Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Tám, 2019, 07:10:58 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến trường mới - Thượng tướng Nguyễn Hữu An  (Đọc 24738 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #70 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2016, 09:00:42 PM »


7

        Ngày 27 tháng 1 năm 1973, tại Pa-ri “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết. Theo hiệp định, Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của việt Nam, cam kết chấm dúi dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát.

        Hiệp định Pa-ri là một thắng lợi về ngoại giao, đồng thời cũng phản ánh sâu sắc thắng lợi cực kỳ to lớn ở chiến trường. Đảng, nhân dân và quân đội ta đã làm được một "vế” Di chúc của Bác Hồ: "Đánh cho Mỹ cút” vẫn còn lại "vế" thứ hai.

        Hàng ngày giáp mặt với quân thù chúng tôi cảm nhận được thắng lợi của hiệp định trong từng chi tiết cuộc sống của mình. Độ này không còn nghe tiếng bom B.52 hú trên đầu. Bữa ăn có thể ngồi xếp bằng trên thảm cỏ vừa ăn vừa ngắm bầu trời xanh bình yên. Đã có nhiều đêm được ngủ tròn giấc. Phòng tuyến giữa ta và địch trên đất Quảng Trị đã "mọc" lên nhiều lều quán làm bằng tranh tre mang tên "quán hòa hợp dân tộc”, đại biểu của ta và quân ngụy tới đó để gặp gỡ đấu tranh chống lấn chiếm và tuyên truyền lẫn nhau. Bên này ta bắc rạp hướng về quân ngụy cho văn công biểu diễn. Quân ngụy ngồi bên sườn đồi hoặc trèo lên xe tăng để xem, nghe văn công của cách mạng biểu diễn; và phía bên kia quân ngụy cũng làm tương tự, bọn “tâm lý chiến”, "thiên nga" cũng lên sân khấu ưỡn ẹo nỉ non. Nhìn vẻ ngoài bình yên của Quảng Trị và vài nơi khác, có cán bộ cấp cao đi giải thích nghị quyết của Trung ương đã tự ý nêu chủ trương phân vùng phân tuyến và những khẩu hiệu đẹp đẽ giàu chất ảo tưởng: "súng ngụy lòng ta", "xanh vỏ đỏ lòng” gây ra lừng chừng, hữu khuynh trong chủ trương đối phó với địch ở một số đơn vị.

        Sau Hiệp định Pa-ri ít ngày, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ sáp nhập hai chiến trường Trị - Thiên làm một cả về quân sự, chính trị thành lập Quân khu Trị - Thiên do thiếu tướng Cao Văn Khánh làm tư lệnh; đại tá Lê Tự Đồng chính ủy kiêm bí thư Khu ủy; đại tá Hoàng Văn Thái, đại tá Dương Bá Nuôi làm phó tư lệnh, và tôi phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng; đại tá Thanh Quảng và đại tá Ân phó chính ủy. Bộ tư lệnh và cơ quan được tăng cường khá mạnh. Nội bộ Bộ tư lệnh và Khu ủy đoàn kết thực sự. Bộ tư lệnh chúng tôi thống nhất cách nhìn nhận tình hình địch, không có ảo tưởng Mỹ - ngụy sẽ tôn trọng hiệp định. Bài học Cửa Việt còn nóng hổi với những tin tức về Mỹ - ngụy liên tiếp phá hoại những điều khoản đã ký kết. Trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ gấp rút đưa thêm vào miền Nam 625 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng bọc thép và nhiều tàu chiến. Tiếp tục cho tới hết năm 1973 chúng viện trợ bổ sung cho quân ngụy 124 khẩu pháo mặt đất và cao xạ , 98 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh khác; cộng với cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện của quân Mỹ và chư hầu khi rút đã để lại, khối lượng cơ sở vật chất dự trữ của ngụy lên tới hai triệu tấn. Ngụy ra sức đôn quân bắt lính đưa số quân chính quy từ 650.000 (1972) lên 720.000 (1973) và mở rộng việc lấn chiếm khắp miền Nam. Tổng thống bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu hàng ngày gào thét chiến tranh. Đế quốc Mỹ vẫn ngầm luồn bàn tay đỡ lưng bọn bù nhìn để tiếp tục âm mưu lâu dài chia cắt nước ta. Thống nhất bằng phương pháp “hòa bình hòa hợp dân tộc" chỉ là khả năng muôn một thôi. Vì vậy tất yếu ta phải tiếp tục cuộc chiến tranh, mới dập tắt được rắp tâm của kẻ thù.

        Chúng tôi chủ trương duy trì tinh thần tổ chức sẵn sàng chiến đấu, củng cố vững chắc các trận địa nhất là ở các địa bàn trọng yếu, bố trí với lực lượng thích hợp đủ sức chống địch lấn chiếm và đánh lại chúng. Lực lượng còn lại ở phía sau tranh thủ huấn luyện củng cố tổ chức, đồng thời là lực lượng dự bị sẵn sàng phản ứng kịp thời.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #71 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2016, 09:01:07 PM »


        Lực lượng đại thể của mặt trận lúc đó có các sư đoàn 304, 325, 324. Các trung đoàn bộ binh 6, 4, 271, các lữ đoàn pháo 164, công binh 219, thiết giáp 203.

        Các sư đoàn 304, 325, 324 được bố trí ở phía bắc Quảng Trị; các trung đoàn 6, 4 và 271 được bố trí ở phía tây Quảng Trị, Thừa Thiên và đường 12.

        Với quân ngụy, sau Hiệp định Pa-ri chúng vẫn chia miền Nam thành bốn quân khu. Quân khu 1 được chúng coi là đơn vị có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhất. Trị - Thiên nằm trong địa bàn trọng yếu nhất của quân khu 1, bởi vậy chúng phải đưa lực lượng mạnh và tinh nhuệ nhất tới đây, bao gồm năm sư đoàn chủ lực (có hai sư thuộc lực lượng tổng dự bị), bốn liên đoàn biệt động 21 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội. Pháo có 418 khẩu; năm thiết đoàn và sáu chi đội xe tăng, thiết giáp có 449 xe; một sư đoàn không quân có 96 máy bay chiến đấu. Phần lớn quân chủ lực được bố trí bảo vệ Huế - Đà Nẵng. Ở tuyến trước chúng chỉ bố trí những lực lượng bình thường.

        Phía bắc Quảng Trị, địch biết lực lượng ta mạnh nên chúng tỏ ra chấp hành hiệp định, hoặc có hành động cũng tỏ ra dè dặt. Chúng tăng cường các cuộc hành quân nhỏ và vừa, đánh các vùng “lõm” thực hiện kế hoạch bình định, và lấn chiếm ở phía tây Trị - Thiên.

        Về chống lấn chiếm, chúng tôi thực hiện chủ trương ngoài việc chống giữ tại chỗ, nếu địch lấn điểm A, thì ta có thể lấn điểm B. Vì vậy so với một số chiến trường khác, Trị - Thiên không những vẫn giữ được thế cân bằng, không bị địch lấn mà có chỗ còn lấn sang địch.

        Các đội công tác hoạt động trong lòng địch (Trị - Thiên đã lập 150 đội công tác chống phá bình định của địch) đã thâm nhập vào các cơ sở thôn ấp để củng cố và xây dựng các tổ chức chính trị, vũ trang bí mật và duy trì các tổ chức ấy hoạt động bình thường, đồng thời chống phá các tổ chức phản động của địch. Hoạt động của ta trong lòng địch thời kỳ này không có gì trội bật, duy có vùng "lõm" Hải Lăng đã gây cho tôi một ấn tượng khá mạnh.

        Một đêm đã quá khuya rồi, tôi nghe tiếng chuông điện thoại reo (lúc này sở chỉ huy phía trước của quân khu đã về ở Gio Linh). Tôi nhấc tổ hợp, nghe tiếng anh Thản bí thư tỉnh Quảng Trị xin gặp, tôi đồng ý.

        Anh Thân nói:

        - Anh em trong “lõm” bị thương vong nhiều đòi ra.

        - "Lõm" nào?

        - "Lõm" Hải Lăng. Ta đưa vào đó hơn một nghìn du kích.

        - Ai chủ trương đưa du kích vào, sao không báo cho tôi biết?

        - Đây là chỉ thị của đồng chí T.

        - Thương vong bao nhiêu rồi?

        - Có đến mấy trăm đấy.

        Sau này hỏi cụ thể tôi mới biết 1.000 du kích đưa vào rải ra sáu xã: Hải Vĩnh, Hải Xuân, Hải Ba, Hải An, Hải Khê, Hải Thụy.

        Tôi lặng người đi, vì tổn thất quá lớn. Chẳng có giá trị chiến thuật, chiến lược gì mà ta phải trả giá đắt như vậy. Thật đáng tiếc!

        Anh Văn Tiến Dũng vừa vào đây buổi chiều đang nghỉ ở nhà bên. Một số sĩ quan tham mưu trong sở chỉ huy vẫn thức làm việc. Tôi bảo một sỹ quan đi cùng với tôi sang chỗ anh Văn Tiến Dũng.

        Anh Dũng đang ngủ phải thức giấc tiếp tôi. Sau khi nghe tôi báo cáo anh hỏi ngay:

        - Ai chủ trương đưa du kích vào đó?

        - Anh T.

        Anh nghiên cứu xem có cách nào đó để mở đường cho anh em ra. Phải làm ngay, để chậm sẽ thương vong thêm vô ích.

        Sáng hôm sau tôi lệnh cho một tiểu đoàn xe tăng triển khai ở phía trước trung đoàn 101, một tiểu đoàn pháo 130 ly hướng về phía địch, và cho một cán bộ binh vận ngồi trên xe tăng bấc loa chĩa về phía địch, yêu cầu chúng phải mở đường cho du kích ở “lõm” ra, nếu không buộc chúng ta phải dùng vũ lực mở đường. Kết quả sáng hôm ấy địch đã thực hiện yêu cầu của ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #72 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2016, 09:11:30 PM »

     
XI

CHỚP LẤY THỜI CƠ MỚI


1

        Tháng 5 năm 1974 tôi nhận lệnh rời chiến trường Trị - Thiên ra Hà Nội chuẩn bị đi học ở Liên Xô. Các bạn tôi, gia đình tôi và nhất là tôi rất vui mừng với chuyến du học ngoại quốc có một không hai này. Từ trước tới giờ tôi chưa được đi học trường lớp hẳn hoi, nên chuyến đi học này đối với tôi đáng giá biết bao. Tôi tin rằng lần này chắc chắn sẽ không có chuyện hụt hẫng như lần trước.

        Nghỉ vài ngày, thân thể chưa sạch bụi chiến trường đã có người của Cục cán bộ tới báo: "Thôi không đi học ở Liên Xô, anh cứ nghỉ chờ nhận nhiệm vụ mới”.

        Hôm ấy tôi nhận được một giấy mời xem trận đấu bóng ở Hàng Đẫy. Trung tướng Lê Trọng Tấn thấy tôi đang bước vào khán đài A, anh ra vui mừng vời tôi vào ngồi bên. Anh Tấn hỏi tôi:

        - Nghe tin anh ra để đi Liên Xô học phải không?

        - Vâng nhưng lại có lệnh thôi rồi.

        Anh Tấn đỏ tai lên, nói gằn giọng:

        - Quái lạ thật... thằng nào chiến đấu thì cứ chiến đấu miết. Tôi phải nói việc này mới được.

        Có lẽ nhờ anh Tấn nói với ai đó, tôi vẫn được sang Lên Xô học. Những năm tháng chiến đấu hiệp đồng tương đối hiện đại, với đối phương là quân đội Mỹ, đã giúp tôi dễ dàng tiếp thu nguyên tắc, lý luận quân sự học ở trường. Trong thời gian học các thầy đã giúp tôi hiểu ra nhiều điều mới mẻ, có tính nguyên lý ngay trong những trận đánh tôi đã trải qua. Tôi biết ơn đại tướng Viện trưởng Sa-vơ-rốp, thượng tướng Ma-za-ép đã tận tình giúp đỡ và nhiều cán bộ của học viện đã tỏ sự ưu ái đặc biệt với những học viên Việt Nam chúng tôi.

        Trở về nước (1-1975) vào dịp giáp Tết, vừa tới sân ga Hàng Cỏ đã có người của Cục cán bộ ra đón, tôi rất xúc động trước những cử chỉ của tổ chức. Bước lên xe một trợ lý của Cục cán bộ nói nhỏ với tôi: "Sáng ngày mai anh vào ngay Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh họp”.

        Tôi ăn mặc chỉnh tề vào cuộc họp. Các cử tọa trong cuộc họp đã đông đủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, trung tướng Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn, thiếu tướng Lê Tự Đồng, thiếu tướng Lê Linh, thiếu tướng Hoàng Văn Thái, và vài cán bộ của Cục tác chiến.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì cuộc họp công bố quyết định tôi về thay thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Quân đoàn trưởng Quân đoàn 2. Tiếp đó là cuộc thảo luận về chọn hướng chiến dịch. Nghe đâu trước đó Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu đã quyết định chọn hướng chiến dịch hướng đường 12 và khu vực bắc đường số 12 (tây bắc Huế). Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 nghiên cứu trao đổi thấy rằng: hướng đường 12 địch hết sức đề phòng, và tăng cường lực lượng phòng thủ. Nếu ta đánh ở hướng này phải đột phá nhiều, đường sá chưa thông, cơ động khó khăn và nếu có thời cơ thì không phát triển nhanh được.

        Cuộc họp (đầu 2-1975) này đã tập trung thảo luận vào ý kiến đề đạt của Quân đoàn 2: chọn hướng tập trung chủ yếu của chiến dịch vào khu vực tây nam Thừa Thiên (khu vực đường số 14) tiến công dọc tả hữu sông Truồi ra đường số 1. Qua hai ngày thảo luận, mọi người đã nhất trí với ý kiến trên của Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên. Chọn hướng này là hướng có lợi thế để triển khai binh hỏa lực của quân đoàn, tập trung vào đối tượng chủ yếu là trung đoàn 54 của địch bố trí trên khu vực điểm cao Núi Bông, Núi Nghệ, 224, 273, 308, vùng Mỏ Tàu... là hướng hiểm yếu và bất ngờ với địch, khi thời cơ lớn xuất hiện ta có thể nhanh chóng chiếm đường số 1 chia cắt Huế, Đà Nẵng, hình thành thế bao vây cô lập địch ở Trị - Thiên - Huế.

        Cuối cuộc họp đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc nhở Quân khu và Quân đoàn phải chuẩn bị hai kế hoạch, kế hoạch thường lệ và kế hoạch đón thời cơ. Thời cơ đó có thể ở chiến trường khác tác động, hoặc có thể ngay ở Trị - Thiên tạo nên.

        Từ hôm đó tôi không còn thời giờ để chuyện trò tâm sự với vợ con. Một chồng tài liệu mật của Cục tác chiến cho mượn, buộc tôi phải ngốn ngấu đọc để nắm được tình hình chung và tình hình chiến trường Trị - Thiên, qua đó tôi thấy nhiều sự phát triển mới mẻ, và to lớn trong thời gian tôi xa đất nước.

        Tháng 10 năm 1974 Bộ Chính trị đã có dự kiến thời cơ chiến lược cụ thể có thể xuất hiện sớm. Do đó, ngoài kế hoạch cơ bản hai năm 1975-1976 , còn chuẩn bị một kế hoạch để sẵn sàng đón thời cơ, giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

        Chiến thắng Phước Long (6-1-1975) là chiến thắng đầu tiên trên chiến trường miền Nam, và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh ở gần Sài Gòn. Đây là một thắng lợi rất có ý nghĩa trong việc thăm dò khả năng chiến tranh của đế quốc Mỹ, góp phần củng cố thêm quyết tâm chiến lược, đã được Bộ Chính trị xác định.

        Từ tình hình chung về chiến lược như vậy, tôi thấy ý kiến của anh Lê Trọng Tấn nhắc “phải thật nhanh, thật nhanh lên không thì không kịp thời gian" là rất xác đáng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #73 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2016, 09:12:29 PM »


        Nghiên cứu tài liệu và chuẩn bị cá nhân hai ba ngày, tôi lại tạm biệt vợ con để ra trận. Thế là cái Tết sum họp gia đình mà tôi chắc mẩm từ khi rời Liên Xô về đành gác lại. Xe tôi lăn bánh theo quốc lộ 1, tới đường 9 không gặp trắc trở gì. Quang cảnh đường 9 độ này đã xóa đi nhiều dáng dấp chiến trận ác liệt trước đây. Đông Hà đã có vẻ một thị trấn, trên bến dưới thuyền tấp nập; quán cà phê, quán ăn, quán bán tạp phẩm… đã có nhiều khách dừng lại mua bán. Từng đoạn dọc đường 9 nếu dạt về phía bắc khoảng trên dưới một cây số ta sẽ gặp những cụm nhà lợp tôn, hoặc lợp tranh còn mới, gọn ghẽ xinh xắn. Đây là khu vực thủ phủ của Chính phủ cộng hòa miến Nam Việt Nam; là bản doanh của sư đoàn 325 Quân đoàn 2; đây là doanh trại của một binh trạm lập chân hàng... Nếu ta đi ngược về phía tây giáp chân đường Trường Sơn, sẽ thấy một con đường đất đỏ ngoằn ngoèo chạy về phía nam, những đoàn xe nối đuôi nhau và những làn bụi đỏ cũng nối đuôi nhau bay lơ lửng trên sườn núi. Đó là con đường chiến lược đông Trường Sơn. Hơn ba vạn người gồm bộ đội, thanh niên xưng phong, công nhân kỹ thuật được điều động tới đây mở đường...

        Không khí của khu vực này có cái gì đó sôi sục khẩn trương thôi thúc lòng người. Tôi có cảm giác mình đang đến với một công việc lớn lao, trang nghiêm hơi muộn màng, phải gấp lên mới kịp.

        Đến nơi chúng tôi tổ chức ngay cuộc họp Đảng ủy bất thường. Anh Bùi Công Ái tham mưu trưởng quân đoàn truyền đạt lại quyết tâm đã được Bộ thông qua và những chỉ thị của Quân ủy Trung ương. Trên cơ sở đó Bộ tư lệnh sơ bộ hạ quyết tâm, và có kế hoạch triển khai phân công nhau xuống truyền đạt và đôn đốc các đơn vị.

        Bộ tư lệnh Quân đoàn lúc này gồm: tôi là tư lệnh, thiếu tướng Lê Linh chính ủy, đại tá Hoàng Đan phó tư lệnh, đại tá Công Trang phó chính ủy, thượng tá Bùi Công Ái tham mưu trưởng, thượng tá Lê Khả Phiêu chủ nhiệm chính trị, thượng tá Nguyễn Ngọc Thực chủ nhiệm hậu cần. Chúng tôi đã từng quan hệ công tác với nhau, hiểu biết nhau nên khi lắp ghép vào một cơ quan, không phải mất thời gian rà trơn mà guồng máy vẫn chạy đều.

        Đại tá phó tư lệnh Hoàng Đan đang ở A Lưới với sư đoàn 324. Tham mưu trưởng Ái truyền đạt lại quyết tâm của Đáng ủy, và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, đồng thời các anh Đan và Ái giúp sư đoàn xây dựng phương án tác chiến.

        Kế hoạch chuẩn bị chiến trường chuyển động rất gấp gáp, trinh sát chiến trường, mở đường, vận chuyển lương thực đạn dược vào "lót ổ" và chuyển quân vào khu vực tập kết hầu như cùng làm một lúc.

        Chỉ còn mươi ngày nữa là Tết Nguyên đán. Chúng tôi tổ chức cho anh em ăn tết sớm để vào trận, tuy vậy có nhiều anh em cán bộ chiến sĩ không có thời gian vui một bữa tết. Đoàn cán bộ cơ quan quân đoàn và cán bộ sư đoàn 324, 325 đi chuẩn bị chiến trường đã đón giao thừa trên đỉnh động Truồi.

        Ba ngày trinh sát thực địa xong, đại tá Hoàng Đan và thượng tá Bùi Công Ái đã hướng dẫn và thống nhất với các đơn vị triển khai phương án tác chiến ngay tại thực địa, đồng thời ra lệnh tiến hành việc làm đường (102) từ Vũng Tròn vào khe Truồi, bảo đảm đường cơ động pháo của sư đoàn 325.

        Trung tuần tháng 2 sư đoàn 324 rời khỏi hậu cứ A Lưới, hành quân vào vị trí tập kết chiến dịch ở khu vực Vũng Tròn. Cùng thời gian đó sư đoàn 325 bàn giao khu vực phòng ngự, vùng giải phóng Quảng Trị cho các lực lượng của Quân khu Trị - Thiên, khẩn trương kéo quân về phía tây nam Thừa Thiên. Theo lệnh của Bộ: lực lượng xe tăng, pháo tầm xa chưa tham gia đợt đầu, nhưng chúng tôi cũng cho di chuyển vào A Lưới để kịp thời cơ chiến đấu. Trung đoàn 9 (sư đoàn 304) đứng ở vùng giải phóng Quảng Trị, được lệnh sẵn sàng cơ động ra phía trước.

        Vẫn là chuyện đường sá. Tôi không bao giờ quên đợt 3 của chiến dịch Cánh Đồng Chum - Loong Chẹng. Bộ binh yêu cầu pháo bắn chi viện nhưng pháo bắn hụt tầm, bởi vì không có đường vận chuyển. Các đơn vị phía trước không đủ gạo, đạn tiếp tục chiến đấu, cũng vì không có đường vận chuyển. Kết thúc chiến dịch không gọn cũng vì không có đường vận chuyển. Bài học nhớ đời đó hồi còn là phó tư lệnh B5 tôi đã bàn với các anh Cao Văn Khánh, Lê Tự Đồng, Hoàng Văn Thái, Thanh Quảng, được các anh thống nhất dùng một trung đoàn công binh mở con đường Nam Đông – Khe Tre. Đang làm dở dang, tỉnh đội Trị - Thiên gặp khó khăn về hậu cần, xin chuyển sang làm đường xe thồ. Đến chiến dịch này lại khai thác tuyến đường ấy. Quân khu Trị - Thiên đã huy động tối đa lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong thay nhau ngày đêm lao động mở đường. Đến đầu tháng 3 năm 1975 đã hoàn thành con đường đất cho cơ giới qua lại nối với đường số 14, làm mới 100 ki-lô-mét đường nhánh chạy qua các ngọn đồi xung quanh động Truồi, mở đường cái hai bên tả, hữu ngạn sông Truồi dọc theo dãy núi Kim Sắc, bảo đảm cho sư đoàn 325 vào tập kết, chiến đấu và sẵn sàng cơ động ra đường 1 khi có thời cơ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #74 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2016, 10:24:59 AM »


        Đầu tháng 3 năm 1975 sư đoàn 324 đã vào chiếm lĩnh trận địa, sẵn sàng nổ súng mở màn chiến dịch, cũng là lúc hậu cần quân đoàn đưa cơ bản đủ cơ số dự trữ lương thực đạn dược... vào Nam Đông, Khe Tre, động Truồi bảo đảm giai đoạn đầu chiến dịch cho sư đoàn 324.

        Các bạn thử tưởng tượng xem đường đất mới, mưa cuối mùa dầm dề; trên đường lúc nào cũng có người đi, xe đi nườm nượp sẽ xảy ra chuyện gì? Vâng! Lội và lội bì bõm trong sình lầy, lúc nào người đi cũng ngập quá mắt cá chân; xe đi như rùa bò đôi lúc quay bánh tại chỗ, phải xúm nhau lại "hò dô" đùn đẩy. Pháo 105 đưa vào trận địa Lưỡi Cái ở độ cao 847 mét phải vượt dốc 20 đến 40 độ dưới trời mưa, lữ 164 pháo được bộ binh, công binh giúp sức mới kéo được pháo vào trận địa. Gian khổ khó khăn chẳng kém gì kéo pháo vào Điện Biên Phủ. Pháo cao xạ đưa vào đèo Mụ Khâm cũng vất vả tương tự. Các đơn vị hậu cần, các binh chủng tiềm nhập trận địa, nhiều việc tưởng như bó tay, nhưng cuối cùng đã vượt qua.

        Khoảng trung tuần tháng 2 năm 1975, ở giữa những ngày chót của công tác chuẩn bị, Đảng ủy Quân đoàn họp mở rộng để thông qua quyết tâm và phương án tác chiến lần cuối. Vấn đề được tập trung thảo luận là: làm thế nào kịp thời gian nổ súng, để phối hợp với các chiến trường bạn, chủ yếu phối hợp với Buôn Ma Thuột (trên quy định Trị - Thiên nổ súng ngày 5 tháng 3). Thứ hai là: sử dụng lực lượng và cách đánh như thế nào (lúc này chỉ có 5 trung đoàn - Sư đoàn 304 (thiếu trung đoàn 9) và 1 trung đoàn của sư đoàn 324 còn đang ở Thượng Đức).

        Khác các chiến dịch trước đây, quân chủ lực cùng với địa phương lập ra bộ chỉ huy chiến dịch, lần này quân đoàn do Bộ trực tiếp. Nhưng để phối hợp chặt chẽ, ngày 21 tháng 2 tôi và anh Lê Linh đã tới dự cuộc họp của Đảng ủy Mặt trận Trị - Thiên để bàn kế hoạch hiệp đồng.

        Theo ý chỉ đạo của Bộ, Trị - Thiên - Huế trong năm 1975 sẽ mở liên tiếp hai chiến dịch tổng hợp (ngoài ra phải dự kiến kế hoạch thời cơ). Chiến dịch Xuân Hè (mật danh K.175) từ tháng 3 đến tháng 5.

        Chiến dịch Thu dự kiến khoảng tháng 7, tháng 8.

        Quyết tâm chung của một trận: Tập trung toàn hộ lực lượng của Quân đoàn và Quân khu Trị - Thiên - Huế đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, đánh bại về cơ bản "kế hoạch bình định” của chúng ở Trị - Thiên, giành 350.000 dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh vào kho tàng, hậu cứ, triệt phá giao thông, tích cực tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn (kể cả giải phóng Huế).

        Riêng chiến dịch “K.175” thực hiện các yêu cầu:

        - Ở đồng bằng từ phá lỏng đến làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch, giành từ 7 đến 10 vạn dân, phát triển lực lượng vũ trang và chính trị địa phương, đưa cơ quan chỉ huy xuống ở vùng sâu.

        - Ở giáp ranh, tiêu diệt từ năm đến bảy tiểu đoàn địch  (trong đó có 1 trung đoàn bị tiêu diệt gọn) phá vỡ thế phân tuyến, mở rộng hành lang xuống đồng bằng, chiếm lĩnh một số địa bàn có lợi nhất là khu vực đường 14, làm chủ khu vực điểm cao 303 – Mỏ Tàu, cắt đứt từng phần tiến tới cắt đứt hoàn toàn giao thông vận chuyển chiến lược của địch giữa hai thành phố Huế và Đà Nẵng; đồng thời tích cực thu hút, kiềm chế lực lượng cơ động chiến lược của địch, phối hợp với mặt trận chính Tây Nguyên và các chiến trường khác trên toàn miền.

        - Khi có thời cơ, tung hết lực lượng ra tiến công giải phóng toàn bộ nông thôn, thực hiện chia cắt chiến lược, bao vây uy hiếp thành phố Huế. Nếu có điều kiện, kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế trong chiến dịch "K.175" hoặc chiến dịch tiếp sau.

        Quân đoàn 2 Trị - Thiên đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch từ đường 14 (điểm cao 303 - Mỏ Tàu) vào tới tây nam Phú Lộc.

        Quân khu Trị - Thiên đảm nhiệm hướng phối hợp quan trọng ở đường số 12 (khu vực Chúc Mao, La Sơn, Bình Điền, Hòn Vượn) và các hướng khác ở đồng bằng. Hướng Quảng Trị là hướng phối hợp, vừa là hướng nghi binh chiến dịch.

        Căn cứ vào kế hoạch chiến dịch, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 quyết định sử dụng lực lượng.

        Sư đoàn 324 (thiếu 1 trung đoàn) đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu của quân đoàn ở khu vực Mỏ Tàu - điểm cao 303.

        Sư đoàn 325 (thiếu 1 trung đoàn) đảm nhiệm cánh phải của quân đoàn tiến công địch chiếm các điểm cao 560, 520, 494, dãy Kim Sắc làm bàn đạp cắt đứt đường 1 từ nam Lương Điền vào đến bắc Phú Lộc.

        Trung đoàn 9 (thuộc sư đoàn 304) và trung đoàn 3 (thuộc sư đoàn 324) là lực lượng dự bị của quân đoàn trong chiến dịch (trung đoàn 3 ( 324) đang ở Thượng Đức, quân đoàn đã đề nghị với Bộ điều ra tây nam Huế trong giai đoạn 1 của chiến dịch).

        Tư tưởng chỉ đạo của chiến dịch là: bí mật, bất ngờ, táo bạo, chắc chắn, cơ động, linh hoạt; lấy tiêu diệt sinh lực địch làm chính, kết hợp giữa tiêu diệt gọn từng đơn vị địch với làm tan rã lực lượng địch, vừa đánh vừa tích cực chuẩn bị thêm, vừa chuẩn bị thêm vừa đánh; đánh từ nhỏ đến lớn, đánh dài hơi, càng đánh càng mạnh; khi có thời cơ thì mạnh bạo phát triển tiến công cùng các lực lượng của Quân khu giành thắng lợi lớn".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #75 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2016, 10:29:54 AM »


2

        Chiến dịch này chúng tôi có nhiều thuận lợi: từ tư lệnh quân đoàn đến các phân đội đều quen thuộc địa hình, biết rõ đối tượng tác chiến của mình sắp gặp là kẻ nào. Địa hình vùng giáp ranh phía tây bắc Thừa Thiên đồi núi thoai thoải trống trải có thể sử dụng cơ giới nhưng khó giữ gìn bí mật, vào sâu một chút có nhiều điểm cao khống chế, nếu chiếm được những điểm cao đó ta sẽ có bàn đạp vững để tiến về đồng bằng. Hôm đi trinh sát tôi đứng trên đỉnh động Truồi, ở đây tầm mắt có thể ôm cả một vùng rộng lớn. Đường số 1 đen thẫm sóng đôi với đường sắt cùng uốn lượn về phía nam, nằm giữa cánh đồng lúa xanh trải rộng tới ven biển. Điểm vào bức tranh đó là vịnh Cầu Hai, phá Tam Giang, đầm Thủy Tú loáng bạc trong nắng. Xa hơn nữa là biển Đông tím ngắt. Tôi nghĩ: vào một thời điểm nào đó chúng tôi sẽ tiến tới vùng đồng bằng ven biển và vào thành phố Huế. Chúng tôi sẽ phải đối mặt và phải loại từ những sắc lính sừng sỏ như: lữ dù 2, lữ thủy quân lục chiến, lữ biệt động quân 915, hai liên đoàn bảo an 913, 914, sư đoàn bộ binh 1 (Anh cả đỏ), 9 tiểu đoàn bảo an, 180 pháo, 240 xe tăng thiết giáp trên đường tiến quân của mình, và phải đối phó với lực lượng của toàn quân khu 1 của chúng.

        Cái khó khăn buộc chúng tôi lưu tâm nhiều là thời gian gấp, từ lúc nhận lệnh đến giờ nổ súng gói gọn trong ba mươi ngày. Với chừng ấy thời gian mà công tác chuẩn bị chiến dịch gần như từ đầu. Tất cả công tác hậu cần trước đây dồn vào hướng đường 12, bây giờ lại bốc dỡ từ đường 12 lên vai người lính vận tải trèo qua hàng chục con dốc ngập ngựa bùn lầy để đưa tới đường 14. Các cán bộ trên quân đoàn được tung xuống để giúp đỡ cấp dưới chuẩn bị. Tôi lo lắng theo dõi chặt chẽ hàng ngày, hàng giờ từng công việc từng bước đi của từng đơn vị cấp dưới mình. Cuối cùng, đúng ngày N các đơn vị đã chiếm lĩnh trận địa xong.

        Thời gian là một thử thách khắc nghiệt đối với người chỉ huy; thời gian là lực lượng vô hình thật lớn lao, chỉ có ai ý thức rõ về nó mới nắm bắt được. Các cấp chỉ huy cho tới người lính của quân đoàn tôi đã đồng tâm hiệp lực và hết sức cố gắng để chạy tới đích trong công tác chuẩn bị đúng thời gian. Người tiêu biểu cho tinh thần ấy là Nguyễn Ngọc Thực chủ nhiệm hậu cần quân đoàn. Qua việc này và cả trong chiến dịch, với anh Thực không thể có cách đánh giá khác. Đó là một tài năng tổ chức chỉ huy về công tác hậu cần, đó là tinh thần trách nhiệm cao, đã đáp ứng kịp thời cho nhiệm vụ chiến đấu trong hoàn cảnh nhiều biến động lớn.

        Đúng 5 giờ 45 phút ngày 8 tháng 3 năm 1975 quân đoàn phát lệnh nổ súng. Trung đoàn pháo binh 78 đã bắn hai mươi phút cấp tập dữ dội vào các điểm cao 303, 75, 76, 223, Mỏ Tàu... rồi chuyển làn bắn vào trận địa pháo địch ở Mũi Né, La Sơn, ấp 5.

        Sau khi pháo chuyển làn, các hướng của sư đoàn 324 đã lợi dụng sương mù còn dày đặc thực hành tiến công.

        Trên hướng chủ yếu trung đoàn bộ binh 2 do thiếu tá Nguyễn Văn Mai chỉ huy, tổ chức chỉ huy yếu kém, chuẩn bị chưa tốt, hiệp đồng thiếu chặt chẽ, khi chiếm lĩnh trận địa có bộ phận đi lạc, có bộ phận tới chậm nên gặp khó khăn ngay từ đầu. Buổi sáng ngày 8 tháng 3 trung đoàn 2 xung phong nhiều đợt đều bị hỏa lực địch chặn lại. Tiểu đoàn 6 bị thương vong nặng.

        Trên hướng thứ yếu của sư đoàn 324, đại úy Trương Văn Núp trung đoàn trưởng trung đoàn 1 chỉ huy trực tiếp tiểu đoàn 1 và 3 đánh vào các điểm cao 75, 76. Trung đoàn trưởng và các tiểu đoàn trưởng đã sử dụng rất tốt hỏa lực của mình. Lần lượt tiêu diệt các hỏa điểm ở ngoại vi xong, đại đội 16 đã hạ góc bắn của 12 ly 7 để bắn chế áp bộ binh địch tạo điều kiện cho tiểu đoàn 1 xung phong, tiến công thẳng vào tung thâm căn cứ 75. Cùng thời gian đó, tiểu đoàn 3 tiến công căn cứ 76. Không đầy 30 phút tiểu đoàn 1 và 2 đã đánh chiếm được hai căn cứ 75, 76 và một số điểm cao ven đường 14. Đến 10 giờ địch cho 10 xe GMC chở tiểu đoàn 61 bảo an từ La Sơn lên phản kích. Đoàn xe địch lên Đồi Tăng vấp mìn của công binh, ùn lại. Bốn khẩu 12 ly 7 của đại đội 16 phục kích sẵn đã bắn mãnh liệt vào sườn bọn địch đang chạy tới, chạy lui hoảng hốt. Ngay sau đó đại đội 10 bộ binh đã xung phong tiêu diệt nốt những tên còn lại.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #76 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2016, 10:30:13 AM »


        Tôi vẫn ở sở chỉ huy của sư đoàn 324, theo dõi rất chặt diễn biến chiến đấu tới từng đại đội của trung đoàn 2 và trung đoàn 1. Tôi trao đổi với anh Duy Sơn sư đoàn trưởng tại sao đợt đầu trung đoàn 2 đánh không thắng? Bởi vì tham mục tiêu. Việc này khi thông qua phương án đã phát hiện, nhưng thiếu thái độ dứt khoát. Điểm nữa, do thiếu nhạy cảm, khi thấy địch đã thay đổi chiến thuật thì người chỉ huy lúng túng vẫn giữ cách đánh cũ. Thứ nữa, đơn vị này chưa thạo lối đánh tấn công bóc vỏ cứng, đã dùng lối tập kích nhỏ giọt… Chúng tôi quyết định tạm dừng lại củng cố tổ chức chỉ huy và lệnh cho sư đoàn 325 triển khai ngay trận địa pháo bắn kiềm chế pháo địch ở các cứ điểm Lương Điền, Mũ Né, La Khê.

        Địch dùng lực lượng ở căn cứ 224 ra phản kích, ngày 9 tháng 3 chúng chiếm lại mỏm 6.

        Sư đoàn 324 chỉ thị cho trung đoàn 2 bố trí lại lực lượng, điều tiểu đoàn 4 vào cùng với tiểu đoàn 5 đánh chiếm lại mỏm 6 và chuẩn bị một lần nữa đánh chiếm căn cứ 224. Tiểu đoàn 3 được tăng cường một đại đội đánh chiếm Đồi Cối; đại đội 7 (tiểu đoàn 8 ) mới từ Thượng Đức ra có nhiệm vụ đánh chiếm điểm cao 273.

        Sau khi củng cố bố trí lực lượng xong, ngày 10 tháng 3 các đơn vị được phân công, đã nổ súng tấn công đúng vào giờ địch ăn cơm tối. Cuộc tiến công dũng mãnh khiến bọn địch không chống đỡ nổi. Trung đoàn 2 đã chiếm được căn cứ 224 loại tiểu đoàn 1 (trung đoàn 1) ngụy ra khỏi vòng chiến. Đại đội 7 (tiểu đoàn 8 ) trận đầu đánh thắng giòn giã chiếm được điểm cao 273.

        Cùng thời điểm trên, sư đoàn đã dùng bộ phận nhỏ do đại đội phó trinh sát Nguyễn Văn Lộc chỉ huy luồn sâu tập kích diệt cụm xe tăng địch ở Núi Nghệ. Triệu Tiến Din người dân tộc Tày (Lạng Sơn), chiến sĩ đại đội 19 tên lửa chống tăng, trong trận này đã bắn 4 phát diệt 4 mục tiêu, trong đó có 3 xe tăng M.48.

        Bị mất điểm cao 223 và khu vực đường 14, địch thấy rõ nguy cơ bị chia cắt giữa Huế với Đà Nẵng, sân bay Phú Bài sẽ bị uy hiếp và tiến tới rất nhanh Trị - Thiên - Huế sẽ bị cô lập. Bộ tư lệnh quân đoàn 1 địch vội vã điều động lực lượng tăng cường phòng thủ khu vực này. Tiểu đoàn biệt động 61 ra Núi Bông. Tiểu đoàn biệt động 96, tiểu đoàn 94 và chi đoàn thiết giáp 27 ra chiếm giữ điểm cao 3 và vùng xung quanh. Chi đoàn thiết giáp 37 cùng một đại đội bộ binh trung đoàn 154 giữ khu vực điểm cao 52. Tiểu đoàn 2 bộ binh của sư đoàn 1 ra chuẩn bị phản kích chiếm lại điểm cao 244.

        Cuộc chiến ở khu vực sư đoàn 324 ngày thêm căng thẳng quyết liệt. Bộ binh địch liên tục phản kích. Lượng đạn pháo địch dội về phía ta trung bình mỗi ngày 4.600 quả. Mỗi ngày 60 lần chiếc máy bay tới ném bom. Điểm cao 224, trong vòng bảy ngày ta, địch giành đi giật lại, cuối cùng mỗi bên chiếm một phần.

        Cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn 324 đã thể hiện tinh thần chiến đấu rất ngoan cường dũng cảm, nảy nở nhiều tấm gương về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiêu biểu là thượng úy tiểu đoàn trưởng Nguyên Văn Thới. Đợt tấn công giành giật 224 lần thứ năm, chiến sĩ giữ súng máy hy sinh, Thới lao tới xách trung liên kẹp vào nách vừa chỉ huy vừa bắn, dẫn đầu đội hình xung phong. Đúng vào lúc cùng đồng dội chiếm được đỉnh đồi, anh bị trúng đạn. Thới hy sinh, nhưng tấm gương chói lọi của anh vẫn dẫn đắt đồng đội tiếp tục tiến lên phía trước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #77 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2016, 10:33:04 AM »


3

        Nhìn chung toàn bộ chiến trường Trị - Thiên qua tám ngày chiến đấu: Tại khu vực trọng điểm chiến dịch, sư đoàn 324 đã phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực đường số 14, tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên, diệt gọn một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác. Tuy kết quả cụ thể chưa lớn, nhưng sư đoàn 324 đã đánh một đòn vào chỗ hiểm của địch làm cho quân địch lo sợ phải vội vã điều động lực lượng. Chủ lực của địch bị thu hút vào đây. Chúng bâu lấy sư đoàn 324. Sư đoàn 324 gặp rất nhiều khó khăn ở khu vực Núi Bông, Núi Nghệ, nhưng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng của Quân khu Trị - Thiên hoạt động có hiệu quả.

        Suốt dải đồng bằng từ nam sông Thạch Hãn (Quảng Trị) vào tới vịnh Lăng Cô - nam Thừa Thiên, các lực lượng địa phương liên tục tiêu hao tiêu diệt dịch và làm công tác vũ trang tuyên truyền, gây niềm tin trong quần chúng, khiến cho hậu phương địch ăn không ngon ngủ không yên.

        Lực lượng địa phương hoạt động trên hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng đã tiêu diệt chi khu Mai Lĩnh, đánh vào 12 phân chi khu diệt gọn ba phân chi khu Hải Lâm, Hải Vĩnh, Hải Nhi.

        Ở ba huyện phía bắc tỉnh Thừa Thiên, lực lượng địa phương đánh vào 9 phân chi khu, đã diệt gọn các phân chi khu Phong Chương, Phong Bình, Phong Hòa, Phong Nhiêu, Quảng Phú.

        Ở vùng đồng bằng nam Thừa Thiên, lực lượng địa phương đánh vào 9 phân chi khu đã diệt gọn phân chi khu Vĩnh Thái, Vĩnh Hoàn, Phú Hồ và tập kích bằng hỏa lực vào quận lỵ Vĩnh Lộc, Cầu Hai.

         Ở khu vực đường số 12 trong ba ngày (từ 13 đến 15 tháng 3) trung đoàn 3, 6, 271 của quân khu đã mở cuộc tiến công thắng lợi, tiêu diệt cứ điểm Chúc Mao và điểm cao 300, dùng hỏa lực đánh vào Sơn Na tạo thêm một áp lực uy hiếp địch từ hướng tây bắc Huế.

        Kết quả lớn nhất đạt được của đợt này là: Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên đã nổ súng đúng thời gian phối hợp được với Buôn Ma Thuột và các chiến trường toàn miền. Quân đoàn và quân khu phối hợp chặt chẽ gây cho địch bối rối sơ hở và đã chiếm được những địa bàn quan trọng có giá trị chiến thuật để bước vào đợt 2.

        Vào thời điểm này (15-3-1975) chúng tôi đã mở cuộc họp Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh tại sở chỉ huy cơ bản ở Động Truồi. Cuộc họp đã đánh giá đúng thắng lợi vừa thu được và cũng thật nghiêm khắc chỉ ra những thiếu sót cần khắc phục kịp thời như chuẩn bị và tổ chức chỉ huy chiến đấu chưa tốt; sử dụng lực lượng đánh vào các điểm cao 303 và 224 chưa thích hợp; chỉ huy các cấp nắm bộ đội không chắc, một số cán bộ chấp hành mệnh lệnh không nghiêm, tổ chức hiệp đồng giữa bộ binh với pháo binh chưa chặt chẽ; pháo bắn chưa chính xác. chưa kịp thời; hiệu suất chiến đấu của quân đoàn đợt này còn thấp; tốc độ tấn công chậm; tư tưởng của một số cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 324 từ chủ quan khinh thường địch, khi gặp khó khăn đã tỏ ra bi quan giảm lông tin ở thắng lợi.

        Khi bàn tới chủ trương tác chiến tiếp theo, cũng có nhiều ý kiến khác nhau về thời gian quân đoàn bước vào đợt 2 chiến dịch và thời cơ sử dụng sư đoàn 325. Có ý kiến: sư đoàn 324 đang gặp khó khăn nên tung sư đoàn 325 vào ngay để chia lửa. Ý kiến khác nên chi sư đoàn 325 tiếp tục chuẩn bị theo đúng kế hoạch để tạo thế bất ngờ, bảo đảm chắc thắng cho đợt này.

        Bàn đi tính lại cái lợi, cái hại của từng cách giải quyết, chúng tôi đã đi tới quyết định tăng cường chi viện hỏa lực để giảm bớt khó khăn cho sư đoàn 324, đồng thời phổ biến kinh nghiệm và chuẩn bị tốt cho sư đoàn 325. Thời gian bước vào đợt 2 chiến dịch vào ngày 20 thắng 3 năm 1975, sớm hơn kế hoạch cũ một ngày.

        Đối với sư đoàn 325, thời gian chuẩn bị chiến đấu tuy có rút ngắn nhưng chất lượng chuẩn bị phải đạt ở mức cao nhất... (sau cuộc họp xét đề nghị của 325 chúng tôi đã đồng ý cho lùi thời gian nổ súng một ngày).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #78 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:16 AM »


4

        Sau cuộc họp Thường vụ Đảng ủy, chúng tôi chia nhau xuống các đơn vị để triển khai nghị quyết. Các anh Bùi Công Ái và Lê Khả Phiêu dẫn đầu đoàn cán bộ cơ quan xuống sư đoàn 324. Tôi và các anh Hoàng Đan, Công Trang cùng một số cán bộ cơ quan xuống sư đoàn 325. Ngoài việc phổ biến nhận định đánh giá tình hình tác chiến đợt 1, kế hoạch tác chiến đợt 2, chúng tôi sẽ cùng các đơn vị bàn bạc dân chủ biện pháp tiến hành công tác chuẩn bị và xây dựng kế hoạch tác chiến.

        Khoảng thời gian này chúng tôi vẫn nhận được nhiều tin của mấy đơn vị đang ở xa quân đoàn và các mặt trận khác.

        Sư đoàn 304 phối thuộc với quân khu 5, hơn bốn tháng chiến đấu liên tục ác liệt đã giải phóng quận lỵ Thương Đức, đánh bại sư đoàn dù - dự bi chiến lược của ngụy và kìm chân chúng ở đây; tiếp đó sư đoàn cùng lực lượng địa phương mở cuộc tiến công giải phóng toàn bộ vùng B Đại Lộc.

        Ở Mặt trận Tây Nguyên nổ súng ngày 10 tháng 3 tiến công vào Buôn Ma Thuột, ta đã giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột vào hồi 11 giờ ngày 11 tháng 3, tiêu diệt toàn bộ địch ở đây, chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ Tây Nguyên của địch. Sau đó bộ đội ta đã liên tiếp đập tan nhiều đợt phản kích của địch, tiêu diệt hai trung đoàn, đánh quỵ sư đoàn 23 ngụy.

        Địch từ chỗ chủ quan, sau khi thất bại ở Buôn Ma Thuột trở nên hoảng hốt rối loạn. Địch vội vã bỏ Plây Cu, Công Tum rút chạy. Quân ta nắm vững thời cơ nhanh chóng chuyển sang truy kích địch và liên tục bao vây chặn đánh làm tan rã và tiêu diệt các cánh địch rút chạy.

        Trung đoàn 95 sư đoàn 325 tham gia trận đánh Buôn Ma Thuột do trung đoàn trưởng Đăng Tụ và chính ủy Vũ Quang Thọ chỉ huy lập công suất sắc, đã được Bộ tư lệnh chiến dịch gửi điện khen: Trung đoàn 95 tiến công vào Buôn Ma Thuột đã anh dũng, ngoan cường mau lẹ thọc sâu vào tuyến phòng thủ thị xã, làm rối loạn hệ thống bố phòng của địch, cùng đơn vị bạn tiêu diệt quân địch, chiếm mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn…

        Thắng lợi lớn ở Tây Nguyên đã dẫn tới bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược có lợi cho ta. Ngày 17 tháng 3 Quân ủy Trung ương họp, chuẩn bị cho một phương hướng hành động mới nhằm triệt để phát huy thời cơ thuận lợi đã giành được. Ngày 18 và 25 tháng 3, Bộ Chính trị họp hạ quyết tâm: hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng 5 năm 1975).

        Phương hướng chiến lược chủ yếu tập trung lực lượng của cả nước giải phóng Sài Gòn - Gia Định... Nhiệm vụ chiến lược trước mắt là tiến hành trận quyết chiến chiến lược đánh chiếm Huế - Đà Nẵng, tiêu diệt quân đoàn 1 của địch, không cho chúng co về giữ Sài Gòn, nhanh chóng giải phóng các tỉnh miền Trung và nam Trung Bộ, đồng thời đẩy mạnh công tác chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn...

        Bộ tư lệnh Quân khu Trị - Thiên chớp thời cơ lúc địch đang thay quân và tỏ ra hoang mang, đã chỉ thị cho các lực lượng ở hướng bắc chuyển sang tiến công địch trên toàn tuyến.

        Chiều 19 tháng 3 được tin địch rút khỏi Quảng Trị, đại đội 7 xe tăng lữ đoàn 203 phối thuộc cho Bộ tư lệnh Trị - Thiên đang chốt ở Cửa Việt đã chủ động xin nhận nhiệm vụ. Được trên chuẩn y đêm 19 tháng 3 đại đội 7 xe tăng đã bí mật men theo ven biển, luồn qua tuyến phòng thủ, bãi mìn của địch tiến vào tập kết ở Phương Lang Đông. Ngày 23 tháng 3 đại đội 7 xe tăng đã cùng tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị nổ súng đánh vào Tường Vân, Tài Lương, Đạc Dầu, Thanh Hội, Gia Đẳng tiến vào giải phóng quận lỵ Mai Lĩnh.

        Cùng thời gian trên, tiểu đoàn 14, tiểu đoàn 8 Quảng Trị và đại đội Lê Hồng Phong chia thành nhiều mũi tiến đánh điểm cao 15, Bến Đá, Phước Môn, Long Hưng, La Vang, Thành Cổ...

        Tiểu đoàn 812, tiểu đoàn 10 đánh Dốc Đầu, điểm cao 367 rồi phát triển xuống đường số 1.

        Liên đoàn biệt động quân 14 và liên đoàn bảo an 913 của địch bị đánh bất ngờ, bỏ trận địa hoảng hốt tháo chạy về nam sông Mỹ Chánh.

        Tỉnh Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng vào ngày 19 tháng 3 năm 1975.

        Ngày 18 tháng 3 chúng tôi nhận được bức điện do trung tướng Phó tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn ký: “… Địch rút khỏi Công Tum, Plây Cu. Yêu cầu phải táo bạo khẩn trương…”.

        …"Quân đoàn 2 phải nhanh chóng tiêu diệt quận lỵ Phú Lộc, cắt đứt đường số 1. Tập trung sử dụng cả hai sư đoàn (324, 325). Phải gấp rút chuẩn bị hỏa lực đánh Đà Nắng…”.

        Ngày 20 tháng 3 Bộ Quốc phòng gửi tiếp một bức điện nhắc Trị - Thiên không được dừng ở sông Mỹ Chánh và cho biết tin địch dự định rút khỏi Thừa Thiên - Huế. Bộ nhắc: phải theo dõi chặt chẽ tình hình chung, hành động táo bạo, kịp thời.

        Thực hiện chỉ thị của Bộ, kế hoạch tác chiến (đại cương) của mặt trận Trị - Thiên sẽ phát triển như sau: Trên hướng bắc tổ chức làm hai mũi, mũi tiến công thứ nhất gồm hai tiểu đoàn địa phương Quảng Trị đánh chiếm quận Hướng Điền rồi phát triển vào cửa Thuận An và ngã ba Sình. Mũi thứ hai gồm trung đoàn 4 bộ binh được tăng cường một tiểu đoàn địa phương Quảng Trị, trung đoàn 4 làm dự bị; tiến đánh trận địa phòng ngự của lữ đoàn 147 lính thuỷ đánh bộ rồi phát triển vào cửa An Hòa, ngã ba Sình.

        Trên hướng đường 12, các trung đoàn 6 và 271 bộ binh của quân khu có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực Đình Môn, Kim Ngọc, vượt sông Hương rồi chia thành hai mũi, một mũi đánh vào thành phố Huế, một mũi đánh vào nam Huế để chia cắt Huế với Phú Bài.

        Trên hướng Quân đoàn 2: Tập trung lực lượng sư đoàn 325 (thiếu trung đoàn 95) nhanh chóng phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch ở dãy điểm cao 560, 520, 494, dãy Kim Sắc, tiến xuống đánh cắt đường giao thông huyết mạch giữa Hướng Điền và Phú Lộc. Tiếp đó, triển khai ngay lực lượng sẵn sàng đánh bại mọi cuộc phản kích của địch trên cả hai hướng Huế và Đà Nẵng, giữ vững khu vực đã chiếm. Trung đoàn 9 (sư đoàn 304) đang từ Quảng Trị vào sẽ là lực lượngdự bị của quân đoàn.

        Sư đoàn 324 (đủ) nhanh chóng diệt điểm cao 303 - Mỏ Tàu. Tiếp đó hình thành hai mũi, một mũi đánh La Sơn, Phú Bài và theo đường số 1 đánh thẳng vào thành phố Huế; một mũi bí mật vu hồi xuống đồng bằng, đánh chiếm cảng Tân Mỹ, bịt chặt cửa Thuận An.

        Bộ tư lệnh quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 còn quyết định: Khẩn trương tổ chức các trận địa pháo binh tầm xa bắn phá mãnh liệt, khống chế của biển Thuận An, Tư Hiền, sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 1 của địch ở Mang Cá (Huế)...

        Kế hoạch đó đã được đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp phê chuẩn và chỉ thị thêm: "Ngày 21 tháng 3 năm 1975 phải cắt bằng được đường số 1 giữa Huế và Đà Nẵng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #79 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2016, 01:30:43 AM »


5

        Mấy hôm ấy các buổi tối, vào giờ đài phát thanh của ta và cả địch đưa tin chiến sự tôi không rời cái đài thu thanh bán dẫn, dù chỉ là một phút. Cái đài bán dẫn nhỏ xíu ấy trở thành phương tiện "trinh sát kỹ thuật” khá bổ ích đối với tôi; có đôi khi tình hình ta, tình hình địch ở các chiến trường bạn trên chưa kịp thông báo hoặc thông báo chưa đầy đủ, tôi đã được nghe hoặc được bổ sung thông qua nó. Các bản tin quân sự độ này luôn luôn đầy ắp những tin mới, những tin làm cho cả thế giới phải sửng sốt.

        …Đến 17 giờ 30 ngày 10 tháng 3 bộ đội ta chiếm được hầu hết các mục tiêu trong thị xã Buôn Ma Thuột…

        Từ ngày 11 tháng 3 các lực lượng của ta có pháo binh xe tăng yểm trợ đã thực hiện truy quét, tiêu diệt các vị trí còn sót lại trong thị xã Buôn Ma Thuột.

        Ngày 12 tháng 3, sau khi cho hơn 100 lần chiếc máy bay ném bom dọn bãi, địch huy động 145 máy bay lên thẳng đổ trung đoàn bộ binh 45 và pháo đội 232 xuống đông bắc Buôn Ma Thuột. Trong ngày (12-3) ta đang bao vây đánh chiếm căn cứ của trung đoàn 53 ngụy, địch lại đổ thêm trung đoàn 44 (thiếu) và sư đoàn bộ sư đoàn 23 xuống khu vực Nông Trại, An Phước.

        Địch vừa đổ quân xuống với ý đồ phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột, nhưng chưa kịp hành động gì đã bị ta đánh liên tục, cho tới sáng ngày 16 tháng 3 trung đoàn 45 ngụy bị tiêu diệt. Quân địch ở quận lỵ Phước An bỏ cả vũ khí chạy trốn, ta làm chủ ngã ba Nông Trại.

        Ngày 14 tháng 3 ngụy quyền Sài Gòn quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Tổng thống bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: “Bỏ Công Tum, Plây Cu để bảo toàn lực lượng, còn Đà Nẵng, Huế, các quân khu 3, 4 phải giữ đến cùng”.

        Ngày 19 tháng 3 tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng. Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân đoàn 1 vội và bay ra Hướng Điền cùng với các sỹ quan thuộc hạ bàn kế hoạch lập phòng tuyến Mỹ Chánh - Sông Bồ bảo vệ Huế. Ngay sau đó y tuyền bố "Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vào được cố đô này”.

        Tình hình phát triển nhanh tới chóng mặt. Thời gian lúc này như lửa đốt sau lưng, thôi thúc chúng tôi chuẩn bị thật gấp cho sư đoàn 325 bước vào chiến đấu đợt 2. Trung đoàn 101 vẫn còn đang trên đường từ Quảng Trị vào, không có cách gì nhanh hơn được, làm sao thực hiện được lệnh của Tổng tư lệnh “ngày 21 tháng 3 phải cắt bằng được đường số 1 giữa Huế và Đà Nẵng”.

        Việc cắt đường số 1, bộ binh không đủ thời gian tới đó được, tôi đốc anh Phạm Minh Tâm tư lệnh sư đoàn 325 đưa thật gấp một số đơn vị pháo tới sườn dãy núi Lưỡi Cái, làm trận địa ngắm bắn trực tiếp xuống đường số 1. Kết quả ngày 20 tháng 3 trung đoàn 84 đã đưa tới đó được 12 khẩu pháo lớn và hàng chục dàn hỏa tiễn ĐKB. Trận địa pháo của ta trên dãy núi Lưỡi Cái rất lợi hại, đã ngăn chặn có hiệu quả các loại xe cơ giới qua lại trên đường số 1.

        Để sư đoàn 325 chuẩn bị tấn công tốt hơn, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã quyết định lui thời gian tấn công lại một ngày (so với kế hoạch).

        Đúng 5 giờ 40 phút ngày 21 tháng 3 năm 1975 toàn Quân đoàn 2 đã nổ súng tấn công đợt 2. Sau bốn mươi phút chiến đấu, trung đoàn 2 sư đoàn 324 đã chiếm được điểm cao 224, thừa thắng phát triển sang cứ điểm 303. Địch dựa vào hệ thống công sự ngoan cố chống cự làm cho trận đánh giành giật quyết liệt, mãi tới chiều ta mới làm chủ được một nửa căn cứ 303.

        Phía trung đoàn 1 sư đoàn 324 đánh Núi Bông, sáng 21 tháng 3 đã chiếm được, đến trưa địch phản kích chiếm lại. Cuộc giành đi giật lại núi Bông giữa ta và địch diễn ra hơn mười lần. Hồi 15 giờ địch điều thêm lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến và liên đoàn 15 biệt động quân từ Hướng Điền lên chi viện, cùng bọn địch ở Núi Nghệ có xe tăng yểm hộ phản kích sang Núi Bông. Trung đoàn 1 bị thương vong nhiều nhưng vẫn kiên cường trụ vững và liên tục phá tan nhiều đợt phản kích của địch.

        Tôi và anh Công Trang phó chính ủy quân đoàn đi xuống sở chỉ huy sư đoàn 325. Tới giờ nổ súng rồi mà sương mù vẫn xám xịt. Nhìn xung quanh như đang đêm. Kế hoạch tác chiến: dùng pháo ngắm bắn trực tiếp để chi viện cho bộ binh xung phong. Chỉ huy pháo báo cáo sương mù, không nhìn rõ mục tiêu. Lúc này trung đoàn 18 và 101 đã bí mật áp sát hàng rào của đồn địch. Các anh Phạm Minh Tâm tư lệnh sư đoàn, Lê Văn Dương chính ủy 325 đề nghị cho lui giờ tấn công lại 10 phút. Tôi đồng ý. Nếu chờ mười phút nữa sương mù vẫn thế, đành phải đánh theo phương án hai, nghĩa là tấn công không có pháo chi viện. Mọi người trong sở chỉ huy căng thẳng chờ đợi không ai nói với ai nửa lời. Ở đây thật tĩnh lặng, chỉ có tiếng nổ lờ mờ từ Núi Bông, Núi Nghệ dội tới. Mắt mọi người mở to nhìn xoáy vào màn sương, như cầu mong nó tan nhanh.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM