Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Hai, 2019, 10:55:30 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến trường mới - Thượng tướng Nguyễn Hữu An  (Đọc 28006 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2016, 08:15:47 PM »


        Sử dụng lực lượng sư đoàn 1 được tăng cường trung đoàn 101 và 4 tiểu đoàn trợ chiến. Các hướng hỗ trợ: có trung đoàn 24 ở Công Tum, 95B ở Gia Lai, trung đoàn 33 ở Đắc Lắc đánh nhỏ, đánh vừa kiềm chế phân tán lực lượng địch...

        Đội hình ở hướng chủ yếu của chiến dịch: trung đoàn 320 dùng một bộ phận nhỏ “châm ngòi” nhử địch ra, bố trí lực lượng vừa đánh vừa dẫn dắt địch về hướng quyết chiến điểm. Trung đoàn 101 bố trí ở đông Sa Thày, trung đoàn 66 và 88 bố trí từ Chu Pa đến bờ tây Sa Thày là lực lượng chủ yếu tiêu diệt địch ở “C1”.

        Ngày N: ngày 19 tháng 10 năm 1966.

        Đúng ngày N, một phân đội thuộc trung đoàn 320 đã bao vây “chọc tức” bọn đồn trú ở Plây-giê-răng. Lập tức một đại đội thuộc sư đoàn bộ binh Mỹ số 4 đổ xuống sau lưng ta cách khoảng 3 cây số. Và cứ như thế ta dụ địch vào sâu hơn.

        Đánh lừa địch là nghệ thuật quân sự, muốn thực hiện được phải tổ chức và hành động hết sức công phu, không chỉ dựa vào tài năng của người chỉ huy mà còn phải dựa vào đội quân được huấn luyện tốt. Cái tốt ở đây cần nhấn mạnh đặc biệt là vấn đề kỷ luật bí mật.

         Chiến trường này ngày nào cũng vậy, hầu như 24 giờ trên 24 giờ liên tục máy bay trinh sát đủ loại (C.130, OV.10, trực thăng, L.19) bay thấp, bay cao chụp ảnh hoặt nhìn bằng mắt thường, ngoài ra bọn thám báo được đổ bộ xuống hoạt động thường xuyên. Đám lá rừng mới héo, ngọn suối tự nhiên đục, một lối mòn... mới xuất hiện mà ngày hôm qua chưa hề có trong ảnh là chúng có thể cho bom, pháo phá nát cả khu vực. Vì vậy, kỷ luật bí mật có giá trị quyết định thành công trong nghệ thuật đánh lừa địch.

        Ngay cả lúc bình thường, chúng tôi cũng coi trọng việc giáo dục kiểm tra liên tục  thấu triệt tới từng người lính kỷ luật bí mật, vào chiến dịch vấn đề đó càng được coi trọng gấp bội phần.

        Trong chiến dịch này, việc dụ địch vào “lưới” ta giăng sẵn đã trở thành hiện thực. Đại đội địch vừa đổ xuống, ngay trong đêm đã bị một đại đội của ta nằm sau chúng khoảng hai ki-lô-mét vận động tập kích; ngày hôm sau chúng lại đổ thêm quân để bọc hậu đơn vị “Việt cộng” chúng mới phát hiện... Cứ như thế trung đoàn 320 và một bộ phận của trung đoàn 66 đã đánh hàng chục trận và kéo chúng vào địa bàn quyết chiến ta đã lựa chọn trước. Trước khi đổ bộ, chúng dùng B.52 rải bom, chà đi xát lại phát quang khoảng 5 ki-lô-mét ở sát biên giới, gây khó khăn cho ta. Trưng đoàn 88 thương vong một số (không đáng kể) và phải lùi sâu đội hình vào nội địa. Đúng như ta dự kiến ban đầu, mười giờ ngày 25 tháng 10 địch đổ xuống “C1” một tiểu đoàn. Pháo của ta lấy phân tử bắn từ trước, chờ địch đổ quân khoảng mười phút mới phát hoả. Cùng lúc 4 khẩu súng cối 120 lên tiếng. Trận bão đạn pháo nổ như sấm sét trùm kín bãi đất bằng phẳng nơi bọn Mỹ vừa đặt chân xuống. Sự bất ngờ khủng khiếp hơn tất cả mọi khửng khiếp mà chúng có thể tưởng tượng được. Trên đài quan sát ta nhìn rõ, sau từng đám khói tan, bọn lính Mỹ chết đè lên nhau, những tên còn sống chạy hoảng loạn không có nơi trú ẩn.

        Pháo của ta bắn cấp tập khỏang một giờ. Trong quá trình pháo ta bắn cấp tập đội hình trung đoàn 88 hình thành ba mũi: mũi chủ yếu từ tây tây bắc, một mũi từ hướng đông bắc, một mũi từ hướng nam vận động tiến công. Các hướng tiến công của ta gặp bãi bom B.52 cây đổ ngổn ngang vướng víu và bị máy bay địch bắn ngăn chặn nên phát triển chậm, hiệp đồng bị vỡ, có bộ phận mãi tới mười giờ mới tiếp cận được địch. Bọn Mỹ biết mình bị lừa và bao vây, chúng cố hết sức chống đỡ để chờ trời sáng có quân viện. Trận đánh diễn ra hết sức quyết liệt. Pháo sáng như hàng trăm hàng nghìn chiếc đèn treo lơ lửng trên không soi rõ từng gốc cây, ngọn cỏ. Máy bay địch liên tiếp thay nhau tới rải  bom bi bao quanh vị trí của chúng chỉ cách vài trăm mét, gây thương vong cho một số bộ phận nhỏ của ta nằm cách xa địch.

        Tôi chỉ thị cho trung đoàn 88 nhanh chóng tổ chức xốc lại lực lượng, tung dự bị vào và hết sức áp sát địch.

         Đội hình của ta và địch quyện vào nhau, nhiều bộ phận dùng lê, lựu đạn đánh giáp lá cà. Bọn chỉ huy Mỹ đã xuất hiện tâm trạng tuyệt vọng. Sau trận đánh núi Cơn, đây là lần thứ hai tôi thấy chúng cam tâm tàn nhẫn rải bom trùm lên đội hình quân mình.

        Suốt ngày hôm qua tới đêm trung đoàn 66 hết sức tích cực ngăn chặn không cho bọn thám báo và các đại đội lẻ tiếp cận được "Cl”.

        Bọn chỉ huy Mỹ thấy nguy cơ nếu ở lại “Cl” lâu hơn khó tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, khoảng 7 giờ ngày 26 chúng cho 20 chiếc trực thăng xuống bốc nốt số còn sống sót chạy về căn cứ.

        Những đại đội, tiểu đoàn bị xé lẻ thuộc sư đoàn bộ binh Mỹ số 4 bị rải ra suốt chiều dài từ Plây-giê-răng tới “Cl” gần 60 cây số lần lượt rút chạy bằng trực thăng. Quân ta thừa thắng phát triển về hướng đường 19 kéo dài, một hướng xuống Chư Pa để mở đường xuống đồng bằng.

        Chiến dịch (từ 18 tháng 10 đến ngày 6 tháng 12) kéo dài hơn một tháng đã kết thúc thắng lợi. Ta đánh 34 trận lớn nhỏ, tiêu diệt tổng số 2.050 Mỹ, 360 ngụy, diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ, 8 đại đội Mỹ và một sẽ trung đội, bắn rơi 21 máy bay, phá hủy 21 pháo, 5 cối 106 ly, 16 xe. Thắng lợi của chiến dịch không những chỉ nằm gọn trong số lượng địch bị diệt, số phương tiện vũ khí địch bị phá hủy... mà còn lớn hơn thế, nói cách khác, ta đã đạt được những mục đích nêu ra như: Đánh bại âm mưu phản công mùa khô của địch ở Tây Nguyên và phối hợp đắc lực với chiến trường khác. Một lần nữa quân chủ lực của Tây Nguyên lại được thử sức với loại quân khác của Mỹ - sư đoàn bộ binh 4 và đã đánh quỵ nó. Qua chiến dịch này các đơn vị tham chiến của ta được rèn luyện trong thực tế về công tác tổ chức chỉ huy, nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật và rút ra được nhiều bài học quý.

        Trung đoàn 320 phải độc lập xử trí với rất nhiều tình huống gay go phức tạp và đã vượt qua được tất cả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nhử được địch sang phía tây sông Sa Thày. Trung đoàn 66 chủ động linh hoạt đánh được nhiều trận ngoài phương án, tỏ ra là một đơn vị tinh nhuệ trong vận dụng chiến thuật vận động tiến công, nhưng chiến thuật tập kích còn yếu. Trung đoàn 88 đã vượt lên nhiều mặt so với hồi ở Công Tum, chiến đấu ở “C1” tuy chưa diệt thật gọn tiểu đoàn địch nhưng căn cứ vào diễn biến thực tế có phức tạp nên vẫn đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2016, 08:27:27 PM »

     
V

CHIẾN DỊCH "ĐẮC TÔ 1“


1

        Kết  thúc chiến dịch sông Sa Thày được ít ngày, trung đoàn 88 được lệnh hành quân vào chiến trường Nam Bộ. Tới chiến trường Tây Nguyên này, tôi đã trực tiếp tham gia huấn luyện chỉ huy nhiều trung đoàn. Nhiều đơn vị vừa kịp làm quen với chiến trường, vận dụng được những kinh nghiệm đã học, và trên dưới cũng vừa quen tác phong của nhau, đã phải chia tay nhau đi nơi khác. Bởi vậy việc trung đoàn 88 rời khỏi đây hoàn toàn không có sự bất ngờ. Tuy không nghe ai nói, nhưng tôi hiểu ngầm ý của Bộ rằng: Chiến trường Tây Nguyên còn là bãi tập đặc biệt, và là nơi thử lửa đầu tiên cho nhiều đơn vị chủ lực (trong đánh Mỹ), từ ý nghĩa đó tôi chắc chắn sẽ có ngay một trung đoàn khác thế chân trung đoàn 88.

        Thật vậy, hơi ấm của trung đoàn 88 còn phảng phất đâu đây thì trung đoàn 174 ở ngoài Bắc mới vào được vài tháng, có lệnh nhập vào sư đoàn 1.

        Trung đoàn 174 là đơn vị cũ của tôi thời đánh Pháp. Tôi đã chỉ huy trung đoàn đánh chiếm đồi "A1" trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trung đoàn là cái nôi rèn luyện tôi trở thành người chỉ huy có cương vị như bây giờ. Nhắc tới trung đoàn trong đầu tôi lại hiện lên một chuỗi kỷ niệm của cuộc đời chiến sĩ. Trận phục kích đèo Bông Lau - Lũng Phầy gian khổ nặng nề, hai trận Đông Khê 1 và 2 giòn giã oai hùng, trận diệt boong-ke đồn La-ri-vê kỳ công bất ngờ, trận Bình Liêu, trận Mộc Châu mưu trí dũng mãnh...

        Tôi tới thăm 174 mang theo chút tình của người tha hương trở về quê cũ. Vẫn là phong cảnh ngôi làng chiến sĩ trong chiến tranh - khu rừng khộp uy nghi trầm mặc, mùa đông đã bứt một lớp lá vàng trải lên nền đất, đâu đó có tiếng hót lẻ loi của chim "bắt cô trói cột” nhưng từng bước chân của tôi ngập ngừng sự chờ đợi sẽ gặp những người quen thân nào đó.

        Trung đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy, Anh hùng quân đội thấy tôi đến, anh bước nhanh ra đón, rồi chúng tôi ôm chặt lấy nhau:

        - Ôi! Anh An! Anh khỏe chứ?

        - Ngụy... mình vẫn khỏe.

        Thấm thoắt đã bốn năm mới gặp nhau. Hồi năm 1962 mở chiến dịch Nậm Thà - Mường Xinh giúp Lào chúng tôi cùng chiến đấu, từ đó tới nay mới gặp nhau. Đàm Văn Ngụy gầy guộc, già trước tuổi. Chắc nhìn tôi, anh cũng thấy như vậy. Tôi rất mừng và tự hào có một người chỉ huy cấp dưới như Đàm Văn Ngụy. Anh đã chứng tỏ trong chiến đấu, khi gặp tình huống càng nghiệt ngã phức tạp, càng tỏ ra là người gan góc tài trí.

        Chúng tôi dắt nhau xuống thăm mấy phân đội gần đó. Mặc dầu đã được nghe báo cáo "quân số ốm nhiều và khí thế đơn vị đang xuống", tới nơi nhìn tận mắt, tôi cảm thấy không khí của đơn vị còn mệt mỏi nặng nề hơn. Trong lán người ốm và không ốm nằm la liệt, ngoài lán từng tốp năm ba người chuyện trò thì thầm uể oải ít thấy nụ cười tươi trẻ trên môi. Tôi thầm nghĩ: "Trạng thái này"các ông chính trị lại có nhiều việc đây!".

        Ít ngày sau phó chính ủy sư đoàn Nguyễn Viên từ trung đoàn 174 trở về. Anh Viên được phân công xuống "vực tư tưởng nó lên". Anh vui vẻ kể lại: nó là đơn vị có bề dày truyền thống, cán bộ chỉ huy lãnh đạo vững vàng, tuy tinh thần đơn vị có sa sút nhưng cán bộ đảng viên không tỏ ra bi quan, họ đang loay hoay tìm cách gỡ. Tôi và anh Đặng Vũ Hiệp xuống nghe tình hình cụ thể. Hai ngày sau anh Hiệp về, còn tôi ở lại. Chúng tôi chỉ gợi ý nhẹ nhàng cụ thể không quy chụp để tự anh em làm công tác tư tưởng. Tới bây giờ đã khá rồi, mấy chiến sĩ có học vấn khá đã khái quát tình hình của đơn vị mình là “e6R".

        Tôi hỏi:

        - Sáu R là gì?

        - Lính mình hóm thật, Sáu R nghĩa là: rầm rộ, rì rầm, rệu rã.

        Ở miền Bắc mấy ông tuyên truyền giáo dục thế nào đấy mà anh em đinh ninh là miền Nam sắp giải phóng đến nơi rồi. Khi được lệnh lên đường vào Nam đánh giặc, không khí lạc quan tràn ngập, “rầm rầm rộ rộ" tự động viên nhau "đi nhanh lên! Chậm vào chỉ có nhặt vỏ đạn và ống bơ”. Trên đường mòn Trường Sơn càng gần tới chiến trường càng thiếu thốn đủ thứ, sức khỏe lại cạn kiệt, gặp anh em bạn bè ở chiến trường ra kể chuyện ít giống điều mình hiểu về chiến trường. Anh em “rì rầm” bàn tán về những thông tin mới và trận đánh không thành, thế là cái lăng kính màu hồng được trang bị từ hậu phương dần dần tan biến. Đúng là mấy hôm đầu vào 174 có cảm giác như một đơn vị "bại trận" vì vậy anh em mới khái quát là “rệu rã”.

        Có lẽ trong chiến tranh chẳng có người chỉ huy nào muốn xa rời những phân đội mình đã quen thuộc, đổi lấy một phân đội từ nơi khác mới đến, để rồi phải thêm việc tìm hiểu tác phong tư tưởng của nhau, và mất thời gian giúp cấp dưới làm quen với chiến trường... Tôi cũng không thoát ra khỏi tâm trạng chung ấy, nhưng là nhiệm vụ thì phải xắn tay áo lên mà làm.

        Rất may bộ khung chỉ huy của sư đoàn vẫn nguyên vẹn, và rất ăn ý nhau. Tất cả bộ tư lệnh sư đoàn khá đều tay, là những người có đầy đủ tinh thần, và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của mình. Anh Hoàng Thế Thiện chính ủy là người toàn năng, không chỉ giỏi về chính trị mà còn là người hiểu biết về quân sự, khá sâu những vấn đề có liên quan tới cương vị của mình và rất xứng đáng là nhân vật trung tâm của sư đoàn. Anh Trần Văn Trân là con người luôn luôn lạc quan vui vẻ, nhân hậu, có năng lực về tổ chức huấn luyện và tổ chức công tác hậu cần. Khi đi vắng tôi thường giao cho anh quyền sư đoàn trưởng với niềm tin ấy. Tham mưu trưởng Lê Hữu Đức thường gọi là Đức cụt (bởi anh bị thương cụt một bàn tay từ thời đánh Pháp) là cán bộ dũng cảm, công tác tham mưu giỏi, cách xử trí thông minh...

        Vì vậy dù có một trung đoàn mới (174) nhưng guồng máy sư đoàn vẫn chạy đều. Khi có nghị quyết của đáng ủy sư đoàn về chuẩn bị cho chiến dịch đông xuân 1966 - 1967 là người nào việc nấy. Thiện và Viên lo việc tổ chức giáo dục chính trị tư tưởng, tôi và Trân lo việc tổ chức huấn luyện và chuẩn bị hậu cần. Hữu Đức lo tổ chức đi trinh sát địa hình và tình hình địch trong khu vực dự định mở chiến dịch. Qua kết quả đi trinh sát, chúng tôi sơ bộ phân công nhiệm vụ cho các trung đoàn trên bản đồ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2016, 08:31:09 PM »


2

        Khoảng cuối mùa mưa tôi dẫn cán bộ chính trị, quân sự cấp trưởng từ đại đội trở lên đi trinh sát và giao nhiệm vụ cho từng trung đoàn ngay tại thực địa. Chiến trường Tây Nguyên đang ở thế chủ động, bọn địch quấy phá không đáng kể, nên việc trinh sát địa hình không có gì khó khăn lắm. Thỉnh thoảng lại có trận mưa kéo dầm dề hai ba ngày liền làm cho nhiều đoạn đường mòn lầy lội nhão nhoét, những đoạn dốc đất trơn trượt như đổ mỡ. Cái gậy ở tay mỗi người phải làm việc liên tục mà đôi khi vẫn bị ngã như trời giáng. Ai đó ngã có thể bị đau chút ít, nhưng trong hàng quân thể nào cũng có tiếng hô "tháo đạn đứng dậy” hoặc "chỗ đó mấy mét?"... rồi cười rộ lên. Trời mưa, đáng ghét nhất là sự hoạt động của lũ vắt. Khi có người tới, hàng trăm hàng nghìn con vắt đất, vắt lá như những cái gai nhọn ngẩng đầu đánh hơi. Phát hiện được mục tiêu, lập tức chúng bật tách tách vài cái đã chui vào trong cổ áo, hoặc bám vào bắp chân. Tôi đã sống chiến đấu nhiều năm ở rừng Việt Bắc, Tây Bắc và rừng Lào, chưa nơi đâu lại nhiều vắt như ở rừng Tây Nguyên. Cái của nợ đáng ghét ấy dù chỉ bám vào da mình vài giây thôi, dứt nó ra là khó có thể cầm máu được ngay, có khi máu chảy kéo dài vài giờ liền.

        Ít có dịp đi trinh sát chuẩn bị chiến trường lại nhiều chuyện vui như lần này.

        Rừng Tây Nguyên còn nhiều đàn voi, có con voi cao như cái nhà, chúng cà lưng lên những cành cây cao. Chúng đi tới đâu cũng gây ra ồn ào như một quệt bão, cây cỏ gãy đổ mở theo dấu chân chúng thành một lối dài. Một hôm chúng tôi dừng lại nghỉ đêm ở rừng chuối. Tôi ngồi trước ngọn nến ghi chép những điều thu thập được trong ngày. Một chiến sĩ cảnh vệ gác vào báo cáo:

        - Có đàn voi đi gần.

        Tôi nói:

        - Báo động cho anh em thức dậy đề phòng chúng xông vào chỗ mình.

        Một lát sau có hai chiến sĩ người dân tộc Tày tới đề nghị với tôi:

        - Thủ trưởng cho phép chúng tôi bắn một con làm thức ăn.

        - Không được. Thèm thì chịu vậy.

        Thú thật vài tháng nay thức ăn của chúng tôi chỉ có môn thục1 hoặc khoai dại nấu, bởi vậy nói tới bữa ăn có thịt, dù là thịt voi cũng thèm, nhưng mình là người chỉ huy không thể buông thả được, lỡ có bọn thám báo ở bên cạnh, lộ ra chúng sẽ gọi bom đến.

        Vẫn chuyện thịt voi. Một hôm chúng tôi đang đi bỗng dưng từ trên hàng đầu quân truyền xuống "có thịt voi nhanh lên!". Chẳng hiểu lệnh của ai phát ra giống như lệnh truy kích vậy, hàng quân rùng rùng chuyển động về phía trước. Tôi đến chỗ con voi bị bắn chết, một cảnh tượng vui vẻ lạ mắt hiếm thấy. Người từ trong bụng voi chui ra xách theo những tảng thịt lớn, người chen vai nhau róc thịt trên cái rẻ xương sườn cong cong, người cắm cúi khoét từng mảng thịt trên mông... Lúc tôi đến những thứ ngon nhất đã bị cắt mất, đó là cái vòi và bốn bàn chân. Trên mông con voi có vài vết thương hình nón toe toét máu thịt. Tôi hỏi về vết thương kia, một chiến sĩ đang xốc gánh thịt lên vai trả lời: "Thủ pháo nổ đó. Da voi dày và cứng nếu chỉ có dao không thôi thì chẳng ăn nhằm gì”.

        Vì đông người, mỗi người moi móc một tảng thịt nên chỉ vài giờ đồng hồ là con voi chỉ còn bộ khung và tấm da. Cũng từ chuyện thịt voi ở khu rừng không tên ấy mà trên bản đồ tác chiến của chúng tôi đã có cái tên “Bãi voi" và nói tới "Bãi voi” là gần như cả sư đoàn đều biết.

        Hiếm có chuyến đi trinh sát địa hình nào kỹ hơn thế. Chúng tôi quần đi quần lại trên từng mỏm đá, từng khe suối, và bất kỳ mảnh rừng nào - nơi chúng tôi nghĩ rằng có ý nghĩa chiến thuật của ba dải núi Ngọc Bơ Riêng, Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tang bị bỏ qua. Ba dải núi này có nhiều điểm cao có giá trị khống chế căn cứ Đắc Tô. Từ một điểm cao của Ngọc Rinh Rua, chúng tôi có thể nhìn rõ những mái nhà tôn lấp lánh, sân bay với những đường băng màu đen kẻ thẳng và những chiếc trực thăng đang quạt lên một lớp bụi đỏ mờ...

-----------------
        1.Một thứ khoai nước mọc ở các khe suối.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2016, 08:34:20 PM »


3

         Toàn bộ quyết tâm chiến dịch đã được Đảng ủy Mặt trận B3 thông qua lấy tên “Đắc Tô 1” sẽ diễn ra ở phía tây nam quận lỵ Đắc Tô, cách tây bắc thị xã Công Tum 50 ki-lô-mét, ở khu vực núi cao rừng khộp xen lẫn rừng nứa. Mục đích chiến dịch: tiêu diệt một bộ ăn sinh lực quân Mỹ, thu hút quân Mỹ lên Tây Nguyên càng nhiều càng tốt. Tiêu diệt một bộ phận quân ngụy làm tan rã trung đoàn 42 và 45 ngụy. Yêu cầu cụ thể: cố gắng tiêu diệt một đến hai tiểu đoàn Mỹ và một số đại đội lẻ, tiêu diệt và làm tan rã trung đoàn 42 ngụy, phát triển chiến tranh du kích rộng khắp trên ba tỉnh Tây Nguyên.

        Qua đánh giá tình hình mọi mặt, chúng tôi rất tin mục đích yêu cầu đã nêu trên sẽ trở thành hiện thực.

        Bộ đội Tây Nguyên khá dày dạn và tỏ ra có bản lĩnh cao trong chiến đấu, đặc biệt là sư đoàn 1 đã qua ba lần thử thách đương đầu trực tiếp với quân Mỹ, cả ba lần đều đánh thắng, và trận sau thắng to hơn trận trước. Một yếu tố quan trọng để giành thắng lợi cho trận đánh là "biết địch biết ta trăm trận không nguy". Ai cũng biết rõ rằng Mỹ mạnh hơn ta rất nhiều lần về vật chất vũ khí kỹ thuật. Quy luật chiến tranh là mạnh được, yếu thua. Vậy ta có cái gì mạnh? Qua bao lần đụng đầu với quân Mỹ, chúng tôi thấy quân ta bộc lộ  rõ cái mạnh tuyệt đối về tinh thần, trí tuệ, thể hiện ra cách đánh hết sức linh hoạt, cộng với việc chuẩn bị thật kỹ để phát huy được tối đa mặt mạnh, khắc phục sự nghèo nàn lạc hậu về trang bị và cơ sở vật chất của mình; cái mạnh ấy của ta đã làm hạn chế, có lúc vô hiệu hóa sức mạnh chủ yếu của Mỹ tạo ra sự chuyển hóa: ta mạnh hơn Mỹ trong những trận đánh mấy năm qua. Chiến dịch "Đắc Tô 1” lần này chúng tôi hết sức nghiền ngẫm việc vận dụng kinh nghiệm và phát huy hơn nữa sức mạnh của ta.

        Về tình hình địch trên chiến trường miền Nam: quân số thêm 6 vạn, vũ khí, kỹ thuật Mỹ tăng rất nhanh. Vào cuối năm 1966 quân số Mỹ đã lên tới 45 vạn; tới cuối 1969 không quân lên tới 28 phi đoàn máy bay chiến đấu, chiến thuật và 3.000 máy bay trực thăng; số quân ngụy tới cuối 1969 cũng tăng lên tới 65 vạn... Mỹ đưa quân càng đông vào miền Nam càng tạo ra nghịch lý kho bề chạy chữa.

        Nhà cầm quyền Mỹ hiếu chiến muốn giấu nhân dân Mỹ về mức độ tham gia cuộc chiến tranh, nhưng quân Mỹ vào càng đông thương vong càng lớn và càng không giấu nổi, do đó phong trào chống chiến tranh của nhân dân Mỹ ngày càng mạnh, làm cho nước Mỹ rối ren. Mong muốn của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc là quân Mỹ vào sẽ vực quân ngụy lên, nhưng trái lại từ khi Mỹ vào đông tự lãnh trách nhiệm “tìm diệt”, quân ngụy thành kẻ điếu đóm thụ động. Sự thật trớ trêu, Mỹ chẳng "tìm diệt" được ai mà còn bị bươu đầu sứt trán, tinh thần quân ngụy vốn đã sa sút lại càng sa sút hơn.

        Ở chiến trường Tầy Nguyên có lực lượng của vùng 2 chiến thuật. Ngoài sư đoàn 22 ngụy, có sư bộ binh 4 Mỹ, lữ bộ binh 4 (thuộc sư 25 Mỹ). Tây Nguyên là chiến trường nhạy cảm, khi tình hình biến động có thể thu hút lên khá đông lực lượng cơ động Mỹ.

        Qua vài lần chạm trán với quân ta, quân Mỹ nhất là sư đoàn 4 tỏ ra ngập ngừng thận trọng không còn hung hăng như trước. Về chiến thuật, kể cả chiến lược quân Mỹ đang đi vào ngõ cụt, không có lối thoát.

        Lực lượng của ta ở Tây Nguyên, ngoài lực lượng địa phương của các tỉnh, lực lượng chủ lực cơ động ta có sư đoàn 1, gồm ba trung đoàn bộ binh (66, 320, 174) và các trung đoàn lẻ (trung đoàn 24, 33, 95 và trung đoàn pháo) trực thuộc bộ chỉ huy Mặt trận. Quân ta sĩ khí đang lên và đã tìm ra được cách đánh thích hợp.

        Mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã xong. Sư đoàn tôi ở hướng chủ yếu được tăng cường trung đoàn bộ binh 24 và trung đoàn pháo binh 40. Ngày 30 tháng 10 năm 1967 ở hướng chủ yếu đã chiếm lĩnh trận địa dọc theo bắc, nam đường 18 (từ Đắc Tô, Tân Cảnh chạy sang Lào), chiếm các điểm có giá trị chiến thuật như buôn Nga, Ngọc Dơ Lang, Đắc Mót... Hai hướng phụ cua chiến dịch chiếm lĩnh trận địa từ ngày 15 tháng 10.

        Gần như cùng thời gian ta mở chiến dịch, quân Mỹ cũng triển khai đội hình cuộc hành quân mang tên Mác A-tơ để càn quét phá cuộc tiến công mùa khô của ta.

        Chúng tôi theo dõi khá chặt hành động của địch. Qua các nguồn tin của cấp trên thông báo, qua trinh sát và cả các tin kỹ thuật, từ tháng 9 Mỹ đã vận chuyển cơ sở vật chất hậu cần liên tục bằng đường bộ, đường không lên Plây Cu, số lượng hàng có ngày lên tới 500 - 700 tấn. Mỹ đã lập bộ chỉ huy tiền phương của cuộc hành quân Đắc Tô. Trung tuần tháng 10, một tiểu đoàn Mỹ đã hành quân ra phía Chư-de, Lắc-mê... thuộc tỉnh Đắc Lắc; một lữ thuộc sư 4 Mỹ hành quân ra khu vực Chư Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Ngày 30 tháng 10 một tiểu đoàn thuộc lữ 1 sư 4 Mỹ ra chốt Ngọc Rinh Rua. Cùng thời gian chúng triển khai nhiều trận địa pháo ở Đắc Mót, Plây Cần, đồng thời điều lữ 173 Mỹ từ Phú Yên lên đóng tại An Khê. Các hướng hành quân thăm dò của địch đều chạm trán ta. Các hướng phối hợp của chiến dịch (từ 15-10 – 30-10) đã đánh nhiều trận phục kích, pháo kích phá kho tàng cầu cống trên đường 14, đường 19 và các căn cứ ở Đức Cơ, Gia Lai, Đắc Lắc. Địch vẫn chưa tìm thấy hướng hoạt động của sư đoàn 1.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #24 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2016, 01:50:00 PM »


4

        Ngày 30 tháng 10, tôi và chính ủy Hoàng Thế Thiện cùng bộ phận chỉ huy nhẹ sắp sửa lên đường ra phía trước. Mọi người đã xốc ba lô lên vai, thấy tiếng máy bay phản lực ào qua, tiếng bom nổ ình ình ở phía đông cách chỗ chúng tôi khoảng ba, bốn cây số, rồi tiếp đến tiếng ồn ào của động cơ trực thăng tưởng như vỡ cả bầu trời, dễ chừng có tới vài chục chiếc, chúng nhào xuống có vẻ như đổ bộ rồi lên khá nhanh. Tôi chống gậy nhìn lên khoảng trống của vòm lá rừng, cho thấy làn mây trắng mỏng vắt ngang nền trời xanh. Tiếng động cơ máy bay và bom đạn dội vào tôi nhiều cảm nghĩ lo lắng và hy vọng.

        Tôi nói với anh Thiện:

        - Nó đổ xuống đây là phúc cho mình đỡ phải khêu ngòi lôi thôi.

        Quả thật như vậy, suốt từ lúc đặt nét bút để làm kế hoạch chiến dịch tôi đã lo đến việc khêu ngòi, đến lúc này vẫn còn lo, làm sao kéo quân Mỹ ra đúng ý định của mình. Chúng tôi đã dùng tiểu đoàn 6 trung đoàn 24 tăng cường một đại đội sơn pháo, một trung đội ĐKZ chốt trên một số điểm cao Ngọc Rinh Rua, Ngọc Kông Rinh, Ngọc Tang, Ngọc Bơ Biêng phía tây nam Tân Cảnh. Các đơn vị này có nhiệm vụ dùng pháo, cối, khống chế sân bay Tân Cảnh (máy bay hạng nhẹ thường lên xuống sân bay này) gây sức ép buộc quân Mỹ phải phản ứng bằng cách nhảy ra nhổ mấy "cái gai" nhức nhối ấy. Chỉ cần chúng nhảy ra đánh nhau với tiểu đoàn 6, chúng tôi sẽ có cách dẫn chúng vào trận đồ đã bày sẵn.

        Tiếng máy bay trực thăng vẫn chưa dứt, tôi nói với chủ nhiệm trinh sát sư đoàn:

        - Cho một toán trinh sát mang theo bộ đàm ra trinh sát nơi chúng vừa đổ bộ, kết quả thế nào báo cáo ra sở chỉ huy tiền phương cho tôi biết.

        Chúng tôi đi một ngày mới đến điểm cao 1.577 nơi đặt sở chỉ huy tiền phương, nằm giữa khu vực trận địa của trung đoàn 66 và 174, cách Ngọc Rinh Rua khoảng 3 ki-lô-mét đường chim bay.

        Sở dĩ tôi và chính ủy Thiện phải "nằm” ở sở chỉ huy tiền phương, cũng vì các việc "châm ngòi” dụ địch vào đúng ý định của mình. Bởi quan niệm sở chỉ huy tiền phương là nơi điều hành một bộ phận đang nóng bỏng nhất, còn sở chỉ huy cơ bản nơi điều hành toàn bộ diễn biến của chiến trường thường do cấp trưởng nắm, nên anh Trân phó tư lệnh muốn giành phần đi tiền phương “vất vả nguy hiểm hơn". Trong chiến đấu không phải việc gì cũng có thời giờ bàn cho ra nhẽ mới làm, tôi nói với anh Trân một câu ngắn: "Ông ở phía sau nắm sở chỉ huy cơ bản, nơi đó cũng không ít bom đạn đâu” rồi chống gậy lên đường.

        Vừa đến nơi, buổi tối hôm đó tôi nhận được báo cáo của chủ nhiệm trinh sát: "Anh em đã đến nơi địch đổ bộ buổi sáng. Chúng đổ bộ giả không để lại dấu vết gì". Tôi với anh Thiện trao đổi với nhau và kết luận: Địch vẫn chưa phát hiện được hướng hoạt động của sư đoàn 1 nên vẫn tích cực thăm dò.

        Đến ngày 3 tháng 11 toàn sư đoàn đã chiếm lĩnh khu vực phía nam I-a-lố-kơ-ram. Trung đoàn 66 chiếm lĩnh Ngọc Cam Liệt, Đắc Vây Côn. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 174 chiếm lĩnh sườn tây điểm cao 875. Điểm cao này hết sức quan trọng, nó là quyết chiến điểm của chiến dịch. Tôi đã cùng trung đoàn trưởng trung đoàn 174 Đàm Văn Ngụy trao đổi với nhau khá kỹ, cả những giả định tình huống chiến thuật, ở tại thực địa 875. Tôi nói thêm để củng cố lòng tin cho anh Ngụy: "Anh yên trí. Tôi sẽ điều thêm đúng 1 tiểu đoàn địch vào 875 cho anh, còn việc tiêu diệt nó là thuộc về trách nhiệm của anh đấy”. Ngụy cam đoan: “Nếu nó đã vào tới đây tôi sẽ không cho nó thoát đâu, anh hãy tin ở tôi". Lúc đầu ta đưa một lực lượng nhỏ phòng ngự trận địa kiên cố trên điểm cao. Do những trận đánh của các đơn vị ở phía trước dẫn dắt địch, chúng có thể đổ bộ xuống mấy cái nương ở sườn 875, khi đổ bộ xuống rồi tất yếu chúng sẽ mò lên chiếm điểm cao, và mò lên gặp "chốt” của ta ngăn chặn, lúc đó ta dùng lực lượng lớn của trung đoàn vận động tới tiến công vào sườn phía sau. Cứ như thế có thể diễn ra với ba trận "vận động kết hợp chốt", diệt gọn một hai tiểu đoàn địch, rồi kết thúc chiến dịch. Tôi rất tin ở đội ngũ cán bộ của trung đoàn 174 đã qua nhiều thử thách sẽ làm cho chương kết của chiến dịch này rực rỡ hơn.

        Mọi việc diễn ra trước ngày N trôi chảy, đùng một cái có tin ngày 2 tháng 10 một lính cảnh vệ của sư đoàn vào đầu hàng địch.

        Công việc thường ngày cũng căng lắm rồi, cái tin ấy làm đầu tôi muốn nổ tung ra. Không hiểu tên “cảnh vệ" ấy biết những gì, nó sẽ cung cấp tin tức gì cho địch, bọn Mỹ sẽ đối phó thế nào. Cái gì? Thế nào?... còn chưa rõ nhưng điều chắc chắn, nếu nơi nào đó đã phát hiện được lực lượng của sư đoàn 1 thì bom và đạn pháo sẽ trút xuống hơn sung rụng. Việc phải làm gấp là đôn đốc các đơn vị làm công sự và báo cáo ngay mọi hoạt động của địch về sở chỉ huy tiền phương.

        Công sự ngay ở sở chỉ huy của chúng tôi cũng chỉ là những hố cá nhân lộ thiên nông toẹt. Không thể đòi hỏi anh em công binh làm hơn thế được. Sở chỉ huy sư đoàn chỉ có một trung đội công binh làm “trăm thứ bà giằn” nào công sự cho sở chỉ huy cơ bản, chỉ huy tiền phương, làm đường, rồi cả vận tải cũng đến họ.

        Ngày 3 tháng 11 vừa mở mắt ra đã nghe tiếng máy bay, tiếng bom và đạn pháo nổ ở bốn xung quanh, nhất là phía Ngọc Dơ Lang, Ngọc Bơ Biên, Ngọc Nhơn.

        Đứng nhìn hầm hố của mình sắp tới giờ thử thách, tôi nói đùa với anh Thiện:

        - May nó thì nó ăn, may ta thì ta ăn!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #25 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2016, 01:56:51 PM »


5

        Từ ngày 3, độ nóng của chiến sự ở khu vực sư đoàn 1 tăng lên rất nhanh.Trong ngày mồng 3 địch đổ hai đại đội hộ binh Mỹ (thuộc sư đoàn 4) xuống Ngọc Dơ Lang, Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Nhơn. Các “chốt” của tiểu đoàn 6 ở các điểm đó đã nổ súng.

        Ngày 4 tháng 11 lữ 173 Mỹ từ An Khê đổ xuống tăng cường cho Tân Cảnh. cùng ngày tiểu đoàn 3 thuộc lữ 1 Mỹ cũng đến Tân Cảnh.

        Ngày 5 tháng 11 địch chuyển một lữ dù từ Phú Bài tới Đắc Tô.

        Ngày 6 tháng 11 lữ 173 Mỹ hành quân bằng ô tô từ Tân Cảnh lên Plây Cần vào Ngọc Cam Liệt, một bộ phận đổ xuống điểm cao 823.

        Hoạt động của địch mấy ngày qua biểu lộ địch đã nắm được khu vực mở chiến dịch của sư đoàn 1.

        Tôi liên tục nhận được tin các trận đánh của các đơn vị phía trước. Ngày 4 tháng 11 một tiểu đội (thuộc tiểu đoàn 6, trung đoàn 320) chốt trên điểm cao tây Ngọc Bơ Biêng đã đánh lui tám đợt xung phong của địch, chúng phải bỏ xác tại trận, ta thu 5 tiểu liên, 1 máy vô tuyến điện, tiêu hao nặng 1 đại đội (thuộc sư đoàn 4 Mỹ). Ngày 6 tháng 11 do nắm được ý định của địch đánh vào Ngọc Cam Liệt, đại đội 9 (tiểu đoàn 9, trung đoàn 66) đã thực hành chiến thuật “vận động kết hợp chốt" tiêu diệt gần hết hai đại đội thuộc lữ 173 Mỹ. Do ham truy kích, anh em không để người giữ "chốt" nên đã bị lực lượng chi viện của địch chiếm mất "chốt". Cùng ngày địch đổ xuống Ngọc Dơ Lang rồi tiến xuống điểm cao 724, tiểu đoàn 6 (trung đoàn 320) chặn đánh diệt gần 100 tên, số sống sót cụm lại rồi đổ tiếp thêm hai đại đội nữa.

        Diễn biến của chiến dịch sớm hơn dự định (dự định ngày 15 tháng 11 hướng chủ yếu mới nổ súng) chưa kịp "châm ngòi" địch đã ra. Tuy vậy không ảnh hưởng gì lớn tới kế hoạch chiến dịch của ta, chúng tôi chỉ điều chỉnh đội hình lại một chút là phù hợp với tình hình thực tế.

        Nói chung, ta vẫn giữ thế chủ động, các cánh quân địch từ khi nống ra và đổ xuống đều bị ta chặn đánh thiệt hại. Cho tới ngày 5 tháng 11 địch đã bị tiêu diệt ba đại đội, tiêu hao hai tiểu đoàn.

        Tôi nhận định: để tránh bị tiêu diệt và buộc ta phải đối phó, bọn Mỹ sẽ tiếp tục đổ quân vào sâu thêm. Ta cần tổ chức tranh thủ đánh một số trận “vận động kết hợp chốt”, đồng thời tổ chức đánh một số trận tập kích khi địch cụm lại.

        Tôi hạ lệnh: trung đoàn 174 nếu địch đổ xuống điểm cao 875 hoặc xung quanh nó, lập tức tổ chức xuất kích đánh vào sườn đội hình địch. Lệnh cho tiểu đoàn 6 (trung đoàn 24) ở phía trước kiên quyết giữ vững trận địa kìm chân địch. Đề nghị với mặt trận cho các trung đoàn 33 và 95 hoạt động mạnh hơn ở hướng thu hút.

        Các cuộc đụng độ với mật độ, lực lượng ngày một lớn và khẩn trương hơn. Tối ngày 7 ta pháo kích vào điểm cao 724. Ngày 8 ta dùng tiểu đoàn 4 (trung đoàn 320) tập kích tiêu diệt tiểu đoàn 3 (lữ 1, sư đoàn 4 Mỹ) đóng trên điểm cao 724. Diễn biến tóm tắt: 13 giờ trong ngày tiểu đoàn 4 hành quân chiếm lĩnh trận địa. 16 giờ hai đại đội địch nống ra phía tây cao điểm 724. Phát hiện sớm được hành động của địch, trung đoàn 320 linh hoạt chuyển cách đánh, sử dụng tiểu đoàn 6 phối hợp nhưng khi vào trận chỉ có tiểu đoàn 4 đánh vận động diệt tại chỗ 150 tên (thiệt hại nặng 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 3, lữ 1, sư đoàn 4 Mỹ), bắn rơi hai trực thăng, địch phải bỏ xác chạy về điểm cao 724.

        Hoạt động của ta trong ba ngày 8, 9, 10 tháng 11 quyết liệt nhất là khu vực "chốt" của tiểu đoàn 6 (trung đoàn 24). Đại đội 11 (tiểu đoàn 6) đánh lui nhiều đợt xung phong diệt khoảng 120 tên địch. Tiểu đoàn 6 sử dụng "vận động kết hợp chốt" đánh lui ba đợt xung phong của địch, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1 (lữ 1 Mỹ), diệt khoảng 300 tên. Ta thương vong 32 người.

        Tới đêm ngày 7 tháng 11 tiểu đoàn 6 (trung đoàn 24) được lệnh rút bỏ hai "chốt" phía tây Ngọc Bơ Biêng để nhử địch vào sâu cao điểm 875 còn giữ hai “chốt".

        Cũng trong ngày 7 tháng 11, tại điểm cao 1.089 ta có một tiểu đội chốt ở đó đã đánh lui năm đợt xung phong diệt khoảng 70 tên, thu một số súng, nhử địch vào sâu.

        Suốt từ ngày 3 tháng 11, ngày cũng như đêm hầu như không giờ phút nào vắng tiếng máy bay, tiếng bom đạn, và ngày đêm nào cũng có vài ba đợt bom B.52 rải xuống như sấm rền trong khu vực đội hình của ta. Mỗi ngày khi mặt trời vừa xuống núi là từng chùm pháo sáng do máy bay địch rải bay lơ lửng, hết đợt này đến đợt khác suốt đêm soi rõ từng ngọn cỏ, từng cành lá rơi. Tôi có cảm giác mật độ bom đạn địch vung vãi tưởng như có thể phủ khi cả một vùng rừng núi rộng lớn; nhiệt độ chiến trận mỗi lúc thêm nóng bỏng, có cái gì đó giống như chiến dịch Plây-me và thung lũng Ia-đrăng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #26 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2016, 01:57:08 PM »


        Ngày 11 tháng 11 địch dùng tiểu đoàn 4 (thiếu 1 đại đội) thuộc lữ 173 từ điểm cao 823 nống ra phía tây. Tiểu đoàn 7 (trung đoàn 66) đã bố trí sẵn ở hướng đó. Nhận được tin địch ra, trung đoàn 66 cho tiểu đoàn 8 xuất kích phối hợp với tiểu đoàn 7. Sau một giờ bốn mươi lăm phút ta đã tiêu diệt gọn cánh quân này.

        Phán đoán địch sẽ đổ quân xuống bãi trống ở cách nơi vừa xảy ra trận đánh khoảng hơn 1.000 mét để chi viện cho tiểu đoàn 4 Mỹ và giải quyết hậu quả, trung đoàn 66 đã nhanh chóng đưa tiểu đoàn 8 về ngay nơi đó phục kích. Quả nhiên tình huống diễn ra đúng như vậy. Khoảng ba bốn chục chiếc trực thăng chở hai đại đội của tiểu đoàn 1 (thuộc lữ 173) tới, tiếng máy bay nổ inh tai nhức óc, vài chiếc đã tiếp đất, vài chiếc đang treo lơ lửng trên không cách mặt đất vài trăm mét, còn hàng chục chiếc khác đang vòng lượn xuống thấp dần. Tiểu đoàn 8 đã dùng toàn bộ hỏa lực liên thanh đồng loạt bắn vào máy bay địch. Ngay từ phút đầu đã có nhiều máy bay bốc cháy. Kết quả 7 chiếc rơi và bốc cháy tại chỗ, hàng chục tên Mỹ chết thui trong máy bay. Số quân đã ra khỏi máy bay hoảng hốt tháo chạy. Anh em tiểu đoàn 8 truy kích tiêu diệt gần hết, hàng trăm xác địch bỏ lại ngổn ngang trên trận địa.

        Buổi tối, qua đài thu thanh bán dẫn, tôi nghe đài BBC bình luận, đại ý: lữ dù 173 Huê Kỳ là một đơn vị có truyền thống gan góc, một đơn vị sừng sỏ chưa hề biết thua trận là gì, lần đầu tiên đã chịu tháo chạy trước quân Việt cộng.

        Sau trận đánh trên địch lại đổ quân xuống điểm cao 845 để đỡ đòn.

        Cùng ngày 11 ở hướng trung đoàn 320, địch trên điểm cao 724, đại đội C nống ra hỗ trợ cho tiểu đoàn 4 (lữ 173). Tiểu đoàn 5 (trung đoàn 320) của ta đã vận động tấn công vào 1 đại đội Mỹ, tiêu diệt gần trăm tên và hạ 2 trực thăng. Số còn lại lui về điểm cao 724.

        Ở hướng trung đoà n 174, cả 3 tiểu đoàn đã hoàn thành công tác chuẩn bị. Tiểu đoàn 3 đã vào chốt ở các điểm cao 875, 882 và 943.

        Sở chỉ huy tiền phương chúng tôi nhận định: Trung đoàn 66 (thiếu một tiểu đoàn vừa rồi đánh rất tốt. Một trận vừa đánh địch tiến công bằng bộ binh vừa đánh quân đổ bộ bằng trực thăng diễn ra khoảng ba giờ đồng hồ đã tiêu diệt gần 5 đại đội Mỹ, chứng tỏ việc bố trí đội hình trung đoàn 66 (ở tuyến trung gian) trên địa hình đó là thích hợp.

        Lực lượng của ta xuất hiện như thế là vừa phải, không sớm hoặc muộn quá, vì vậy đã kéo được lực lượng địch vừa sức ta và địch vào sát với dự kiến của ta. Ta mới dùng hai trung đoàn (66 và 320), còn trung đoàn 174 "gói giấy bóng” dành cho những trận đánh then chốt ở quyết chiến điểm.

        Mười giờ ngày 12 tháng 11, pháo binh và máy bay B.52 bắn phá ném bom dữ dội vào khu vực đội hình của trung đoàn 320 và 66 để yểm trợ cho hai đại đội Mỹ vào giải quyết hậu quả trận đánh của ngày hôm trước, đồng thời thăm dò.

        Tiểu đoàn 3 (trung đoàn 174) phát hiện địch hành quân gần nơi ém quân của mình, đã chủ động xuất kích tiêu diệt gọn đại đội A Mỹ đi đầu. Đại đội địch hành quân kế đó thấy "thằng" đi đầu bị diệt. Chúng quay đầu vội vã chạy về cụm ở điểm cao 845.

        Chúng tôi chủ trương cho bọn địch ở 845 sống yên ổn để làm mồi nhử địch vào sâu hơn. Bởi 845 không có giá trị gì về chiến thuật nếu muốn giữ 845 địch nhất định sẽ chiếm các điểm cao 882 và 875, vì mỗi điểm cao chỉ cách nhau khoảng hơn một trăm mét có thể khống chế lẫn nhau.

        Một lần nữa bọn Mỹ lại bị ta dắt mũi. Ngày 13 và ngày 14 bọn chúng từ điểm cao 845 tiến sang chiếm điểm cao 882. Tiểu đoàn 3 (trung đoàn 174) đã sử dụng bộ phận chốt ở 882 đánh lui nhiều đợt xung phong của địch. Hai ngày chiến đấu có đôi bên đều phải chịu sự ác liệt như nhau. Có lần máy bay địch phải rải bom trùm lên đội hình của chúng. Tới cuối ngày 14 địch phải rút quân trở về 845. Trong hai ngày chiến đấu, tiểu đoàn 3 (trung đoàn 174) đã diệt 220 tên Mỹ, bắn rơi một máy bay và thu một số súng. Số thương vong của ta không đáng kể.

        Chiều 14 trung đoàn 320 dùng cối 120 ly pháo kích vào bọn địch cụm ở điểm cao 823. Tối 14 tôi chỉ thị cho trung đoàn 174, cho bộ phận bám địch ở điểm cao 823 thuộc tiểu đoàn 3 rút để nhử địch vào quyết chiến điểm 875.

        Cho đến hôm nay tình thế cả đôi bên đã có nhiều đổi thay. Quân Mỹ thiệt hại khá nặng và đang lâm vào tình trạng sa lầy thế thủ để cứu nguy cho sư đoàn bộ binh 4 và lữ 173. Mỹ phải tức tốc điều thêm một lữ của sư kỵ binh bay và chiến đoàn dù 30 đến Đắc Tô.

        Về phía ta, tình hình phát triển rất thuận lợi, khớp với dự kiến trong kế hoạch tác chiến; từng bước vừa tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch vừa dẫn dắt chúng theo ý ta vào trận địa đã bố trí sẵn. Còn có nhược điểm chưa có trận tập kích nào tốt; chưa coi trọng việc bắn máy bay, nhất là máy bay lên thẳng.

        Chúng tôi đề nghị về Bộ chỉ huy Mặt trận: nhân cơ hội địch khốn quẫn ở phía trước ta đẩy mạnh hơn nữa ở các hướng thu hút, đẩy mạnh hoạt động trong lòng địch, tập kích các hậu cứ, đánh giao thông...

        Trong thế thắng, sư đoàn 1 vừa đánh vừa tranh thủ củng cố lực lượng, bổ sung vũ khí đạn dược tiếp tục tấn công, với quyết tâm đợt tới tập trung cả ba trung đoàn 66, 320, 174 tiêu diệt lữ 173 Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #27 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2016, 02:04:50 PM »


6

        Bước vào đợt 2 (từ 17 đến 22 tháng 11) chúng tôi di chuyển sở chỉ huy tiền phương về gần sát với sở chỉ huy trung đoàn 174 cho tiện việc liên lạc chỉ huy. Phạm vi chiến trường lúc này đã thu hẹp, cả địch và ta đều dồn lại xung quanh điểm cao 875. Tôi gặp anh em cán bộ trung đoàn 174, mọi người tỏ ra lạc quan. Anh em nói: "Ừ, thì ra bọn Mỹ cũng dễ sai khiến...".

        Từ ngày 17 tháng 11 địch lần lượt tung vào trận hết lữ 173, phần lớn sư đoàn 4, trung đoàn 42 ngụy, chiến đoàn dù ngụy, sau đó lại tiếp thêm lữ kỵ binh bay 1 (tổng cộng tới 16 tiểu đoàn: 12 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn ngụy).

        Trong ngày 17 ta pháo kích vào hai trận địa pháo của địch, phá hỏng một số pháo, diệt khoảng năm mươi đến sáu mươi tên địch.

        Ngày 18 địch đổ nốt hai đại đội còn lại của lữ 173, bọn này tiến lên điểm cao 882. Phát hiện địch, ta sử dụng tiểu đoàn 8 (trung đoàn 66) tăng cường một đại đội "vận động kết hợp chốt” diệt khoảng 90 tên thu một số súng. Vì công tác chuẩn bị chưa tốt, nên trận đánh không dứt điểm. Địch lui về điểm xuất phát, rồi cụm lại. Ta chuyển cách đánh vận động sang tập kích.

        Cùng ngày tiểu đoàn 2 (lữ 173 Mỹ) tiến lên 875 gặp bộ phận "chốt". Anh em đã chặn đánh diệt 90 tên, thu một số súng. Địch bỏ xác tại trận, số còn lại lui về chỗ cũ.

        Bộ tư lệnh chúng tôi nhận định: địch đã xuất hiện tiểu đoàn 1 và 2 thuộc lữ đoàn 173 ở quyết chiến điểm. Đây là những đơn vị cuối cùng của lữ 173 mà ta đang chờ đợi, thời cơ thực hiện quyết tâm đã tới.

        Ngày 19 và 20 địch tập trung pháo, máy bay bắn phá dữ dội. Sáng 19 suốt từ 7 giờ đến 9 giờ 45 phút, sau trận pháo, bom cấp tập vào điểm cao 875, đất đá trở thành cát bụi, tưởng như một con kiến cũng không sống nổi, lúc đó quân Mỹ mới xông lên. Nào ngờ chúng vừa lóp ngóp gần tới đỉnh đã bị một trận bão đạn liên thanh, lựu đạn quất vào mặt. Chịu không nổi, chúng vội vàng rút lui không kịp lấy xác đồng đội. Lui xuống củng cố lại tổ chức, chúng lại tấn công tiếp. Trong hai ngày chúng liên tục bảy lần xung phong và cũng bảy lần thất bại.

        Đàm Ngụy nói qua điện thoại với tôi:

        - Xác địch và những tên bị thương nằm la liệt ngay cạnh mép chiến hào rải dài xuống các hố bom đến gần 100 tên.

        Tôi nói với Ngụy:

        - Như vậy càng tốt, số thương vong đó chứng tỏ chúng lên chỉ khoảng hai đại đội. Báo anh em "chốt” khống chế không cho chúng lấy xác, buộc chúng muốn giải quyết thương vong phải mở cuộc tấn công nữa.

        Quả nhiên địch mở đợt tấn công nữa. Nghe tiếng súng liên thanh AK trên chốt nổ, và tiếng trên thanh M.16 lép bép đáp lại, tôi gọi điện nói với Nguy:

        - Anh cho sử dụng tiểu đoàn 1 và 2 do anh trực tiếp chỉ huy đánh vòng sườn phía sau địch.

        Tiếng rú của đủ loại máy bay, tiếng bom cũng đủ loại, bom phá, bom bi, bom na-pan và những loạt dài đạn 20 ly, 12 ly 7 nổ. Chúng chưa chịu từ bỏ việc chiếm 875. Xen kẽ trong tiếng bom nặng nề, có tiếng súng liên thanh cỡ nhỏ nổ chồng chéo nhau. Tôi phán đoán đơn vị ta vận động ra đã gặp địch, và chỉ vài phút sau tôi đã nghe tiếng của trưng đoàn trưởng Nguy trong máy vô tuyến: Chúng tôi đã gặp tiểu đoàn 2 Mỹ. Các tiểu đoàn của ta đã thực hiện đúng phương án.

        Trong trận đánh, thỉnh thoảng tôi và Ngụy lại gặp nhau qua hữu tuyến. Ngụy báo cáo tình hình diễn biến tóm tắt, tôi động viên và nhắc nhở anh em cách đánh. Trận đánh kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ mới kết thúc. Ta đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn 2 thuộc lữ 173, thu toàn bộ vũ khí.

        Sau trận đánh gặp Ngụy qua máy hữu tuyến tôi vẫn nhắc lại lệnh: "chốt” phải tích cực khống chế không cho địch lấy xác.

        Mỹ như con bạc khát nước, tiếp tục ném quân vào khu vực 875. Ngày 20 tháng 11 một bộ phận của sư đoàn kỵ binh bay đổ cách xa 875 khoảng sáu trăm mét. Hồi 14 giờ có 25 tên lò dò ra trinh sát xem lực lượng của ta còn hay đã rút, bị lực lượng ta diệt gọn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #28 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2016, 02:05:24 PM »


        Máy bay trực thăng của chúng kéo đàn kéo lũ đến tầng trên tầng dưới rợp cả vùng trời 875. Chúng tôi đoán trước, thể nào địch cũng đổ quân, nên đã bố trí hỏa lực khống chế các bãi đổ bộ. Mỗi lần máy bay địch sà xuống thấp lọt vào tầm bắn có hiệu quả của các loại súng liên thanh, là lúc những loạt đạn các cỡ lao ra bám riết lấy chúng, và mỗi lần như vậy chưa kịp đổ quân đã rụng xuống vài chiếc. Kể từ 14 giờ cho đến tối ngày 20 địch không đổ được một tên lính nào xuống đất, mà đã rơi tại trận 8 chiếc trực thăng.

        Ngay sau ngày hôm đó tướng Oét-mo-len đã phải thừa nhận: Ngày 20 là một ngày quyết liệt (bi thảm) của lữ đoàn 173, suốt ngày máy bay lên thẳng không tiếp đất được.

        Cái thông lệ của quân Mỹ: Khi chuẩn bị tiến công, khi phát hiện được lực lượng đối phương và cả khi thua trận nữa, là các loại bom, pháo.. thả sức bắn phá vào khu vực dự định.

        Ngày 21 tháng 11 chúng dành riêng cho "chốt 875" mười lăm lần tốp máy hay phản lực tới oanh tạc.

        Ở sở chỉ huy tiền phương, anh em công binh làm một đài quan sát trên một ngọn cây, từ đó có thể quan sát phần lớn điểm cao 875. Thấy tiếng bom nổ rền không lúc nào ngớt ở phía 875, tôi trèo lên đài quan sát đưa ống nhòm nhìn về phía đó. Thật khó có thể tưởng tượng nổi, sau khoảng nửa ngày bom đạn đã làm thay đổi địa hình khu vực này đến như vậy. Hồi chúng tôi tới đây trinh sát cả vùng rộng "875" là rừng le rừng nứa lẫn rừng cây rậm rạp, bây giờ màu xanh bị lột sạch, trơ ra màu đất đỏ hoẻn như máu. Anh em trên "chốt" phải dùng cành cây cháy để ngụy trang. Nhiều đoạn chiến hào đã bị san phẳng.

        Khoảng 17 giờ một tiểu đoàn địch lại tấn công lên "chốt”. Dọc đường xưng phong, địch bị ta tiêu hao khá nặng, nhưng cuối cùng chúng cũng chiếm được một đoạn chiến hào. Trận đánh giáp lá cà giành đi giật lại từng tấc đất, diễn ra kéo dài mấy giờ liền rất quyết liệt. Đêm hôm đó cả đôi bên cùng mệt mỏi rã rời, họ nằm ngủ cách nhau vài chục mét.

        4 giờ sáng ngày 22 ta mở một trận phản kích dùng lựu đạn, tiểu liên đẩy địch xuống và giành lại được đoạn chiến hào.

        Khoảng 9 giờ địch xung phong chọc thủng trận địa “chốt", chúng lại chiếm được một đoạn chiến hào, và trận huyết chiến giáp lá cà lại diễn ra quyết liệt như chiều hôm trước. Tôi xin giới thiệu bài của hai nhà báo là Cờ-rít-tô-pơ và Đôn-nam-ly ngày 23 tháng 11 năm 1967 đã mô tả về trận đánh ác liệt trên đồi 875 với đầu đề "Nỗi kinh hoàng của bọn lính dù Mỹ ở Đắc Tô” do báo Quân đội nhân dân số 2362 đăng lại ngày 23 tháng 12 năm 1967: "Tuần trước tiểu đoàn 2, trung đoàn 503 của lữ đoàn dù 173 đã gặp địch ở cách căn cứ hỏa lực số 16 của họ chưa đầy 1.000 mét và đã mất cả tuần lễ để đẩy (!) kẻ địch lên một mỏm đồi không tên đẫm máu.

        Mỏm đồi này thậm chí không có tên trên các bản đồ của lục quân vì nó chỉ là một yên ngựa để họ lên mỏm núi cao hơn ở phía tây.

        Đến thứ bảy (18 - 11), tiểu đoàn 2, trung đoàn 503 kéo xuống thung lũng, vượt qua một con suối rộng và bắt đầu rút về. Lúc đó mục tiêu của họ ít nhất cũng có một tên, hoặc đúng hơn là một con số… đồi 875. Đối với những người của tiểu đoàn 2, ngọn đồi đó đã trở thành một ngọn đồi chết tiệt.

        Sáng chủ nhật (ngày 19 - 11) họ tiến lên ngọn đồi 875. Những người đi đầu của đại đội C vung những con dao dài mở đường chặt những cây tre nằm ngang lối đi. Mọi người đều sợ hãi nhưng họ vẫn tiến lên, cố gắng lên đến đỉnh đồi trước khi trời tối...

        Đại đội C đã gặp phải trận mưa đạn mạnh tới mức chưa bao giờ thấy. Súng tự động đã bắn gục những cây tre trước mặt và đạn đại bác không giật đã nổ vào binh lính làm cho họ không còn con đường nào khác là rút lui.

        Người bị thương đầu tiên là binh nhất Phi-líp Éc-man, 20 tuổi, bị một số mảnh đạn vào chân và vào sườn... ba ngày sau, mắt mờ, người đau, mặt mũi râu ria xồm xoàm và đỏ bừng bừng, Éc-man kể về trận đánh như sau: "Trong khi chúng tôi đang trèo lên ngọn đồi thì chúng bắn vào chúng tôi. Lạy chúa, chúng ở mọi nơi, ở công sự và bám vào cây và vào mọi thứ. Chúng tôi cố leo lên chỗ chúng nhưng chúng tôi không động tới chúng được. Sau đó chúng tôi được lệnh rút lui".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2016, 05:39:21 AM »


        Trong khi đại đội C bò được vài thước xuống sườn đồi, kéo theo những người bị chết và bị thương của đơn vị và cố gắng đào bới những cái hố nông để tránh đạn thì đại đội D, cánh đi giữa của ba đại đội này bắt đầu bị ăn đạn từ bên trái bắn tới. Đồng thời cánh dưới, đại đội A bị tấn công mạnh từ phía sau.

        Đạn súng cối rơi xuống những người thuộc đại đội A khi họ quay lại để đánh trả cuộc tấn công và chuyên viên bốn Mi-ne-nu-đa 20 tuổi, bị một số mảnh đạn nhưng vết thương không nặng lắm. Anh ta không còn nhớ rõ những chuyện gì đã xảy ra mấy giờ sau. Anh kể: "Người ta hô: Tiến lên đồi, tiến lên ngọn đồi chết tiệt này! Nhưng chúng tôi không thể tiến lên được. Chúng tôi bị bao vây và chúng tôi bị bắn từ tứ phía. Cuối cùng chúng tôi gặp được đại đội D nhưng vẫn còn 30 người mất tích.

        Ba mươi người này thuộc một trung đội của đại đội A bị cắt đứt với đơn vị ngay trong những phút đầu của trận đánh. Tới ngày nay họ vẫn còn mất tích và không ai biết họ phải chiến đấu bao lâu hoặc họ đã bị chết như thế nào.

        Đại đội A đánh để mở đường lên đồi. Đại đội C đánh để mở đường xuống và ba đơn vị đã lập vòng đai bảo vệ ở ngay khoảng giữa sườn đồi 875. Chu vi phòng thủ này ngang dọc 50 mét. Ba trăm người sống và chết của tiểu đoàn 2 này tụ tập lại giữa những hàng cây và gọi đại bác cứu viện, người nọ sát người kia, không phân biệt được là ai sống, ai chết. Ngay trong đêm đó, nhiều người bị thương đã chết. Sau đó một người kể lại rằng: "Chúng bắn chúng tôi bằng súng cối và đại bác không giật 57 mm suốt đêm, và mọi người đều cố gắng chui xuống đất. Mỗi lần cố gắng đào công sự thì người ta lại đụng xẻng vào một người nào đó. Xác chết nằm ngổn ngang".

        Các máy bay lên thẳng tải thương cố hạ xuống để chở thương binh, nhưng chu vi phòng vệ này đang bị tấn công, tám máy bay đã bị hắn rơi, cố gắng này phải từ bỏ. Phải mở một nơi khác cho máy bay lên thẳng hạ ở khu rừng rậm phía dưới sườn đồi và thương binh được tải đi ở đó.

        Đối với những người của tiểu đoàn 2 thì trận vô phúc nhất là trận ngày hôm sau. Suốt đêm súng ở các công sự trên đỉnh đồi 875 bắn xuống như mưa, đến tảng sáng thì máy bay được gọi đến tấn công vào các vị trí địch. Máy bay bay lượn liên tục trên đầu cứ 15 phút lại có một đợt oanh tạc cách chu vi bị bao vây này có 50 mét. Tiếp đó, xảy ra một sự tính toán nhầm lẫn nghiêm trọng. Một máy bay chiến đấu F.100 bay qua với tốc độ 300 dặm một giờ, thả một quả bom phá 500 pao (chừng 250 ki-lô-gam) vào giữa chu vi này.

        Quả bom nổ ngang ngọn cây và tạo ra một trận mưa gang thép xuống vùng này. Binh nhất Hay-ơ, 23 tuổi, kể lại rằng "nhiều người đã bị chết vì quả bom này. Bom nổ tung những người chết và bị thương khắp nơi. Lạy chúa, thật là kinh khủng. Người ta đang chờ thầy thuốc đến thì người ta lại bị giết".

        Khi viết bài này, vẫn chưa rõ con số thương vong ở đồi 875 là bao nhiêu. Một thượng sĩ của tiểu đoàn này - một nguồn tin không thể nghi ngờ được - chiều thứ tư đã kể cho tôi nghe rằng có 112 người của tiểu đoàn bị chết phải đưa đi. Nếu con sẽ chính thức là 71 người trước khi có trái bom trên thì có lý do để nói rằng ít nhất cũng có 20 người nữa bị chết vì vụ nổ này. Theo thượng sĩ này, có tới 170 binh sĩ nữa bị thương nặng tới mức phải cấp tốc đưa đi. Như vậy tất cả có 280 người bị thương vong, trong một tiểu đoàn có khoảng 350 người trước khi nổ ra trận đánh.

        Ngay cả trước khi có trái bom nổ hôm thứ hai, tiểu đoàn 2 cũng không còn là một lực lượng chiến đấu nữa. Họ không thể tiến lên đồi được và trên thực tế họ bị treo lơ lửng không có gì che đỡ trong tầm súng cối và súng máy của địch. Những người bị thương không đưa đi được và tiểu đoàn này không được tiếp tế thêm lương thực, nước uống và đạn dược, hầu hết các sĩ quan và tất cả thầy thuốc của tiểu đoàn này đã bị chết hoặc bị thương.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM