Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Hai, 2019, 11:44:28 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không thể nào quên - Đại tướng Võ Nguyên Giáp  (Đọc 23086 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #50 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2016, 09:43:42 AM »


IV

        Đácgiăngliơ trở về Pháp từ trung tuần tháng Hai. Trong giới cầm quyền Pháp đã có những thay đổi trái với mong muốn của y. Tướng Đờ Gôn, quan thầy của Đácgiăngliơ người trao cho y chức cao ủy ở Đông Dương đã từ chức. Phêlích Goăng, một đảng viên đảng Xã hội được trao nhiệm vụ làm chủ tịch chính phủ lâm thời. Bộ thuộc địa trước kia do một người thân cận của Đờ Gôn nắm giữ, đã trở thành bộ nước Pháp ở Hải ngoại và chuyển sang tay Mariuýt Mutê cũng là người của đảng Xã hội. Chính thủ Goăng với thành phần đa số là ngừoi thuộc đảng Xã hội đã chấp thuận kế hoạch điều đình với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Lơcléc đề nghị. Đácgiăngliơ hoạt động ráo riết, tìm cách câu kết với những phần tử thuộc phái hữu trong giới cầm quyền mới của Pháp. Đến đâu, y cũng rêu rao: “Việt Minh là một đảng bài Pháp, không thể tin cậy; ông Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Việt Minh đều là những kẻ phiến loạn cộng sản”. Đầu tháng Ba, viên cao ủy trở lại Sài Gòn.

        Ngay sau khi Hiệp định Sơ bộ mồng 6 tháng Ba được công bố, Đácgiăngliơ tung ra trên đài Sài Gòn một bài diễn văn. Viên cao ủy ca ngợi tinh thần quân độ Pháp trong những ngày Nhật làm đảo chính. Y nói Nhật chính là thủ phạm đã gây nên “những dục vọng xấu xa của những người dân bản xứ”; y muốn nói dến nguyện vọng đấu tranh giành độc lập của nhân dân Đông Dương. Viên cao uy bày tỏ lòng biết ơn quân đội Anh đã giúp đỡ Pháp trở lại Nam Bộ. Y buộc phải nhắc tới điều đã ghi trong Hiệp định: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có Chính phủ, Quốc hội, tài chính và quân đội của mình”. Nhưng y lại nói thêm: “Tôi xin nhắc là Cao Miên cũng có chính phủ riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và sắp có nghị viện riêng”. Đácgiăngliơ ca tụng những việc người Pháp làm ở Nam Bộ như là đã lập một hội đồng tư vấn. Cuối cùng, y “chúc các giới ở Đông Dương sinh con đẻ cái nhiều và làm ăn thịnh vượng”.

        Bài diễn văn sặc mùi thực dân này lập tức bị các báo chí của ta đập lại mạnh mẽ.

        Mồng 9 tháng Ba năm 1946, tại Pari, Mutê, bộ trưởng bộ nước Pháp ở hải ngoại, trình Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp lên Hội đồng chính phủ. Bản Hiệp định được Hội đồng Pháp chính phủ phê chuẩn. Nhưng chỉ mấy hôm sau, ngày 14 tháng Ba, chính Mutê lại tuyên bố là xứ Nam Kỳ sẽ có hiến pháp tự do và sẽ được “hưởng một chế độ riêng như nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Điều này cho thấy ta không nên trông chờ gì nhiều ở những người mệnh danh là đảng viên đảng Xã hội đang nắm giữ quyền hành trong Chính phủ Pháp.

        Đối với bản hiệp định mà Chính phủ Pháp vừa phê chuẩn, người Pháp tại Đông Dương có những lời nói và việc làm rất trái ngược nhau.

        Ngày 13 tháng Ba, Lơcléc ra lời kêu gọi quân đội Pháp và người Pháp cần tỏ thái độ thân thiện với người Việt Nam. Xanhtơni viết trên báo L’Entente xuất bản tại Hà Nội: “Không phải với sự tiếc thương vô ích một quá khứ đã lỗi thời mà có thể xây đắp được một tương lai tốt đẹp đầy đủ”. Nhưng cũng thời gian đó, tại Nam Bộ, Pháp cho máy bay rải truyền đơn đòi quân đội Việt Nam phải mang vũ khí tới nộp. Ngày mồng 9 tháng Ba, Pháp tập trung quân ở Cà Mau, Rạch Giá… Chúng đem quân đánh úp nhiều vị trí của bộ đội ta. Các lực lượng vũ trang của ta kiên quyết chiến đấu để tự vệ. Tiếng súng vẫn tiếp tục nổ ở Nam Bộ. Trên miền Bắc, bọn Pháp vừa được đổ bộ ở Hải Phòng đã có những lần tự ý di chuyển không xin phép ta.

        Trung tuần tháng Ba, những người cầm đầu Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng thỏa thuận với ta ra bản Thông lệnh về việc thống nhất hành chính và thống nhất quân đội. Các đảng phái sẽ thành thật hơp tác, không công kích, bắt bớ lẫn nhau, không dọa nạt dân, tự do tuyên truyền trong vòng pháp luật, và tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ.

        Bản Thông lệnh vừa được công bố trên các báo hôm trước thì ngay hôm sau, 16 tháng Ba, bọn Quốc dân đảng cho một lũ tay sai kéo đi trên phố hò là những khẩu hiệu phản đối và xuyên tạc việc kí Hiệp định Sơ bộ. Khi chúng tới vườn hoa Hàng Đậu thì cảnh sát của ta bắt giải tán. Ba đồng chí công an bị thương trong khi làm nhiệm vụ. Quốc dân dảng vẫn tiếp tục tổ chức những vụ bắt cóc trong thành phố.

        Tình hình diễn ra không ngoài những điều Thường vụ đã dự kiến trong chỉ thị “Hòa để tiến”. Một giai đoạn đấu tranh mới phức tạp và không kém phần quyết liệt đã mở đầu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #51 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2016, 09:44:01 AM »


        Hai ngày sau khí kí Hiệp định Sơ bộ, Hồ Chủ tịch gặp các khu trưởng và đại đội trưởng tự vệ thành Hà Nội tại tòa thị chính. Bác nói: “Kí hiệp định đình chiến này không phải là đã hết chiến tranh đâu. Thái độ ôn hòa, nhã nhặn của ta đối với quân đội Pháp không phải là thái độ nhu nhược, thụ động. Trái lại, hơn bao giờ hết, ta phải luôn luôn chuẩn bị để bồi dưỡng lực lượng, nâng cao tinh thần kháng chiến của toàn dân để đổi phó với những việc bất ngờ bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra. Tinh thần kháng chiến, sự chuẩn bị chu đáo phải là thường trực, tiếp tục không một giây, một phút nào ngừng…”. Người đã nói chuyện với anh em trong suốt một giờ rưỡi.

        Trong thư gửi cho đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ ngày 10 tháng Ba, Bác viết:

        “Trong thời kì đình chiến này, nhất là trong lúc quân đội hai bên cần phải đứng lại vị trí hiện thời, sự chuẩn bị, sự củng cố lực lượng, sự tôn trọng kỉ luật là cần thiết hơn lúc nào hết. Và rồi đây, khi hòa bình đã thực hiện được thì tinh thần phấn đấu của anh em là những lực lượng quý báu để bảo đàm cho nền độc lập hoàn toàn của nước nhà sau này”.

        Ngày 13 tháng Ba, Hồ Chủ tịch viết thư gửi đồng bào, gửi các chính phủ và nhân dân thế giới tố cáo phía Pháp có những hành động trái với tinh thần hiệp định. Hồ Chủ tịch kêu gọi đồng bào bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh. Người kêu gọi nhân dân và các chính phủ trên thế giới, nhất là nhân dân Pháp hãy ủng hộ chính nghiã đấu tranh đòi chính phủ Pháp phải thi hành hiệp định. Cùng ngày, Hồ Chủ tịch gửi thông điệp nhắc phía Pháp về việc mở cuộc đàm phán chính thức, vì theo như đã thỏa thuận thì cuộc đàm phán sẽ phải bắt đầu ngay.

        Những làn sóng mít tinh lại nổi lên khắp các nơi. Tại Hà Nội, mười vạn người họp mặt ở Việt Nam học xá yêu cầu Pháp phải đình chỉ những hành động trái hiệp định, phải lập tức mở cuộc đàm phán chính thức ở Pari. Quần chúng hô vang những khẩu hiệu: “Ung hộ Hồ Chủ tịch”, “Sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ”, “Nam Bộ là đất Việt Nam”…

        Mặc dầu những hoạt động chống phá của bọn phản động, ta vẫn kiên trì chính sách đoàn kết các đảng phái. Một cuộc liên hoan lớn giữa Việt Minh, Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đang được tổ chức tại Nhà hát thành phố ngày 17 tháng Ba. Anh Đồng thay mặt cho Việt Minh trình bày lại sự cần thiết phải đoàn kết chung quanh Chính phủ liên hiệp kháng chiến và bày tỏ nguyện vọng đoàn kết của Việt Minh. Giữa buổi liên hoan thì Bác tới. Tiếng hoan hô vang động cả hội trường. Toàn thể đại biểu đều đứng dậy. Ban âm nhực Vệ quốc đoàn cử bài “Hồ Chí Minh muôn năm”.

        Những phần tử phản động của Việt Nam quốc dân đảng trong Chính phủ liên hiệp chủ trương nên tìm chỗ dựa ở Tưởng và Mỹ. Ngày 12 tháng Ba, Nguyễn Tường Tam tới Bộ Ngoại giao nhận chức, tuyên bố: “Trung Hoa và Mỹ có nhiệm vụ duy trì nền hòa bình ở Viễn Đông”. Y luôn luôn nhắc tới việc cần liên hệ với Mỹ, cần tranh thủ sự giúp đỡ của Mỹ và Tưởng về mọi mặt. Nguyễn Tường Tam đề nghị tổ chức ngay một phái đoàn thân thiện sang Trùng Khánh để thắt chặt tình thân hữu Hoa - Việt. Chắc chắn đây là ý của các quan thầy y. Vĩnh Thụy khi đó là người đứng đầu Ngoại giao ủy viên hội, có nhiệm vụ đề đạt ý kiến với Chính phủ về công tác ngoại giao, tán thành đề nghị của Tam. Vĩnh Thụy ngỏ ý muốn được đi Trùng Khánh. Bọn Tưởng ở Hà Nội cũng gợi ý với ta nên để cho Vĩnh Thụy đi. Về sau ta được biết là khi đó Mácsan đang có mặt ở Trùng Khánh. Có thể là đế quốc Mỹ đã nhìn thấy ở Vĩnh Thụy con bài một ngày kia chúng sẽ dùng tới. Việc cử một phái đoàn đi Trùng Khánh trước mắt cũng có tác dụng hòa hoãn mâu thuẫn giữa ta với bọn Tưởng. Chính phủ ta đồng ý. Đây là một thử thách rất nghiêm trọng đối với Vĩnh Thụy. Ông ta đã có được một câu nói hay hồi tháng Tám năm ngoái: “Thà làm công dân một nước tự do còn hơn làm vua của một nước nô lệ”. Mai đây, ông ta sẽ lại đứng trước hai ngả đường: tiếp tục đi với nhân dân hay trở lại cuộc đời hại dân, hại nước? Trước khi quân Pháp đến Hà Nội thì Vĩnh Thụy rời Thủ đô để sang Trung Hoa trên một chiếc máy bay của Mỹ. Chặng đường ngắn ngủi đi với nhân dân của ông vua cuối cùng triều Nguyễn đã kết thúc. Sau ngày cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra ít lâu, Bác cử người sang Hồng Công gặp Vĩnh Thụy, mời y trở về nước tham gia kháng chiến. Vĩnh Thụy chối từ. Đầu tháng Chạp năm 1948, Vĩnh Thụy thuê một chiếc máy bay Catalina về Vịnh Hạ Long để gặp Bôlae, người thay Đácgiăngliơ giữ chức cao ủy của Pháp tại Đông Dương. Cuộc mặc cả của Vĩnh Thụy với “ông chủ cũ” để trở lại cuộc đời bù nhìn nô lệ bắt đầu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #52 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2016, 09:46:19 AM »

   
V

        Một tuần sau khi bản Hiệp định Sơ bộ được kí tại Hà Nội, bộ tổng tham mưu quân đội Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch mới đi đến thỏa thuận để quân Pháp thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ tiếp phòng tại miền Bắc Đông Dương. Bản thỏa ước này được công bố ngày 13 tháng Ba ở Trùng Khánh. Thời hạn Tưởng rút quân sẽ bắt đầu từ ngày 15 tháng Ba và kết thúc ngày 31 tháng Ba năm 1946. Về mặt pháp lí, hai chục vạn quân Tưởng đã không còn cớ gì để tiếp tục ở lại trên miền Bắc Đông Dương.

        Tại Hà Nội, lần đầu tiên từ sau khi quân Tưởng vào, các chiến sĩ tự vệ thành mang vũ khí nay mới lại xuất hiện. Ở các đầu phố hôm trước chỉ có những tên lính Tưởng của quân đoàn 53, đội mũ sắt in hình mặt trời trắng có đường viền răng cưa, đứng gác trong ụ cát. Hôm nay, có thêm những anh tự vệ đội mũ ca lô gắn phù hiệu vuông nền đỏ sao vàng, đững giữ trật tự, tư thế đàng hoàng, súng cầm tay, lựu đạn gắt ngang hông. Hình ảnh đó nói lên một sự đổi thay. Thành phố đã có một sắc thái mới, một khí thế mới.

        Ngày 18 tháng Ba, một ngàn hai trăm binh lính Pháp được phép đến Hà Nội chuẩn bị thay thế quân Tưởng. Phía ta và phía Pháp đều ra thông cáo yêu cầu nhân dân Việt Nam và người Pháp phải có thái độ bình tĩnh, tránh để xảy ra những hành động đáng tiếc.

        Dọc đường quân Pháp đi qua, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng trường hợp bất trắc.

        Theo quy định của ta, mỗi đoàn xe Pháp đều phải cắm cờ Việt Nam và có sĩ quan liên lạc của ta đi kèm. Súng gắn trên xe phải bọc vải kín. Khi tới Hà Nội, các xe phải đi vào từng tốp một.

        Hai trăm chiếc xe nhà binh Pháp rời Cảng Hải Phòng từ buổi sớm, nhưng mãi đến gần trưa những chiếc xe đầu tiên mới tới đầu cầu Long Biên. Đoàn xe quân sự Pháp với nhiều xe bọc thép có sĩ quan liên lạc của ta đi kèm, vẫn bị chặn lại trước những cây tre chắn đường ở các trạm gác của dân quân ta.

        Ở những phố quân Pháp kéo qua, nhà nào nhà ấy cửa đóng kín. Trên đường, không có ai ngoài những đồng chí công an giao cảnh ở các ngã ba và nghững chiến sĩ tự vệ đứng gác. Đập vào mắt đoàn quân viễn chinh là những băng vải căng ngang đường mang những khẩu hiệu: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “Nam Bộ là đất Việt Nam”… bằng chữ Việt và chữ Pháp. Một số kiều dân Pháp tụ tập dọc đường Tràng Thi không làm thay đổi không khí lạnh nhạt của cả thành phố giống như người chủ nhà đang ngoảnh đi trước người khách mà mình không muốn tiếp.

        Năm giờ chiều hôm đó, Lơcléc dẫn đầu một phái đoàn gồm có: Xanhtơni, Pinhông, Xalăng, Vanluy tới Bắc Bộ Phủ. Lơcléc nhanh nhảu bước lên bậc thềm, chào Hồ Chủ tịch, và tươi cười mở đầu cuộc nói chuyện bằng câu:

        - Thưa Chủ tịch, người Việt Nam và người Pháp chúng ta bây giờ đã trở thành những người bạn. Bác mời Lơcléc cùng ngồi trên chiếc ghế dài ở phòng khách. Viên tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp nâng cốc chúc mừng sức khỏe Hồ Chủ tịch. Lơcléc bày tỏ lòng mong muốn cuộc đàm phán chính thức giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp sớm mở ngày vào hay ngày ấy để hai dân tộc Việt Nam và Pháp có thể cộng tác mưu hòa bình và cùng hưởng hạnh phúc.

        Vài hôm sau, để biểu lộ tinh thần hợp tác và thân thiện, Lơcléc đề nghị với ta cùng tổ chức một cuộc duyệt binh chung giữa quân đội Việt Nam và quân Pháp.

        Một tiểu đoàn Vệ quốc quân với đầy đủ trang bị được điều từ ngoại thành vào. Bộ đội ta mặc dầu chưa có nhiều thời giờ tập về đội ngũ, đã tỏ ra rất tề chỉnh và hùng dũng. Các chiến sĩ mặc đồng phục màu lá cây, đi giày da, vác súng cắm lưỡi lê trần. Các bộ chỉ huy đeo kiếm dài dẫn đầu đơn vị của mình. Đoàn quân rầm rập tiến bước vừa đi vừa hát. Những lời ca trầm hùng bốc lên từ những con tim hừng hực lửa cách mạng đã gây nên một sự xúc động mạnh mẽ. Người Pháp lần đầu nhìn thấy một đơn vị chính quy của ta, đã có cặp mắt vị nể.

        Sau buổi duyệt binh, bộ đội ta đi một vòng trên các phố lớn trước khi quay về doanh trại. Từ lâu, đồng bào Hà Nội lại mới thấy một đoàn Vệ quốc quân với đầy đủ vũ khí xuất hiện giữa Thủ đô. Người đi đường dừng bước, người trong nhà đổ ra chật hai bên hè phố. Tiếng hò reo hân hoan nổi lên suốt dọc đường đoàn quân diễu qua.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #53 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2016, 09:51:31 AM »


VI

        Trong tháng Ba quân Tưởng vẫn chưa chịu rút. Một số lớn quân Nhật chưa được hồi hương. Lại có thêm mấy ngàn quân Pháp. Quân Pháp gồm những tên mới sang, chiêu mộ ở nhiều nước: Pháp, Đức, các nước Bắc Phi và những lính Pháp ở đây từ trước, bị quân Nhật bát hồi ngày mồng 9 tháng Ba năm 1945 vừa được thả ra và trang bị lại. Trên các đường phố Hà Nội, quân lính nước ngoài đông hơn hồi cách mạng mới thành công.

        Nhưng tình hình cũng đã khác với khi quân Tưởng mới kéo vào.

        Trước kia, bộ đội ta phải chuyển ra đóng ở ngoại thành. Muốn chuyên chở một vài chục khẩu súng qua thành phố, anh em ta phải đặt trong xe bò phủ chiếu lên trên. Bây giờ từng đơn vị Vệ quốc quân với đầy đủ trang bị đã có thể hiên ngang tiến bước trên khắp các đường phố Thủ đô. Các chiến sĩ Vệ quốc quân canh gác tại những cơ quan trong thành phố, trước đây đã có lúc được lệnh tạm lui vào trong hành rào, bây giờ đàng hoàng cầm vũ khí đứng trước công sở mà không bị quân Tưởng đến gây chuyện. Ngoài những trạm gác của quân Tưởng, xuất hiện thêm nhiều trạm gác mới của bộ đội ta và những trạm hỗn hợp, bộ đội ta cùng gác với lính Pháp. Các chiến sĩ tự vệ thành mang vũ khí có mặt ở khắp nơi, sẵn lòng làm nhiệm vụ giữ nhà, giữ nước, bảo vệ nhân dân.

        Quan Tưởng tuy chưa công khai thừa nhận ta nhưng qua việc kí Hiệp định Sơ Bộ giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp, chúng buộc phải coi ta là một nước có chủ quyền. Chúng không thể can thiệp vào công việc trị an của ta như ngày trước. Chúng cũng biết là chúng sắp khăn gói ra đi. Còn bọn lính Pháp thì đã hiểu rõ Việt Nam không còn là thuộc địa của chúng, chúng không thể muốn làm gì thì làm.

        Tình hình tuy găng hơn vì sự có mặt của quân Pháp, nhưng không khí lại dễ thở hơn. Quân địch đông hơn trước nhưng không còn kẻ nào dám phủ nhận chủ quyền của ta.

        Qua những người đến gặp ta trong những cuộc họp bàn về việc tổ chức tiếp phòng quân Tưởng, Lơcléc đã nhắn là y sẽ tôn trọng những lời cam kết và mong chính phủ Việt Nam cũng làm như vậy. Một lần gặp tôi, Lơcléc ngỏ ý muốn biết thái độ của dân chúng Việt Nam đối với người Pháp ra sao. Tôi hỏi lại:

        - Chúng ta đều là những quân nhân, ông có muốn nghe nói thẳng không?

        - Có chứ! - Lơcléc đáp.

        - Các ông miệng nói hòa bình nhưng hành động của các ông lại giống hành động của những kẻ đi xâm lược. Đó là dư luận của dân chúng Việt Nam đối với các ông.

        Lơcléc rời Hà Nội ngày 23 tháng Ba.

        Quyền chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc Đông Dương được trao cho Vanluy.

        Từ ngày quân Pháp tới Hà Nội, giữa ta và Pháp chưa xảy ra những vụ va chạm lớn. Quân Tưởng còn ở đây, Pháp buộc phải dè dặt. Chúng ta cũng thấy cần lợi dụng mâu thuẫn tại chỗ giữa Tưởng và Pháp lúc này, một mặt tìm chách đẩy quân Tưởng đi cho nhanh, một mặt đòi Pháp phải thực hiện đúng đắn những điều mà chúng đã cam kết.

        Đột nhiên, sáng 27 tháng Ba, mấy ngày sau khi Lơcléc rời Hà Nội, Pháp cho một phân đội xông vào Sở tài chính Việt Nam. Binh lính Pháp cất cờ Việt Nam đi và ngăn không cho các nhân viên của sở vào làm việc. Công sở này nằm tại một ngã tư xung yếu trên con đường từ cổng thành chạy ra phủ toàn quyền cũ. Sau này, ta biết Vanluy đã được lệnh của Sài Gòn cho lính Pháp chiếm ngôi nhà này để làm dinh cơ cho viên cao ủy khi y ra Hà Nội.

        Đây là vụ khiêu khích đầu tiên.

        Các sĩ quan của ta trong Ủy ban liên lạc kịch liệt phản đối việc làm của Pháp, đòi phải mở ngay cuộc điều tra tại chỗ. Tôi đã gặp Vanluy phản kháng hành động vi phạm chủ quyền của ta, đòi quân Pháp rút ngay, trả lại việc canh gác cho bộ đội Việt Nam.

        Ngày 29 tháng Ba, trên toàn miền Bắc, đồng bào phẫn nộ bãi công, bãi chợ, không hợp tác với Pháp. Bà con Hoa kiều cũng hưởng ứng. Chợ không họp. Các nhà buôn, hàng ăn đều đóng cửa. Tại Hà Nội, ở các phố Tràng Tiền, Triệu Quang Phục… nơi có nhiều hiệu buôn, tiệm ăn và giải khát của Pháp kiều, những người bỏ việc đứng tụ tập đầy đường. Khẩu hiệu bất hợp tác với Pháp dán đầy trên cánh cửa. Bọn nhân viên của sở quân nhu Pháp đi mua thực phẩm đều phải quay xe về không. Lính Pháp được phép đi chơi phố, đứng ngơ ngác trên vỉa hè. Chúng nhận thấy thái độ của người dân ta từ trước đối với chúng vốn lạnh nhạt, giờ đây lại trở nên quyết liệt.

        Sự phản kháng kiên quyết của ta làm cho Pháp phải tính toàn lại. Chúng phải trao trả ta Sở Tài chính. Cờ Việt Nam lại được treo lên. Các nhân viên của sở trở lại làm việc bình thường. Riêng về mặt canh gác tại đây, chúng vẫn ngoan cố đòi tổ chức một bộ phận hỗn hợp mỗi bên mười hai người.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #54 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2016, 09:51:59 AM »


        Đồng bào Thủ đô và bà con Hoa kiều đã bất hợp tác với Pháp cho tới khi Ủy ban hành chính Hà Nội ra thông báo yêu cầu mọi người tiếp tục buôn bán như thường lệ.

        Đại biểu của quân đội ta và quân Pháp gặp nhau bàn bạc việc thi hành Hiệp định Sơ bộ mồng 6 tháng Ba về mặt quân sự. Phía Pháp cử tướng Xalăng và tướng Vanluy. Tôi và Vũ Hồng Khanh với danh nghĩa Chủ tịch và Phó chủ tịch quân sự ủy viên hội, thay mặt cho phía Việt Nam. Sau nhiều buổi họp kéo dài, hai bên đi đến một bản hiệp định tạm thời vào ngày mồng 3 tháng Tư.

        Theo hiệp định này, binh lính Pháp làm nhiệm vụ tiếp phòng phải là người Pháp, những binh lính không phải là người nguyên quán Pháp chỉ được dùng vào việc canh gác tù binh Nhật. Điều kiện này do ta đưa ra nhằm gạt bọn lê dương ra ngoài quân tiếp phòng.

        Bộ đội Việt Nam làm nhiệm vụ tiếp phòng là một bộ phận của Quân đội Việt Nam. Quân tiếp phòng Việt Nam có Bộ tư lệnh của mình, trực tiếp nhận mệnh lệnh của Bộ tham mưu Quân đội Việt Nam và do Bộ tham mưu Quân đội Việt Nam quản lí.

        Quân Pháp sẽ cùng Quân đội Việt Nam tới làm nhiệm vụ tiếp phòng quân Tưởng tại Hà Nội, Nam Định, Huế, Đà Nẵng… và một số địa điểm ở biên giới. Ở những nơi khác như Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Đồng Hới, Quảng Trị… quân Pháp sẽ tiếp phòng với quân Tưởng về danh nghĩa rồi trao trả lại cho Quân đội Việt Nam.

        Kế hoạch di chuyển của các đội quân tiếp phòng Việt Nam và Pháp phải được thảo luận và quyết định thống nhất giữa Bộ tư lệnh quân tiếp phòng của hai bên. Kế hoạch này phải được trình Chính phủ Việt Nam ít nhất là bốn mươi tám giờ trước khi thi hành. Các xe nhà binh dùng vào việc tiếp tế cho quân tiếp phòng chỉ được đem theo nhiều nhất mỗi xe là bốn người có khí giới; tổng số người mang vũ khí trong một đoàn xe không được quá con số sáu mươi.

        Một ủy ban liên lạc và kiểm soát trung ương Việt - Pháp được thành lập tại Thủ đô Hà Nội để kiểm soát việc thi hành. Nếu cần thì sẽ thành lập thêm những ủy ban tương tự tại địa phương.

        Hai bên thỏa thuận phái một uỷ ban đình chiến vào Nam Trung Bộ.

        Cuộc thảo luận về thể thức thực hiện đình chiến tại Nam Bộ diễn ra rất găng trong nhiều phiên họp. Đại biểu ta kịch liệt phản kháng những cuộc tiến công trái phép của quân Pháp ở Nam Bộ. Ta đòi phải cử một Ủy ban đình chiến vào Nam Bộ để thi hành điều khoản III của Hiệp định Sơ bộ. Xalăng lẩn tránh yêu cầu chính đáng của ta, viện lí do vấn đề đình chiến thuộc thẩm quyền của hai chính phủ. Lí do này bị ta bác bỏ. Do thái độ tiêu cực của phía Pháp, cuộc thảo luận đã không đạt được kết quả.

        Ở nhiều nơi Pháp tới đóng quân cũng xảy ra những cuộc va chạm.

        Tại Hải Phòng, ngày 11 tháng Tư, Pháp ngang nhiên kéo quân tới chiếm nhiều ngôi nhà của một số cơ quan. Đồng bào Hải Phòng lập tức bãi công, bãi chợ để phản đối. Đại biểu ta trong Ủy ban liên lạc Việt - Pháp can thiệp mạnh mẽ. Pháp buộc phải rút khỏi những nơi chúng đã lấn chiếm trái phép. Mấy ngày sau, giữa lúc nhân dân Hải Phòng đang tổ chức mít tinh, thì có tin Pháp tự tiện điều năm trăm quân lên Hà Nội mà không báo cho ta biết. Cùng lúc đó, một số binh lính Pháp kéo tới phá trụ sở Đảng Dân chủ ở cầu Hạ Lý. Cuộc mít tinh lập tức biến thành một cuộc tuần hành thị uy. Hàng vạn đồng bào kéo đi trên các đường phố dưới trời mưa, thét vang những lời phản đối phẫn nộ. Ngày hôm sau, toàn thành lại tổng bãi công, bãi chợ để phản đối Pháp. Thành phố vắng tanh. Các hiệu buôn đều đóng cửa. Xe khách xếp hàng trên bến. Phà không sang sông. Pháp lo sợ, đưa nhiều xe bọc thép ra các đầu phố đề phòng. Cuối cùng, phía Pháp đã phải nhận lỗi. Cuối tháng Tư, cũng tại Hải Phòng, đã xảy ra một cuộc xung đột giữa quân Pháp và các lực lượng tự vệ. Pháp dùng xe tăng, xe bọc thép tiến công vào phố Trần Hưng Đạo, phố Ga và Đại lộ Hồ Chí Minh. Tự vệ ta đánh trả rất mạnh. Ty Liên kiểm Việt - Pháp ở Hải Phòng phải mất nhiều giờ mới khôi phục lại trật tự.

        Trung tuần tháng Tư, anh Hoàng Quốc Việt dẫn đầu một phái đoàn cùng với một số sĩ quan Pháp đáp máy bay vào Nha Trang để thực hiện việc đình chiến. Tại đây, Pháp gọi những quan lại, hào lí cũ ra làm việc cho chúng. Ai không nghe thì chúng khủng bố. Chúng đang có âm mưu khôi phục chế độ bảo hộ khắp vùng tạm chiếm ở miền Nam Trung Bộ. Phái đoàn ta đã nhiều lần phản kháng với nhà cầm quyền Pháp ở đây. Sau bảy ngày làm việc không kết quả vì thái độ ngoan cố của Pháp, đoàn ta bỏ ra về.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #55 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:48:18 AM »

        
VII

        Hạ tuần tháng Ba, Đácgiăngliơ ngỏ ý muốn có cuộc gặp gỡ với Hồ Chủ tịch để bàn về quan hệ giữa hai nước. Nơi gặp do y đề nghị là Vịnh Hạ Long, trên một chiếc tuần dương hạm của Pháp.

        Vừa mới tuần trước, báo Cứu quốc còn có bài bình luận phê phán gay gắt những luận điệu thực dân của Đácgiăngliơ. Lập trường của viên cao ủy đã bộc lộ khá rõ.Vậy y có chuyện gì thực sự muốn giải quyết với ta? Tại sao điểm gặp gỡ không phải ở Hà Nội hay Sài Gòn mà lại là trên một chiếc chiến hạm nằm ngoài biển?... Toàn bộ hoạt động của Đácgiăngliơ từ khi sang Đông Dương đến giờ, nhất là sau ngày mồng 6 tháng Ba, khiến cho Bác và các anh phải cân nhắc. Nhưng dù sao, bản Hiệp định Sơ bộ cũng vừa được hội đồng chính phủ Pháp phê chuẩn. Việc kí kết hiệp định này đã có tiếng vang trên thế giới. Nhiều báo chí nước ngoài coi đây là một cách điều giải tốt cho những cuộc xung đột hiện nay giữa các nước thuộc địa và các nước có thuộc địa. Điều quan trọng là: làm hận thuẫn cho cuộc gặp gỡ này còn có hàng chục triệu nhân dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc. Bác cũng thấy nên gặp viên cao ủy để đòi tiến hành ngay cuộc đàm phán chính thức, và phải họp tại Pari, nơi bọn phản động Pháp ở Đông Dương khó bề bưng bít dư luận. Bác nhận lời mời của viên đô đốc.

        Sáng 24 tháng Ba, Bác ra xe với chiếc mũ chống nắng rộng vành và cây gậy Người thường dùng hằng ngày. Đi theo Bác có anh Hoàng Minh Giám và Nguyễn Tường Tam. Xanhtơni đón Hồ Chủ tịch ở sân bay Gia Lâm với một chiếc thủy phi cơ của Pháp.

        Khoảng mười giờ sáng, máy bay tới Vịnh Hạ Long. Chiếc Catalina đáp nhẹ nhàng xuống mặt biển. Viên đô đốc cao ủy cùng với Lơcléc đã đứng đợi trên tuần dương hạnh Êmin Béctanh.

        Cuộc đón tiếp diễn ra rất long trọng.

        Những loạt súng chào nổ vang. Chủ, khách bắt tay nhau. Đácgiăngliơ giới thiệu những quan khách ra đón Hồ Chủ tịch. Bác giới thiệu những người đi theo. Chiếc chiến hạm mở máy ra khơi. Một tiệc rượu được tổ chức trên tàu. Viên đô đốc nâng cốc nói:

        - Cuộc hội kiến này là một cuộc hội kiến đầu tiên để thắt chặt tình thân thiện giữa nước Pháp và nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tôi xin chúc mừng sức khỏe của Chủ tịch và chúc nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cường thịnh.

        Đácgiăngliơ đã nhấn mạnh đây là cuộc hội kiến đầu tiên. Y có ý tự cho mình mới là người thay mặt nước Pháp tại Đông Dương chứ không phải là Lơcléc, người đã gặp Hồ Chủ tịch ở Hà Nội.

        Đáp lời viên đô đốc, Bác nói rất thẳng thắn:

        - Sở dĩ có cuộc hội kiến này cũng là vì có ngày mồng 6 tháng Ba năm 1946. Về phần Chính phủ Việt Nam, chúng tôi đã thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ rồi. Còn về phần nước Pháp, chúng tôi mong ngài cũng nên thành thực để đi đến thể hiện tình thân thiện giữa nước Việt Nam và nước Pháp.

        Đácgiăngliơ mời Hồ Chủ tịch duyệt hạm đội. Chiếc chiến hạm chạy lướt qua những con tàu có nhiều khẩu pháo lớn ghếch cao nòng, đứng sắp thành hàng dài trên mặt biển. Sau đó, nó bắt đầu thả neo. Hồ Chủ tịch buông quai mũ chống chiếc gậy tre đứng cùng Đácgiăngliơ trên boong duyệt hạm đội Pháp. Những con tàu lần lượt diễu qua. Thủy binh Pháp hô vang những tiếng “hua-ra” chào mừng vị Chủ tịch của nước Việt Nan dân chủ cộng hòa.

        Về cuộc hội kiến này, có người cho rằng Đácgiăngliơ phải gặp Hồ Chủ tịch vì bị Lơcléc thúc ép, vì Chính phủ Pháp chỉ thị cho y cần mở một cuộc đàm phán trù bị tại Việt Nam trước khi tiến hành đàm phán chính thức. Có người lại nói đó là một mưu mô của viên cao ủy nhằm kéo dài thời gian. Chính Đácgiăngliơ đã gợi ý cho Chính phủ Pháp là cần có một hội nghị trù bị ở Đà Lạt. Đácgiăngliơ lo rằng tình hình chính trị không ổn định tại nước Pháp lúc đó sẽ dẫn tới những sự nhượng bộ quá đáng với Việt Minh. Y vẫn hi vọng trong một thời gian Đờ Gôn sẽ trở lại nắm chính quyền. Và trước mắt, y chưa kịp nặn xong những tên bù nhìn cho nước “Nam Kỳ tự trị”… Nhân cuộc hội kiến lần này, Đácgiăngliơ mượn cớ chào mừng Hồ Chủ tịch, đem hạm đội cảu y ra diễu võ dương oai.

        Duyệt hạm đội xong, Hồ Chủ tịch và viên cao ủy bắt đầu trao đổi ý kiến.

        Bác đòi mở ngay cuộc đàm phán tại thủ đô nước Pháp. Đácgiăngliơ không muốn họp sớm mà cũng không muốn họp ở Pari. Viên cao ủy nói Chính phủ Pháp chưa nắm được tình hình nên phải có một cuộc họp trù bị tại chỗ. Y đề nghị địa điểm họp hội nghị trù bị là Đà Lạt, vì Đà Lạt sau này có thể trở thành thủ đô của liên bang Đông Dương. Bác thấy rõ viên ccao ủy muốn trì hoãn cuộc đàm phãn chính thức. Người nói một cuộc họp trù bị như vậy không thật cần thiết. Đácgiăngliơ vẫn giữ ý kiến là chừng nào Chính phủ Pháp còn chưa nắm được các vấn đề thì chưa thể có cuộc đàm phán chính thức.

        Về địa điểm và ngày giờ mở cuộc đàm phán chính thức cũng phải trao đổi ý kiến khá lâu. Bác đòi họp ở Pari. Lơcléc và Xalăng ủng họ ý kiến này với lí do: họp ở thủ đô Pháp sẽ tránh được sự phá rối của các phần tử cực đoan (họ muốn nói tới bọn Quốc dân đảng). Cuối cùng, Đácgiăngliơ phải nhận. Ngày phái đoàn Việt Nam qua Pháp mở cuộc đàm phán chính thức được ấn định vào hạ tuần tháng Năm. Bác cũng đồng ý là sẽ có một cuộc đàm phán trù bị tại Đà Lạt. Nhưng Bác đặt điều kiện với phía Pháp là những người dự cuộc đàm phán này phải do Chính phủ Pháp cử từ bên nước sang. Hai bên thỏa thuận: Vào trung tuần tháng Tư, cùng lúc phái bộ Pháp sang Việt Nam dự hội nghị trù bị. Phía Việt Nam sẽ cử một phái đoàn Quốc hội đi thăm thiện chí quốc hội và nhân dân Pháp.

        Theo lời Xalăng thuật lại sua này, thì cuộc gặp gỡ tại Vịnh Hạ Long đã dẫn đến một sự đổ vỡ không thể dàn xếp được giữa viên tổng chỉ huy quân đội viễn chinh và viên cao ủy Pháp.

        Chiều hôm đó, Xalăng đang ngắm nước ngắm trời ở boong tàu phía sau, bỗng có người gọi vào gặp viên đô đốc cao ủy. Đácgiăngliơ ngồi trong cabin mặt tái nhợt, đang run lên vì tức giận. Viên đô đốc nói với Xalăng: “Tướng Lơcléc vừa có một hành vi khiếm nhã đối với tôi, tôi yêu cầu ông hãy làm cho ông ấy trở về với lẽ phải. Nhiều tuần qua, ông ấy tha hồ trò chuyện với ông Hồ Chí Minh, rõ ràng bây giờ là đến lượt tôi. Tôi không muốn chạy theo một cuộc hội nghị “Muyních” ở Đông Dương, không thể đi hết từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Nếu tôi nhận Pari thì ông Hồ sẽ đòi thêm nữa…”. Xalăng quay ra tìm Lơcléc và thuật lại câu chuyện. Ngay chiều hôm đó, Lơcléc bỏ về Sài Gòn.

        Trên máy bay trở về Hà Nội, Hồ Chủ tịch nói với Xalăng: “Nếu đô đốc muốn đem tàu bè ra để lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể đi ngược các dòng sông của chúng tôi”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #56 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:51:14 AM »


VIII

        Ngày 11 tháng Ba, Bác gửi thư cho đồng bào Nam Bộ nói về việc Chính phủ Pháp đã nhận nưóc ta là một quốc gia tự do. Bác viết: “Ấy cũng là nhờ sự chiến đấu rất anh dũng của tất cả đồng bào toàn quốc, nhất là đồng bào Nam Bộ và Nam Trung Bộ và của hết thảy anh em chiến sĩ trong sáu tháng nay”. Người đã chỉ ra là cuộc đàm phán “sẽ tạo những điều kiện chính trị mà chúng ta phải biết lợi dụng để đạt tới mục đích Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

        Sau này, tại Đại hội lần thứ hai của Đảng năm 1951, trong báo cáo chính trị, Người có nhắc đến việc kí Hiệp định mồng 6 tháng Ba và nói là chính đồng bào và các đảng viên ở Nam Bộ nhận thấy làm như thế là đúng.

        Quả vậy, đối với đồng bào Nam Bộ và Nam Trung Bộ, bản Hiệp định đã đem lại một niềm tin. Những người đang chiến đấu với bọn cướp nước thấy rõ thắng lọi lớn khi Chính phủ Pháp buộc phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do. Đồng bào càng phấn khởi trước việc toàn bộ quân Tưởng sẽ phải rút về nước. Có những người đã nói: “Chỉ bằng một chữ kí, Cụ Hồ đã xua đi khỏi đất nước gần hai chục vạn quân của Tưởng Giới Thạch”. Bản Hiệp định đã tạo ra một thời cơ mới cho đồng bào trong cuộc đấu tranh sẽ còn phải tiếp tục lâu dài.

        Ở đây, chính kẻ địch lại hoang mang, bối rối trước bản Hiệp định vừa được kí kết. Những tên quan cai trị cũ và bọn tay sai xôn xao, tức tối trước từng câu, từng chữ trong bản Hiệp định. Chúng đưa ra nhiều câu hỏi: Vì sao lại gọi “nhà cầm quyền Hà Nội” là Chính phủ Việt Nam? Tại sao Chính phủ Pháp lại chính thức thừa nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do? Tại soa chính phủ Pháp lại cam kết sẽ thừa nhận quyết định của một cuộc trưng cầu ý dân về việc hợp nhất ba kỳ?... Đối với chúng, Nam Bộ chỉ là một thuộc địa của Pháp.

        Trong cuộc họp hội đồng tư vấn ngày 12 tháng Ba, Xêđin, ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ đã giải thích: “Hiệp định mồng 6 tháng Ba chỉ là một bản hiệp định tại địa phương giữa Hà Nội với ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Bộ. Nếu có nói đến Chính phủ Việt Nam chẳng qua chỉ vì phép lịch sự chứ không hề có ý thừa nhận một Chính phủ duy nhất cho cả Bắc, Trung, Nam. Rồi đây, Nam Kỳ cũng sẽ có chính phủ, có nghị viện, có quân đội, có tại chính riêng, có mọi quyền lợi như các nước khác trong liên bang…”.

        Những lời nói đó của Xêđin đã phản ánh thái độ và ý đồ của Đácgiăngliơ. Ngày 8 tháng Ba, khi Vanluy nhân danh tướng Lơcléc đến thông báo cho viên cao ủy bản Hiệp định mồng 6 tháng Ba vừa đươc kí kết, Đácgiăngliơ nói ngay: “Tối ngạc nhiên, thực vậy tướng quân ạ, tôi ngạc nhiên là nước Pháp có một đội quân viễn chinh đẹp dường kia mà những vị chỉ huy thì chỉ thích điều đình không muốn đánh…”.

        Sự chống đối của bọn phản động ở Sài Gòn đối với tinh thần và lời văn của bản Hiệp định đã được chính kẻ thay mặt cao nhất cho nước Pháp ở Đông Dương chủ trương và khuyến khích. Đáng lẽ phải thi hành hiệp định bằng cách ngừng xung đột thì Đácgiăngliơ lại đốc thúc thành lập càng sớm càng hay một “chính phủ Nam Kỳ tự trị”, thực hiện chủ trương tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam.

        Sau ngày kí hiệp định tại một số nơi như Ninh Thuận, Bình Thuận, quân Pháp vờ bắt liên lạc với bộ đội ta để bàn việc đình chiến, rồi bất thần đem quân đánh úp. Có lần, vì mất cảnh giác, một đơn vị của ta đã bị thiệt hại.

        Đối với lực luợng vũ trang ta, bộ chỉ huy quân đội Pháp đưa ra những yêu cầu rất ngang ngược. Chúng đòi các đơn vị Nam tiến của ta phải rút vè miền Bắc. bộ đội ta ở Nam Bộ phải tập trung vũ khí nộp cho chúng, rồi trở về quê quán của mình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #57 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:51:34 AM »


        Bộ mặt bội ước của kẻ địch tại miền Nam đã lộ rõ. Đồng bào và các chiến sĩ ta ghi nhớ lời Hồ Chủ tịch là cần phải đứng vững trên vị trí chiến đấu của mình. Chúng ta lập tức đánh quật lại mọi hành động phản bội của bọn xâm lược.

        Với việc điều sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 và binh đoàn xe bọc thép ra Bắc, Pháp chỉ còn lại ở miền Nam, sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3. Quân Pháp đã ít hơn trước lại bị phân tán nhiều hơn. Bộ máy ngụy quyền mới được phục hồi còn rất non yếu.

        Đồng bào ta từ miền đồng bằng đến miền rừng núi đã cùng một lúc nổi dậy như nước vỡ bờ, quét sạch từng mảng hội tề, lập lại chính quyền cách mạng. Nhân dân sôi nổi đứng lên với mọi thứ vũ khí có trong tay, cùng bộ đội đánh địch. Hàng loạt đồn bốt bị tiêu diệt, bao vây hoặc bức rút. Nhiều đường giao thông thủy, bộ quan trọng của địch bị đánh phá, cắt đứt. Bộ đội kết hợp với cán bộ địa phương, tổ chức ra các đội vũ trang tuyên truyền. Lực lượng vũ trang ta nhanh chóng đi sâu vào vùng tạm bị chiếm. Mỗi lần bộ đội diệt tề là nhân dân lập tức nổi trống mõ, kéo đến nhà việc, bắt hội tề nhận tội và trả lại những tiền của đã bị chúng tước đoạt. Trong khoảng một thời gian ngắn, những vùng rộng lớn ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã thoát khỏi sự kiểm soát của quân địch. Toàn miền Nam đã ó một khí thế chiến đấu mới.

        Chiến tranh du kích phát triển rộng rãi. Mít tinh, biểu tình nổi lên rầm rộ khắp nơi.

        Với trang bị còn thô sơ, một cách đánh khá phổ biến của quân và dân Nam Bộ là dùng mưu mẹo để diệt địch.

        Bốt Kinh Sáng ở huỵện Cái Bè, nằm bên một dòng kênh… Bọn lính thường xuyên kiểm soát thuyền bè qua lại. Giữa ban ngày, một đơn vị nhỏ của ta đóng giả những người lái buôn chèo thuyền đi ngang. Bọn lính xuống bên, bắt thuyền ghé vào bờ kiểm soát. Anh em mời chúng chúng thuyền, rồi dùng mã tấu và dao găm tiêu diệt. Sau đó, anh em xông lên tiêu diệt nốt những tên trong bốt.

        Ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, một trung đội lính ngụy đóng bốt ở gần chợ. Các phiên chợ, bọn lính thường kéo vào kiếm chác. Một buổi sáng, bọn lính vừa đi khỏi, bộ đội ta ập vào bốt. Những tên ở nhà vội nộp súng xin hàng. Đồng bào đang mua bán nghe tiếng súng nổ, bỏ chạy. Khi thấy im tiếng súng, mọi người quay về; hàng hóa, tiền bạc vứt lại giữa chợ không hề suy suyển. Bộ đôi mang chiến lợi phẩm và giải tù binh đi ngang. Đồng bào hết sức khen ngợi.

        Ở nhiều nơi, phụ nữ cũng tham gia diệt địch, lấy vũ khí. Có những chị em dùng đòn gánh đánh chết địch giữa chợ. Có chị lấy nơm chụp vào đầu lính địch rồi cướp súng.

        Bọn ngụy quân, ngụy quyền đã đứng trước một tình hình mới. Lực lượng cách mạng mỗi ngày một lớn mạnh. Với Hiệp định mồng 6 tháng Ba, Chính phủ Pháp đã phải thừa nhận chấm dứt chế độ thực dân. Rồi đây, sau cuộc trưng cầu ý dân, số phận tay sai bán nước của chúng sẽ ra sao. Điều kinh hãi trước mắt là lưỡi lê binh lính Pháp đã trở thành bất lực, không che chở nổi cho chúng. Con đường tốt nhất đối với chúng lúc này là con đường quay trở về với nhân dân. Nhiều tề và nhân viên ngụy quyền đi tìm cán bộ ta nộp triện và sổ sách, xin chịu tội. Lính ngụy từng người, từng tốp mang súng ra hàng. Có những người xin nhận làm nội ứng để tiêu diệt đồn bốt.

        Tại Sài Gòn và các vùng đô thị dấy lên một phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi. Đồng bào ta tổ chức mít tinh, biểu tình, đình công phản đối những hành động phá hoại hiệp định của Pháp. Báo chí công khai vạch trần trò hề “đòi tự trị” do thực dân Pháp giật dây, lên án bọn phản bội Tổ quốc câu kết với địch trong âm mưu chia cắt đất nước.

        Hoạt động vũ trang được tiến hành ngay cả giữa thành phố Sài Gòn. Ngày 8 tháng Tư, một tổ công tác đặc biệt của ta vượt sông vào phá nổ kho đạn lớn của địch. Một trung đội lính Pháp gác tại đây bị tiêu diệt. Bốn ngàn tấn đạn bị phá hủy. Tiếng nổ rung chuyển cả thành phố. Nhà cửa cơ quan tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp, trong đó có buồng làm việc của Lơcléc, cũng bị hư hại nặng.

        Đoàn đàm phán của Pháp đi dự hội nghị trù bị Đà Lạt vừa tới Sài Gòn. Chiều hôm đó, Lơcléc thiết tiệc đoàn. Mắc Ăngđrê, trưởng đoàn, tỏ vẻ bất bình vì vụ nổ kho đạn buổi sáng. Y nói với Lơcléc:

        - Tôi nghĩ rằng những người chịu trách nhiệm về vụ nổ này sẽ phải bị trừng trị về sự thiếu cẩn mật của họ.

        Lơcléc cáu kỉnh đáp:

        - Người duy nhất chịu trách nhiệm ở đây là tôi.

        Phải chăng viên tướng bốn sao này đã thấy lời mình nói một tháng trước đây: “Nam Bộ đã bình định xong” là một nhận xét hoàn toàn sai lầm. Mọi việc đối với y đều phải làm lại từ đầu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #58 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:54:12 AM »


IX

        Bản thỏa ước Hoa - Pháp kí ngày 13 tháng Ba ở Trùng Khánh đã ấn định việc thay quân giữa Pháp và Tưởng sẽ bắt đầu từ 15 tháng Ba và kết thúc vào 31 tháng Ba năm 1946.

        Chiều 18 tháng Ba, sau khi tới Hà Nội, Lơcléc đến phủ toàn quyền cũ, gặp Lư Hán. Những người cùng đi thuật lại khi viên tổng chỉ huy quân đội viễn chinh sôi nổi ca ngợi tình thân thiện Pháp - Hoa, thì Lư Hán chỉ đáp lại bằng một câu lạnh nhạt: “Chúng tôi thi hành mệnh lệnh của Tưởng thống chế”.

        Bọn lính mặc quần áo xám thuộc quân đoàn 53 vẫn đắp thêm những bao cát vào công sự ở các ngã ba, ngã tư. Trong khi bọn quân cảnh Pháp đội mũ sắt sơn trắng thỉnh thoảng lại phóng một chiếc mô tô qua đường Tràng Thi để nhắc nhở về sự có mặt của chúng, thì Lư Hán cũng tung những toán cảnh bị mặc quần áo vàng, mang súng “poọc-hoọc” báng gỗ, đi lang thang trên hè phố. Lính Tưởng nhìn lính Pháp bằng cặp mắt gầm ghè của những kẻ đang ăn bị kẻ khác đến tranh phần.

        31 tháng Ba, thời hạn rút quân cuối cùng của quân đội Tưởng đã đến. Cuộc xung đột đầu tiên giữa quân Tưởng và quân Pháp nổ ra. Nguyên nhân rất giản đơn. Mấy tên lính Pháp quỵt tiền đi xe, bị người kéo xe níu áo lại bắt phải trả. Đôi bên co kéo nhau. Quân Tưởng đứng gác ở gần đó nổ súng vào tốp lính. Lính Pháp bắn trả. Tiếng súng lập tức nổ ran.

        Cuộc dàn xếp chưa xong thì ngày hôm sau, mồng 1 tháng Tư lại xảy ra việc hai chiếc ô tô, một của quân Tưởng, một của Pháp chẳng may va phải nhau. Quân Tưởng nổ súng luôn. Các tướng tá Pháp ở Hà Nội cố nhịn nhục, tìm cách dàn xếp cho qua chuyện.

        Trong những cuộc va chạm này, đồng bào và các lực lượng vũ trang của ta tỏ ra rất bình tĩnh và có kỉ luật. Thái độ của ta là không can thiệp, mặc cho chúng va chạm nhau và đi dàn xếp với nhau.

        Tình hình giữa quân Tưởng và quân Pháp trở nên căng thẳng. Cuộc xung đột dường như lúc nào cũng sắp xảy ra. Lính Tưởng chỉ chờ có cơ hội là nổ súng.

        Bọn tay sai của Tưởng ngoài việc tuyên truyền chống lại Hiệp định Sơ bộ, còn tổ chức bắt cóc, thủ tiêu những tên lính Pháp đi lẻ để cướp súng lấy tiền. Nhưng mục đích chính của chúng là muốn tạo nên một tình hình lộn xộn, đẩy ta và Pháp đến chỗ xung đột với nhau. Nhờ có những hoạt động của Ủy ban liên lạc và kiểm soát Việt - Pháp nên phần lớn những vụ khiêu khích do bọn phá hoại gây ra trong quan hệ giữa ta và Pháp đã giải quyết được.

        Cuộc xung đột lớn nhất giữa quân Tưởng và quân Pháp xảy ra vào ngày 21 tháng Tư. Cũng giống như lần trước, nó đã bắt đầu bằng một sự việc nhỏ: hai chiếc ô tô của Tưởng và của Pháp húc phải nhau trước cửa hàng bán hoa ở ngã tư Tràng Tiền. Chiếc xe của quân Tưởng bẹp mũi. Một số lính Tưởng ngồi trên xe bị thương. Quân Tưởng nổ súng rồi quân Pháp bắn lại. Tiếp theo tiếng súng ở Tràng Tiền là những tiếng súng ở nhà thủy tạ Bờ Hồ, phố Hàng Da, đường Cột Cờ, phố Mai Hắc Đế. Cuộc nổ súng kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Cùng với tiếng súng trường, súng liên thanh nổ ran trong thành phố, có xen cả tiếng đại bác. Hơn 5 giờ chiều, hai bên mới tạm dàn xếp. Pháp và Tưởng đều có hàng chục tên lính chết và bị thương.

        Quân Tưởng tại đây đang cố tìm ra một cái cớ để dây dưa ở lại. Cái cớ đó chúng không tìm được ở những vụ va chạm giữa ta và Pháp thì chúng tạo ra bằng những cuộc xung đột nhỏ giữa chúng với Pháp.

        Nhưng tình hình bên Trung Hoa lại có rất nhiều biến chuyển mới không lợi cho Tưởng Giới Thạch. Cuối tháng Ba, Hồng quân Trung Quốc mở cuộc tiến công lớn ở Đông Tam Tỉnh, tiến quân vào phủ thủ của Hắc Long Giang. Đã đến lúc bộ tổng tham mưu quân đội Tưởng dù tiếc rẻ đến mấy, cũng không thể cứ trùng trình để mãi hai chục vạn quân ở bên này.

        Trung tuần tháng Tư, tướng Gioăng, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp tới Trùng Khánh. Chính phủ Pháp trao nhiệm vụ cho Gioăng đi thuyết phục Tưởng về việc thi hành bản thỏa ước 13 tháng Ba. Gioăng đến vào lúc chính quyền Tưởng Giới Thạch đang dời đô về Nam Kinh. Y phải đuổi theo và chờ đợi nhiều ngày. Cuối cùng, Gioăng đã gặp Bạch Sùng Hy và Vương Thế Kiệt. Nhà cầm quyền Quốc dân đảng Trung Hoa đồng ý sẽ rút quân khỏi miền Bắc Đông Dương trong một thời gian ngắn nhất. Cuối tháng Tư, Lư Hán được triệu tập về nam Kinh nhận chỉ thị rút quân từ Đông Dương về để đưa lên miền Đông Bắc Trung Hoa.

        Nhưng cũng phải đến hết trung tuần tháng Năm, Lư Hán mới cho quân rút khỏi Thanh Hóa. Và một tháng sau đó, vào trung tuần tháng Sáu, quân đội Tưởng mới bắt đầu rời Hà Nội.

        Rõ ràng là chúng rất lưu luyến cái dải đất ở phương nam, nơi chúng có thể sống sung túc, yên ổn, tránh khỏi bị trựng bị trừng phạt trong một cuộc chiến tranh chống lại nhân dân Trung Quốc. Chúng cố vơ vát đem theo những gì chúng có thể vơ vét được .Có những tên lính Tưởng phá cả cầu thang gác nơi chúng ở, lấy gỗ đem ra chợ bán.

        Cuộc rút quân của chúng kéo dài và chỉ hoàn toàn kết thúc vào ngày 18 tháng Chín năm đó. So với thời hạn kí kết giữa Pháp và Tưởng về việc rút quân thì Tưởng đã dây dưa ở lại gần sáu tháng. Ngày này mùa thu năm trước, chúng ào ạt kéo vào nước ta, cho bọn tay sai cướp chính quyền ở các thị xã trên dọc đường chúng đi qua. Chúng tưởng rằng vận hội của chúng đã tới. Chính phủ Trùng Khánh vẫn nhớ lời hứa của cố tổng thống Mỹ Rudơven là sẽ dành cho chúng cái bán đảo màu mỡ này sau khi chiến tranh thế giới kết thúc. Tất cả những ảo vọng về một thiên đường đã tán tành. Trận gió mùa thu năm đó đã xua hết chúng khỏi đất nước ta xua đi những xác lá khô.

        Đẩy ra khỏi đất nước mười tám vạn tên chống cộng khét tiếng là tàn bạo, cùng với những mưu đồ đen tối, hiểm độc, cách mạng đã gạt đi một kẻ thù hết sức nguy hiểm, đã trút đi một gánh nặng cả về vật chất lẫn tinh thần.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #59 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2016, 04:55:53 AM »


X

        “Chương trình của Chính phủ ta là làm như thế nào cho đồng bào cả nước ai cũng có ăn, có mặc, có học”. Trong thư gửi cho anh chị em giáo viên Bình dân học vụ đầu tháng Năm, năm đó, Hồ Chủ tịch một lần nữa nhắc lại điều này. Mục tiêu cao cả của cách mạng cuối cùng là để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, là để mang lại cho nhân dân một đời sống vật chất ấm no, đầy đủ, một đời sống tinh thần tốt đẹp, phong phú. Có độc lập, tự do, lại có ấm no, hạnh phúc. Lí tưởng cách mạng đối với Người không phải là những gì xa xôi, trừu tượng mà là những cái rất gần gũi, cụ thể, gắn liền với đời sống hằng ngày của quần chúng nhân dân,

        Với Hiệp định mồng 6 tháng Ba, trước mặt lại có thêm một thời gian hòa hoãn ở miền Bắc. Trong khi tiến hành cuộc đấu tranh đòi phía Pháp phải thi hành những điều khoản đã kí kết, mọi mặt công tác xây dựng đất nước vẫn tiếp tục một cách khẩn trương.

        “Tăng gia sản xuất” và “Chống nạn mù chữ” vẫn là những khẩu hiệu lớn mà Bác đề ra.

        Lời Hồ Chủ tịch kêu gọi tăng gia sản xuất để chống giặc đói vào cuối năm trước đang phát huy tác dụng to lớn. Để thúc đẩy sản xuất và tạo thêm điều kiện làm ăn dễ dàng cho nông dân nghèo, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh giảm tô hai mươi lăm phần trăm.

        Bác hết sức chăm lo đến việc chống giặc dốt. Nạn mù chữ còn là một di sản nặng nề do chế độ thực dân để lại. Theo lời kêu gọi của Bác, gần chục vạn giáo viên Bình dân học vụ và hàng triệu đồng bào đang lao vào trận đánh để đẩy lui giặc dốt.

        Bác không những quan tấm một cách đặc biệt đến việc mở mang hiểu biết cho người dân một cách độc lập mà còn đặt vào đó những tình cảm thiết tha. Nha Bình dân học vụ gửi tới Bác cuốn “Phương pháp và cách thức dạy vỡ lòng chữ quốc ngữ”. Bác xem rồi tự tay viết vào đầu cuốn sách: “Anh chị em giáo viên bình dân học vụ cố gắng đọc kĩ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết. Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc”. Tối 13 tháng Tư, Bác đến thăm một lớp học ở phố Hàng Trống. Bàn học là những cánh cửa kê tạm. Giáo viên, một người trẻ tuổi đeo kính trắng đang cầm phấn viết mấy chữ mẫu trên tấm bảng đen. Người học thuộc nhiều lứa tuổi, ăn mặc khác nhau. Những mái đầu cặm cụi. Mái tóc bạc phơ của mọt cụ già vận áo dài ta bên bộ tóc đen nhanh của một chú bé mặc quần cộc. Bác đứng chống gậy tre nhìn quang cảnh này tỏ vẻ rất xúc động. Bác khuyển khích mọi người và nói: “Cả người dạy và người học đều là những chiến sĩ trên mặt trận chống giặc dốt”. Trong thư gửi các giáo viên bình dân học vụ, Người viết: “Tôi mong rằng trong thời gian rất ngắn, lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả vẻ vang; đồng bào ta ai cũng biết đọc và biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng bia đá nào cũng không bằng”.

        Trong tình hình khẩn trương lúc đó, để bảo vệ những thành quả của cách mạng, chống lại giặc ngoài, thù trong, Đảng ta chủ trương: Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố quốc phòng, tiếp tục vũ trang cho quần chúng cách mạng, tích cực xây dựng quân đội nhân dân.

        Lực lượng tự vệ đã phát triển tới một số lượng rất đông, giăng thành một mạng lưới dày khắp các nơi, nhất là ở các thành phố, thị xã có quân Pháp đóng. Tự vệ giữ vai trò nòng cốt trong cuộc đấu tranh của nhân dân chống lại các hành động khiêu khích, vi phạm hiệp định của quân đội Pháp.  Binh lính Pháp bắt đầu e ngại những “Việt Minh đeo phù hiệu vuông”. Tại Hà Nội, Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh mở tiếp khóa II trong tháng Tư.

        Với việc thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quân đội ta đã có những điều kiện để phát triển nhanh chóng. Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng ngày 9 tháng Ba nêu ra: Đặc biệt chú ý đào tạo cán bộ chính trị và quân sự để lãnh đạo phong trào mới.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM