Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Hai, 2019, 11:42:55 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN  (Đọc 16013 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 03:01:09 AM »


        - Tên sách: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam 1964-1973
        - Tác giả: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân.
        - Năm xuất bản: 2009.
        - Số hóa: I_Vy, dongadoan.

        * CHỈ ĐẠO NỘI DUNG:

                Thiếu tướng, TS Phạm Văn Thạch
                Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà
                Đại tá, PGS, TS Hồ Khang

        * CHỦ BIÊN:

                Đại tá Hán Văn Tâm

        * BIÊN SOẠN:

                Đại tá Hán Văn Tâm
                Trung tá Lê Đức Hạnh
                Thiếu tá Phùng Thị Hoan

LỜI NÓI ĐẦU

        Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, các quốc gia không chỉ huy động tiềm lực trong nước mà còn tìm kiếm đồng minh, tập hợp lực lượng từ bên ngoài và huy động mọi khả năng để chống lại đối phương. Nhân loại đã chứng kiến sự hình thành và tan rã nhiều liên minh chính trị, quân sự, kể cả trong các cuộc chiến tranh xâm lược cũng như trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

        Từ thời cổ đại, Sparta và Aten đã lôi kéo các thành bang Hy Lạp vào các khối liên minh của mình để tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm giành quyền thống trị toàn bộ lãnh thổ Hy Lạp. Vào thời Trung cổ, các liên minh Ôxtơrôgốt (Đông Gốt), Vidigốt (Tây Gốt), Văngđan, Frăng, Ăngglô - Xắcxông... đã đem lại sức mạnh cho các bộ lạc Giécmanh làm nên những cuộc thiên di vĩ đại và lập ra hàng loạt vương quốc ở Tây Âu. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, các liên minh chính trị, quân sự được lập ra với quy mô ngày càng lớn. Nếu như các nước thực dân, đế quốc lập ra các liên minh chính trị, quân sự để tranh giành khu vực ảnh hưởng, tranh giành nguồn nguyên liệu và thị trường hàng hoá, hòng áp đặt sự thống trị lên các quốc gia bị xâm lược, đe dọa hoà bình, an ninh của các dân tộc thì các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng đấu tranh giành độc lập dân tộc liên minh lại để chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân, vì nền độc lập dân tộc, hoà bình và tiến bộ xã hội.

        Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đế quốc, do đế quốc Mỹ đứng đầu, đã lập ra hàng chục khối liên minh ở khắp các châu lục và gây ra hàng trăm cuộc chiến tranh lớn, nhỏ trên thế giới. Trong số hơn 100 cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang do các nước đế quốc phát động và tiến hành đến giữa thập niên 70 thế kỷ XX, có tới 30% trường hợp được tiến hành với sự tham gia của quân đội đồng minh các nước đế quốc . Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã lôi kéo được 39 quốc gia và vùng lãnh thổ trực tiếp hoặc gián tiếp đứng về phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn chống lại nhân dân Việt Nam; trong đó một số nước trực tiếp đưa quân vào chiến trường miền Nam Việt Nam là Hàn Quốc , Thái Lan, Ôxtrâylia, Philíppin và Niu Dilân (thứ tự này được xác định theo số quân từ cao xuống thấp của các nước tham gia chiến tranh Việt Nam).

        Ngày nay, quan hệ giữa các nước đồng minh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, cũng như của chính nước Mỹ với Việt Nam, đã từng bước được cải thiện và phát triển ngày càng sâu rộng. Cùng với sự phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác, nhiều vấn đề xung quanh việc quân đồng minh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam vẫn được đặt ra. Cũng như nhiều người Mỹ cho rằng, việc chính quyền Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh chống Việt Nam là một sai lầm, không ít người ở các nước đồng minh Mỹ vẫn thường đặt câu hỏi: Tại sao trước đây Chính phủ nước họ lại cử lực lượng quân đội tham gia vào cuộc chiến tranh đó? Sự tham chiến đó đã đem lại những gì cho đất nước họ và để lại những hậu quả gì cho Việt Nam?...

        Nhằm góp phần làm sáng tỏ các vấn đề trên, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu, biên soạn công trình "Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam (1964-1973)". Sau khi phân tích chính sách liên minh quân sự của đế quốc Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên nhân, bối cảnh Mỹ lôi kéo quân đồng minh tham gia chiến tranh Việt Nam, các tác giả tập trung phản ánh quá trình tham gia chiến tranh Việt Nam của quân đội các nước Hàn Quốc, Thái Lan, Ôxtrâylia, Philíppin và Niu Dilân trên chiến trường miền Nam; bao gồm thời gian tham gia, thành phần lực lượng, địa bàn hoạt động và tính chất nhiệm vụ của từng đơn vị quân đồng minh trên chiến trường. Bên cạnh các nội dung trên, cuốn sách còn phản ánh tác động của việc tham gia chiến tranh Việt Nam đối với đời sống chính trị - xã hội của các nước đồng minh Mỹ và quan hệ của các nước đó với Việt Nam sau chiến tranh.

        Do tư liệu liên quan đến đề tài chưa thu thập được nhiều và tản mạn nên cuốn sách này khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Rất mong được đông đảo bạn đọc đóng góp ý kiến để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong lần xuất bản sau.

        Nhân dịp cuốn "Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam 1964-1973" ra mắt bạn đọc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin chân thành cảm ơn các trung tâm lưu trữ trong và ngoài quân đội đã cung cấp tư liệu trong quá trình nghiên cứu, cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cộng tác xuất bản công trình này.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #1 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 03:04:57 AM »


Chương một

CHÍNH SÁCH LIÊN MINH QUÂN SỰ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
VÀ VIỆC LÔI KÉO ĐỒNG MINH THAM GIA
CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM

        1. CHÍNH SÁCH LIÊN MINH QUÂN SỰ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI.

        Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, trên trường quốc tế đã diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc; đặc biệt là sự thay đổi căn bản so sánh lực lượng giữa hai hệ thống xã hội theo hướng ngày càng có lợi cho hệ thống xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó đã đặt chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ trước những thách thức mới, buộc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược nói chung và chính sách liên minh quân sự nói riêng.

        Mặc dù bị tàn phá nặng nề, nhưng sau chiến tranh, Liên Xô vẫn giữ được vị thế một cường quốc với những tiềm năng to lớn. Trên lĩnh vực quân sự, Hồng quân Liên Xô không chỉ nổi lên như một đội quân giữ vai trò quyết định trong việc đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật, giải phóng đất nước, giúp nhân dân nhiều nước Đông Âu, khu vực Ban Căng và cả ở Trung Âu thoát khỏi ách phát xít mà còn tỏ rõ là một quân đội chính quy, hùng mạnh, có đầy đủ các quân chủng, binh chủng, được trang bị những loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Về kinh tế, Liên Xô cơ bản vẫn bảo toàn được nền công nghiệp nhờ di chuyển các cơ sở sản xuất sang phía Đông. Uy tín và ảnh hưởng chính trị của Liên Xô trên trường quốc tế được nâng lên rõ rệt; nhiều nước mới được giải phóng đã lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội từ chỗ chỉ có một nước đã trở thành một hệ thống thế giới, làm chỗ dựa vững chắc cho các dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng. Chỉ một thời gian ngắn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hơn 100 nước được giải phóng khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân; hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc bị tan rã. ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân cũng phát triển với quy mô chưa từng thấy.

        Trong khi hệ thống xã hội chủ nghĩa được xác lập và đứng trước những triển vọng tốt đẹp thì hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa lại lâm vào tình trạng hết sức khó khăn; không chỉ các nước bại trận là Đức, Italia, Nhật Bản bị điêu tàn, suy sụp mà ngay cả những nước trong phe đồng minh thắng trận như Anh, Pháp cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải, cả ở trong nước cũng như ở các thuộc địa. Duy chỉ có Mỹ không những không bị chiến tranh tàn phá mà còn trở thành nước giàu mạnh nhất, chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong các nước tư bản chủ nghĩa. Về kinh tế, do đứng trung lập trong thời kỳ đầu chiến tranh, giữ vai trò "lái súng" nên riêng việc buôn bán vũ khí cho các nước tham chiến đã đem lại cho tư bản Mỹ 114 tỷ đô la lợi nhuận1. Sau chiến tranh, Mỹ có một nền công nghiệp và nông nghiệp phát triển cao: công nghiệp Mỹ chiếm quá nửa tổng sản lượng công nghiệp của cả thế giới tư bản; sản lượng nông nghiệp gấp 2 lần sản lượng của cả Anh, Pháp, Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại; tổng sản phẩm quốc dân tăng 154% so với trước chiến tranh. Về tài chính, Mỹ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới, chiếm gần ba phần tư khối lượng vàng của thế giới tư bản. Mỹ là nước chủ nợ duy nhất trên thế giới trong những năm đầu sau chiến tranh, trong khi Anh và Pháp là những con nợ lớn của Mỹ. Đặc biệt, về quân sự, Mỹ từ vị trí thứ 17 trước chiến tranh và sau chiến tranh đã vươn lên hàng đầu, có lực lượng hải quân và không quân vượt xa các nước khác. Mỹ lại nắm độc quyền về vũ khí nguyên tử và máy bay mang vũ khí hạt nhân chiến lược.

        Với thế và lực nổi trội, Mỹ trở thành một siêu cường trên thế giới. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ngày 9 tháng 8 năm 1945, Tổng thống Mỹ Truman đã ngạo mạn tuyên bố: "Chúng ta có thể nói rằng chúng ta là một nước hùng mạnh nhất thế giới sau chiến tranh, một nước có thể là hùng mạnh nhất trong toàn bộ lịch sử"2.

-------------------
         1. Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003, tr. 285

        2. Báo Le Monde (Pháp), ngày 11 tháng 8 năm 1945.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #2 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 03:06:01 AM »


        Trong lịch sử thế giới, khi một cường quốc có thế và lực hùng mạnh như vậy, cường quốc ấy tất có mưu mô giành lấy ngôi vị bá chủ thế giới cho mình. Uyliam Z. Phôstơ, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ viết: "Đó là bản tính thú vật của chủ nghĩa tư bản. Không thể tưởng tượng được rằng, bất cứ một nước tư bản chủ nghĩa nào thấy mình có một địa vị tương đối thuận lợi như Mỹ hiện nay mà không táo bạo tìm cách giành ngôi bá chủ thế giới, đúng như nước Mỹ đang làm bây giờ"1. Chính Tổng thống Mỹ Truman, trong thông điệp tháng 12 năm 1945 về vấn đề tổ chức lại lực lượng vũ trang, đã ngộ nhận rằng, Mỹ là người chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và chiến thắng đó đã đặt "nhân dân Mỹ trước yêu cầu thường xuyên và nóng bỏng là lãnh đạo thế giới"2.

        Trong bản báo cáo kết thúc chiến tranh năm 1945, Tham mưu trưởng quân đội Mỹ, Tướng J. K. Mácsan, trong khi tiếp tục khẳng định tham vọng bá chủ toàn cầu đã công khai bày tỏ quan điểm thực hiện tham vọng đó bằng sức mạnh: "Học thuyết bảo vệ nửa trái đất mà chúng ta theo đuổi cho đến nay không thể tiếp tục coi là cơ sở an ninh của chúng ta. Giờ đây chúng ta cần quan tâm đến hoà bình trên toàn thế giới. Mà hoà bình chỉ có thể giữ gìn bằng sức mạnh"3.

        Tham vọng "lãnh đạo thế giới" theo quan điểm "dựa trên sức mạnh" đã ăn sâu vào giới cầm quyền Mỹ.

        Ngày 5 tháng 4 năm 1947, trong khi công bố "Học thuyết" của mình, Tổng thống Truman giải thích rõ chính sách của Mỹ: "Giờ đây thế giới nhìn chúng ta (nước Mỹ - TG) như một người đứng đầu. Các sự kiện đang thúc đẩy chúng ta nắm lấy vai trò này. Sức mạnh của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có nghĩa là đất nước phải duy trì sức mạnh quân sự tương xứng với trách nhiệm này"4. Thực chất của quan điểm "dựa trên sức mạnh" là, chủ nghĩa đế quốc, do Mỹ đứng đầu, phải giành ưu thế quân sự đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa để vào thời điểm nhất định sẽ đe dọa gây chiến tranh, buộc các nước xã hội chủ nghĩa phải chấp nhận những điều kiện do Mỹ đưa ra. Giới cầm quyền Mỹ coi sức mạnh quân sự bao gồm cả những lực lượng và phương tiện hiện có cũng như sẽ được triển khai, căn cứ vào khả năng của các nước đồng minh khi nổ ra chiến tranh. Các nhà chiến lược quân sự Mỹ thừa hiểu rằng, khi gây chiến tranh, họ không có nhiều thời gian để động viên nguồn lực của mình, do vậy họ chỉ có thể tác chiến bằng những lực lượng và phương tiện hiện có vào thời điểm bắt đầu nổ ra chiến tranh.

        Với quan điểm "dựa trên sức mạnh", coi vũ lực là công cụ quan trọng để đạt các mục tiêu chính trị, Mỹ khẩn trương triển khai chính sách liên minh quân sự theo hướng mới, hình thành các khối liên minh chính trị - quân sự và thiết lập hệ thống căn cứ quân sự trên khắp các châu lục, bắt đầu từ "sân sau" của mình là châu Mỹ Latinh. Ngay từ tháng 5 năm 1946, Tổng thống Mỹ Truman đã đề xuất quan điểm thống nhất toàn bộ quân đội các nước Mỹ Latinh dưới sự chỉ huy của Mỹ để "tiếp tục phát triển phòng thủ". Điều đó có nghĩa là quân đội các nước Mỹ Latinh có thể được sử dụng dưới sự chỉ huy của Mỹ ở ngoài lục địa châu Mỹ. Quan điểm này bị dư luận phản đối quyết liệt, buộc Mỹ phải che đậy ý đồ của mình bằng quan điểm phối hợp phòng thủ châu lục trong khuôn khổ Hiệp ước tương trợ liên Mỹ (RIO, ký ngày 2 tháng 9 năm 1947 tại Riô đờ Gianerô).

----------------------         
         1. Uyliam Z, Phôstơ, Đại cương lịch sử chính trị châu Mỹ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 248.

         2. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, NATO trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1949-1991), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 29.

         3. Giulian Lidơ, NATO - Lược sử và học thuyết, Nxb Sách chính trị, Mátxcơva, 1964, tr. 29 (bản tiếng Nga).

         4. Petrốp N, Xôcôlốp N, Vlađimirốp I, Katin P. Mỹ và NATO: nguồn gốc nguy cơ chiến tranh, Nxb Quân sự, Mátxcơva, 1979, tr. 36 (bản tiếng Nga).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #3 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 03:07:20 AM »


        Nòng cốt của toàn bộ hệ thống liên minh chính trị - quân sự đế quốc, công cụ chủ yếu để thực hiện chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai là khối Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Khi thành lập, ngày 4 tháng 4 năm 1949, NATO chỉ gồm Mỹ, Canađa và 10 nước Tây Âu (Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Hà Lan, Ailen, Lúcxămbua, Na Uy, Bồ Đào Nha, Anh và Italia). Sau đó, Mỹ tìm đủ mọi cách để lôi kéo các nước đế quốc chủ chốt vào khối NATO. Mỹ và các nước thành viên NATO gọi khối này là một tổ chức phòng thủ, nhưng thực tế đây là một liên minh đế quốc mang tính chất hiếu chiến, bởi nó chứa đựng những điều khoản cho phép Mỹ có thể lợi dụng để tấn công Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa1.

        Vào thời điểm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai và những năm đầu sau chiến tranh, các nhà hoạch định chính sách đối ngoại và chiến lược Mỹ tập trung nỗ lực củng cố địa vị của chủ nghĩa đế quốc ở Tây Âu và lôi kéo các nước tư bản ở khu vực này vào quỹ đạo chung của chủ nghĩa đế quốc, dưới cái ô bảo trợ của Mỹ. Nhưng, từ cuối những năm 40 - đầu những năm 50 thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, đặc biệt là sự ra đời nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và những thắng lợi ngày càng to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia và Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã buộc Mỹ phải tìm mọi biện pháp để cứu vãn địa vị của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam Á nói riêng và vùng Viễn Đông nói chung, kể cả biện pháp tăng cường can thiệp trực tiếp vào khu vực này.

        Khi Chiến tranh thế giới thứ hai còn đang tiếp diễn, các tập đoàn tư bản độc quyền Mỹ đã muốn mở rộng bành trướng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đẩy lùi ảnh hưởng của các cường quốc thực dân châu Âu đang bị suy yếu để giành bá quyền kinh tế, kiểm soát nguồn tài nguyên thiên nhiên và thị trường tiêu thụ giàu tiềm năng nhất thế giới này. Mỹ đã tích cực ủng hộ và chi viện "hào phóng" cho các thế lực chống Cộng, nhất là Quốc dân đảng Trung Hoa, để làm chỗ dựa cho việc bảo vệ quyền lợi của mình ở khu vực này. Song, mọi nỗ lực của các tập đoàn tư bản độc quyền và Chính phủ Mỹ đã không đem lại những kết quả như họ mong muốn, cả về chính trị cũng như quân sự. Những chế độ được dựng lên ở châu Á bằng tiền của của Mỹ tỏ rõ sự bất lực trước làn sóng cách mạng đang dâng lên ngày càng mạnh mẽ ở các nước này và trong khu vực. Thực tế đó làm cho các nhà chiến lược Mỹ nhận thấy Mỹ càng cần trực tiếp gánh lấy "trách nhiệm" đối với các nước châu Á và Tây Thái Bình Dương, tức là trực tiếp can thiệp quân sự và chính trị vào công việc nội bộ của các nước này. Mỹ quyết định giúp Nhật Bản khôi phục tiềm lực kinh tế, đồng thời bắt đầu quan tâm đến việc thành lập một liên minh chống Cộng tại các quốc gia châu Á.

-----------------        
       1. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, NATO trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1949-1991), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 54-55.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #4 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 03:08:32 AM »


        Tháng 11 năm 1948, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thông qua một quyết định tối mật về việc ký một hoà ước "mềm" với Nhật Bản nhằm tiến tới tái vũ trang và biến nước này thành trụ cột của "hệ thống an ninh chống Cộng" ở Viễn Đông. Tiếp đó, năm 1949, Quốc hội Mỹ thông qua luật viện trợ hợp tác phòng thủ với "thiện chí" giúp "các nước tự do và các dân tộc tự do ở Viễn Đông" thành lập một tổ chức tương trợ và hợp tác1. Trên cơ sở đạo luật này, tháng 6 năm 1950, ủy ban đối ngoại Quốc hội Mỹ đã kiến nghị thành lập một khối quân sự kiểu NATO ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương với sự tham gia của Anh, Pháp, Mỹ, Canađa, Singapo, Ôxtrâylia và Niu Dilân2. Song, do xung đột quyền lợi giữa Nhật Bản với các nước Ôxtrâylia và Niu Dilân, do giữa Mỹ và các nước Tây Thái Bình Dương không tìm được tiếng nói chung về vấn đề Nhật Bản nên khối quân sự đó đã không ra đời; thay vào đó là hàng loạt các hiệp ước hai bên và ba bên được ký kết: Hiệp ước hợp tác phòng thủ Mỹ - Philíppin, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật, Mỹ - Cộng hoà Triều Tiên, Mỹ - Ôxtrâylia và Niu Dilân (ANZUS)3,...

        Cũng cần nói rõ thêm, về hình thức, ANZUS là một liên minh quân sự ba bên, song nó có quan hệ chặt chẽ với các khối liên minh khác của chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là với NATO, SEATO và ANZUK4. Việc ký hiệp ước ANZUS (ngày 1 tháng 9 năm 1951) đánh dấu một bước ngoặt lớn trong chính sách đối ngoại của Ôxtrâylia và Niu Dilân. Giới cầm quyền các nước này chính thức thừa nhận vai trò chủ đạo của Mỹ trong thế giới tư bản nói chung, trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng. Đối với Mỹ, hiệp ước ANZUS mở đường cho Mỹ thâm nhập sâu rộng vào khu vực ảnh hưởng của thực dân Anh trước đây với những nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có; đồng thời là một bước quan trọng tiến tới tập hợp các nước châu Á - Thái Bình Dương vào một liên minh chính trị - quân sự của đế quốc Mỹ nhằm chống lại các nước xã hội chủ nghĩa, chống phong trào cách mạng, phong trào giải phóng dân tộc của các nước Đông Nam Á và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

        Theo Điều 4 của Hiệp ước ANZUS, các nước tham gia Hiệp ước coi một cuộc tấn công quân sự vào bất kỳ một nước đồng minh nào cũng sẽ là "mối đe dọa nền hoà bình và an ninh của chính mình" và do đó "sẽ hành động chống lại nguy cơ chung phù hợp với quy định của hiến pháp mỗi nước". Có thể nói, ANZUS là một liên minh thuần tuý chính trị - quân sự của các nước đế quốc; trong văn bản Hiệp ước hoàn toàn không đề cập gì đến các vấn đề hợp tác kinh tế hoặc văn hoá. Các đồng minh ANZUS của Mỹ là những nước ủng hộ tích cực cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Đông Dương và đây là một trong những hoạt động chủ yếu của khối trong những năm 60-70 thế kỷ XX. ANZUS không có cơ quan thường trực giữa các kỳ họp của cơ quan tối cao mà chỉ có các kỳ họp của Hội đồng bộ trưởng ngoại giao các nước thành viên (Hội đồng ANZUS). Nội dung các kỳ họp của Hội đồng ANZUS (tổ chức mỗi năm 1 lần luân phiên ở thủ đô các nước thành viên) được giữ bí mật nghiêm ngặt bởi chủ yếu là thảo luận và thông qua các chương trình hành động quân sự theo ý đồ chiến lược của Mỹ ở các khu vực Đông Nam Á, châu Đại Dương và Ấn Độ Dương. Vai trò của ANZUS trong chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ giảm đi đáng kể sau khi khối SEATO ra đời (tháng 9 năm 1954). Nhưng từ đầu những năm 1960, khi SEATO tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu của Mỹ trong các hoạt động quân sự ở Việt Nam và Lào, khi nội bộ SEATO bất đồng gay gắt do Pháp phản đối ý đồ của Mỹ muốn sử dụng SEATO để can thiệp tập thể vào Việt Nam và Lào, ANZUS lại nổi lên giữ vai trò tích cực trong các chương trình hành động quân sự của Mỹ ở khu vực; đặc biệt là trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

        Ngày 8 tháng 9 năm 1954, tại Manila (Philíppin), các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Philíppin, Thái Lan và Pakistan đã ký các văn kiện cơ bản của khối SEATO, gồm Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á (còn gọi là Hiệp ước Manila) và Hiến chương Thái Bình Dương (có hiệu lực từ tháng 2 năm 1955). Khối SEATO được coi là chỗ dựa chủ yếu để giữ cho quân cờ đôminô Nam Việt Nam không bị sụp đổ.

-----------------
        1. Môrôdốp S.N, ANZUS - liên minh xâm lược, Mátxcơva, 1969, tr. 9-10 (bản tiếng Nga).

         2. Chaudhri M, Pakistan and Regional Pacts, Karachi, 1958, p. 74.

         3. Viết tắt từ các chữ cái đầu tên tiếng Anh của các nước Ôxtrâylia, Niu Dilân và Mỹ.

         4. Viết tắt từ các chữ cái đầu tên tiếng Anh của các nước Ôxtrâylia, Niu Dilân và Anh.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #5 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 03:55:27 AM »


        Những người sáng lập Tổ chức Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á cố tìm cách che đậy mục đích và hành động xâm lược của các nước đế quốc bằng những lời lẽ có vẻ rất thiện chí như "phòng thủ tập thể", "bảo vệ hoà bình và an ninh"... Họ tuyên bố mục đích chính của các nước thành viên là "duy trì, tăng cường khả năng của từng nước và khả năng tập thể chống lại một cuộc tấn công vũ trang, ngăn ngừa và chiến đấu chống lại mọi hoạt động lật đổ do bên ngoài điều khiển chống lại toàn vẹn lãnh thổ và sự ổn định về chính trị của họ". Với lớp hoả mù "phòng thủ" đó, bất kỳ một phong trào đấu tranh nào của nhân dân các nước cũng có thể bị coi là "hoạt động phá hoại được điều khiển từ bên ngoài" và là cái cớ cho các nước đế quốc can thiệp vũ trang.

        Tuy nhiên, chỉ cần nhìn vào thành phần các nước tham gia Hiệp ước cũng đủ thấy đây không phải là một tổ chức an ninh chung châu Á, như nhà bình luận chính trị Mỹ Oantơ Lípman đã chỉ rõ: "Muốn giải quyết vấn đề hoà bình Đông Nam Á phải có những điều kiện làm cho tất cả các nước Đông Nam Á tham gia được, để nhằm mục đích chung là chống ngoại xâm"1.

        Mục đích và tính chất đích thực của khối SEATO được thể hiện rõ trong bản Hiến chương Thái Bình Dương, trong đó khái niệm "xâm lược" được hiểu là "xâm lược của cộng sản"2. Các nước thành viên Hiệp ước đã vi phạm luật pháp quốc tế khi tự cho mình quyền can thiệp vào công việc của các nước châu Á, kể cả các nước không tham gia Hiệp ước. Theo các hiệp định ký năm 1954 ở Giơnevơ về vấn đề Đông Dương, các nước Đông Dương không được tham gia vào bất kỳ khối quân sự nào; vì vậy Nam Việt Nam, Lào và Campuchia không tham gia Hiệp ước. Nhưng Điều 8 bản Hiệp ước lại chỉ ra "khu vực Hiệp ước" bao gồm tất cả lãnh thổ các nước châu Á tham gia Hiệp ước cũng như toàn bộ vùng Thái Bình Dương và Tây Nam, trừ vùng Thái Bình Dương ở phía bắc vĩ tuyến Bắc 21030. Như vậy, phạm vi hoạt động của SEATO bao gồm cả Nam Việt Nam, Lào và Campuchia cũng như Ấn Độ, Miến Điện và Inđônêxia, bất kể các nước này có tán thành hay không. Đó là chưa kể Hiệp ước còn cho phép "có thể bổ sung điều khoản này nhằm đưa vào khu vực Hiệp ước lãnh thổ của nước nào sẽ tham gia Hiệp ước"3.

        Theo Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á, các bên tham gia Hiệp ước "cam kết hành động" trong trường hợp xảy ra "một cuộc xâm lược vũ trang trong khu vực Hiệp ước nhằm chống lại bất cứ nước nào tham gia hiệp ước"4. Đương nhiên, "hành động" mà Hiệp ước nói đến chỉ có thể là hành động can thiệp quân sự bởi nó nhằm "chống lại một cuộc tiến công vũ trang... và chiến đấu chống lại mọi hoạt động lật đổ do bên ngoài điều khiển chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và sự ổn định về chính trị" của các nước tham gia Hiệp ước. Tuy nhiên, Điều 4 bản Hiệp ước quy định, một hành động chỉ được thừa nhận là "một cuộc xâm lược vũ trang trong khu vực Hiệp ước nhằm chống lại bất cứ nước nào tham gia Hiệp ước hoặc chống lại bất cứ quốc gia nào hoặc lãnh thổ nào" khi "các nước tham gia Hiệp ước nhất trí thoả thuận nêu ra"5. Do vậy, mặc dù Việt Nam, Lào và Campuchia được SEATO "bảo hộ", nhưng mùa Xuân 1961, khi âm mưu của đế quốc Mỹ sử dụng quân ngụy Lào để đàn áp phong trào cách mạng nước này đứng trước nguy cơ thất bại, các lực lượng yêu nước Lào mở rộng tiến công địch ở nhiều nơi, giải phóng nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn với các địa bàn chiến lược như Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Nakay..., kiểm soát tới 60% lãnh thổ với hơn 1 triệu dân, Mỹ đã không thể huy động lực lượng quân đội các nước SEATO can thiệp vào Lào vì bị Anh và Pháp phản đối, không có sự "nhất trí thừa nhận" Lào bị xâm lược vũ trang.

---------------
         1. Hiệp ước xâm lược Đông Nam Á, cuộc phiêu lưu mới của đế quốc Mỹ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1954, tr. 6.

         2. Giưlin P. A, Briul R, (đồng chủ biên), Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr. 296.

         3, 4, 5. Lê Sơn, Bộ mặt thật các khối quân sự của bọn đế quốc, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962, tr. 37-39.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #6 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 03:57:52 AM »


        Từ thực tế đó, để sau này không bị ràng buộc bởi Điều 4 Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á khi đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh vào miền Nam Việt Nam, Mỹ đã sớm dọn đường bằng cách ký với các nước Philíppin, Thái Lan, Ôxtrâylia, Niu Dilân... hàng loạt các hiệp ước song phương, xác định "nghĩa vụ riêng" của mỗi nước đối với "khu vực Hiệp ước". Ngoài ra, tại kỳ họp thứ 8 của Hội đồng SEATO (diễn ra tại Pari, tháng 4 năm 1963), Mỹ đã ép các nước SEATO sửa đổi nguyên tắc thông qua nghị quyết của khối; theo đó, tuy mỗi nước thành viên có quyền phủ quyết, nhưng nghị quyết vẫn được coi là có hiệu lực nếu được 5 nước tán thành và không nước nào trong 3 nước còn lại công khai phản đối; nước không bỏ phiếu tán thành có thể không tham gia những hoạt động theo yêu cầu của nghị quyết, tức là không bị ràng buộc bởi nghị quyết mà họ không tán thành. Quy định mới này cho phép Mỹ tự do thực hiện âm mưu xâm lược của mình trong khi vẫn có thể nhân danh "tập thể" khối, kể cả trong trường hợp không có sự "nhất trí thoả thuận" của tất cả các nước thành viên SEATO.

        Có thể dẫn lời nhà sử học người Mỹ Phleming để nói về hiểm họa của khối SEATO đối với các nước châu Á: "Châu Á bị áp đặt khối SEATO, một khối khiến họ lo ngại rằng họ có thể bị lôi kéo vào chiến tranh nhiều hơn là đem lại cho họ cảm giác an ninh"1.

        Tại khu vực Trung Cận Đông, năm 1955, theo sáng kiến của Mỹ, Anh cùng Irắc, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan và Iran ký Hiệp ước Liên minh phòng thủ chung - Hiệp ước Bátđa. Tuy Mỹ không chính thức tham gia khối này nhưng là người bảo trợ chính cho nó; vì vậy, mục đích của Hiệp ước Bátđa cũng không nằm ngoài ý đồ chống Liên Xô, đàn áp các lực lượng tiến bộ và phong trào giải phóng dân tộc.

        Lập các khối liên minh chính trị - quân sự, dùng lãnh thổ các nước đồng minh để xây dựng căn cứ bao vây các địa bàn chiến lược, làm bàn đạp tấn công các nước xã hội chủ nghĩa và huy động lực lượng các nước đồng minh trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh do Mỹ phát động là một chính sách bất di bất dịch của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ không dễ dàng huy động quân đội các nước đồng minh của mình trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh, bởi vì ngoại trừ NATO là khối liên minh duy nhất có lực lượng vũ trang thống nhất, còn tất cả các liên minh khác của chủ nghĩa đế quốc đều không có lực lượng vũ trang chung. Muốn huy động quân đội các nước đồng minh trực tiếp tham gia chiến tranh, Mỹ phải sử dụng các biện pháp như thông qua Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc hoặc thoả thuận riêng với từng nước.

        Bên cạnh các khối liên minh chính trị - quân sự, Oasinhtơn còn lập ra các nhà nước do các thế lực sôvanh, hiếu chiến và chịu sự chi phối của Mỹ nắm quyền; dựng lên các chính quyền bù nhìn, tay sai ở nhiều nước trên thế giới. ở châu Á, ngoài việc lập ra các chính quyền tay sai ở Nam Triều Tiên, Đài Loan, Nam Việt Nam, Mỹ còn đi ngược lại Tuyên cáo Pôxđam, tìm cách phục hồi lực lượng quân sự Nhật Bản, biến nước Nhật thành căn cứ quân sự và là đồng minh của Mỹ ở Viễn Đông để "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" ở khu vực.

        Theo Tuyên cáo Pôxđam (tháng 8 năm 1945), Nhật Bản phải để lực lượng đồng minh tiến hành những biện pháp triệt để nhằm loại bỏ chủ nghĩa quân phiệt, xoá bỏ guồng máy chiến tranh của Nhật Bản trong một thời gian ngắn. Nhưng, ngay sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Mác Áctơ - Tổng tư lệnh các lực lượng đồng minh chiếm đóng Nhật, đã tiến hành tái vũ trang Nhật Bản dưới hình thức thành lập Đội quân Cảnh sát quốc gia gồm 75.000 người (ngày 8 tháng 7 năm 1950).

-----------------
         1. Đời sống quốc tế, số 4-1962, tr. 116 (bản tiếng Nga).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #7 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 03:59:00 AM »


        Ngày 8 tháng 9 năm 1951, bất chấp sự phản đối của Liên Xô, Tiệp Khắc và Ba Lan, Mỹ đã ký hoà ước riêng rẽ với Nhật Bản. Bản "hoà ước" không đề cập gì việc nước ngoài rút lực lượng và hủy bỏ các căn cứ quân sự ở Nhật Bản như Tuyên cáo Pôxđam quy định; trái lại còn cho phép Nhật Bản được ký kết liên minh quân sự với nước ngoài, duy trì các căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật Bản và xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang Nhật. Cũng trong ngày 8 tháng 9 năm 1951, dựa vào hình thức pháp lý của "hoà ước" công nhận chủ quyền của Nhật Bản, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đin Akisơn và Thủ tướng Nhật Bản Yôsida đã ký một hiệp ước liên minh quân sự với tên gọi "Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật". Điều 1 của Hiệp ước ghi rõ: "Nhật Bản thoả thuận cho Mỹ và Mỹ chấp nhận quyền duy trì các lực lượng hải, lục, không quân của Mỹ ở Nhật Bản và ở các vùng phụ cận nước Nhật. Những lực lượng đó có thể dùng để đóng góp vào việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế ở Viễn Đông cũng như để bảo vệ nền an ninh của Nhật Bản chống lại mọi cuộc xâm lược từ bên ngoài... để giúp Nhật Bản dập tắt những cuộc bạo động và những rối loạn bên trong nước Nhật do sự xúi giục hay do sự can thiệp của một hay nhiều nước ngoài gây ra"1. Chỉ riêng điều này đã đủ thấy âm mưu của Mỹ muốn đóng quân không thời hạn trên đất Nhật, biến nước này thành một bàn đạp chiến lược ở Đông Bắc Á, bao vây, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa ở khu vực và đàn áp phong trào dân chủ ở trong nước Nhật.

        Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ đã lập ra một hệ thống liên minh chính trị - quân sự dày đặc trên thế giới với khoảng 800 căn cứ quân sự được thiết lập trên 35 nước và khu vực hải ngoại2. Với hệ thống liên minh và căn cứ quân sự đó, một mặt Mỹ âm mưu sử dụng lực lượng quân sự của các nước đồng minh cho mục đích xâm lược, chống phá cách mạng thế giới; mặt khác trực tiếp đưa quân đội của mình đến đóng căn cứ tại các nước đồng minh, tạo nên những bàn đạp bao vây và tiến công ngay sát nách Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Những bàn đạp này chạy suốt từ Bắc Mỹ sang Bắc Âu, Tây Âu, vòng xuống Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, qua Đông Nam Á lên tới Đông Bắc Á.

        Trong quá trình lôi kéo các nước vào hệ thống liên minh quân sự, đế quốc Mỹ sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, từ tuyên truyền, mua chuộc bằng viện trợ kinh tế đến gây sức ép bằng chính trị, ngoại giao; trong đó phổ biến nhất là các biện pháp tuyên truyền kích động chiến tranh và lôi kéo bằng viện trợ kinh tế. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ đã tập trung thổi phồng "nguy cơ chủ nghĩa cộng sản" từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Họ tuyên truyền rùm beng rằng: "chủ nghĩa đế quốc" Liên Xô là sự kế tục chính sách đế quốc của Sa Hoàng, còn các nước xã hội chủ nghĩa có âm mưu thiết lập sự thống trị của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, dùng bạo lực để "xuất khẩu cách mạng". Theo luận điệu của các lý luận gia của chủ nghĩa đế quốc, mọi phong trào cách mạng, phong trào dân chủ cũng như phong trào giải phóng dân tộc diễn ra trên thế giới đều là "chiến tranh phá hoại", do chủ nghĩa cộng sản gây ra.

        Với bản chất xã hội của mình, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa không bao giờ có ý định xâm lược, can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác cũng như không "xuất khẩu cách mạng", như các nhà lý luận của các nước tư bản thường rêu rao, vu khống. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan tâm hàng đầu của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và các nước mới được giải phóng cũng như nhiều nước tư bản là tập trung nỗ lực vào việc khôi phục nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, giải quyết những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, chứ không phải đi xâm chiếm lãnh thổ nước khác. Liên Xô là nước gánh chịu tổn thất chiến tranh nhiều nhất với khoảng một nửa tổng thiệt hại của cả thế giới. Trong tổng số hơn 56 triệu sinh mạng bị chiến tranh cướp đi, riêng Liên Xô đã mất gần 30 triệu; về vật chất có tới 6 triệu ngôi nhà, khoảng 17.700 thành phố, 70.000 làng xã, một phần tư nền công nghiệp, 100.000 hợp tác xã bị phá hủy. Các nước Đông Âu chỉ còn một phần ba tiềm lực kinh tế so với trước chiến tranh. Trong bối cảnh đó, Liên Xô cũng như các nước Đông Âu càng không thể nghĩ đến việc gây chiến tranh với nước khác.

-----------------
         1. Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (giai đoạn 1939-1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 395-396.

         2. Nguyễn Anh Dũng, Về chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ (1946-1990), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 19.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #8 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:01:08 AM »


        Trong khi đó, Mỹ trù tính phát động Chiến tranh thế giới thứ ba để chống lại Liên Xô. Các nhà tư tưởng cực hữu của thế giới tư bản không che giấu mục đích của Chiến tranh thế giới thứ ba là tiêu diệt Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản: "Mục tiêu đích thực của Chiến tranh thế giới thứ ba không chỉ nhằm đánh tan nước Nga mà còn nhằm đánh bại cái mà nó bảo vệ, nhất là hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa"1. Trong kế hoạch chiến tranh chống Liên Xô (kế hoạch "Dropshot", do ủy ban tham mưu trưởng liên quân Mỹ soạn thảo năm 1949 theo chỉ thị của Tổng thống Truman), chính quyền Mỹ nhấn mạnh: "Nguy cơ nghiêm trọng nhất đe dọa an ninh nước Mỹ là... chính bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa" và do đó, mục tiêu chủ yếu của cuộc chiến tranh là "tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa bônsêvích" bằng cách dùng sức mạnh quân sự đánh bại Liên Xô và đồng minh của nó, phục hồi chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, dựa vào khối Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO, thành lập tháng 4 năm 1949) để thiết lập quyền thống trị thế giới của Mỹ2. Theo kế hoạch "Dropshot", Mỹ dự định lôi kéo tất cả các nước tư bản ở châu Âu, châu Á và châu Mỹ Latinh để tấn công Liên Xô vào năm 1957. Xét về quy mô, số nước tham gia và không gian chiến tranh, cuộc chiến tranh chống Liên Xô được các chiến lược gia Hoa Kỳ coi như cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba; trong đó có sử dụng không hạn chế tất cả phương tiện chiến tranh, trước hết là vũ khí hạt nhân, thứ vũ khí được coi là chỗ dựa chủ yếu của đế quốc Mỹ. Trong khi soạn thảo kế hoạch chiến tranh, các cơ quan tham mưu quân sự Mỹ xác định không thể để cho lục địa Bắc Mỹ bị bom đạn cày xới, do đó các hoạt động chiến sự sẽ diễn ra trên lãnh thổ các nước khác, chủ yếu là ở châu Âu.

        Ngoài việc ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật, dựng lên "nguy cơ" từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa như trên, Mỹ còn đưa ra học thuyết Đôminô khi Tổng thống Mỹ Truman biện minh cho việc Mỹ viện trợ quân sự cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1947 nhằm giữ vùng Trung Đông trong vòng ảnh hưởng của Mỹ. Thuyết Đôminô cho rằng, sự sụp đổ của một quốc gia không cộng sản sẽ đẩy nhanh sự sụp đổ của các chính phủ không cộng sản ở những nước láng giềng. Ngay sau khi ra đời, thuyết Đôminô đã được vận dụng để Mỹ và NATO khôi phục sức mạnh quân sự của Tây Đức với lý do sự yếu kém của nước này sẽ tạo ra "lỗ hổng quyền lực" ở châu Âu, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cộng sản mở rộng ra toàn bộ châu lục. Đối với châu Á, thuyết Đôminô bao gồm cả mặt chiến lược lẫn kinh tế bởi đây là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, thứ mà Mỹ rất cần và là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc ở khu vực này. Cũng theo lôgích của thuyết Đôminô, năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thành công, mặc dù còn phải tập trung đối phó với tình hình ở châu Âu, nhưng Mỹ đã lập tức đưa ra quyết định chính thức không cho xuất hiện thêm bất kỳ một quốc gia cộng sản mới nào nữa ở châu Á. Đối với Đông Dương, tháng 4 năm 1950, Bộ tham mưu liên quân Mỹ lập luận rằng "việc mất Đông Dương chắc chắn đưa đến việc mất các quốc gia lục địa Đông Nam Á"; và với việc đó, Nga sẽ kiểm soát "tiềm lực chiến tranh của châu Á"; không những "các nguồn chính của một số nguyên liệu chiến lược" sẽ bị mất mà còn mất cả các đường giao thông nữa3. Oasinhtơn còn cho rằng, Đông Dương là một quân cờ đôminô trong chiến lược toàn cầu của Mỹ và khẳng định việc mất Đông Dương "sẽ đưa đến một sự khuất phục tương đối nhanh chóng hoặc một sự liên kết với chủ nghĩa cộng sản của các nước còn lại của nhóm đó. Hơn nữa, một sự liên kết với chủ nghĩa cộng sản của phần còn lại của Đông Nam Á, Ấn Độ và lâu dài hơn, cả Trung Đông... chắc chắn sẽ diễn ra tiếp theo... như vậy sẽ gây nguy hại cho sự ổn định và an ninh của châu Âu"4. Chính vì vậy mà Mỹ ủng hộ, chi viện rất hào phóng cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam; đồng thời tích cực chuẩn bị cho sự can thiệp trực tiếp, khi cần thiết, nhằm giữ cho bằng được quân cờ đôminô quan trọng này ở Đông Dương.
-----------------
         1. Kieffer J, Strategy for Survival, New York, 1953, p. 277.

         2. "Dropshot" - The American Plan for World War III Against Russia in 1957, New York, 1973, p. 247.

         3, 4. Gabrien Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1989, tr. 96-97.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #9 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:02:08 AM »


        Song song với việc tuyên truyền chống Cộng, Mỹ sử dụng rộng rãi viện trợ kinh tế để lôi kéo các nước vào các khối liên minh chính trị - quân sự của mình. Đây là biện pháp rất hữu hiệu bởi, như trên đã nêu, sau chiến tranh, nền kinh tế của tất cả các nước tư bản đều suy sụp, đất nước bị tàn phá nên rất cần nguồn tài chính của Mỹ - nước duy nhất giàu mạnh lên nhờ chiến tranh.

        Ngày 5 tháng 6 năm 1947, phát biểu trước các sinh viên Đại học Havớt, Ngoại trưởng Mỹ J. Mácsan đưa ra một kế hoạch "viện trợ" kinh tế trên quy mô lớn cho các nước tư bản châu Âu bị tàn phá trong chiến tranh thế giới vừa qua. Mục tiêu chiến lược của "Kế hoạch Mácsan" là chuẩn bị cơ sở kinh tế - xã hội cần thiết cho việc thành lập các khối liên minh chính trị - quân sự của chủ nghĩa đế quốc, trước hết là của các nước đế quốc hàng đầu ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Nói cách khác, đế quốc Mỹ muốn thông qua công cụ "viện trợ" kinh tế để buộc các nước đế quốc khác phải phụ thuộc vào Mỹ, cả về chính trị và quân sự. Chưa đầy một năm sau, hàng chục nước tư bản Tây Âu đã nhận được "viện trợ" của Mỹ theo "Kế hoạch Mácsan" như Anh, Pháp, Áo, Bỉ, Lúcxămbua, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Aixơlen, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Bồ Đào Nha, Cộng hoà liên bang Đức,...

        Khi "Kế hoạch Mácsan" đã được triển khai tương đối rộng, Tổng thống Mỹ Truman ký "Đạo luật về viện trợ cho các nước ngoài". Đạo luật này quy định, các nước tham gia "Kế hoạch Mácsan" phải ký các hiệp ước song phương với Mỹ với những điều kiện nhận viện trợ hết sức chặt chẽ. Nước nhận viện trợ không được phép tự do sử dụng nguồn này mà phải phù hợp với lợi ích chung của các nước và lợi ích của Mỹ. Nếu sử dụng viện trợ trái với lợi ích của Mỹ, Mỹ có thể đình hoãn hoặc cắt đứt viện trợ. Các nước nhận viện trợ còn cam kết bảo đảm cho công dân và các công ty độc quyền Mỹ những ưu đãi về khai thác tài nguyên và xuất nhập cảng như công dân của nước nhận viện trợ. Mỹ lập ra danh mục những mặt hàng cấm vận buôn bán với Liên Xô và các nước Đông Âu và buộc các nước vay nợ của Mỹ phải thực hiện chính sách cấm vận của Mỹ. Điều quan trọng là các nước tham gia "Kế hoạch Mácsan" phải dành phần lớn số tiền được "viện trợ" cho các chi phí quân sự, phải liên minh quân sự với Mỹ và để Mỹ đặt các căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước mình.

        Rõ ràng, trên danh nghĩa, "Kế hoạch Mácsan" là kế hoạch phục hồi kinh tế châu Âu; song, thực chất đây là sự bí mật chuẩn bị cơ sở cho một liên minh chính trị -quân sự của chủ nghĩa đế quốc, như R. Osgood, một trong những nhà lý luận nổi tiếng của Mỹ nhận xét: "Trong chương trình phục hồi châu Âu (được biết đến với tên gọi "Kế hoạch Mácsan"), Mỹ hướng nỗ lực chủ yếu vào xây dựng thế mạnh và tiến hành thành công Chiến tranh lạnh"1.

        Ngày 25 tháng 6 năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Ngay ngày hôm sau, Tổng thống Mỹ một mặt ra lệnh cho quân đội Mỹ tham gia ngay vào cuộc chiến, mặt khác sử dụng Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc để hợp pháp hoá những hành động quân sự của mình ở Triều Tiên. Với mục đích đó, lợi dụng sự vắng mặt của Liên Xô ở Hội đồng Bảo an, Mỹ đưa vấn đề Triều Tiên ra trước Hội đồng Bảo an và dựa vào đa số thông qua Nghị quyết lên án Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên "xâm lược Cộng hoà Triều Tiên". Sau khi ra Nghị quyết kêu gọi các nước thành viên Liên Hợp quốc giúp đỡ "Cộng hoà Triều Tiên đẩy lùi xâm lược", ngày 7 tháng 7, Hội đồng Bảo an ra Nghị quyết xác định quân đội 16 nước2 (trong đó 9 nước thuộc khối NATO vừa mới được thành lập), do tướng Mỹ Mác Áctơ làm Tổng tư lệnh, được đưa vào chi viện cho quân đội Cộng hoà Triều Tiên là "quân đội Liên Hợp quốc". Với việc đưa "quân đội Liên Hợp quốc" vào tham chiến, phía Mỹ - Cộng hoà Triều Tiên nhanh chóng vượt qua vĩ tuyến 38, đánh chiếm Bắc Triều Tiên. Để hợp pháp hoá hành động đánh chiếm Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mỹ xoay sang lợi dụng đa số ở Đại hội đồng (vì lúc này Liên Xô đã trở lại hoạt động ở Hội đồng Bảo an nên có thể sử dụng quyền phủ quyết chống lại âm mưu của Mỹ) thông qua Nghị quyết cho phép "quân đội Liên Hợp quốc" "tiến hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm một tình hình ổn định trên toàn bộ Triều Tiên"3. Thế nhưng "quân đội Liên Hợp quốc" đã hành động vượt quá khuôn khổ bán đảo Triều Tiên, tiến đến tận vùng biên giới giáp với Trung Quốc. Điều đó đồng nghĩa với việc an ninh của Trung Quốc bị đe dọa. Trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định đưa Chí nguyện quân vào Triều Tiên, đẩy lui quân Mỹ và Cộng hoà Triều Tiên trở lại Nam vĩ tuyến 38. Lúc này, nhiều tướng lĩnh Mỹ đề nghị mở rộng cuộc chiến tranh Triều Tiên thành cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba nhưng Tổng thống Truman không chấp nhận và quyết định đàm phán hoà bình. Ngày 27 tháng 7 năm 1953, chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Hiệp định đình chiến Triều Tiên được ký kết với việc cấm nước ngoài tăng nhân viên quân sự cũng như vũ khí, đạn dược vào Triều Tiên; đồng thời sẽ tiến hành hiệp thương về việc rút tất cả quân đội nước ngoài khỏi Triều Tiên. Như vậy, mặc dù đã đưa hơn bốn mươi vạn quân Mỹ và đồng minh vào tham gia chiến tranh Triều Tiên nhưng rốt cuộc Mỹ vẫn phải chấp nhận chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược trên bán đảo này.

---------------
         1. Giulian Lidơ, NATO - lược sử và các học thuyết, Sđd, tr. 29.

         2. 16 nước gồm: Mỹ, Anh, Ôxtrâylia, Canađa, Niu Dilân, Thổ Nhĩ Kỳ, Bỉ, Lúcxămbua, Côlômbia, Êtiôpia, Pháp, Hy Lạp, Hà Lan, Thái Lan, Philíppin và Liên bang Nam Phi.

         3. Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (giai đoạn 1939-1952), Sđd, tr. 374.
Logged

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM