Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Tám, 2019, 05:05:37 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân đồng minh Mỹ trên chiến trường VN  (Đọc 14301 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #40 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:38:42 AM »


        Trong lúc đất nước đang phải trải qua thời kỳ hết sức khó khăn cả về kinh tế, chính trị và xã hội thì những nhân tố quốc tế mới đã tác động mạnh vào tình hình và xu thế phát triển của Thái Lan.

        Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thực hiện chính sách bành trướng và "Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản", Mỹ không ngừng mở rộng ảnh hưởng của mình sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trên con đường tìm kiếm bá quyền, Mỹ luôn coi việc tìm kiếm, lôi kéo đồng minh là yếu tố tiên quyết và là chỗ dựa vững chắc cho những thắng lợi của họ. Chính bởi lẽ đó, ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, lo sợ trước khả năng xuất hiện một nước Thái Lan độc lập, yêu hòa bình và tiến bộ sẽ là trở ngại trong việc thi hành chiến lược quân sự toàn cầu của mình, Mỹ một mặt tìm mọi cách lôi kéo Chính phủ Thái Lan đương thời, mặt khác liên kết với những lực lượng chống đối bên trong Thái Lan nhằm lật đổ Chính phủ tiến bộ do Thủ tướng Pridi đứng đầu.

        Ngày 9 tháng 6 năm 1946, lợi dụng việc vua Ananda Makidon qua đời một cách bí hiểm, Pridi bị lực lượng chống đối quy cho tội ám hại nhà vua và buộc ông phải từ chức. Chính phủ mới do Tamrong đứng đầu tiếp tục con đường của Pridi vạch ra. Đêm 8 tháng 11 năm 1947, nhóm quân sự do Phibun cầm đầu được Mỹ ủng hộ tiến hành đảo chính quân sự, lật đổ Tamrong. Chính phủ mới thẳng tay đàn áp phong trào yêu nước, đòi trung lập của nhân dân Thái Lan, xóa bỏ Hiến pháp cũ, xây dựng Hiến pháp mới. Hiến pháp mới trao cho nhà vua quyền lực tối cao. Cũng trong thời gian này, phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước Đông Dương đang trên đà phát triển và giành những thắng lợi quan trọng.

        Trước những tác động thuận - nghịch của tình hình trong nước và quốc tế như đã trình bày ở trên, Chính phủ Phibun đã chọn con đường dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự của các cường quốc tư bản, trước nhất là Mỹ, để vượt qua những khó khăn trước mắt và cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

        Với cách lựa chọn như vậy, trong những năm đầu thập niên 50 thế kỷ XX, Thái Lan đã ký với Mỹ hàng loạt hiệp ước như: Hiệp ước kinh tế - kỹ thuật (tháng 9 năm 1950), Hiệp ước tương trợ quân sự (ngày 17 tháng 10 năm 1950). Cũng trong năm 1950, Tổng thống Mỹ Truman đã phê chuẩn một khoản viện trợ 10 triệu đô la cho Thái Lan. Cuối năm 1951, cơ quan đại diện an ninh và hợp tác Mỹ - Thái được thành lập nhằm thúc đẩy chương trình "Viện trợ kinh tế, kỹ thuật và quân sự". Năm 1954, Chính phủ Thái Lan đã ký Hiệp ước Manila và trở thành thành viên của Khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) do Mỹ đứng đầu. Những năm sau đó, Thái Lan còn ký với Mỹ nhiều hiệp định, hiệp ước khác nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng. Dựa vào sự hợp tác và các nguồn viện trợ của Mỹ, từ cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 thế kỷ XX, tình hình ở Thái Lan đã có những thay đổi căn bản.

        Trên lĩnh vực kinh tế, từ một nước nông nghiệp lạc hậu với tỷ trọng công nghiệp chỉ chiếm hơn 4%, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 80 đô la Mỹ/năm, đến giữa những năm 60, nền kinh tế Thái Lan đã có những bước đột phá quan trọng. Các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế quốc dân, đời sống nhân dân được nâng cao, tỷ lệ lạm phát chỉ ở mức 2%/năm1 ...

        Trên lĩnh vực quân sự, nhờ có các nguồn viện trợ và cố vấn quân sự Mỹ, quân đội Thái Lan bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển mới. Trong một thời gian ngắn, từ chỗ chỉ là một quân đội với lực lượng bộ binh là chủ yếu, được trang bị rất thô sơ và chức năng chủ yếu là chống nổi dậy, đến đầu những năm 50 thế kỷ XX, quân đội Thái Lan đã trở thành một quân đội mạnh trong khu vực với đầy đủ các binh chủng, quân chủng, được trang bị các loại vũ khí tương đối hiện đại của Mỹ. Sau thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do bị tác động bởi Học thuyết "Đôminô" của Mỹ, Chính phủ Thái Lan đầu tư mỗi năm hàng tỷ bạt cho phát triển quân đội, đặc biệt là cho lực lượng không quân và hải quân. Đến năm 1956, không quân Thái Lan đã có tới 344 máy bay quân sự các loại, hải quân có tới 27 hải đội với hàng trăm tàu chiến. Bên cạnh đó, nhiều sân bay, quân cảng mới cũng được xây dựng như: Sân bay Takli, căn cứ không quân Don Muang; quân cảng Ban Pak Nam, Songkhla...
-----------------
         1. Pheđôrốp v.A, Quân đội và thể chế chính trị ở Thái Lan (1945-1980), Sđd, tr. 53.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #41 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:41:46 AM »


        Vào giữa thập niên 60 thế kỷ XX, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, Thái Lan xóa bỏ hoàn toàn chính sách trung lập và không can thiệp vốn là truyền thống của nhân dân Thái Lan trước đây, đồng thời tích cực tham gia vào các quyết sách của Mỹ về vấn đề Việt Nam. Việc Thái Lan quyết định nghiêng hẳn về Mỹ xuất phát từ 3 nguyên nhân: Thứ nhất, Thái Lan bị ràng buộc bởi Hiệp ước Manila, mà họ là một thành viên; thứ hai, họ muốn có vai trò và trách nhiệm nhiều hơn trong việc "phòng thủ" Đông Nam Á, vì Thái Lan là nước bị tác động mạnh bởi Học thuyết "Đôminô". Đối với Thái Lan, việc tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam còn là cơ hội để tranh thủ các nguồn viện trợ của Mỹ, phục vụ cho việc phát triển đất nước và hiện đại hoá quân đội; thứ ba, Thái Lan cho rằng, nếu Mỹ giành thắng lợi trong cuộc chiến tại Việt Nam, thì sau đó, với tư cách là một nước đồng minh thắng trận, họ sẽ có tiếng nói và vị thế mạnh hơn trong khu vực1...

        Xuất phát từ mục tiêu và cách nhận thức như vậy, trong những năm 60 thế kỷ XX, quan hệ giữa Thái Lan và Mỹ càng được thắt chặt. Ngày 6 tháng 3 năm 1962, sau cuộc họp cấp bộ trưởng ngoại giao Mỹ - Thái Lan để bàn về tình hình khu vực Đông Nam Á và nền an ninh của Thái Lan, Ngoại trưởng Mỹ Đin Raxcơ và Bộ trưởng ngoại giao Thái Lan Thanat Khoman ra tuyên bố chung, trong đó khẳng định: "Mỹ coi việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Thái Lan là vấn đề sống còn đối với quyền lợi quốc gia và với nền hòa bình thế giới. Vì vậy, nước Mỹ có trách nhiệm giúp đỡ Thái Lan, một đồng minh chiến lược, là người bạn gần gũi ở khu vực Đông Nam Á. Về vấn đề an ninh và quốc phòng Thái Lan, hai bên cho rằng, hai nước cần nỗ lực hơn nữa nhằm nâng cao khả năng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang Thái Lan nhằm đối phó một cách có hiệu quả với lực lượng nổi dậy từ bên trong và với sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản từ bên ngoài. Về phần mình, Chính phủ Mỹ sẵn sàng đóng góp để thực hiện những nỗ lực chung ấy thông qua việc mở rộng và tăng cường các khoản viện trợ quân sự cho Thái Lan"2. Bên cạnh những vấn đề về an ninh - quốc phòng, hai bên còn thỏa thuận hàng loạt vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội...

        Sau khi ra tuyên bố chung, hai nước đã ký nhiều hiệp định, trong đó phải kể đến hiệp định tương trợ quân sự song phương. Những năm sau khi ký hiệp ước, khối lượng viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan tăng lên đáng kể. Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1971, viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan lên tới 756,6 triệu đô la Mỹ, tăng hơn gấp hai lần so với giai đoạn từ năm 1951 đến năm 19603. Phần lớn nguồn viện trợ này được dùng để hiện đại hóa quân đội, chủ yếu tập trung vào việc mua sắm vũ khí, đào tạo nâng cao trình độ tác chiến cho đội ngũ sĩ quan quân đội Thái Lan, đặc biệt là số binh sĩ chuẩn bị đưa sang Việt Nam tham chiến. Dựa vào các nguồn viện trợ quân sự của Mỹ trong những năm 60, quân số thuộc lực lượng vũ trang Thái Lan đã tăng lên đáng kể và thường xuyên duy trì ở mức cao, từ 230.000 đến 250.000, trong đó có 150.000 quân chính quy, 13.000 quân đặc nhiệm, trên 65.000 quân cảnh. Ngoài ra còn có khoảng 40.000 quân thuộc lực lượng bán vũ trang và trên 20.000 quân dự bị4.

        Cũng trong khuôn khổ của Hiệp ước quân sự Mỹ - Thái, Thái Lan còn chấp nhận để Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương. Năm 1964, Mỹ bắt đầu xây dựng sân bay quân sự Takli ở tỉnh Nakhom Saoan, cách thủ đô Băng Cốc 250km. Sau "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" tháng 8 năm 1964, với ý đồ tăng cường và mở rộng cuộc chiến tranh tại Việt Nam, Mỹ ồ ạt cho xây dựng thêm hàng loạt căn cứ không quân, hải quân và hậu cần tại Uđôn, Ubôn, Còrạt, Utapao... Bên cạnh việc chấp nhận để cho Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự, Thái Lan cho phép Mỹ đưa hàng nghìn quân vào đồn trú tại nước này.

        Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn quyết định đưa hàng nghìn binh sĩ sang tham chiến tại miền Nam Việt Nam.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 25.

         2. SEATO: The failure of an alliance strategy, Singapore University Press, 1983, p. 232.

         3. Pheđôrốp v.A, Quân đội và thể chế chính trị ở Thái Lan (1945-1980), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1982, tr. 45 (bản tiếng Nga).

         4. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lược sử quân đội các nước Đông Nam Á, Sđd, tr. 386-387.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #42 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:42:44 AM »


        2. Quá trình tham chiến của các đơn vị quân đội Thái Lan trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam

        Cuối năm 1963, tình hình chiến sự trên chiến trường miền Nam Việt Nam ngày càng trở nên bất ổn và không có lợi cho cả Mỹ lẫn chính quyền Việt Nam cộng hoà. Kế hoạch Stalây - Taylo, kế hoạch khởi đầu cho việc triển khai chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam dự định trong vòng 18 tháng (kể từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962) cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam, bằng cách triển khai mạnh mẽ việc dồn dân tập trung vào 16.000 "ấp chiến lược" để triệt phá cơ sở cách mạng ở nông thôn, đã hoàn toàn bế tắc. Trong lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang ngày càng trở nên nóng bỏng thì ngày 1 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm bị giết, tiếp đó là Tổng thống Mỹ Kennơđi cũng bị ám sát.

        Trong bối cảnh ấy, người kế nhiệm Tổng thống Kennơđi là Giônxơn quyết định chấp nhận giải pháp đưa quân vào Việt Nam, đồng thời chính thức kêu gọi các nước đồng minh ủng hộ chính sách "quốc tế hoá" cuộc chiến tranh Việt Nam bằng việc phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ". Sau khi Tổng thống Giônxơn chính thức phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ", bằng nhiều biện pháp kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao..., trong vòng 6 năm (từ 1964 đến 1970), Mỹ đã lôi kéo được 39 quốc gia và vùng lãnh thổ trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

        Cũng như nhiều nước đồng minh khác của Mỹ trong khối SEATO, hưởng ứng chính sách quốc tế hóa cuộc chiến Việt Nam của Mỹ, ngày 29 tháng 9 năm 1964, Chính phủ Thái Lan quyết định đưa một đội tiền trạm gồm 10 phi công và 6 nhân viên kỹ thuật thuộc lực lượng không quân Hoàng gia Thái Lan tới Nam Việt Nam để giúp lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa vận hành và bảo trì một số máy bay vận tải, đồng thời huấn luyện chuyển loại cho các phi công Nam Việt Nam sử dụng máy bay chiến đấu. Tiếp đó, tháng 8 năm 1965, Thái Lan đưa thêm một số quân nhân thuộc lực lượng hải quân tới giúp lực lượng hải quân Nam Việt Nam sử dụng một số tàu tuần tiễu và tàu đổ bộ do Mỹ trang bị. Thời gian sau đó, theo thỏa thuận giữa Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) và Chính phủ Thái Lan, Thái Lan đưa thên một số phi công và nhân viên kỹ thuật sang Việt Nam. Bước sang năm 1966, do những bất ổn của tình hình chính trị trong nước, đặc biệt là các cuộc nổi dậy của lực lượng ly khai ở miền Nam Thái Lan, Chính phủ Thái Lan quyết định không đưa thêm quân tới Việt Nam. Như vậy, đến tháng 10 năm 1966, lực lượng quân đội Thái Lan tham chiến tại Việt Nam có khoảng hơn 100 người, lực lượng này chủ yếu làm nhiệm vụ giúp các đơn vị không quân và hải quân quân đội Việt Nam Cộng hòa vận hành và bảo trì một số máy bay, tàu chiến do Mỹ trang bị.

        Cuối năm 1966, sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam trong chiến dịch phản công mùa khô 1965-1966 và cả trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, giới cầm quyền Mỹ càng trở nên lúng túng, nội bộ bị phân hóa. Những ý kiến bất đồng về cách giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam nổi lên gay gắt. Trước tình hình đó, nhằm giành lại thắng lợi có tính chất quyết định trong năm 1967, Oasinhtơn đưa ra hàng loạt giải pháp, trong đó có việc kêu gọi các nước đồng minh Mỹ tại châu Á tăng cường "nỗ lực chung" trong việc giải quyết cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Tại hội nghị bất thường Hội đồng quân sự SEATO, tổ chức cuối năm 1966 tại Manila, đại diện phía Mỹ đưa ra một bản nhận xét tổng quan về tình hình chiến sự tại Việt Nam, về khả năng tiến công của "quân đội cộng sản Bắc Việt", đồng thời kêu gọi các nước trong khối cần phải có những giải pháp cụ thể và tích cực hơn nữa nhằm tháo gỡ những khó khăn tại Việt Nam nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung. Ý định của Mỹ là muốn lôi kéo các nước trong "Thế giới tự do" tăng cường lực lượng chiến đấu sang Việt Nam để cùng họ "chia sẻ trách nhiệm".

        Hưởng ứng lời kêu gọi của Mỹ, ngày 3 tháng 1 năm 1967, Chính phủ Thái Lan công khai tuyên bố kế hoạch sẽ triển khai 1 tiểu đoàn, hoặc 1 trung đoàn bộ binh quân Thái sang chiến trường Việt Nam. Lý do mà Chính phủ Thái Lan đưa ra cho quyết định này là: "Thái Lan là nước nằm cạnh Việt Nam và sẽ là mục tiêu tiến công tiếp theo của cộng sản... Vì vậy, Thái Lan nhận thấy cần phải gửi các đơn vị quân đội đi giúp chống lại sự xâm lược của cộng sản khi mà nó còn cách xa đất nước chúng ta... Nếu chúng ta đợi cho đến khi hỏa hoạn tới tận cửa nhà mới tìm biện pháp để dập tắt thì lúc đó đã quá muộn...1

        Sau khi Thái Lan đưa ra kế hoạch trên, Bộ tư lệnh lục quân Mỹ trên chiến trường Thái Bình Dương (USARPAC) yêu cầu Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) và Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Thái Lan (MACT) tập trung thảo luận các vấn đề có liên quan đến việc triển khai quân tại Việt Nam như: vấn đề về tổ chức, huấn luyện, trang bị, phối hợp tác chiến... Kết thúc các cuộc thảo luận kéo dài trong nhiều tháng, mặc dù còn tồn tại không ít bất đồng, nhưng cuối cùng các bên cũng đã đi đến thỏa thuận. Theo đó, Mỹ chấp thuận để Thái Lan triển khai khoảng hơn 3.300 quân sang Việt Nam. Toàn bộ lực lượng này chịu sự điều hành tác chiến của Sư đoàn 9 quân đội Mỹ; phía Thái Lan được phép thành lập Ban Tham mưu tác chiến riêng để chỉ huy hoạt động của quân Thái trong việc đảm bảo an ninh khu vực đóng quân2. Về cơ cấu tổ chức, hai bên đồng ý tổ chức lực lượng này thành 1 đại đội chỉ huy, 1 đại đội hậu cần, 1 trung đội thông tin liên lạc, 1 đại đội quân y, 1 trung đội thiết xa vận M113, 1 trung đội chiến tranh tâm lý; 1 trung đội hỏa lực, 4 đại đội bộ binh, 1 đại đội công binh... Về trang bị vũ khí, khí tài, phía Mỹ đảm bảo cung cấp một số trang thiết bị cần thiết cho hoạt động tác chiến và gần 1.000 khẩu súng bộ binh M12 cho các đơn vị quân Thái Lan trong thời gian hoạt động tại Nam Việt Nam.

-----------------
        1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 27, 32.

         2. Năm 1968, Ban tham mưu tác chiến quân đội Thái Lan tại Việt Nam được nâng lên thành Bộ tư lệnh lực lượng quân đội Hoàng gia Thái Lan tại Việt Nam, có sở chỉ huy đóng tại số 12 Trần Quốc Toản, Sài Gòn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #43 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:43:50 AM »


        Trong lúc mọi công việc đang trong giai đoạn hoàn tất thì ngày 5 tháng 7 năm 1967, phía Thái Lan thông báo trì hoãn kế hoạch triển khai Trung đoàn tình nguyện quân đội Hoàng gia Thái Lan sang Việt Nam. Lý do mà Chính phủ Thái đưa ra là họ phải "sử dụng trung đoàn này vào cuộc chiến chống lại lực lượng cộng sản nổi dậy ở miền Đông Nam Thái Lan. Hơn nữa, họ muốn lực lượng này có thêm kinh nghiệm chiến đấu trước khi đưa sang Việt Nam"1. Trong bối cảnh khi Mỹ đang tập trung mọi nỗ lực để lôi kéo thêm lực lượng đồng minh vào tham chiến tại Việt Nam, thì tuyên bố của Thái Lan bị coi là điều nguy hại và sẽ tác động không nhỏ đến quan hệ quân sự Mỹ - Thái nói riêng và với các nước trong khối SEATO nói chung. Không những thế nó còn tạo ra một tiền lệ không tốt đối với các nước đang có ý định đưa quân vào tham chiến tại Việt Nam2. Chính bởi lẽ đó, phía Mỹ đã đưa ra hàng loạt lý do buộc Thái Lan phải thực hiện việc triển khai quân theo đúng cam kết. Lý do mà phía Mỹ đưa ra là: Thứ nhất, phía Mỹ đã hoàn tất các công việc chuẩn bị để tiếp nhận số quân Thái sang tham chiến tại Việt Nam, các trang thiết bị, vũ khí cho lực lượng này đã được đưa về căn cứ quân sự Bàu Cát của Mỹ tại Việt Nam. Thứ hai, phía Mỹ đã lên kế hoạch cho một số cuộc hành quân, trong đó có sự phối hợp của quân đội Thái Lan. Vì vậy, việc Thái Lan trì hoãn triển khai quân tới Việt Nam sẽ đồng nghĩa với việc phải hủy bỏ tất cả các cuộc hành quân trên. Điều đó sẽ gây nên những hậu quả khôn lường. Trước những lập luận của phía Mỹ, Thái Lan đồng ý triển khai lực lượng này tới Việt Nam theo đúng thỏa thuận.

        Thực hiện kế hoạch trên, ngày 11 tháng 7 năm 1967, đại đội công binh (đơn vị đầu tiên của Trung đoàn "Mãng xà vương") rời Băng Cốc tới Việt Nam. Sau khi cập cảng Sài Gòn, chiều ngày 15 tháng 7, đơn vị này được điều về căn cứ quân sự Bàu Cát, nơi đứng chân của Sư đoàn bộ binh số 9 quân đội Mỹ. Tại đây, họ bắt tay vào xây dựng căn cứ đóng quân. Tiếp đó, trong các ngày từ 19 đến 23 tháng 9 năm 1967, lực lượng chủ yếu của Trung đoàn "Mãng xà vương" gồm các tiểu đoàn bộ binh, các đơn vị hỏa lực, hậu cần, thông tin - kỹ thuật... lần lượt đến Nam Việt Nam. Đơn vị cuối cùng là trung đội thiết xa vận tới Việt Nam vào ngày 28 tháng 11.

        Trong thời gian tham chiến tại Việt Nam (từ tháng 7 năm 1967 đến ngày 15 tháng 8 năm 1968), các đơn vị của Trung đoàn "Mãng xà vương" cùng quân đội Việt Nam Cộng hòa và lực lượng Sư đoàn 9 quân đội Mỹ tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét và bình định. Ngày 18 tháng 10 năm 1967, Trung đoàn "Mãng xà vương" mở cuộc hành quân quy mô lớn và riêng rẽ đầu tiên mang mật danh "Narasuan" vào khu vực Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai). Trong cuộc hành quân này, quân Thái Lan đã đốt phá tài sản, giết hại hàng trăm người dân vô tội, phá hoại hệ thống cơ sở hạ tầng tại Nhơn Trạch, gây cho ta không ít khó khăn. Tháng 8 năm 1968, Trung đoàn "Mãng xà vương" rút về nước, thay vào đó là Sư đoàn "Báo đen" thuộc Quân đội Hoàng gia Thái Lan.

        Trong khi các đơn vị của Trung đoàn "Mãng xà vương" còn chưa triển khai hết tới Việt Nam thì giữa năm 1967, Chính phủ Thái Lan một lần nữa đơn phương cân nhắc khả năng triển khai thêm quân tới Việt Nam. Trong báo cáo gửi Đại sứ Mỹ tại Băng Cốc ngày 8 tháng 9 năm 1967, Chính phủ Thái Lan công khai ý định sẽ điều thêm 1 hoặc 2 lữ đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh và các đơn vị yểm trợ với tổng quân số lên tới khoảng hơn 10.000 người, tới Việt Nam vào đầu năm 1968, nếu được Mỹ đồng ý. Sau khi nhận được đề nghị của phía Thái Lan. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ yêu cầu Bộ tham mưu liên quân Mỹ và Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Thái Lan đánh giá tính khả thi và quy mô triển khai thêm quân Thái tới Việt Nam. Trên cơ sở phân tích toàn diện tình hình an ninh, chính trị và tiềm lực hiện có của quân đội Hoàng gia Thái Lan, cuối 1967, MACT đưa ra kết luận: căn cứ vào tình hình hiện nay tại Thái Lan, Thái Lan có thể đưa thêm sang Việt Nam khoảng 5.000 đến 10.000 quân mà không gây ảnh hưởng gì lớn cho tình hình an ninh nội bộ cũng như quân đội nước này.

-----------------
         1, 2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 27, 32.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #44 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:46:42 AM »


        Căn cứ kết luận của MACT, từ ngày 3 tháng 11 năm 1967, đại diện các bên gồm: Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam và Thái Lan tổ chức nhiều cuộc họp hỗn hợp nhằm tập trung thảo luận hàng loạt vấn đề có liên quan đến việc triển khai và hoạt động của quân Thái Lan tại Việt Nam. Kết thúc các cuộc thảo luận kéo dài và còn tồn tại nhiều bất đồng, cuối cùng, Mỹ và Thái Lan cũng đã đạt được thỏa thuận chung. Theo đó, Mỹ cam kết:

        1- Sẽ cung cấp đầy đủ trang thiết bị, vũ khí cho các đơn vị quân Thái Lan sang tham chiến ở Việt Nam, toàn bộ số vũ khí đó sẽ được phía Thái Lan giữ lại sau khi rút khỏi Việt Nam.

        2- Mỹ chịu trách nhiệm chi trả tất cả các chi phí cho các khoá huấn luyện quân Thái trước khi đưa tới Việt Nam (kể cả các loại phương tiện để đưa các đơn vị quân Thái Lan tới Việt Nam).

        3- Chính phủ Mỹ cam kết sẽ cung cấp tài chính cho quân đội Hoàng gia Thái Lan duy tu, bảo dưỡng vũ khí trang bị, kể cả vũ khí trang bị thuộc sở hữu của quân đội Thái Lan.

        4- Mỹ hứa sẽ đẩy nhanh công cuộc hiện đại hoá lực lượng vũ trang Thái Lan trong thời gian ngắn, bằng vũ khí công nghệ Mỹ, tăng cường viện trợ quân sự cho Thái Lan lên 75 triệu đô la trong năm 1968-1969, tiếp nhận một số lượng lớn sĩ quan Thái sang đào tạo ở Mỹ.

        5- Mỹ đồng ý triển khai một đại đội tên lửa Hawk, do quân Mỹ điều khiển, trên đất Thái Lan nhằm góp phần vào việc huấn luyện quân đội sử dụng loại vũ khí này. Phía Mỹ còn cam kết sẽ cung ứng đầy đủ các phụ kiện cho đại đội này và sẽ trả cho Thái Lan một khoản chi phí nhất định liên quan đến việc triển khai đại đội tên lửa Hawk trên đất Thái.

        6- Về vấn đề lương và tử tuất cho sĩ quan và binh sĩ Thái Lan tham chiến tại Việt Nam, phía Mỹ đồng ý sẽ trả tử tuất 1 lần cho tất cả sĩ quan và binh sĩ Thái Lan tử trận tại Việt Nam, giống như cho sĩ quan và binh sĩ Hàn Quốc và trả thêm một khoản phụ cấp cho cho sĩ quan và binh sĩ Thái Lan chiến đấu tại Việt Nam.

        Sau khi đạt được các thỏa thuận, với tư cách là một đồng minh thân cận của Mỹ, tháng 7 năm 1968, Thái Lan chấp nhận triển khai Sư đoàn "Báo đen" sang Việt Nam, thay cho Trung đoàn "Mãng xà vương".

        Trong thời gian tác chiến tại chiến trường Nam Việt Nam, các đơn vị Sư đoàn "Báo đen" quân đội Thái Lan chủ yếu được triển khai ở Vùng III chiến thuật. Đây là địa bàn được coi là ít xung yếu, địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đồng bằng. ở đó, cường độ hoạt động của các sư đoàn chủ lực Quân giải phóng cũng thấp hơn nhiều so với những khu khác, chẳng hạn như ở Vùng II chiến thuật, nơi các đơn vị quân đội Nam Triều Tiên đóng quân và tác chiến. Mặt khác, nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị Thái Lan là phối hợp tác chiến với Sư đoàn 9 quân đội Mỹ trong các cuộc hành quân "quét và giữ", đảm bảo an ninh cho các khu vực đóng quân. Vì vậy, mức độ rủi ro cũng tương đối thấp. Tuy nhiên, trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, quân Thái Lan cũng mở nhiều cuộc hành quân riêng rẽ quy mô cấp phân đội, gây cho ta không ít khó khăn. Trong số các cuộc hành quân đó, trước hết phải kể đến cuộc hành quân tại khu vực Bến Cam (huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai) diễn ra từ ngày 24 tháng 11 đến ngày 4 tháng 12 năm 1969, do các tiểu đoàn 2, 3, Lữ đoàn 2, Sư đoàn "Báo đen" tiến hành. Đây được coi là cuộc hành quân thành công nhất của quân đội Thái Lan trên chiến trường Nam Việt Nam.

        Song song với các cuộc hành quân "quét và giữ", các đơn vị Sư đoàn "Báo đen" còn tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý. Đóng quân ở đâu, quân Thái Lan cũng tìm cách mua chuộc lòng dân bằng nhiều hình thức như: làm đường, tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho dân... Bên cạnh các thủ đoạn trên, quân Thái Lan còn tổ chức rải truyền đơn kêu gọi đầu hàng, xuyên tạc bản chất cuộc chiến tranh và đề cao sứ mạng của quân đội Mỹ và Thái Lan tại Việt Nam...

        Về nguyên tắc chiến thuật, trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, do đặc điểm địa bàn hoạt động của Sư đoàn "Báo đen" chủ yếu là đồng bằng, đối tượng tác chiến là lực lượng du kích và bộ đội địa phương; vì vậy, tất cả các đơn vị quân Thái Lan thường đều tuân thủ một nguyên tắc được coi là bất di bất dịch đối với tất cả các loại hình và quy mô các cuộc hành quân, đó là chiến thuật hàng ngang có chiều sâu. Chiến thuật này được Mỹ huấn luyện và được áp dụng rộng rãi không chỉ trong các đơn vị quân đội Thái Lan mà trong cả các đơn vị quân đội đồng minh Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Nguyên tắc cơ bản của chiến thuật này là các bộ phận tham chiến phải tổ chức bọc lót cho nhau tạo thành một khối nhiều tầng, nhiều lớp. Địa bàn hành quân do các đơn vị quân Thái Lan tiến hành thường nhỏ, hình thức tác chiến chủ yếu là các cuộc phục kích ban đêm bằng các phân đội.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #45 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:47:15 AM »


        Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 của quân và dân miền Nam Việt Nam, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị phá sản hoàn toàn, Mỹ buộc phải thay bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Xu hướng xuống thang chiến tranh của Mỹ đã lộ rõ. Địch phải co về phòng ngự bị động ở miền Nam Việt Nam, buộc phải ngừng ném bom và bắn phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Pari. Ý chí xâm lược của Lầu Năm Góc đã bị lung lay tận gốc. Tất cả các nhân tố đó đã tác động không nhỏ đến ý chí chiến đấu của các đơn vị quân Thái Lan đang tham chiến tại Việt Nam. Bước sang năm 1969 và những năm tiếp theo, hoạt động của quân Thái Lan tại chiến trường Việt Nam giảm cả về mức độ và quy mô. Các cuộc hành quân thường diễn ra trên quy mô nhỏ, có một số cuộc hành quân quy mô lớn nhưng chỉ dừng lại ở cấp tiểu đoàn hoặc nhỏ hơn. Thời gian cho một cuộc hành quân ngắn và mục tiêu cũng hạn chế hơn. Nhịp độ này được duy trì và giảm dần cho tới khi những đơn vị quân Thái Lan bắt đầu rút khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam.

        Thất bại của Mỹ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 cũng đã tác động mạnh mẽ đến các quyết sách của Thái Lan về vấn đề Việt Nam. Ngày 11 tháng 12 năm 1969, báo chí Băng Cốc đưa tin nhiều nghị sĩ Quốc hội Thái Lan yêu cầu Chính phủ phải rút quân về nước. Lý do mà họ đưa ra là: Mỹ đang thực thi chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", quân Mỹ và một số nước đồng minh khác như Philíppin, Cộng hòa Triều Tiên đang thực hiện việc rút quân về nước. Mặt khác, tình hình Thái Lan đang gặp nhiều khó khăn cả về kinh tế lẫn an ninh. Tuy nhiên, chỉ sau đó vài ngày, Thủ tướng Thái Lan lại đưa ra một tuyên bố hoàn toàn trái ngược, rằng: "Thái Lan sẽ không rút bất kỳ một binh sĩ nào khỏi Việt Nam và chưa bao giờ nghĩ đến việc rút quân khỏi Việt Nam. Trong thời điểm hiện tại, hoạt động của quân Thái tại Việt Nam được coi là có lợi hơn so với việc rút khỏi Việt Nam. Nếu chúng ta dự tính rút quân khỏi Việt Nam thì chúng ta nên tham khảo ý khiến Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, vì chúng ta đã đưa quân sang đây theo yêu cầu của họ. Đúng là có vài nước đồng minh đang thực hiện việc rút quân, nhưng chúng ta thì khác..."1. Cuối tháng 12 năm 1969 và sau đó là vào tháng 3 năm 1970, trước sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân và các tầng lớp tiến bộ Thái Lan, đặc biệt là áp lực của các nghị sĩ Quốc hội, Thủ tướng Thái Lan buộc phải tuyên bố: "Chính phủ Thái Lan và Mỹ đang xem xét khả năng rút quân Thái khỏi Việt Nam..., và trong tình hình hiện nay, khi dân chúng đã cảm thấy vấn đề trở nên hết sức nghiêm trọng, thì Chính phủ không còn cách nào khác là phải làm một một cái gì đó để giảm bớt áp lực tình hình"2. Mặc dù Chính phủ Thái Lan đưa ra kế hoạch rút toàn bộ quân Thái về nước vào đầu năm 1970, nhưng đến tháng 12 năm đó, kế hoạch này mới bắt đầu được thực hiện và tới năm 1973, những người lính cuối cùng của quân đội Thái Lan mới rút khỏi Việt Nam.

-----------------
         1, 2. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 49.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #46 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:48:52 AM »


       3. Hậu quả của việc Thái Lan đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam

        Sau khi toàn bộ quân Thái Lan rút khỏi Việt Nam, Mỹ và Thái Lan ký nhiều hiệp ước, thoả thuận về việc rút quân Mỹ khỏi Thái Lan và trao lại cho Thái Lan quyền sử dụng các căn cứ không quân, hải quân do Mỹ đầu tư xây dựng trong những năm 60 như: căn cứ không quân Utapao, căn cứ hải quân Don Muang; quân cảng Ban Pak Nam... Việc rút quân đội và chấm dứt hoạt động tại các căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan không làm giảm mức viện trợ quân sự của Mỹ cho Thái Lan. Năm 1975, mức viện trợ này vẫn duy trì là 42,3 triệu đô la Mỹ, đến năm 1978, tăng lên tới 103 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn tích cực mở rộng hợp tác quân sự với Mỹ trong nhiều vấn đề, đặc biệt là đào tạo và mua bán vũ khí... Sự hợp tác này tăng lên sau sự kiện chính quyền Khơme đỏ ở Campuchia bị lật đổ năm 1979.

        Giới chức Mỹ cho rằng, việc Thái Lan ủng hộ các chính sách của Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam và quyết định đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam là "một cứu cánh không chỉ về kinh tế, quân sự mà cả tâm lý cho nước Mỹ"1. Bên cạnh đó, nó cũng mang lại cho Thái Lan không ít lợi ích.

        Trên bình diện kinh tế, trong 10 năm (1960-1970), Mỹ đã viện trợ cho Thái Lan hàng trăm triệu đô la. Nền kinh tế Thái Lan cũng vì thế mà có những bước phát triển đáng kể. Hàng trăm nhà máy, công trình phục vụ lợi ích quân sự và dân sinh đã mọc lên, thu hút hàng vạn công nhân. Trong thời gian Mỹ tiến hành xây dựng các căn cứ quân sự trên đất Thái Lan, hệ thống đường sá, cầu cống, mạng lưới thông tin liên lạc... xung quanh các căn cứ được nâng cấp và xây mới. Sự hiện diện của các căn cứ quân sự, các tổ hợp công nghiệp quốc phòng cùng hàng chục nghìn lính Mỹ trên đất Thái Lan đã tạo ra hàng vạn việc làm mỗi năm cho các công dân Thái Lan. Ngoài ra, mỗi tháng bình quân có khoảng 6.000 lính Mỹ sang Thái Lan nghỉ dưỡng cũng góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy sự phát triển của các ngành du lịch và dịch vụ ở nước này...

        Tóm lại, trong thời gian Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nền kinh tế phục vụ chiến tranh của Thái Lan đã đóng góp hơn 50%2 tổng thu nhập quốc dân. Sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực mới trong nền kinh tế đã tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa ở Thái Lan trong những năm sau này. Ngoài ra, sự hiện diện của người Mỹ trên đất Thái và các hiệp định kinh tế Mỹ - Thái còn tạo điều kiện cho Thái Lan "mở cửa" ra thế giới phương Tây, tác động quan trọng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, giúp vương quốc Thái Lan bước lên vũ đài quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước tư bản châu Âu và các nước khác3.

        Trên bình diện an ninh - quốc phòng, trong thời gian từ năm 1960 đến năm 1970, Mỹ viện trợ cho quân đội Thái Lan gần 1 tỷ đô la Mỹ, chiếm hơn 60%4 tổng ngân sách quốc phòng của nước này. Ngoài ra còn có hàng trăm triệu USD khác được đầu tư vào các công trình quân sự và chi trả cho các đơn vị quân Thái Lan tham chiến tại Việt Nam... Nhờ có các khoản viện trợ đó, quân đội Thái Lan đã có những bước phát triển vượt bậc, từ chỗ chỉ là một quân đội với lực lượng bộ binh là chủ yếu, được trang bị rất thô sơ và chức năng chủ yếu là chống nổi dậy, đã trở thành một quân đội mạnh trong khu vực với đầy đủ các binh chủng, quân chủng, được trang bị các loại vũ khí tương đối hiện đại. Quan trọng hơn, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, do bị chi phối bởi ý thức hệ đối đầu Đông - Tây và sự "ám ảnh" của Học thuyết "Đôminô", Thái Lan coi sự hiện diện của các căn cứ quân sự và hàng vạn lính Mỹ trên đất nước mình là chiếc ô bảo hộ quan trọng để Thái Lan "không bị cộng sản thôn tính", đồng thời là công cụ hữu hiệu để răn đe và đối phó với lực lượng ly khai ở miền Nam Thái Lan, đảm bảo cho Thái Lan có được một nền an ninh - chính trị, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ trong một thời gian tương đối dài5.

        Cách nhìn của giới chức Mỹ hoàn toàn phù hợp với quy luật "Vốn - Lãi" (Capital and Benefit) của các nhà tư bản phương Tây nói chung và của Mỹ nói riêng. Tuy nhiên, nếu xét trên một bình diện sâu và rộng hơn thì việc Thái Lan ủng hộ các chính sách của Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam và quyết định đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam đã mang lại cho nước này không ít khó khăn.

-----------------
        1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 48.

         2, 3. En cyclopedia of the Vietnam war, Stanley I. Kutler 1991, p. 142-153.

         4, 5. En cyclopedia of the Vietnam war, op. cit, p. 542-543.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #47 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:49:27 AM »


        Về kinh tế, trong những năm 50-60 thế kỷ XX, thông qua các hiệp định kinh tế thương mại, dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Thái Lan tăng lên nhanh chóng, tư bản Mỹ chiếm tới hơn 80% tổng số tiền Thái Lan vay của nước ngoài. Các công ty, tập đoàn công nghiệp lớn của Mỹ gần như nắm quyền khống chế đối với các ngành công nghiệp trọng điểm của Thái Lan như: công nghiệp luyện thiếc, khai thác dầu mỏ, ô tô, cao su, luyện kim, chế biến nông sản... Ngoài ra, Mỹ còn thông qua Ngân hàng Xây dựng và Phát triển quốc tế để thao túng ngành bán buôn và bán lẻ nông sản, ngành ngân hàng, bảo biểm... của Thái Lan. Vì vậy, chỉ tính riêng trong 3, năm, từ năm 1958 đến năm 1961, lợi nhuận thu được của Mỹ từ Thái Lan lên tới gần 1 tỉ đô la, tức là nhiều hơn gấp đôi số tiền mà Mỹ đã viện trợ cho Thái Lan trong cùng thời gian ấy. Điều đáng nói là hầu hết dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Thái Lan chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực du lịch và dịch vụ, làm cho nền kinh tế Thái Lan trở nên mất cân đối nghiêm trọng. Không những vậy, dưới vỏ bọc của các hiệp định kinh tế, Mỹ đã biến Thái Lan thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp, nông nghiệp của Mỹ, khiến nhiều ngành kinh tế vốn được coi là mũi nhọn của Thái Lan lâm vào tình trạng đình đốn, suy thoái. Chẳng hạn, Thái Lan là nước xuất khẩu thuốc lá và gạo lớn trong khu vực, thế nhưng hằng năm phải tiêu thụ cho Mỹ hàng chục triệu đô la hai loại nông sản này. Vì thế, ngành công nghiệp thuốc lá và sản xuất lúa gạo Thái Lan trong một thời gian dài không phát triển được, nhiều nhà máy phải đóng cửa, số lượng công nhân thất nghiệp ngày một tăng, giá cả sinh hoạt tăng nhanh làm cho đời sống của đại bộ phận nhân dân lao động Thái Lan ngày càng trở nên khó khăn. Trong khi nền kinh tế đang dần bị phụ thuộc vào Mỹ và gặp không ít khó khăn thì Thái Lan còn bị lôi cuốn vào vòng chạy đua vũ trang của khối Đông Nam Á. Ngân sách quân sự của Thái Lan trong những năm 60 thường chiếm tỷ lệ tương đối cao so với ngân sách chung...

        Ở trong nước, việc Chính phủ Thái Lan theo Mỹ đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam đã để lại cho nước này không ít hậu họa. Trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, có hàng ngàn binh sĩ Thái Lan bị chết, hàng chục nghìn người khác bị thương và phải chịu hậu quả của chất độc màu da cam. Và cũng như ở Mỹ, "Hội chứng chiến tranh Việt Nam" đang dày vò hàng vạn cựu binh Thái Lan. Ở đó, họ đang phải sống trong nỗi ám ảnh và sợ hãi, mặc dù chiến tranh đã đi qua hơn một phần ba thế kỷ và có không ít người đã phải tìm đến cái chết để giải thoát nỗi ám ảnh và sợ hãi đó. Việc Thái Lan đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam tuy làm cho mối quan hệ Mỹ - Thái Lan được thắt chặt hơn, nhưng đằng sau mối quan hệ đó, Thái Lan đã phải lệ thuộc ngày càng nhiều vào Mỹ. Vào giữa thập niên 70 thế kỷ XX, sau khi Mỹ rút quân và đóng cửa các căn cứ quân sự ở Thái Lan, tình hình chính trị nước này luôn ở trong tình trạng bất ổn. Các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực của các đảng phái bắt đầu nổi lên; lực lượng ly khai ở miền Nam Thái Lan tiến hành các hoạt động quân sự chống đối Chính phủ Trung ương, đe dọa nghiêm trọng đến tình hình an ninh ở nước này... Các ngành dịch vụ, du lịch, đặc biệt là ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh, rơi vào tình trạng đình đốn... Tất cả những điều đó đã tạo nên làn sóng phản đối mạnh mẽ của nhân dân Thái Lan, đòi Chính phủ phải xem xét lại chính sách bang giao đối với Mỹ và yêu cầu Thái Lan rút ra khỏi khối SEATO, thi hành chính sách hòa bình, hợp tác và hữu nghị với các nước láng giềng.

        Như vậy, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thông qua hàng loạt các biện pháp như chính trị, kinh tế, quân sự..., Mỹ đã lôi kéo được hàng vạn quân Thái Lan sang Việt Nam tham chiến. Nếu chỉ xét trên một bình diện nào đó thì việc Thái Lan đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam là có lợi cho họ, bởi lẽ thông qua đó họ không những thực hiện được trách nhiệm của một đồng minh đối với Mỹ, mà còn tranh thủ được sự giúp đỡ nhiều mặt của Mỹ để cải thiện nền kinh tế và hiện đại hoá được quân đội của chính nước mình.

        Tuy nhiên, nếu xét trên tổng thể thì việc làm đó chủ yếu phục vụ cho các quyền lợi của Mỹ. Nhờ lôi kéo được các nước đồng minh, đặc biệt là đồng minh châu Á, trong đó có Thái Lan, đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam, Mỹ đã phần nào đánh lừa được dư luận cả trong và ngoài nước. Hơn thế nữa, nước Mỹ đã trút được một phần không nhỏ gánh nặng chiến tranh (cả về kinh tế lẫn sinh mạng) lên vai các nước đồng minh. Chỉ riêng về mặt kinh tế, nhờ lôi kéo được hàng chục nghìn lính đồng minh đến Việt Nam chiến đấu thay cho lính Mỹ, nước Mỹ đã tiết kiệm được hàng tỉ đô la, bởi theo cách tính của họ, việc chi trả cho một lính đồng minh cả lúc sống lẫn lúc chết rẻ hơn gấp nhiều lần so với một lính Mỹ cùng cấp. Điều quan trọng hơn là thông qua việc giúp đỡ các nước này hiện đại hoá quân đội, Mỹ đã tạo được chuỗi đồng minh dày đặc, như những chiến tuyến quân sự nhiều tầng, nhiều lớp, từ gần tới xa bao quanh Việt Nam, nơi mà họ vẫn coi là quân cờ "đôminô" đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á và cả châu Á.

        Chiến tranh đã khép lại hơn 30 năm, nhưng những đau thương, mất mát vẫn còn tồn tại trên đất nước Việt Nam. Có một điều ai cũng nhận thấy rằng, trách nhiệm này trước hết thuộc về Mỹ, nhưng trong đó cũng có một phần không nhỏ thuộc về các đơn vị quân đội Thái Lan từng tham chiến tại Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #48 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:51:18 AM »


        III. QUÂN ĐỘI ÔXTRÂYLIA

        1. Quá trình đàm phán giữa Ôxtrâylia và Mỹ về việc đưa quân sang tham chiến tại miền Nam Việt Nam


        Là đồng minh thân cận của Mỹ, Ôxtrâylia tham gia tương đối sớm vào cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Từ năm 1950, sau khi Pháp dựng lên Chính phủ bù nhìn Bảo Đại, Chính phủ Ôxtrâylia đã tuyên bố ủng hộ Chính phủ này, vì đây là thể chế chính trị được Mỹ hậu thuẫn.

        Khi Pháp buộc phải chấp nhận thất bại, rút quân khỏi Đông Dương theo Hiệp định Giơnevơ, Mỹ thay chân Pháp, bắt đầu viện trợ trực tiếp cho chính quyền Ngô Đình Diệm và chịu trách nhiệm đào tạo, huấn luyện quân đội Nam Việt Nam. Tháng 9 năm 1957, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, Ngô Đình Diệm, thăm Ôxtrâylia. Tại cuộc gặp gỡ với Tổng thống Ngô Đình Diệm, Thủ tướng Ôxtrâylia đã tái khẳng định sự ủng hộ của Ôxtrâylia đối với chính quyền Nam Việt Nam. Cùng với Niu Dilân, Ôxtrâylia đã tham gia vào Hiệp ước Anh - Mỹ (năm 1950), sau đó là khối quân sự ANZUS (ngày 1 tháng 9 năm 1951), nhằm ngăn chặn sự phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa, chống lại phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương. Dựa vào các hiệp ước trên, cùng với áp lực của Mỹ, Ôxtrâylia ngày càng can thiệp sâu và trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam để chống lại cái gọi là "cơn lũ cộng sản đang lan tràn ở Đông Nam Á".

        Trước khi Tổng thống Mỹ Giônxơn phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ", Ôxtrâylia đã có những hoạt động yểm trợ tích cực cho quân đội Mỹ và Sài Gòn. Ngày 24 tháng 5 năm 1962, Bộ trưởng quốc phòng Ôxtrâylia tuyên bố ý định của Chính phủ nước này sẽ đưa 30 cố vấn quân sự sang Nam Việt Nam. Không lâu sau, ngày 3 tháng 8 năm 1962, một đơn vị huấn luyện của Lục quân Ôxtrâylia gồm 30 sĩ quan và hạ sĩ quan, là những chuyên viên về chiến tranh du kích ở rừng rậm đã được đưa sang Vùng I chiến thuật để làm cố vấn huấn luyện cho quân đội Sài Gòn1, trong đó có các thành viên đầu tiên của Đội "Đặc vụ đường không Ôxtrâylia" (Special Air Service - SAS).

        Ngày 22 tháng 11 năm 1963, Giônxơn trúng cử Tổng thống Mỹ, ra tuyên bố tiếp tục mở rộng cuộc chiến ở Nam Việt Nam và ngày 23 tháng 4 năm 1964 chính thức phát động chiến dịch "Thêm nhiều ngọn cờ", kêu gọi các nước đồng minh ủng hộ chính sách "Quốc tế hoá" cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ bằng cách viện trợ và đưa quân đến Nam Việt Nam để "giúp đỡ một đồng minh đang lâm nguy"2.

        Hưởng ứng lời kêu gọi trên, ngày 8 tháng 6 năm 1964, Bộ quốc phòng Ôxtrâylia tuyên bố sẽ gia tăng lực lượng tại Nam Việt Nam. Tháng 6 năm 1964, Ôxtrâylia tiếp tục đưa sang một toán không quân gồm 6 máy bay vận tải Caribô (Caribou) với 74 nhân viên bảo dưỡng và điều hành bay3. Toán không quân này được sáp nhập vào lực lượng không quân Đông Nam Á, nhằm yểm trợ về hậu cần cho các đơn vị quân đội Sài Gòn đóng rải rác ở các nơi. Qua một thời gian hoạt động, lực lượng không quân vận tải Ôxtrâylia được Mỹ đánh giá cao vì đã liên tục giữ được tỷ lệ sẵn sàng hành quân và khối lượng hàng hóa vận chuyển trên mỗi chuyến bay cao hơn các đơn vị không quân vận tải Mỹ tương đương.

        Tuy nhiên, sự yểm trợ của Ôxtrâylia không chỉ dừng lại ở viện trợ quân sự. Bắt đầu từ tháng 7 năm 1964, một toán công binh dân sự gồm 12 người đã được đưa sang Nam Việt Nam để hỗ trợ cho chính quyền Sài Gòn thực hiện chương trình "bình định phát triển nông thôn". Cuối năm 1964, Ôxtrâylia tiếp tục đưa sang tổ phẫu thuật đầu tiên, hoạt động tại tỉnh Long Xuyên. Tổ phẫu thuật thứ hai đến vào tháng 1 năm 1965 và được bố trí tại tỉnh Biên Hòa4.

        Sau những tham gia bước đầu có phần khiêm nhường đó, Ôxtrâylia tiếp tục gia tăng sự can thiệp vào Nam Việt Nam theo Kế hoạch Côlômbô5 và qua những cuộc thương lượng song phương.

-----------------
         1. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 88.

         2. Pimlott J., Việt Nam - những trận đánh quyết định, Trung tâm thông tin khoa học - công nghệ - môi trường Bộ Quốc phòng, 1997, tr. 54.

         3, 4. Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 88.

         5. Kế hoạch Côlômbô về hợp tác và phát triển ở vùng Nam và Đông Nam Á được Mỹ, Anh, Ôxtrâylia... soạn thảo, là cơ sở hình thành Hiệp hội hợp tác và phát triển vùng Đông Nam Á vào năm 1951, trụ sở đặt tại Côlômbô, Xrilanca. Thành viên của Hiệp hội gồm 6 nước: Ôxtrâylia, Canada, Anh, Nhật Bản, Niu Dilân, Mỹ và 18 nước "đang phát triển". Mục đích của tổ chức này là giúp các nước "đang phát triển" qua các hiệp ước song phương giữa các thành viên về việc cung cấp vốn, chuyên viên kỹ thuật, huấn luyện và trang bị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #49 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 04:53:50 AM »


        Trước sự thúc ép của Mỹ, chính quyền Ôxtrâylia đã buộc phải dự tính việc gia tăng lực lượng quân sự tại Nam Việt Nam, nhằm chia sẻ trách nhiệm với Mỹ. Ngày 10 tháng 11 năm 1964, Thủ tướng Ôxtrâylia Rôbớt Mengíc tuyên bố sẽ gia tăng lực lượng quân đội Hoàng gia Ôxtrâylia từ 22.570 lên 37.500 quân1. Động thái tăng quân này được Chính phủ Ôxtrâylia giải thích là nhằm chuẩn bị đối phó với chiến tranh Việt Nam. Những tính toán trên đã đưa Ôxtrâylia vào con đường tham gia trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

        Theo đề nghị của Tổng thống Mỹ và Tổng thống chính quyền Sài Gòn, ngày 18 tháng 12 năm 1964, Chính phủ Ôxtrâylia tuyên bố sẽ đưa thêm 200 cố vấn quân sự và lực lượng bộ binh sang Nam Việt Nam. Tiếp theo lời tuyên bố trên, ngày 29 tháng 4 năm 1965, Thủ tướng Ôxtrâylia tuyên bố sẽ gửi một tiểu đoàn bộ binh cùng với một đơn vị thiết giáp, thông tin và một đại đội hậu cần đến Nam Việt Nam. Phía Oasinhtơn đề nghị Ôxtrâylia phụ trách thêm nhiệm vụ huấn luyện cho lực lượng địa phương quân đội Sài Gòn. Thủ tướng Ôxtrâylia tỏ ra ngần ngại, nhưng đưa ra phương án sẽ ghép lực lượng huấn luyện (rút xuống còn khoảng 100 người) vào tiểu đoàn bộ binh khi đưa sang Việt Nam.

        Vì việc đưa lực lượng quân sự Ôxtrâylia sang tham chiến tại Nam Việt Nam là một vấn đề nhạy cảm và tương đối phức tạp nên các cuộc thảo luận về vấn đề này được tiếp tục tiến hành ở nhiều cấp khác nhau.

        Theo yêu cầu của tướng Mỹ Taylo, ngày 29 tháng 4 năm 1965, Đô đốc Sáp đã hội đàm với Đại sứ Ôxtrâylia tại Sài Gòn. Diễn tiến của cuộc thảo luận cho thấy, chính quyền Ôxtrâylia dự tính, trong vòng hai tuần tới sẽ đưa đến Sài Gòn một toán nhỏ nhân viên thiết kế quân sự để làm việc với Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam (MACV) về những thỏa thuận tiếp vận và hành chính trước khi đưa tiểu đoàn bộ binh sang. Quân số tiểu đoàn sẽ gồm khoảng 900 người, trong đó 100 người là nhân viên tiếp vận và hành chính. Toàn bộ lực lượng này sẽ đến Nam Việt Nam vào tuần đầu của tháng 6 năm 1965 bằng cả đường biển và đường không. Quan điểm của Chính phủ Ôxtrâylia là nên đặt tiểu đoàn này dưới quyền kiểm soát của tướng Oétmolen và chỉ thực hiện nhiệm vụ phòng thủ khu vực căn cứ, tuần tra vùng tiếp giáp với khu vực căn cứ, đồng thời làm lực lượng dự bị cơ động, mà không đảm nhận trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ đối với các vùng đông dân và cũng không dính líu vào các cuộc hành quân "tìm diệt" của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn.

        Các kế hoạch trên được hoàn tất vào tháng 5 năm 1965, nhưng nội dung triển khai quân Ôxtrâylia sang Nam Việt Nam có khác hơn so với đề nghị trước đây. Chính phủ Ôxtrâylia sẽ đưa sang một lực lượng đặc nhiệm 1.400 người, gồm một bộ phận thuộc Bộ chỉ huy lục quân Ôxtrâylia miền Viễn Đông, Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia được tăng cường, Đoàn truyền tin 79, một đại đội yểm trợ hậu cần và cả 100 cố vấn chiến tranh du kích để yểm trợ cho các toán huấn luyện ban đầu. Giữa tháng 6 năm 1965, lực lượng đặc nhiệm này đến Nam Việt Nam và được phối thuộc vào Lữ đoàn không vận 173 Mỹ2.

        Khi đơn vị đầu tiên vừa mới ổn định xong thì chính quyền Ôxtrâylia lại bắt đầu nghiên cứu, xem xét việc gia tăng quân số cho lực lượng đặc nhiệm. Ngày 7 tháng 8 năm 1965, Chính phủ Ôxtrâylia phê chuẩn việc gia tăng quâ số cho Lực lượng đặc nhiệm của quân đội Ôxtrâylia tại Nam Việt Nam gồm 1 tiểu đoàn bộ binh cùng các phân đội pháo binh, thiết giáp, công binh, trực thăng vũ trang, máy bay chiến đấu hạng nhẹ và lực lượng hậu cần.

        Thông qua các đại sứ quán tại Sài Gòn, Đại sứ Mỹ và Ôxtrâylia đã tiến hành các cuộc hội đàm bí mật vào tháng 12 năm 1965 và tháng 1 năm 1966. Vì lo sợ bị nhân dân Ôxtrâylia sẽ chỉ trích việc gia tăng lực lượng tại Nam Việt Nam, nên chính quyền Ôxtrâylia đã không dám công khai kế hoạch này. Tuy nhiên, ngày 6 tháng 3 năm 1966, Chính phủ Ôxtrâylia đã chính thức thông báo họ sẽ tăng lực lượng quân sự tại Nam Việt Nam từ 1 tiểu đoàn lên 2 tiểu đoàn với 1 sở chỉ huy, 1 phi đội không quân đặc biệt cùng các đơn vị thiết giáp, pháo binh, công binh, truyền tin, tiếp liệu, vận chuyển, tải thương dã chiến, quân cụ và xưởng sửa chữa. Đồng thời, chính quyền Ôxtrâylia cũng đề nghị phía Mỹ giao nhiệm vụ cho phi đội Caribô và 8 trực thăng loại UH1B yểm trợ trực tiếp cho Lực lượng đặc nhiệm Ôxtrâylia. Kế hoạch tăng viện này đã nâng quân số Ôxtrâylia ở miền Nam Việt Nam lên gần 4.500 người3.

-----------------
        1. http://www.vvaa.org.au/index.htm, Vietnam veterans Association of Australia.

         2, 3.Larsen S.R. and Collins J.L, Allied Participation in Vietnam, op.cit, p. 89-90.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM