Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2019, 05:27:48 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mở đầu toàn quốc kháng chiến  (Đọc 15668 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #40 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:01:53 PM »


        20 giờ 3 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, đèn Hà Nội phụt tắt. Các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Thổ Khối của ta đồng loạt bắn vào các vị trí địch trong thành phố. Cuộc kháng chiến của quân dân Hà Nội bùng nổ, mở đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến.

        Cuộc hoà hoãn Việt - Pháp kéo dài gần một năm. Đó là cuộc đấu tranh gay go phức tạp giữa lập trường độc lập thống nhất của Việt Nam và lập trường thực dân xâm lược của Pháp. Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 là kết quả sự nhân nhượng giữa hai bên. Hội nghị trù bị Đà Lạt, Hội nghị chính thức Phông-ten-nơ-blô tan vỡ và kết cục là bùng nổ cuộc chiến tranh Pháp - Việt. Đó là do thực dân Pháp quyết tâm dùng vũ lực xâm lược lại nước ta. Còn phía Việt Nam, sự nhân nhượng mềm dẻo phải có giới hạn, không thể để phạm vào nguyên tắc độc lập thống nhất và khi khả năng hoà hoãn không còn, chúng ta buộc phải đứng lên kháng chiến.

        Đây là thời kỳ cách mạng nước ta gặp khó khăn chồng chất. Cuộc đấu tranh với kẻ thù rất gay go và phức tạp. Để giữ vững nền độc lập vừa giành được, biểu hiện tập trung ở việc giữ vững chính quyền cách mạng và bước đầu xây dựng một xã hội mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải thực hiện sách lược hoà hoãn với kẻ thù, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ”, thôn tính nước ta của hai tên đế quốc Tàu Tưởng và Pháp.

        Từ sau Cách mạng tháng Tám đến đầu năm 1946, ta hoà hoãn với Tưởng và bọn tay sai ở phía bắc, đồng thời đẩy mạnh kháng chiến chống Pháp ở phía nam. Để đạt được hoà hoãn với quân Tưởng, ta phải nhân nhượng nhiều điều, trong đó có điều quan trọng như Đảng phải tuyên bố tự giải tán, phải cho bọn Việt quốc, Việt cách tham gia chính quyền nhà nước... Những nhân nhượng đó gây ra những khó khăn phức tạp mới và là những điều ta không muốn. Nhưng trước tình thế mất còn của độc lập dân tộc, của chính quyền cách mạng, thì sự nhân nhượng cùng những biện pháp đấu tranh khác để đạt tới hoà hoãn là điều cần thiết, là sự đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hoà với Tưởng, ta phá được âm mưu của chúng định dùng vũ lực lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền của bọn tay sai. Việc cho bọn tay sai Tưởng tham gia chính quyền nhà nước vừa phá được luận điệu tuyên truyền “Việt Minh, cộng sản độc quyền”, phá được sức ép đòi Chính phủ ta phải từ chức, chúng cũng không thực hiện được ý đồ phá hoại, tiến tới giành chính quyền bằng biện pháp chính trị, ngoại giao. Trái lại, bọn phản động hoàn toàn bất lực, tự lột mặt nạ trước nhân dân và trốn chạy theo đế quốc. Chính quyền cách mạng không hề thay đổi về tính chất và ngày càng được củng cố.

        Đảng Cộng sản Đông Dương ra thông cáo tự ý giải tán là vì yêu cầu của tình thế và là một sách lược nhân nhượng để đạt tới hoà hoãn. Thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật, vẫn tiếp tục phát triển củng cố, vẫn lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo chính quyền.

        Hoà với Tưởng, tranh thủ điều kiện không có chiến tranh ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ ta lãnh đạo tổ chức toàn dân nỗ lực xây dựng chế độ mới. Tăng gia sản xuất, tiết kiệm, khắc phục được nạn đói do chế độ cũ để lại, mở mang văn hoá giáo dục, xây dựng nếp sống mới... Đặc biệt là xây dựng chính quyền Nhà nước với Quốc hội đầu tiên trong lịch sử nước ta do phổ thông đầu phiếu bầu ra, với bộ máy chính quyền được giữ vững và củng cố, với cơ quan hành chính, pháp luật, kinh tế, các lực lượng vũ trang ngày càng được hoàn thiện.

        Hoà với Tưởng ta có điều kiện để tập trung lực lượng chống pháp. Cuộc hoà hoãn này đối với Pháp là một bất lợi lớn. Pháp coi Tưởng và ta như đồng minh với nhau để ngăn chặn mưu đồ của Pháp. Sau những ngày đầu kháng chiến Nam Bộ gặp khó khăn lớn, song quân dân ta ở miền Nam được cả nước dồn sức, chiến đấu kiên cường, không những làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp mà còn phát động được phong trào đánh địch rộng khắp, phát triển lực lượng, tích luỹ kinh nghiệm chiến đấu, góp phần bảo vệ chính quyền cách mạng, tạo điều kiện cho miền Bắc tiếp tục chuẩn bị và tăng cường lực lượng mọi mặt. Hơn một năm quân Tưởng đóng trên đất nước ta, chúng ta đã thực hiện được hoà hoãn với chúng. Kết quả cuối cùng là kẻ địch không thực hiện được dã tâm của chúng, trái lại, ta thực hiện được mục tiêu chiến lược là giữ vững độc lập, giữ vững chính quyền. Cuộc hoà hoãn đã mang lại thành công lớn. Đó là một thắng lợi trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #41 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:04:13 PM »


        Cuộc hoà hoãn với Pháp có điểm giống và cũng có điểm khác với cuộc hoà hoãn với quân Tưởng. Điểm giống là ta hoà hoãn với kẻ thù, dùng hình thức đấu tranh chính trị, ngoại giao, giữ được trạng thái hoà bình để bảo vệ độc lập và xây dựng chế độ mới, tránh cuộc xung đột vũ trang bất lợi cho ta. Nhưng có những điểm khác nhau: Hoà với Tưởng là hoà với một kẻ thù trực tiếp nguy hiểm, nhưng không phải là kẻ thù chính để phân hoá, cô lập, tập trung lực lượng đấu tranh bằng biện pháp quân sự chống kẻ thù chính. Còn hoà với Pháp là hoà ngay với kẻ thù chính để loại bớt một kẻ thù trực tiếp nguy hiểm và tranh thủ trạng thái không có chiến tranh để xây dựng đất nước, chuẩn bị lực lượng đối phó với một cuộc chiến tranh lớn nếu kẻ thù cố tình gây ra. Đó là một điều khá đặc biệt được đặt ra và giải quyết trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Có người cho rằng, hoà hoãn với Pháp chỉ là một cuộc “hoãn binh”, mục đích là làm cho cuộc chiến tranh chậm nổ ra. Với ánh sáng của nhiều tư liệu mới, phân tích khách quan các sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa ta và Pháp, thì mục đích của phía Việt Nam không phải chỉ đơn thuần một hướng như vậy. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có chủ trương phấn đấu cho một giải pháp hoà bình Việt - Pháp, ta muốn tránh một cuộc chiến tranh dù diễn ra sớm hay muộn. Khả năng này trong mối tương quan hai bên Việt - Pháp và bối cảnh chính trường nước Pháp lúc đó không phải hoàn toàn không thể đạt được. Bản thân nước Pháp còn đầy rẫy khó khăn và những hạn chế về nhiều mặt sau chiến tranh. Cuộc xâm lược ở Việt Nam bị tổn thất. Nước Pháp chưa có đủ lực lượng để đáp ứng ngay cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Chính điều đó làm cho một số người trong chính giới Pháp như Xanh-tơ-ny, Lơ-cléc thức thời hơn, chủ trương giải quyết cuộc xung đột Việt - Pháp, giữ quyền lợi của đế quốc Pháp bằng con đường đàm phán hoà bình. Vào đầu năm 1946, xu thế này có một ảnh hưởng đáng kể. Hiệp định Sơ bộ được ký kết trong bối cảnh đó.

        Trong chỉ thị Hoà để tiến, Đảng ta xác định: “Hiệp định Việt - Pháp có được là vì nước Việt Nam mới có lực lượng chiến đấu mới và nước Pháp mới cũng có tinh thần tự do mới”1.

        Trả lời phóng viên hãng thông tấn AFP (Pháp) về cuộc đàm phán Việt - Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hai nước Việt và Pháp có thể đi đến sự thoả thuận vì cả hai nước đều cần phải tương trợ lẫn nhau vì quyền lợi chung của hai nước, cần phải đi đến một sự hiểu biết lẫn nhau càng nhanh chóng càng hay, để cùng có thể sẵn sàng bắt tay vào một công việc thiết thực”2.

        Tuy nhiên, diễn biến chính trị nước Pháp ngày càng phức tạp. Bọn thực dân phản động có thế lực như Bi-đôn, Đác-giăng-li-ơ, các tướng Va-luy, Pi-nhông... ra sức phản đối hoà hoãn. Các thành viên Chính phủ Pháp thay nhau ngày càng thiên hữu. Vai trò Xanh-tơ-ny ngày càng thấp so với Đác-giăng-li-ơ. Lơ-cléc bị triệu hồi về Pháp... Khả năng hoà hoãn càng khó khăn. Cuộc chiến tranh đã nổ ra do phía Pháp chuẩn bị và cố tình khởi hấn. Thực dân Pháp cố tình xuyên tạc sự thật để nhiều người Pháp không hiểu được, hoặc lầm tưởng cuộc chiến tranh do phía Việt Nam gây ra. Nhưng sự thật ngày càng được phơi bày. Nhiều nhà sử học phương Tây đều nhận rằng phía Việt Nam không chịu cung cấp cho họ “cái cớ mong đợi” thì họ cũng sẽ “chủ động tiến hành kế hoạch tác chiến”.

        Trong cuốn Pa-ri - Sài Gòn - Hà Nội, Ph. Đờ-vi-le viết: “Các tư liệu lưu trữ đều chứng minh cuộc chiến tranh Đông Dương đã xảy ra như thế nào, không phải do ngẫu nhiên. Một “cuộc đảo chính không thành” (của Pháp), đã được biến dạng thành cuộc “tấn công của Việt Minh”.

        Trả lời phỏng vấn của các nhà báo nhân dịp sang thăm chính thức Việt Nam tháng 2 năm 1993, Tổng thống Pháp Ph. Mit-tơ-răng nói: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, không tìm được, dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, Ông Hồ Chí Minh đã bị đẩy vào cuộc chiến tranh”3, “Cuộc chiến tranh đó đối với tôi là một sai lầm”4.

------------------------
        1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Sđd, tr. 49.

        2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Sđd, tr. 286.

        3. Tạp chí Xưa và nay, số 2, tháng 5-1994, tr. 9.

        4. Thông tấn xã Việt Nam, Tin tham khảo 11-2-1993.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #42 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:06:14 PM »


        Mặc dù “nền hoà bình bị bỏ dở” như lời Xanh-tơ-ny, nhưng gần một năm hoà hoãn đã mang lại cho ta nhiều thắng lợi quan trọng. Trước hết là ta đuổi được quân Tưởng và bọn tay sai, loại bớt một kẻ thù trực tiếp nguy hiểm. Tháng 9 năm 1946, quân Tưởng rút hết. Bọn Việt quốc, Việt cách mất chỗ dựa, cũng cuốn gói theo chủ. Một lực lượng phản động còn lại cố chốt giữ những sào huyệt vốn chúng chiếm đóng từ lâu, bị ta tấn công tiêu diệt hoặc tự tan rã cả.

        Nhờ có hoà hoãn với Pháp, cuộc kháng chiến Nam Bộ giành được thời cơ củng cố lực lượng. 1.100 trong số 1.230 thôn đã nổi dậy lật đổ hội tề, khôi phục lại chính quyền nhân dân, các đoàn thể cứu quốc và xây dựng lực lượng vũ trang tiến hành chiến tranh du kích. Theo báo cáo của Việt Minh đoàn Chính phủ thì Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 và Tạm ước 14 tháng 9 “là những phương thuốc hồi sinh cho Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ”.

        Thắng lợi quan trọng hơn là nhờ có “gần một năm tạm hoà bình, đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng căn bản”. Trước hết là tăng cường và củng cố khối đoàn kết toàn dân. Ngày 29 tháng 5 năm 1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) ra đời. Trong Hội Liên Việt có Việt Minh, Đảng Dân chủ, các đảng phái và đoàn thể yêu nước khác. Các đoàn thể, các tổ chức chính trị, xã hội được thành lập và tham gia Liên Việt: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1946), Đảng Xã hội Việt Nam (thành lập ngày 22 tháng 7), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (thành lập ngày 20 tháng 10), Hội Phật giáo Việt Nam, Hội Liên lạc những người Công giáo Việt Nam kính chúa yêu nước...

        Chính quyền nhà nước được củng cố để tổ chức toàn dân xây dựng đất nước và chuẩn bị kháng chiến. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thông qua. Chính phủ liên hiệp quốc dân được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu gồm hầu hết là những người yêu nước và cách mạng.

        Về kinh tế - tài chính, văn hoá, giáo dục... đều đạt được những kết quả khả quan.

        Lực lượng vũ trang được quan tâm đẩy mạnh xây dựng, coi đó là công việc quan trọng nhất để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Quân đội quốc gia chính thức được thành lập. Từ 5.000 giải phóng quân lúc Cách mạng tháng Tám mới thành công, đến nay tổng quân số đã tới 8 vạn. Du kích tự vệ tới gần 1 triệu. Đó là sự phát triển vượt bậc của lực lượng vũ trang cách mạng. Chất lượng chính trị của quân đội được chú trọng. Tháng Giêng năm 1946, Trung ương Quân ủy được thành lập để giúp Ban Chấp hànhTrung ương trực tiếp lãnh đạo quân đội. Các ngành quân giới, quân nhu, quân y được thành lập...

        Trong cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước 14 tháng 9, chúng ta cũng vừa dùng đấu tranh ngoại giao, vừa dùng sức mạnh mọi mặt chính trị, quân sự để ngăn chặn các hành động lấn tới của quân Pháp.

        Ngày 14 tháng 3 năm 1946, 10 vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội mít tinh đòi Pháp đình chỉ những hành động xâm lược và mở ngay cuộc đàm phán chính thức ở Pa-ri. Ngày 27 tháng 3, Pháp cho quân chiếm Sở Tài chính thì ngày 29 tháng 3 nhân dân toàn miền Bắc phẫn nộ bãi công, bãi chợ phản đối, Pháp phải trao trả Sở Tài chính cho ta. Ngày 25 tháng 6 quân Pháp chiếm đóng trái phép Phủ Toàn quyền cũ ở Hà Nội. Thực hiện lời kêu gọi của Chính phủ, ngày 27 tháng 6, nhân dân Hà Nội, Hải Phòng và các nơi có quân Pháp đóng đã tổng bãi công, bãi chợ, bãi khoá phản đối. Suốt hai mươi bốn giờ, bộ máy kinh tế, chính trị, văn hoá ở những nơi đó hầu như bị tê liệt. Bọn Pháp lúng túng phải chối quanh rằng đó chỉ là một bộ phận tới để làm công việc bảo quản. Ngày 3 tháng 8, chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng và lời kêu gọi của Đảng bộ và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, nhân dân Sài Gòn, Chợ Lớn tổng bãi công, bãi chợ phản đối Pháp triệu tập hội nghị bù nhìn ở Đà Lạt, đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Sơ bộ. Mọi hoạt động trong thành phố tê liệt. Pháp lúng túng khó khăn, bọn tay sai hoảng sợ. Những vụ giặc Pháp gây xung đột ở Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn... một mặt ta kiên trì đấu tranh ngoại giao, mặt khác huy động quần chúng đấu tranh chính trị và lực lượng vũ trang ta kiên quyết chiến đấu chặn bàn tay gây chiến của Pháp. Qua những cuộc đấu tranh hoà hoãn với kẻ thù, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tổng kết:

        “Qua cuộc đàm phán này, càng thấm thía một điều: Trong đấu tranh chính nghĩa đòi độc lập tự do cho đất nước, ngoại giao nhất thiết phải dựa trên lực lượng của nhân dân. Mỗi người dân Việt Nam cần phải có đầy đủ nghị lực và quyết tâm bồi bổ thực lực của mình. Dân tộc ta phải mạnh. Đất nước ta phải mạnh. Công việc ngoại giao phải bắt đầu từ đó”1.

-------------------
        1. Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr. 445.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #43 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:09:03 PM »


        Cách mạng tháng Tám vừa thành công, chúng ta đã phải bước ngay vào một cuộc đấu tranh mất còn với kẻ thù: Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cuộc đấu tranh gay go phức tạp với quân Tưởng và bọn tay sai. Ta còn phải khắc phục những hậu quả nghiêm trọng do chế độ cũ để lại… Đảng ta xác định rằng tất cả những công việc khác nhau đó, muốn hoàn thành thắng lợi đều phải dựa trên thực lực cách mạng mạnh. Do đó ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng xây dựng lực lượng cách mạng mạnh về mọi mặt để “kháng chiến kiến quốc” thành công. Ngọn cờ đoàn kết dân tộc luôn được giương cao hiệu triệu toàn dân vào công cuộc đại nghĩa cứu nước. Các tổ chức Cứu quốc được xây dựng rộng khắp, thu hút các tầng lớp nhân dân: Hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên, Phụ nữ, Phụ lão, Nhi đồng, Học sinh, Sinh viên, Viên chức cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc, Công giáo cứu quốc...

        Có sức mạnh đoàn kết toàn dân, ngay cả những thử thách gay go nhất, chúng ta vẫn có thể vượt qua. H.Adô đã có một ý kiến xác đáng về sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân Việt Nam lúc này: “Chỉ còn một tia sáng loé lên trên bầu trời đầy giông tố, đó là sự nhất trí ủng hộ của nhân dân Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đối với Việt Minh... Việt Minh đã tỏ cho thấy rằng nhân dân đã đứng về phía họ và đó là một sự kiện quan trọng hàng đầu đối với ai đã sáng suốt xem xét đến tình hình chính trị tương lai”1.

        Về mặt kinh tế - tài chính, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn do hậu quả của chế độ cũ. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ra Sắc lệnh xây dựng Quỹ độc lập và tổ chức “Tuần lễ vàng”. Nhân dân ta phấn khởi góp 20 triệu đồng vào Quỹ độc lập, 370kg vàng trong Tuần lễ vàng. Và riêng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ thu được 40 triệu đồng Đảm phụ quốc phòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào tăng gia sản xuất, tiết kiệm được nhân dân hưởng ứng sôi nổi. Nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân dần dần ổn định. Các mặt sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp mặc dù có nhiều khó khăn về nguyên liệu, kỹ thuật... nhưng vẫn được duy trì.

        Về giáo dục, có sự phát triển vượt bậc. Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 8 năm 1946, ta mở 15.000 lớp học, đào tạo 95.000 giáo viên. Riêng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ có 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ.

        Công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ độc lập thống nhất dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của nhân dân ta. Đảng ta hết sức coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh quân sự hiện tại, hỗ trợ các hình thức đấu tranh khác và nhất là chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp sắp tới. Ngay từ Hội nghị toàn quốc, tháng 8 năm 1945, Đảng đã nêu chủ trương “vũ trang toàn dân”, “Mở rộng Quân Giải phóng Việt Nam”. Sau Cách mạng tháng Tám, trong cao trào cách mạng chung, các đoàn thể cứu quốc đều quân sự hoá, mọi người nô nức học tập quân sự sắm sửa vũ khí, dấy lên phong trào vũ trang toàn dân. Các đội tự vệ, vốn là lực lượng xung kích cùng nhân dân nổi dậy giành chính quyền, nay được củng cố, phát triển trở thành Tự vệ cứu quốc. Cuối năm 1945, hầu hết các thôn xã, đường phố, nhà máy trên cả nước đều tổ chức tự vệ. Lực lượng dân quân tự vệ từ vài vạn lúc tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1946 đã phát triển tới gần 1 triệu.

        Cùng với phong trào vũ trang toàn dân và sự phát triển các đội tự vệ, bộ đội tập trung cũng được củng cố và phát triển vượt bậc. Tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị phải nhanh chóng chấn chỉnh mở rộng Giải phóng quân đổi tên là Vệ quốc đoàn. Tuy còn mang tên là Vệ quốc đoàn để che giấu lực lượng với quân Tưởng, nhưng thực sự từ đấy Vệ quốc đoàn đã trở thành quân đội của Nhà nước ta. Đến ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra Sắc lệnh 71, Vệ quốc đoàn chính thức trở thành Quân đội quốc gia biên chế chính thức theo từng trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội. Ở các tỉnh có chi đội Vệ quốc quân, các huyện có chi đội hay phân đội Vệ quốc quân. Cuối năm 1946, bộ đội chủ lực lên tới 8 vạn. Một số binh chủng cũng ra đời cùng với sự phát triển của bộ đội tập trung. Ngày 9 tháng 9, đơn vị thông tin quân sự đầu tiên được thành lập. Ngày 29 tháng 6, đơn vị pháo binh đầu tiên ra đời tại Hà Nội.

-------------------
        1. H.Adô, Sđd, tr. 151.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #44 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:10:23 PM »


        Đi đôi với phát triển về số lượng, chất lượng lực lượng vũ trang được coi trọng và không ngừng nâng cao. Việc huấn luyện quân sự cho các lực lượng vũ trang được tiến hành khẩn trương. Các trường lớp huấn luyện đào tạo cán bộ chỉ huy quân sự được thành lập. Trường Quân chính kháng Nhật trước, nay được mở rộng và đổi tên là Trường Cán bộ Việt Nam, cấp tốc đào tạo cán bộ cho lực lượng vũ trang. Tháng 3 năm 1946, Trung ương Đảng mở Trường Quân chính Bắc Sơn. Tháng 5 năm 1946, Bộ Quốc phòng khai giảng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Các địa phương cũng mở nhiều trường quân sự đào tạo cán bộ cho bộ đội địa phương và tự vệ. Tính đến cuối năm 1946, hàng nghìn cán bộ quân sự được đào tạo, kịp thời về các đơn vị. Nhiều cán bộ của Đảng đã rèn luyện qua các thời kỳ cách mạng được cử vào phụ trách quân đội. Nhiều cán bộ Việt Minh được đưa sang làm cán bộ quân sự. Hệ thống tổ chức đảng trong quân đội ngày càng kiện toàn từ Trung ương Quân ủy đến chi bộ. Chế độ chính trị viên cùng đội trưởng phụ trách đơn vị được thực hiện trong toàn quân. Sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp quốc dân, tháng 11 năm 1946, Quân sự ủy viên hội thống nhất với Bộ Quốc phòng tổng chỉ huy.

        Đứng trước nhiều kẻ thù mạnh, chúng ta lại có vô vàn khó khăn, sức mạnh vật chất còn nhiều hạn chế, nhưng Đảng ta đã phát huy được sức mạnh vật chất, sức mạnh chính trị tinh thần vào công cuộc kháng chiến kiến quốc cũng như trong đấu tranh ngoại giao. Đến cuối năm 1946, chỉ mới hơn một năm xây dựng lực lượng trong bối cảnh đầy rẫy khó khăn, vừa xây dựng vừa chiến đấu, nhưng chúng ta đã có được lực lượng chính trị hùng hậu của toàn dân, có một chính quyền hợp pháp được củng cố từ Trung ương đến làng xã, có một cơ sở kinh tế văn hoá nhất định, có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân đông đảo rộng khắp, với một Đảng Cộng sản được củng cố và phát triển ngày càng trưởng thành lãnh đạo. Chúng ta lại có sự ủng hộ quốc tế ngày càng rộng rãi. Đó là sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, của dân tộc ta và của cả thời đại. Đó là “lực lượng căn bản” đưa cách mạng nước ta giành những thắng lợi to lớn trong thời kỳ 1945-1946 và chủ động bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

        Cách mạng vừa thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa mới ra đời, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta là đất nước hoà bình để khắc phục khó khăn, xây dựng chế độ mới. Mục tiêu chính sách đối ngoại nhất quán của Đảng và Chính phủ ta là độc lập và hoà bình. Trong các bức thư, điện đối ngoại, các cuộc tiếp xúc ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều giải thích rõ và tranh thủ dư luận quốc tế ủng hộ nguyện vọng chính đáng này. Ở trong nước, mặc dù trên thực tế, nhân dân ta đã bước vào cuộc chiến tranh chống Pháp và thường xuyên phải đối phó với sự chống trả điên cuồng của quân Tưởng cùng bọn tay sai, nhưng Đảng ta vẫn kiên trì cuộc đấu tranh để đạt tới hoà hoãn. Người nói: “Chúng ta cần hoà bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta đẽ ép lòng mà nhân nhượng để giữ hoà bình”1. Chọn quyết sách nhân nhượng hoà hoãn với kẻ thù là xuất phát từ đường lối ngoại giao hoà bình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế lúc đó - hoàn cảnh cách mạng “ngàn cân treo sợi tóc”, hoà thì còn và đánh thì rất có thể mất. Trong hoàn cảnh đó hoà hoãn tuy là vấn đề sách lược, nhưng lại là một chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược. Lê- nin đã dạy những người cách mạng: “Thấy cuộc chiến đấu rõ ràng có lợi cho kẻ thù chứ không có lợi cho ta mà cứ nghênh chiến, đó là một tội ác; và những nhà chính trị nào của giai cấp cách mạng, không biết “lựa chiều, liên minh và thoả hiệp” để tránh một cuộc chiến đấu bất lợi rõ rệt thì đó là những người vô dụng”2.

        Chính những biện pháp hoà hoãn được thực hiện mà chúng ta giữ được chính quyền, thế và lực của cách mạng phát triển, tạo tiền đề cơ sở để giành thắng lợi các thời kỳ cách mạng sau.

        Ta chủ trương hoà hoãn là nhằm giành lợi thế cho cách mạng. Nhưng việc thực hiện chủ trương này cũng còn tuỳ thuộc cả phản ứng của kẻ thù. Đạt được hoà hoãn cũng là một cuộc đấu tranh. Ta khoét sâu những chỗ yếu của địch, những mâu thuẫn trong nội bộ chúng, vừa mềm dẻo nhân nhượng, vừa kiên quyết đấu tranh giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc của cách mạng. Cuộc đấu tranh để đạt được hoà hoãn và đấu tranh trong quá trình hoà hoãn là cuộc đấu tranh cách mạng gay go, phức tạp, tinh vi và đầy bất trắc. Nhiều lần kẻ thù nói chung, hoặc một thế lực nào đó của kẻ thù tạo cớ và kiếm cớ để lật đổ chính quyền cách mạng. Nhưng chúng ta luôn cảnh giác, chuẩn bị sẵn nhiều phương án, dùng đấu tranh chính trị, ngoại giao với lực lượng đông đảo quần chúng làm hậu thuẫn, nên đã không để kẻ thù biến việc nhỏ thành việc lớn, việc đơn giản thành nghiêm trọng. Thậm chí ta phải nín nhịn trong một số trường hợp để giữ được hoà bình. Cuộc đấu tranh trong hoà hoãn không hoặc ít đổ máu, nhưng lại rất phức tạp, phải vận dụng nhiều cách thức linh hoạt, đòi hỏi những người thực thi phải hết sức vững vàng, khôn khéo.

--------------------
        1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 162.

        2. V. I. Lê-nin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tr. 77.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #45 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:12:52 PM »


        Muốn thực hiện hoà hoãn, không cách nào khác là chúng ta phải nhân nhượng. Nhân nhượng nhiều hay ít phụ thuộc trước hết vào so sánh lực lượng giữa ta và địch, đồng thời cũng do kết quả tài năng đấu tranh của ta. Mỗi cuộc hoà hoãn có hoàn cảnh khác nhau nên sự nhân nhượng cũng khác nhau. Không thể coi nhân nhượng ít là cách mạng, nhân nhượng nhiều là hữu khuynh... Vấn đề là phải xem xét nhân nhượng như vậy có phản ánh đúng tương quan lực lượng đôi bên không? Những nhân nhượng đó có vi phạm nguyên tắc cách mạng không? Có nhằm đạt tới mục tiêu cuối cùng của cách mạng hay không? Và thực tiễn lịch sử đã phán xét ra sao?

        Những nhân nhượng của ta với quân Tưởng và bọn tay sai là những nhân nhượng lớn, trên những vấn đề quan trọng của cách mạng. Nhưng những nhân nhượng đó không vi phạm nguyên tắc của cách mạng lúc này là giữ vững độc lập thống nhất của Tố quốc mà biểu hiện tập trung là giữ vững chính quyền cách mạng.

        Việc hoà hoãn với Pháp đặt ra cho chúng ta những vấn đề phức tạp hơn, điều kiện hoà hoãn cũng nặng nề hơn. Cuộc đấu tranh giữa ta và Pháp gay go kéo dài. Hai vấn đề trọng yếu đấu tranh gay go trong quá trình đàm phán là vấn đề Pháp công nhận nền độc lập thống nhất của Việt Nam và vấn đề Việt Nam đồng ý để quân đội Pháp vào Bắc Kỳ thay thế quân đội Trung Hoa. Cuối cùng Chính phủ Pháp phải công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một quốc gia tự do có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng, việc thống nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam quyết định. Phía ta phải chấp nhận quyền đóng quân tạm thời với số quân hạn chế của Pháp trên đất Bắc Kỳ. Sau ký Hiệp định Sơ bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với Xanh-tơ-ny:

        “Các ông thừa hiểu rằng nguyện vọng của tôi còn muốn hơn thế nhiều. Nhưng tôi biết rõ rằng không thể nào một lúc mà có tất cả”1.

        Nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân ta là độc lập, thống nhất hoàn toàn, nhưng hoàn cảnh lịch sử chưa cho phép chúng ta đạt tới mục tiêu đó. Tương quan lực lượng buộc ta phải nhân nhượng. Đó là những nhân nhượng cần thiết, đúng đắn và mưu lược. Chúng ta dừng lại để tiến lên, chứ không phiêu lưu lao vào cuộc chiến một cách vô dụng. Lê-nin đã dạy:

        “Đối với chính đảng vô sản, không có sai lầm nào nguy hiểm hơn là định sách lược của mình theo ý muốn chủ quan... Định ra một sách lược vô sản theo ý muốn chủ quan là giết sách lược đó”2.

        Sự nhân nhượng có thể ít, có thể nhiều. Có khi đã nhân nhượng lần này, lại phải tiếp tục nhân nhượng lần khác. Nhưng nhất thiết phải có điểm dừng. Vượt quá điểm dừng ấy là phạm vào nguyên tắc cách mạng. Bao giờ cũng vậy, trạng thái hoà bình là điều kiện thuận lợi nhất để xây dựng đất nước và cả bảo vệ đất nước, nhưng không phải hoà bình với bất cứ giá nào. Hoà với Tưởng, chúng ta đã nhân nhượng về kinh tế, chính trị..., nhưng những yêu sách ngỗ ngược quá đáng của chúng như đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chức, đòi loại các bộ trưởng cộng sản ra khỏi Chính phủ, đòi để bọn tay sai lãnh đạo chính quyền... thì chúng ta kiên quyết cự tuyệt. Bởi chấp nhận những điều đó là mất chính quyền, mất độc lập tự do, là phạm vào nguyên tắc cách mạng. Ngay nhân nhượng về kinh tế, nhân nhượng này không phạm vào chủ quyền quốc gia dân tộc, nhưng cũng có giới hạn. Có lần Lư Hán đòi ta phải cung cấp thêm nhiều gạo hơn nữa cho quân Tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết cự tuyệt.

        Hiệp định Sơ bộ là một nhân nhượng của ta. Tạm ước 14 thông 9 lại là một bước nhân nhượng nữa để cố cứu vãn nền hoà bình mỏng manh. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Chúng ta không thể chấp nhận tối hậu thư như đòi giải giáp Quân đội Quốc gia, đòi trao toàn bộ quyền lực cai quản đất nước ta cho Pháp. Toàn dân ta đã đứng lên kháng chiến.

        Đó là quan điểm, cách thức giải quyết mối quan hệ giữa mềm dẻo linh hoạt về sách lược với giữ vững nguyên tắc chiến lược. Đó cũng là sự khác biệt hoàn toàn với tư tưởng hữu khuynh đầu hàng thủ tiêu đấu tranh, “hoà giải”, “hợp tác” với kẻ thù bất cứ giá nào.

        C Mác từng dạy: “Trong chính trị - vì một mục đích nào đó có thể liên minh thậm chí ngay với quỷ - chỉ cần biết chắc là anh sẽ xỏ mũi con quỷ chứ không phải là con quỷ xỏ mũi anh”3.

--------------------
        1. J. Xanh-tơ-ny, Sđd, tr. 70.

        2. V. I.Lê nin, Toàn tập, tập 31, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, tr. 435.

        3. C. Mác, Tiểu sử, Nxb Khoa học xã hội, H. 1975, tr. 570.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #46 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:14:31 PM »


        Lê-nin cũng chỉ rõ về mối quan hệ này: “Nhiệm vụ của một đảng thật sự cách mạng không phải là tuyên bố rằng không thể cự tuyệt mọi sự thoả hiệp trong trường hợp không thể tránh được thoả hiệp, giữ thái độ trung thành với những nguyên tắc của mình, với giai cấp mình, với nhiệm vụ cách mạng của mình, với sự nghiệp của mình là chuẩn bị cuộc cách mạng và giáo dục quần chúng để đi đến cách mạng thành công”1.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ: nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt. Trước khi sang Pháp đàm phán, Người nói với quyền Chủ tịch Chính phủ Huỳnh Thúc Kháng: việc nước lúc này là “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao ngọn cờ đại nghĩa là độc lập và thống nhất Tổ quốc, đó là nguyên tắc bất biến để ứng phó với mọi tình huống. Khi thực dân Pháp gây ra cuộc chiến tranh ở Nam Bộ, Người khẳng định: nếu cần phải hy sinh, nếu cần phải kháng chiến “để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến”2.

        Trước âm mưu chia cắt Nam Bộ khỏi nước Việt Nam, Người khẳng định với đồng bào Nam Bộ: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

        Độc lập, thống nhất cũng chính là ngọn cờ để tập hợp lực lượng toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, chống kẻ thù xâm lược.

        Chính nhờ Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sách lược linh hoạt nhân nhượng hoà hoãn với kẻ thù, nhưng giữ vững nguyên tắc chiến lược mà cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo, giành thắng lợi từng bước vững chắc nhằm đi tới thắng lợi hoàn toàn.

        Đánh giá sách lược hoà hoãn với kẻ thù thời kỳ 1945- 1946, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã được ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lê-nin-nít về lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc”3.

--------------------
        1. V.I.Lê-nin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1976, tr. 178-179.

        2, 3. Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, in lần thứ ba, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 33.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #47 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:16:50 PM »


Chương 3

TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN BÙNG NỔ

       
I. HÀ NỘI MỞ ĐẦU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN

        Theo Phụ khoản tính theo Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), 15.000 quân Pháp được ra phía bắc vĩ tuyến 16, trong cõi Việt Nam để thay thế quân đội Trung Hoa. Theo Hiệp định Tạm thời quy định những địa điểm đóng quân thì riêng Hà Nội có 5.000 binh sĩ Pháp. Trong âm mưu mở rộng xâm lược ra miền Bắc Việt Nam của quân viễn chinh Pháp thì Thủ đô Hà Nội là mục tiêu quan trọng nhất. Kế hoạch của chúng là trước hết đánh chiếm Hà Nội, từ đó mở rộng đánh chiếm cả miền Bắc.

        Nắm bắt được ý đồ của địch, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang.

        Do chủ trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài nên quân chủ lực của ta ở Hà Nội chỉ có một lực lượng nhỏ Vệ quốc đoàn và Công an xung phong của Trung ương. Lực lượng vũ trang trực tiếp hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh với địch và chuẩn bị kháng chiến chủ yếu là lực lượng của thành phố với các tổ chức tự vệ: Tự vệ chiên đấu cứu quốc Hoàng Diệu là lực lượng vũ trang tập trung, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang thành phố, Tự vệ thành là lực lượng bán vũ trang gồm nhân dân ở các khu phố tự nguyện tham gia và tổ chức, tự sắm vũ khí, tự bầu người chỉ huy. Tự vệ thành đeo sao vuông trên mũ nên gọi là “Tự vệ sao vuông”. Ở các xí nghiệp có Tự vệ xí nghiệp do công nhân các xí nghiệp (kể cả xí nghiệp của chủ người Pháp) lập ra, là lực lượng vừa sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ xí nghiệp, bảo vệ địa bàn. Chính lực lượng bảo vệ xí nghiệp này là lực lượng quan trọng di chuyển máy móc ra khỏi thành phố lên chiến khu theo chủ trương rút khỏi thành phố của Trung ương và lãnh đạo thành phố.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến lực lượng tự vệ Hà Nội. Ngày 9 tháng 4 năm 1946, tại Bắc Bộ phủ, Người đã tiếp đại biểu tự vệ Hà Nội và nhắc nhở tự vệ phải học tập chính trị để hoạt động theo đúng đường lối của Đảng, tự vệ phải củng cố và phát triển về mặt tổ chức và quân sự hoá mọi hoạt động.

        Trước yêu cầu cần thống nhất các lực lượng vũ trang địa phương dưới sự lãnh đạo chung của Thành ủy, ngày 29 tháng 8 năm 1946, tại Quảng trường khu Đấu Xảo nay là Cung văn hoá Hữu Nghị) đã diễn ra lễ thống nhất các lực lượng tự vệ Hà Nội, mang tên gọi chung là Đoàn Thanh niên tự vệ Hà Nội với một ban chỉ huy chung do đồng chí Khuất Duy Tiến làm Chủ tịch.

        Cuối tháng 6 năm 1946, theo Hiệp ước Trùng Khánh giữa pháp và Trung Hoa cùng với tác động của Hiệp định Sơ bộ giữa Việt Nam dân chủ cộng hoà với Pháp, toàn bộ quân Tưởng rút về nước. Bọn tay sai Việt quốc, Việt cách cũng chạy theo. Quân Pháp rảnh tay, càng xúc tiến chuẩn bị đánh chiếm toàn bộ nước ta.

        Để tranh thủ khả năng giải quyết quan hệ Việt - Pháp bằng con đường hoà bình, và nếu không ngăn được chiến tranh thì ít nhất cũng làm cho nó chậm xảy ra để chúng ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Chính phủ ta sang Pháp đàm phán. Do lập trường hiếu chiến của phía Pháp, Hội nghị Phông-ten-nơ-blô tan vỡ. Để cứu vãn tình thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận động và ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước (14-9-1946).

        Đến lúc này, khả năng hoà hoãn đã không còn. Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự toàn quốc. Hội nghị nhận định: “Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp” và quyết tâm đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng lực lượng vũ trang để sẵn sàng chiến đấu với quân thù.

        Cùng với việc phát triển và củng cố lực lượng tự vệ trong nội thành, Thành ủy và ủy ban nhân dân thành phố chủ trương phát triển dân quân tự vệ ở ngoại thành, vừa để chuẩn bị an toàn khu cho các cơ quan Trung ương và thành phố khi cần rút ra khỏi nội đô, vừa hình thành vành đai bao vây quân Pháp khi chúng chiếm thành phố. Hàng vạn thanh niên ngoại thành hăng hái tham gia dân quân tự vệ. Một số xã còn tổ chức được trung đội tự vệ chiến đấu tập trung làm nòng cốt cho lực lượng dân quân tự vệ.

        Chính phủ Pháp ký Tạm ước 14 tháng 9 chỉ vì chúng chưa đủ lực lượng để phát động chiến tranh, còn dã tâm chiếm lại nước ta không thay đổi. Tuy chính giới Pháp cũng có chủ trương khác nhau, có phái chủ trương chiếm lại Việt Nam bằng chiến tranh, có phái chủ trương dùng sức ép quân sự và thông qua ngoại giao để trở lại Việt Nam. Đến cuối năm 1946, Chính phủ Pháp ngả về phe hiếu chiến.

        Giữa tháng 11 năm 1946, chưa dám phát động chiến tranh ở Hà Nội, nhưng thực dân Pháp gây ra chiến tranh ở Hải Phòng, sau đó là Lạng Sơn. Mưu toan của chúng là đánh chiếm từng vùng, ép ta về chính trị và quân sự, tiến tới bao vây Hà Nội, buộc Chính phủ ta phải chấp nhận những yêu sách thực dân của chúng. Tuy nhiên, ở Hải Phòng và Lạng Sơn sau khi bị quân dân ta chống trả quyết liệt, gây cho chúng nhiều thiệt hại, quân Pháp chỉ chiếm được nội thành Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn. Các phòng tuyến của ta ngăn chặn không cho chúng mở rộng phạm vi chiếm đóng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #48 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:18:39 PM »


        Hà Nội sau khí thế chuẩn bị chiến đấu. Theo chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp chỉ đạo Bộ chỉ huy Khu 11 (Hà Nội) nghiên cứu phương án tác chiến. Qua thực tiễn chiến trường Hải Phòng và Lạng Sơn, chúng ta thấy có thể đánh kìm chân địch trong thành phố dài ngày. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Trường Chinh lúc đó nhận định: “Có kẻ cho rằng không thể kháng chiến trong thành phố vì ở đó không có địa lợi, lực lượng địch lại tập trung. Kinh nghiệm Hải Phòng chỉ cho ta thấy rất rõ có thể kháng chiến trong thành phố... Ngày nay, ta kháng chiến chống Pháp, chống thực dân xâm lược, mỗi thành phố cũng như mỗi làng của ta phải là một trung tâm điểm kháng chiến, kháng chiến dẻo dai, kháng chiến quyết liệt. Nhưng làm thế nào để kháng chiến trong thành phố. Kinh nghiệm Mát-xcơ-va, Bêôgrát, Xtalingrát và Hải Phòng đã dạy ta rồi đó”1.

        Đồng chí Trường Chinh cũng giao nhiệm vụ cho đồng chí Vương Thừa Vũ - Chỉ huy trưởng Khu 11 (Đặc khu Hà Nội): Hà Nội, phải chuẩn bị sẵn sàng đề phòng địch gây hấn. Khi địch tiến công ở Hà Nội phải kìm chân địch một thời gian, càng dài càng tốt để bảo toàn lực lượng rút lên chiến khu kháng chiến lâu dài. Như thế, cuộc chiến đấu của Hà Nội có vai trò quan trọng đối với thế chiến lược chung cả nước.

        Một nhiệm vụ lớn chuẩn bị cho kháng chiến trường kỳ của Hà Nội là việc tổ chức di chuyển máy móc, kho tàng, nguyên vật liệu và đồng bào Thủ đô tản cư.

        Từ tháng 10 năm 1946, sau khi từ Pháp về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ chỉ đạo tổ chức di chuyển máy móc, kho tàng, nguyên vật liệu, nhà in, đài phát thanh, kho bạc... từ các thành phố, thị xã đặc biệt là từ Hà Nội lên ATK cho đồng chí Nguyễn Lương Bằng.

        Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, từ nửa cuối tháng 11 năm 1946, Hà Nội khẩn trương thực hiện cuộc di chuyển. Cuộc di chuyển tiếp tục cho đến tháng 2 năm 1947, khi Pháp chiếm được cả thành phố, cuộc di chuyển mới kết thúc. Phần lớn máy móc, thiết bị của Xưởng Avia, Boalô, Nhà máy Star (của tư sản Mai Tâm), Nhà máy Star (của tư sản người Pháp), cơ xưởng của Đỗ Quỳ... được đưa dần lên Việt Bắc. Công nhân Nhà máy Xe lửa Gia Lâm đưa hàng trăm loại máy móc và nguyên vật liệu lên Phú Thọ, Yên Bái. Nhà in báo Đảng và nhiều nhà in báo các đoàn thể, Đài Tiếng nói Việt Nam, Kho bạc và Nhà máy in Tiền được chuyển lên Việt Bắc an toàn. Trường Đại học Y - Dược được chuyển lên chiến khu với đầy đủ thiết bị, tài liệu, giảng viên và sinh viên.

        Việc tổ chức cho nhân dân Hà Nội tản cư khỏi thành phố khi cuộc chiến tranh sắp bùng nổ là vấn đề đặt ra rất nhiều khó khăn; đồng bào không muốn rời bỏ ngôi nhà, ngõ phố gắn bó với gia đình mình, lại ngại ngần cuộc sống sắp tới biết làm gì, sống ra sao khi tản cư.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên: “tản cư là yêu nước”, “tản cư cũng là kháng chiến” và kêu gọi đồng bào các địa phương hết sức giúp đỡ đồng bào tản cư. Hà Nội lập ủy ban tản cư các cấp để vận động, tổ chức cho đồng bào tản cư. Ủy ban tản cư vạch ra và tổ chức các hướng, các tuyến cho đồng bào đi tản cư. Ban tản cư các thôn xã ngoại thành tổ chức bảo đảm vật chất và nơi ăn nghỉ dọc đường cho đồng bào tản cư từ nội thành ra.

        Tháng 11 năm 1946, sau khi được tăng viện, quân Pháp tăng quân trái phép vào Hà Nội. Riêng quân viễn chinh lên tới 6.500 với vũ khí hiện đại có xe tăng, xe cơ giới pháo binh và máy bay yểm trợ. Chúng đóng quân tại 45 địa bàn trọng yếu trong thành phố, hình thành những cụm cứ điểm vừa phòng thủ vừa thuận lợi cho xuất phát tiến công các cơ quan đầu não của ta. Chúng còn phát vũ khí cho số Pháp kiều trong thành phố, phối hợp đánh ta. Với lực lượng ưu thế, kế hoạch của Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp là bất ngờ đánh úp diệt hoặc bắt sống các cơ quan đầu não của ta, tiêu diệt lực lượng vũ trang ta, nhanh chóng làm chủ Hà Nội; dùng Hà Nội làm bàn đạp - mở rộng đánh chiếm miền Bắc Việt Nam, đồng thời đánh chiếm các địa bàn khác ở Trung Bộ, hoàn tất việc xâm lược trở lại toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

        Dự báo được âm mưu và kế hoạch của địch, Trung ương Đảng và Chính phủ chủ trương tăng cường chỉ đạo Hà Nội sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hành động không để địch thực hiện cuộc “đảo chính quân sự” ở đây. Tháng 11 năm 1946, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ủy ban bảo vệ, Ban chỉ huy và Đảng ủy mặt trận Hà Nội do đồng chí Nguyễn Văn Trân làm Bí thư Đảng ủy mặt trận kiêm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ thành phố. Đồng chí Trần Quốc Hoàn, Phó Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ được Trung ương cử về trực tiếp chỉ đạo mặt trận Hà Nội.

--------------------
        1. Theo Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001, tập 1, tr. 361.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #49 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:19:52 PM »


        Ngày 3 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Hà Nội, đã thành lập Chính phủ mới do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đây là một chính phủ “sẽ nỗ lực làm việc để tranh thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ, cùng xây dựng một nước Việt Nam mới”1. Quốc hội trao cho Chính phủ toàn quyền đối phó với thực dân Pháp. Quân sự ủy viên hội thống nhất với Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng - Tổng chỉ huy.

        Theo chỉ thị cửa Thường vụ Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng chỉ huy trực tiếp chỉ đạo Bộ chỉ huy Khu 11 do đồng chí Vương Thừa Vũ làm Chỉ huy trưởng nghiên cứu phương án tác chiến của Hà Nội. Đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng thường trực tiếp nghe báo cáo nắm tình hình và cùng bàn bạc kế hoạch tác chiến với Bộ chỉ huy Khu 11.

        Đồng chí Vương Thừa Vũ đã nghiên cứu kỹ tình hình địch, ta, địa hình địa vật, cân nhắc các phương án tác chiến... Cuối cùng, đồng chí đề xuất kế hoạch “Trong đánh, ngoài vây” với nội dung chính là: Kết hợp lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân nội, ngoại thành. Lực lượng vũ trang bố trí thành nhiều tổ chiến đấu ở khắp nơi trong thành phố, khi có lệnh chiến đấu thì đồng loạt nổ súng đánh vào các vị trí địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng. Sau đó một bộ phận chốt giữ ở trung tâm thành phố, dựa vào sự ủng hộ của nhân dân, giành giật với địch từng căn nhà, từng góc phố. Các bộ phận khác toả ra chặn giữ các cửa ô, trong đánh ra, ngoài đánh vào, tiêu hao, vây hãm giam chân quân Pháp. Kế hoạch này được Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng chỉ huy phê duyệt.

        20 giờ 30 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, theo mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, công nhân Nhà máy Điện Hà Nội cho nổ mìn phá máy phát điện, đèn toàn thành phố tắt, pháo đài Láng phát hoả, hiệu lệnh chiến đấu bắt đầu. Hà Nội mở màn cuộc Toàn quốc kháng chiến.

        Do đã chuẩn bị sẵn sàng, các phương án tác chiến đã được quán triệt, hiệu lệnh chiến đấu vừa phát ra, các lực lượng vũ trang Hà Nội: Vệ quốc quân, công an xung phong, tự vệ nội thành đồng loạt tiến công các vị trí địch, trước hết là các vị trí xen kẽ giáp nhau, như Nhà máy Điện Hà Nội (còn gọi nhà Đèn Bờ Hồ), Nhà máy Nước Yên Phụ, Nhà in Viễn Đông (IDEO), Ngân hàng Đông Dương, ga Hàng Cỏ... Các trận địa pháo ở Láng, Xuân Canh bắn vào trại lính Pháp. Tiếng loa phát thanh hô hào “Giờ cứu nước đã đến” vang lên trong thành phố. Nhân dân hò reo ném bàn ghế, sập gụ, cánh cửa, kiện hàng... ra đường phố cản địch. Công nhân hoả xa; công nhân xe điện đẩy các toa tàu ra ngã tư, ngã năm làm chiến luỹ; tự vệ ngả cây, hạ cột điện tạo thành các vật cản cơ giới của địch. Nhân dân nội thành tham gia phục vụ chiến đấu... Nhân dân ngoại thành tổ chức lực lượng tiếp ứng cho nội thành.

        Giặc Pháp cũng đã chuẩn bị trước, tuy lúc đầu có bị bất ngờ, lúng túng nhưng chúng nhanh chóng tổ chức phản kích. Hàng nghìn quân Pháp có chiến xa mở đường tiến đánh các vị trí trọng yếu của ta như Bắc Bộ phủ (nhà làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đó), trụ sở Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy, doanh trại Vệ quốc đoàn Trung ương ở Phố Hàng Bài, Sở chỉ huy Tự vệ chiến đấu ở Đấu Xảo, nhà Ga, cầu Long Biên, Nhà Hát Lớn... trận chiến đấu ác liệt nhất trong đêm 19 tháng 12 là trận bảo vệ Bắc Bộ Phủ. Khoảng 500 lính lê dương với hàng chục xe tăng, xe thiết giáp, xe vận tải... tập trung tiến đánh Bắc Bộ phủ. Bảo vệ Bắc Bộ phủ ta chỉ có chưa đầy 2 đại đội Vệ quốc đoàn. Trong gần 20 giờ địch tổ chức 6 đợt xung phong, mỗi đợt đều có xe tăng đi trước bắn phá, bộ binh tiến theo sau. Các chiến sĩ ta đánh địch quả cảm, dùng bom ba càng diệt xe tăng, bộ binh phản kích đánh lui địch. Đến đợt 6, đạn dược ta gần hết, hơn 40 chiến sĩ hy sinh, Ban chỉ huy Liên khu cho bộ đội rút. Địch phải cho máy bay đến bắn phá dữ dội. Tối 19 tháng 12, khi quân ta đã rút địch mới vào được Bắc Bộ phủ. Tính cả 6 đợt xung phong, địch bị diệt 122 tên, 4 xe tăng và xe bọc thép, 1 xe gíp 3 xe vận tải.

        Ở các vị trí khác, quân dân ta cũng chiến đấu kiên cường diệt hàng trăm tên địch và nhiều xe tăng, xe bọc thép. Như trận địch tấn công rạp Ô-lanh-pi-a (nay là rạp Hồng Hà) bị ta đẩy lùi diệt 30 tên; trận địch tấn công Nha Công an (nay là trụ sở Bộ Nội vụ), 140 công an xung phong đánh trả quyết liệt diệt gần 100 tên địch, sau đó mới rút...

        Qua một ngày đêm chiến đấu, quân dân Hà Nội đã đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, diệt khoảng 300 tên địch, bắt khoảng 400 tên, phá hủy 10 xe tăng, 5 xe bọc thép, 2 xe gíp, xe vận tải. Tuy nhiên, do lực lượng quá chênh lệch, ta đã mất nhiều vị trí.

--------------------
        1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 4, tr. 177.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM