhà xuất bản Văn hoá, khi chú thích cuốn "Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê", ở tập 3, trang 12, cũng viết: "Liệt sĩ Phạm Hồng Thái sau khi ám sát hụt toàn quyền Méc-lanh, nhảy xuống sông tự tử...".

        Mới đây, Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, trong chương trình Hà Nội phố, khi giới thiệu về phố Phạm Hồng Thái, cũng vẫn cho rằng ông Phạm Hồng Thái tự vẫn.

        Khi đọc và nghe những từ "Phạm Hồng Thái tự tử", chúng tôi cho rằng nó không phản ánh đúng hành động tích cực của một Anh hùng liệt sĩ, một sự thật lịch sử.

        Chưa bao giờ người ta coi sự quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh là tự tử. Tổng đốc Hoàng Diệu không giữ được thành Hà Nội, đã quyên sinh để giữ tròn khí tiết, quyết không chịu sa vào tay giặc; người ta đã tôn vinh ông bằng tử "tuẫn tiết”. Bị giặc đuổi bắt, Phạm Hồng Thái nhảy xuống sông với hy vọng trốn thoát nhưng không may bị nước cuốn trôi, sao gọi là "tự tử" được?

        Theo chúng tôi nên dùng từ "hy sinh”, "tuẫn nạn", "tuẫn tiết" để chỉ trường hợp tử nạn của Phạm Hồng Thái là phù hợp với sự thật lịch sử hơn cả. Trong bài viết về cái chết của đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Trường Chinh dùng từ "tựu nghĩa". Đó cũng là một từ rất hay. Điều mong mỏi của chúng tôi là loại bỏ hẳn từ "tự tử", "tự vẫn" khi nhắc đến cái chết của liệt sĩ Phạm Hồng Thái.

----------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-2004.

        2. Theo triết lý của Auguste Blanqui.

        3. William J. Duiker. Ho Chi Minh, Hyperion, New York, 2000.

        4. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Sự thật. Hà Nội, 1975. tr. 64.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #44 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:21:57 AM »


TRƯỜNG QUÂN SỰ HOÀNG PHỐ VÀ VIỆC ĐÀO TẠO NHỮNG CÁN BỘ QUÂN SỰ CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM1

PHẠM XANH       

        Sau đại hội V của Quốc tế Cộng sản, trong một buổi tiếp thân mật Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Manuinski, ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đã thông báo quyết định của Quốc tế Cộng sản cử Người tới Quảng Châu công tác với nhiệm vụ chủ yếu là chuẩn bị về mặt chính trị-tư tưởng và tổ chức để tiến tới xây dựng một đảng cộng sản ở Đông Dương và giúp đỡ các đại biểu cách mạng của các nước khác ở Đông Nam Á. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị cho chuyến công tác xa-xích gần lại quê hương mình. Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu ngày 11 tháng 11 năm 1924. Hồi đó, Quảng Châu là trung tâm cách mạng của Trung Quốc. Người dân ở đây đang sống trong bầu không khí của ngày hội cách mạng. "Thật khó mà miêu tả Quảng Châu trong những ngày đó. Ở đây có cái gì đó tựa như năm 1917 không bao giờ quên ở nước Nga vậy. Tôi luôn luôn có cảm giác rằng ngôn ngữ loài người còn quá nghèo nàn để có thể diễn đạt hết sức mạnh của tình cảm: phẫn nộ và sung sướng, yêu thương và căm giận của quần chúng nhân dân tràn ra trên các đường phố và quảng trường… "2.

        Quảng Châu còn là nơi hội tụ của nhiều thế hệ những người yêu nước Việt Nam từ lớp cách mạng đàn anh như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu với các đồng chí của ông và lớp thanh niên trí thức yêu nước mới xuất dương sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tập hợp lại trong một tổ chức yêu nước-Tâm tâm xã. Rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu trong một bầu không khí chính trị thuận lợi và thực sự tồn tại một tổ chức cách mạng của những thanh niên yêu nước Việt Nam đang sẵn sàng tiếp nhận những gì mới mẻ cho chương trình hành động của mình. Thế là diễn ra cuộc hội nghị lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc, người đang đi tìm lực lượng và những người đang khao khát cái mới. Cuộc gặp gỡ lịch sử đó đã sản sinh ra Cộng sản Đoàn (tháng 2-1925), làm hạt nhân cho một tổ chức cách mạng rộng lớn hơn là Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, được thành lập sau đó ít lâu (tháng 6-1925). Tiếp đó, với tư cách là người sáng lập, lãnh tụ của tổ chức cách mạng ấy, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra một kế hoạch cụ thể. Sau này, L.Marty gọi đó là "kế hoạch Nguyễn Ái Quốc". L.Marty cho biết, kế hoạch đó đòi hỏi:

        "Ở ngoài nước:

        a- Đào tạo những người xuất dương trẻ tuổi (chúng tôi nhấn mạnh-PX).

        b- Chuẩn bị tài liệu tuyên truyền và bảo đảm một cách đáng kể việc xuất bản đều đặn tờ báo của Hội..."3.

        Theo đó, chúng ta biết việc đào tạo những thanh niên yêu nước từ trong nước xuất dương sang là nhiệm vụ hàng đầu và bức thiết nhất của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Thực chất của việc đào tạo đó là tạo ra một đội ngũ cán bộ cách mạng cho một đảng mác-xít tương lai ở Việt Nam. Xét về phương thức đào tạo, đội ngũ đó được đào tạo theo hai cách: tự đào tạo và gửi thanh niên theo học ở các trường khác. Xét về nội dung đào tạo, đội ngũ ấy được đào tạo tại hai loại trường: trường chính trị và trường quân sự. Trong bài viết nhỏ này chúng tôi xin dừng lại và làm sáng tỏ việc đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự cách mạng Việt Nam tại Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Dật Tiên, dưới sự huấn luyện của các cố vấn quân sự Xô-viêt trong những năm 1924-1927.

---------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 11-1986.

        2. X.A.Đa-lin. Hồi ức Trung Quốc 1921-1927 (bản tiếng Nga), NXB Khoa học , in lần thứ 2, M, 1982, tr. 217. Đa-lin là đại diện của Quốc tế Cộng sản đã 3 lần tới Trung Quốc công tác: 1922, 1924 và 1926-1927. Sau khi về Liên Xô, X.A. Đa-lin đã viết nhiều cuốn sách về Trung Quốc thời kỳ này, trong đó có cuốn "Trong đội ngũ cách mạng Trung Quốc", M, 1926.

        3. Góp phần vào lịch sử các phong trào chính trị ở Đông Pháp, tập IV, tr. 18, bản tiếng Pháp.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #45 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:24:38 AM »


        I. Vài nét về sự ra dời và hoạt động của Trường Quân sự Hoàng Phố những năm 1924-1927.

        Tháng 2 năm 1923, Tôn Dật Tiên gửi thư yêu cầu Chính phủ Xô-viết cử cố vấn chính trị và quân sự sang Quảng Châu giúp Chính phủ ông. Tháng 3 năm 1923, Chính phủ Xô-viết đã thông qua quyết định viện trợ tài chính cho Chính phủ cách mạng Tôn Dật Tiên (2 triệu đô-la Mêhicô) và cử M.M.Bô-rô-đin sang Quảng Châu làm cố vấn chính trị cho Tôn Dật Tiên. Ngày 2 tháng 9 năm 1923, một đoàn đại biểu Quốc dân Đảng Trung Quốc viếng thăm Liên Xô. Trong 3 tháng lưu lại Liên Xô, đoàn đã tiếp xúc và làm việc với nhiều cơ quan lãnh đạo cao cấp của Liên Xô và của Quốc tế Cộng sản. Trong một cuộc tiếp xúc với Hội đồng quân sự cách mạng Liên Xô ngày 9 tháng 9 năm 1923, Đoàn thay mặt Tôn Dật Tiên đã trình bày những yêu cầu sau đây:

        1- Đoàn mong muốn Hội đồng quân sự cách mạng cử tới liền Nam Trung Quốc nhiều cố vấn quân sự để huấn luyện quân đội Trung Quốc theo mẫu hình Hồng quân.

        2- Đoàn mong muốn Hội đồng quân sự cách mạng tạo mọi khả năng để các đại diện của Tôn Dật Tiên tìm hiểu Hồng quân;

        3- Đoàn mong muốn hai bên cùng nhau thảo luận kế hoạch hoạt động quân sự ở Trung Quốc.

        Tháng 1 năm 1924, Đại hội I của Quốc dân Đảng Trung Quốc đã thông qua nghị quyết mời cố vấn quân sự Liên Xô và xây dựng lực lượng vũ trang theo mẫu hình Hồng quân.

        Tất cả những sự thực dẫn ra ở trên minh chứng về sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ cách mạng Quảng Châu tới việc xây dựng quân đội cách mạng dân tộc theo kiểu Hồng quân, mà điểm xuất phát là xây dựng một trường quân sự để đào tạo bộ khung cho quân đội cách mạng đó. Và sự lưu tâm đặc biệt đó cũng được thể hiện rõ nét qua những lời nói của chính Tôn Dật Tiên trong một cuộc tiếp thân mật đồng chí M.M. Bô-rô-đin và các cố vấn quân sự Xô-viết đầu tiên tới Quảng Châu như V.Pô-li-ác, J.Giéc-man, A.Trê-rê-pa-nốp... Hôm đó, Tôn Dật Tiên đã nhấn mạnh nhiệm vụ cấp thiết của Chính phủ cách mạng của ông là tổ chức quân đội cách mạng dân tộc theo mẫu hình Hồng quân để chuẩn bị lực lượng cho cuộc Bắc phạt thống nhất đất nước Trung Hoa và đặt nhiều hy vọng vào các cố vấn quân sự Xô-viết, những người đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong cuộc chiến đấu chống bọn can thiệp quốc tế, sẽ truyền lại những kinh nghiệm quý báu đó cho các học viên-những sĩ quan tương lai của quân đội cách mạng.

        Từ sau buổi tiếp đó mới bắt tay xúc tiến xây dựng trường quân sự Hoàng Phố. Việc đầu tiên cần phải giải quyết là vấn đề tài chính. Lúc đó, Chính phủ Tôn Dật Tiên còn nghèo, đã buộc phải đi vay tiền ở giới thương nhân. Cuối tháng 2 năm 1924, đã vay được 60.000 đô-la Quảng Đông, nhưng số tiền đó vẫn chưa đủ4. Ngày 1 tháng 5 năm 1924, chính thức bắt tay xây dựng trường. Trường được xây dựng trên đảo Hoàng Phố nằm trên sông Tây Giang, cách Quảng Châu 25 km. Từ xưa nơi đây đã có một đồn binh án ngữ con đường từ biển vào thành phố thương mại Quảng Châu. Pháo đài đó được xây dựng từ năm 1870, sau khi kết thúc cuộc chiến tranh "Nha phiến". Theo con mắt của các chuyên gia quân sự Xô-viết, vị trí của trường nằm trên một hòn đảo giữa sông, làm cho nó tránh được những điều bất ngờ không cần thiết và che mắt những kẻ tò mò. Sau một tháng rưỡi lao động khẩn trương của đội ngũ cán bộ, cố vấn quân sự Xô-viết và học viên khoá đầu, ngày 15 tháng 6 năm 1924, chính thức cắt băng khánh thành Trường Hoàng Phố. Hôm đó, Tôn Dật Tiên, M.M. Bô-rô-đin từ Quảng Châu tới dự. Tại buổi lễ khánh thành Trường, Tôn Dật Tiên đã đọc một bài diễn văn khá dài, trong đó có đoạn:

        “Hôm nay, chúng ta khánh thành Trường nhằm mục đích gì? Từ giờ phút này chúng ta muốn làm sống lại sự nghiệp cách mạng và xây dựng quân đội cách mạng mà học viên của trường này sẽ là nòng cốt.

        … Quân đội cách mạng là gì? Khi theo học trường này, các bạn đã tự đặt cho mình mục đích gì để trở thành người chiến sĩ của quân đội cách mạng ấy? Cần phải trau dồi phẩm chất gì để có quyền gọi là chiến sĩ cách mạng? Để hiểu thế nào là quân đội cách mạng phải lấy những anh hùng đã ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng chúng ta ra làm gương và để làm được như vậy phải học tập ở quân đội cách mạng kỹ năng tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng. Chỉ có quân đội sẽ chiến đấu như một đảng cách mạng chiến đấu thì mới có thể gọi là quân đội cách mạng.”

        “… Dựa vào đâu mới có thể thực hiện được quyết tâm trở thành chiến sĩ của quân đội cách mạng? Kiến thức sâu rộng là cơ sở đó. Bằng cách nào mà có được kiến thức sâu rộng? Con đường thu nhận kiến thức sâu rộng đó không chỉ ở chỗ miệt mài nghiên cứu khoa học mà các thầy giáo truyền thụ tại giảng đường, mà còn ở chỗ thông qua cái bộ phận mà vươn tới cái toàn bộ. Bằng cách đó mà mở rộng kiến thức của mình. Ngoài giờ lên lớp phải gắng sức mà tự đào tạo, nghiền sách vở, đọc báo chí soi sáng khoa học quân sự và lý luận cách mạng. Chỉ sau khi các bạn đã nắm được kiến thức thì mới có thể đi sâu vào bản chất sự vật và dĩ nhiên khi các bạn được nghị lực cách mạng thôi thúc thì mới nảy ra mong muốn được kế tục sự nghiệp của các bậc anh hùng đã ngã xuống”.

        ".. Quân đội cách mạng gồm những chiến sĩ đang chiến đấu cứu nước, cứu dân mà các bạn là nòng cốt của đội quân cách mạng tương lai ấy… “5.


---------------------------------
        4. V.Vit-ni-a-cô-va A-ki-mô-va, Hai mươi năm ở nước Trung Hoa khởi nghĩa, 1925-1927, bản tiếng Nga, NXB Khoa học, M, 1980, tr. 132.

        5. Tôn Dật Tiên, Tác phẩm chọn lọc, bản tiếng Nga, NXB Sách chính trị, M, 1964, tr. 475-480.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #46 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:25:49 AM »


        Theo quyết định của Chính phủ Quảng Châu, trường Hoàng Phố là một trường bộ binh, thời gian học là 6 tháng. Ngoài ra, có những lớp chuyên ngành, thời gian học tập dài hơn, chẳng hạn như: lớp pháo binh (có 60 học viên, thời gian học 9-12 tháng), công binh (130 học viên, thời gian học 9 tháng), thông tin liên lạc (30 học viên, thời gian học 9 tháng). Về sau, trường được giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ chính trị học, lý luận về chủ nghĩa đế quốc, "ba nguyên tắc" và phương châm chính trị của Tôn Dật Tiên, lịch sử Trung Quốc và lịch sử phong trào cách mạng ở phương Tây. Vì thế mà trường được chính thức mang tên Trường Quân chính Hoàng Phố.

        Ngoài những môn học quân sự và chính trị, trường còn tổ chức một lớp tiếng Nga, học kiếm và thể dục. Trường có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan nòng cốt cho quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ Quảng Châu. Chính trên ý nghĩa đó mà trong các sách vở phương Tây còn xuất hiện một tên gọi nữa là Học viện Quân sự Hoàng Phố.

        Đội ngũ giáo viên huấn luyện, ngoài 58 cố vấn quân sự và chính trị Liên Xô6 gồm những sĩ quan được đào tạo quân sự ở nước ngoài. Phần lớn là ở Nhật, hoặc các sĩ quan đã tốt nghiệp tại các trường võ bị trong nước như trường Bảo Định. Như vậy đội ngũ giáo viên của trường không thuần, có thể nói là phức tạp. Trong khi đó, các cố vấn quân sự-chính trị Xô viết không thông thạo tiếng Trung Quốc hoặc tiếng Anh là hai thứ tiếng thông dụng ở đây. Vì không thể sử dụng ngôn ngữ để lên lớp trực tiếp, hoặc giám sát các bài giảng lý thuyết của đội ngũ giáo viên nên đoàn cố vấn quân sự Xô-viết-đứng đầu là P.A.Páp-lốp7, đã tìm ra một giải pháp đúng đắn và thích hợp; thời gian học tập, huấn luyện chủ yếu là trên thao trường, trong thực tế8. Đến ngày 1 tháng 11 năm 1924, trường Hoàng Phố đã có 62 giáo viên và sĩ quan huấn luyện.

        Đội ngũ học viên được lựa chọn chủ yếu từ học sinh các trường đại học và trung học Quảng Châu, Thượng Hải và một vài thành phố khác, là những người bước đầu đã trải qua trường học cách mạng trong phong trào học sinh-sinh viên. Khoá đầu có 950 học viên, trong đó có 39 đảng viên cộng sản, hầu như không có học viên công nhân. Về sau, trường có tổ chức một khoá đặc biệt cho những người tình nguyện trong số người ít được học hành, chủ yếu là nông dân và dân nghèo thành thị. Chính phủ Quảng Châu đã trao cho trường nhiệm vụ đào tạo cán bộ quân sự cách mạng cho tất cả các tỉnh của đất nước. Nhiệm vụ ấy đã được nhà trường thực hiện vào năm 1925. Trong số 2.500 học viên tốt nghiệp khoá III năm 1925 có hầu hết đại biểu của các tỉnh trên toàn đất nước. Đến khoá tiếp theo, về thành phần xã hội, học viên của trường gồm: 1.640 người là nông dân, 400 người là học sinh, 400 người là thương nhân, 100 người là công nhân, 10 người là binh lính, 15 người là quan lại, 12 người là đại biểu trí thức. Tháng 3 năm 1926, trường Hoàng Phố có tất cả hơn 5.000 học viên, gồm các ban bộ binh, chính trị, pháo binh, công binh, hậu cần. Như vậy, trường Hoàng Phố là một trường quân sự lớn hồi đó. Mặc dù thành phần xã hội trong giáo viên và học viên khá phức tạp nhưng nhà trường vẫn giữ được tính chất cách mạng của nó, bởi vì những người cộng sản và những người cánh tả trong Quốc dân Đảng chiếm tuyệt đại bộ phận (65-70%), số còn lại là cánh hữu (15-20%).

        Trong hơn 3 năm tồn tại của mình, trường Hoàng Phố, dưới sự huấn luyện trực tiếp của các cố vấn quân sự và chính trị Liên Xô, đã đào tạo được 5 khoá. Học viên tốt nghiệp các khoá đầu được giữ lại, tổ chức thành hai trung đoàn của trường, còn học viên các khoá sau trở thành cán bộ khung cho quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Trường Hoàng Phố không những chỉ là lò đào luyện đội ngũ cán bộ quân sự mới, mà còn là chỗ dựa đáng tin cậy của cách mạng. Vì thế, không lấy làm lạ là: mỗi lần bọn phản động ở Quảng Châu ngóc đầu dậy thì đòn đánh đầu tiên của chúng đều trước riết nhằm vào Trường. Trong những năm bão táp cách mạng 1924-1925, học viên của trường đã có lúc phải gác "bút nghiên" để lao vào chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng. Như vậy, họ đã tôi luyện kỹ năng chiến đấu của mình không chỉ trên thao trường mà cả trên chiến trường. Vào những năm đó, trường Hoàng Phố đã trở thành chỗ dựa quân sự chủ yếu của chính quyền cách mạng. Chẳng hạn, tháng 10 năm 1924 khi gặp nội loạn, Chính phủ Quảng Châu đã rút ra đảo Hoàng Phố và từ trong những bức tường pháo dài, tiến hành động viên các lực lượng trung thành với cách mạng đánh trả. Chính học viên khóa đầu của trường đã góp phần quyết định đánh tan cuộc phiến loạn đó. Tiếp đó, năm 1925, hai trung đoàn trường Hoàng Phố và một vài đại đội học viên của trường đã góp phần to lớn trong việc đánh bại quân đội của tướng Trần Quýnh Minh, tay sai của đế quốc Anh và cuộc nổi loạn phản cách mạng của bọn quân phiệt Lưỡng Quảng ở vùng Quảng Châu. Rõ ràng, với những học viên được huấn luyện theo kiểu mới, có chất lượng làm nòng cốt. Chính phủ cách mạng Quảng Châu đã tiến hành thắng lợi các chiến dịch quân sự như Đông phạt I, Đông phạt II mở rộng và làm chủ địa bàn hoạt động. Và trên cơ sở những kinh nghiệm quý báu thu được trong hai cuộc chinh phạt đó, Chính phủ Quảng Châu đã tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ nhất nhằm thực hiện mong ước của Tôn Dật Tiên: thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn.

        Trường Hoàng Phố ngừng hoạt động vào đầu tháng 8 năm 19279.

-------------------
        6. J.N.Du-kin. V.I.Lênin và các dân tộc phương Đông, Tạp chí Viễn Đông, bản tiếng Nga, 4-1980, tr. 140.

        7. Sau khi P.A.Páp-lốp hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ, tướng V.K.Bliu-ke sang thay vào tháng 11-1924.

        8. Xem Trê-rê-pa-nốp. A.J-Ghi chép của một cố vấn quân sự Trung Quốc, bản tiếng Nga, M, 1976, tr. 125.

        9. Sau cuộc đảo chính tháng 4-1927, Tưởng Giới Thạch rời trường Quân chính lên Nam Kinh đào tạo sĩ quan theo đường lối, quan điểm của Tưởng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #47 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:26:55 AM »


        II. Mấy nét về việc đào tạo cán bộ quân sự Việt Nam tại Trường quân sự Hoàng Phố.

        Bên cạnh việc đào tạo sĩ quan cho toàn đất nước Trung Hoa, Tôn Dật Tiên và Chính phủ cách mạng Quảng Châu còn trao cho trường Hoàng Phố một nhiệm vụ quốc tế: giúp đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự cho các nước láng giềng.

        Nhà trường đã thực hiện được nhiệm vụ nặng nề đó từ khoá III (năm l925). Có lẽ người nước ngoài đầu tiên theo học quân sự tại trường này là người Việt Nam và người Triều Tiên.

        Nhà yêu nước Việt Nam có ý định đầu tiên gửi học sinh Việt Nam theo học trường Hoàng Phố là Phan Bội Châu. Nhân việc về Quảng Châu "dựng bia đá ở trước mồ liệt sĩ (Phạm Hồng Thái) để làm kỷ niệm", được biết trường Hoàng Phố có các cố vấn quân sự Liên Xô huấn luyện vừa mới khánh thành, Phan Bội Châu liền đến tham quan trường, với ý định gửi thanh niên Việt Nam theo học tại đó. Sau này, Phan Bội Châu nhớ lại: "Gặp lúc Tưởng Trung Chính giữ chức hiệu trưởng trường quân quan Hoàng Phố, Lý Tế Thâm làm giám đốc nhà trường, tôi đến yết kiến hai người này để xem nhà trường và có ý định đưa học sinh vào học. Họ Tưởng và họ Lý đều tán thành, ba vị giáo viên trong trường là người Nga, cùng tôi nói chuyện và cùng chụp một tấm ảnh"10.

        Khôn khéo sử dụng ảnh hưởng của Phan Bội Châu, những thanh niên trí thức yêu nước trong Tâm tâm xã đã đăng ký xin thi vào trường Hoàng Phố. Hôm trường tổ chức thi tuyển, không may Hồ Tùng Mậu bị ốm phải ở lại Quảng Châu, số đông dự thi đã trúng tuyển, trong số đó có Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh… Đó là kỳ thi tuyển học viên khoá III của trường. Trong số 2.500 học sinh tốt nghiệp khoá III “có 25 người Triều Tiên và 10-15 người Việt Nam. Điều đó chứng tỏ sự mong muốn của Tôn Dật Tiên, phe cách mạng của Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp đỡ đào tạo cán bộ cho các nước láng giềng”11. Có lẽ, đó là những học viên Việt Nam dầu tiên theo học Trường Quân sự Hoàng Phố.

        Sau này, khi tới Quảng Châu với trọng trách của mình trước Quốc tế Cộng sản, với vị trí công việc của mình trong phái bộ Bô-rô-đin, Nguyễn Ái Quốc không những tiếp tục giữ mối quan hệ đã có với nhà trường, mà còn nâng nó lên ngang tầm với ý nghĩa của nó trong toàn bộ công việc mà Người đang tiến hành ở đây. Vì thế mà mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với trường Quân sự Hoàng Phố không những chặt chẽ, mà còn có nội dung hơn. A.I. Trê-rê-pa-nốp, một trong những cố vấn quân sự Liên Xô của trường đã xác nhận: "Đồng chí Hồ Chí Minh đã ở Quảng Châu vào những năm 1924-1925, đã thường xuyên liên hệ với các học viên Việt Nam ở trường Hoàng Phố và chỉ đạo việc giáo dục họ (chúng tôi nhấn mạnh-P.X)"12. Việc Nguyễn Ái Quốc và Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội gửi thanh niên-những hội viên của mình vào học trường Hoàng Phố có nghĩa là vấn đề bạo lực vũ trang trong một cuộc cách mạng ở một nước thuộc địa đã được đặt ra và được chuẩn bị ngay từ đầu. Hơn thế nữa, qua đoạn trích dẫn trên của A.I. Trê-rê-pa-nốp, chúng ta biết được rằng Nguyễn Ái Quốc không chỉ dừng lại ở việc gửi học sinh theo học quân sự, mà còn chỉ đạo việc giáo dục họ. Từ khoá III năm 1925, cho đến khi trường bị đóng cửa sau cuộc đảo chính phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch, khoá nào cũng có học viên Việt Nam theo học võ bị. Trong một bài nhan đề Học viện Quân sự Hoàng Phố và cách mạng Việt Nam đăng trên tờ Tuần báo của Học viện Hoàng Phố, tác giả Wou Hai Tsieo đã xác nhận: "Trường Hoàng Phố đã tồn tại 3 năm và đã đào tạo được 5 khoá. Trong suốt thời gian đó đã có những đồng chí Việt Nam vượt qua muôn trùng nguy hiểm tới trường tham gia vào sinh hoạt của trường, làm tăng lực lượng quân sự của trường và làm tăng uy tín của trường. Số đồng chí này tốt nghiệp rời trường thì số đồng chí khác vào học... Hết khoá này đến khoá khác, số lượng các đồng chí Việt Nam càng đông hơn"13. Có khoảng 30 học viên Việt Nam đã tốt nghiệp tại trường này14. Được sự quan tâm rất mực của Nguyễn  Ái Quốc, được sự giúp đỡ tận tâm của đội ngũ giáo viên-cố vấn quân sự Liên Xô, các học viên Việt Nam theo học ở đây đã học tập đạt được kết quả tốt đẹp. A.I. Trê-rê-pa-nốp, một giáo viên Liên Xô đã nhận xét: "Trong số các học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập bởi vì họ biết rằng, để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài”15. Không ai khác, chính Nguyễn Ái Quốc đã giáo dục cho học viên của mình tinh thần đó.

------------------------------
        10. Phan Bội Châu niên biểu, in lần thứ 2, NXB Văn Sử Địa , Hà Nội, 1 957, tr. 201.

        11. A.I. Trê-rê-pa-nốp, Sđd, tr. 123.

        12. A.I. Trê-rê-pa-nốp. Sđd, tr. 123.

        13. Phụ lục 2 cho lá thư số 1680/Sài Gòn, ngày 15-3-1928 SLOTFOM, vd, 3, carton 49.

        14. Hiện nay, chúng tôi đang tiến hành thu thập để lập một danh sách đầy đủ những học viên Việt Nam đã tốt nghiệp tại Trường Quân sự Hoàng Phố những năm 1925-1927. Cho tới nay, bản danh sách đó vẫn chưa đầy đủ. Đồng chí nào có biết rõ, xin chỉ giúp cho chúng tôi. Sau đây là một số người trong khoảng 30 học viên đó: Lê Hồng Sơn, Lê Quảng Đạt, Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Võ Tòng, Lê Khắc Trung, Đô Huy Liêm và nhiều người khác.

        15. I. Trê-rê-pa-nốp, Hồi ký, Phụ nữ Liên Xô, bản tiếng Nga, số 2-1980, tr. 7.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #48 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:27:35 AM »


        Trong thời gian công tác tại Quảng Châu, cùng với việc gửi người theo học quân sự, Nguyễn Ái Quốc còn mở lớp huấn luyện chính trị tại ngôi nhà 13-15 đường Văn Minh. Trường huấn luyện chính trị đặc biệt được Chính phủ Tôn Dật Tiên coi như là một phân hiệu của Trường Quân sự Hoàng Phố và đã hoạt động dưới sự giúp đỡ của Chính phủ Quảng Châu16.

        Được như thế là nhờ uy tín và sự vận động khôn khéo của Nguyễn Ái Quốc. Việc trường huấn luyện chính trị đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc trực thuộc Trường Quân chính Hoàng Phố dẫn đến hai điều lợi: (1) Tránh được những cặp mắt soi mói, rình mò của bọn mật vụ quốc tế (hồi đó bọn này nhan nhản ở Quảng Châu, Hồng Công) và bọn phái hữu trong Quốc dân Đảng là bọn chống cộng điên cuồng trong Chính phủ Quảng Châu hồi đó; (2) Tranh thủ được đội ngũ giáo viên-các cố vấn quân sự-chính trị Xô-viết ở trường Hoàng Phố. Vậy là Trường Quân chính Hoàng Phố và Trường Huấn luyện chính trị của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội có mối quan hệ rất khăng khít. Có thể nói, hai trường đó đã thâm nhập vào nhau, cùng nhau tồn tại. Và điều đó có nghĩa là một số giáo viên của trường này đồng thời cũng là giáo viên của trường kia. Chính vì thế mà trong lá thư đề ngày 28 tháng 12 năm 1927 (số 5077/Sài Gòn) của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ Thuộc địa Pháp đã cho biết là không chỉ nhiều người Việt Nam được huấn luyện tại Hoàng Phố mà còn những nhà cách mạng Việt Nam được sử dụng như những người giáo viên huấn luyện ở đây17.

        Các học viên Việt Nam tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố đã gia nhập quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ Quảng Châu và cùng với đội quân đó tham gia các cuộc Đông phạt I, Đông phạt II, Bắc phạt. Một số đã ngã xuống trên chiến trường đó, trên chiến luỹ Quảng Châu bên cạnh những người con Xô-viết và những người cộng sản Trung Quốc chân chính như Trương Thái Lôi… Số còn lại về sau trở về nước trở thành những cán bộ quân sự của Đảng ta như các đồng chí Phùng Chí Kiên, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn… Đó là vốn cán bộ quý báu mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị cho đất nước ngay từ ngày đầu cách mạng. Để hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ quân sự đầu tiên, chúng tôi xin dẫn ra một học viên đã tốt nghiệp tại Trường Quân chính Hoàng Phố trong những năm 1925-1927.

        Đồng chí Phùng Chí Kiên (1901-1941) quê Nghệ An vào học khoá V với tên là Mạnh Văn Liễu. Tốt nghiệp, đồng chí gia nhập quân cách mạng và tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu ngày 12 tháng 12 năm 1927. Sau thất bại của công xã Quảng Châu, đồng chí cùng với quân cách mạng rút về Khai phong và Lục Phong xây dựng khu Xô-viết: "Với cương vi đại đội trưởng quân cách mạng, đồng chí đã cùng cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ cách mạng"18. Tháng 2 năm 1941, đồng chí trở về nước. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ở Pắc Bó, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn-Vũ Nhai và trung đội Cứu quốc quân I. Tháng 7 năm 1941, trên đường đưa trung đội du kích rút về biên giới để bảo vệ lực lượng, đồng chí đã bị giặc phục kích và hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1941.

        Với sự giúp đỡ tận tâm của những cố vấn quân sự, chính trị Liên Xô, Trường Quân chính Hoàng Phố đã thực hiện được mong muốn của Tôn Dật Tiên, đã đào tạo được những cán bộ quân sự vào lớp đầu tiên của cách mạng Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên. Đó chính là những cán bộ quân sự đầu tiên trong sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng theo mô hình Hồng quân Liên Xô. Và đội quân đó đã sát cánh cùng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đưa cách mạng mỗi nước tới những thắng lợi to lớn ngày nay.

----------------
        16. Xem: K.Kô-bê-lép, Hồ Chí Minh, NXB Đội cận vệ Thanh niên, bản tiếng Nga, M, 1979, tr. 118.

        17. Xem: Huỳnh Kim Khánh, Vietnamese Communium 1925-1927, lthaca and Lon don, p. 77.

        18. Những người cộng sản trên quê hương Nghệ Tĩnh, tập 1 , BNCLS Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tỉnh xuất bản 1978. tr. 148, 189.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21710


« Trả lời #49 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:05 AM »


VỀ BẢN CHỈ THỊ “NHẬT-PHÁP BẮN NHAU VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA”1

LÊ KIM       

        Cách đây đúng 60 năm, tối ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đã tiến hành đảo chính quân sự, lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương. Liền sau đó, bản chỉ thị ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo, nhan đề "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã kịp thời đề ra những chủ trương nhạy bén, sáng suốt, làm dấy lên một cao trào cách mạng chưa từng thấy, cùng với các quyết định khác nhanh chóng dẫn đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám hoàn toàn thắng lợi.

        Có thể nói, bản chỉ thị này là một nét vàng trong pho sử đấu tranh cách mạng, một trong những mốc son rực rỡ trên chặng đường dài giải phóng dân tộc của toàn dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản quang vinh, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

        Tuy nhiên, những năm gần đây có một số bài báo, thậm chí cả một số cuốn sách chọn lọc, đã ghi lại khá nhiều sự kiện chưa thật chính xác xung quanh quá trình soạn thảo và ban hành bản chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, gây nên những hiểu biết sai lệch của người đọc, nhất là những người thuộc thế hệ trẻ. Xin phép được nêu lên một vài dẫn chứng:

        Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn "Trường Chinh-Một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng", dày hơn 900 trang, khổ 16,5 x 24,5cm, gồm các bài hồi ký của những tác giả đã một thời gần gũi và hiểu biết nhiều về đồng chí Trường Chinh. Mặc dù vậy, trong các sự kiện có liên quan đến sự ra đời của bản chỉ thị lịch sử Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta vẫn có những đoạn nhầm lẫn quan trọng, cần phải "bàn thêm cho rõ". Ví dụ: Bài Trường Chinh-Một nhà lãnh đạo tài năng của cách mạng Việt Nam kể lại: … Ngay sau đêm Nhật đảo chính hất cẳng Pháp (9-3-1945) đồng chí đã chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng, ra chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (sách đã dẫn, tr. 24).

        Một bài khác, đăng ở trang 595 cũng nhớ lại: "... Ngay sau khi cuộc đảo chính Nhật, Pháp ngày 9-3-1945 xảy ra, đồng chí (Trường Chinh) đã triệu tập cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, từ đó đề ra chỉ thị nổi tiếng "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”...".

        Một bài nữa đăng trên trang 104, có đoạn viết: "Ngày 9-3-1945, đồng chí Trường Chinh đã triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng ở Đình Bảng (Bắc Ninh) ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", v.v...".

        Cuốn Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945, cũng do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995, kể lại một cách chi tiết cụ thể hơn: "Ngày 8-3-1945, tin từ cơ sở cách mạng trong một nhà in, một số nhân mối trong binh lính và từ một số cá nhân, nhân sĩ yêu nước ở Hà Nội báo cho ban Thường vụ Trung ương và đồng chí Trường Chinh đang hoạt động ở ATK Trung ương, Toàn quyền Decoux bị nhà cầm quyền Nhật gọi vào Sài Gòn, quân Nhật ở Hà Nội có lệnh cấm trại, chuẩn bị vũ khí, lương thực; quân Pháp cũng đã được báo động. Nhận được tin ấy, với tinh thần nhạy bén, Tổng Bí thư Trường Chinh nhận định: "Nhật lật Pháp đến nơi và lập tức quyết định họp Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng... " (tr. 111, 112), v.v…

        Sự thật không hoàn toàn diễn ra đúng như trên. Như nhiều người đã rõ, trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta không tập trung mà phân tán ở nhiều nơi, tại nhiều địa điểm bi mật và luôn luôn thay đổi chỗ trú đóng. Việc thông tin liên lạc trong suốt thời kỳ này không thể và cũng không có các phương tiện điện thoại hữu tuyến hoặc vô tuyến mà hoàn toàn do liên lạc viên đảm nhiệm. Vì thế, không thể "ngày 8 tháng 3 được tin Nhật Bản chuẩn bị tiến hành đảo chính, tối ngày 8 triệu tập họp, sáng ngày 9 đã có thể khai mạc Hội nghị", như đã viết. Hơn nữa, những tin tức tình báo quân sự do phía Pháp thu lượm được và do chính những nhân chứng lịch sử quan trọng như Toàn quyền Decoux, Tổng tư lệnh Aymé, Tư lệnh các lực lượng kháng chiến bí mật Mordant, Tư lệnh sư đoàn Bắc Kỳ Sabattier... tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc, đều thống nhất thừa nhận, từ đầu tháng 3 năm 1945, Pháp đã "nhiều lần nhận được tin Nhật Bản sẽ tiến hành "đảo chính trong 24 giờ tới" nhưng sau đó lại "không thấy có gì xảy ra" nên càng thêm chủ quan, rơi vào cái "bẫy nghi binh" của Nhật Bản. Tin cuối cùng về cuộc đảo chính do Pháp nhận được là cuộc đảo chính sẽ "bùng nổ vào tối ngày 8-3", do đó chỉ có một sư đoàn Bắc Kỳ nhận được lệnh báo động và rời khỏi doanh trại (để rút sang Trung Quốc). Tối ngày 8 tháng 3, Thống sứ Bắc Kỳ đã phát lệnh báo động bí mật cho tất cả các công sứ đứng đầu các tỉnh, nhưng suốt đêm 8 và cả ngày 9 tháng 3 vẫn không thấy Nhật Bản hành động, vì vậy "đã phát lệnh báo yên thì cuộc đảo chính lại bùng nổ vào lúc 20 giờ 45 phút tối ngày 9 tháng 3".

------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số tháng 3-2005.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM