Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Tám, 2019, 10:28:28 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà  (Đọc 26105 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #80 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:14:46 AM »


        Dọc theo biên giới hai nước ở khu vực Sư đoàn 330 và Sư đoàn 4 đảm trách có nhiều thị xã, thị trấn, các tụ điểm buôn bán, dân cư đông đúc như Tịnh Biên, Nhà Bàng, Ba Chúc… Đồng thời cũng chính là những mục tiêu đánh phá chính của địch. Dân cư ở đây định cư tản mát, không đều; có quãng dài hàng chục cây số không có dân ở. Có quãng đường biên chạy qua giữa cánh đồng hoang, mùa mưa nước ngập mênh mông. Cột mốc biên giới không được làm kiên cố như sau này, nên qua thời gian, năm tháng đã bị thất lạc, dịch chuyển nên khó phân định đường biên. Dân cư vùng Tịnh Biên, Bảy Núi, Chi Lăng (An Giang) phần lớn gốc là người Khme, thường xuyên qua lại làm ăn, sinh sống ở Campuchía. Địa hình, quan hệ dân cư phức tạp là điều kiện để kẻ địch xâm nhập, trà trộn, nắm tình hình, móc nối với các phần tử xấu để thực hiện mưu đồ đen tối.

        Về địa hình, phía bên kia biên giới có nhiều núi cao, như: Thâm Đưng, núi Som, Ki Ri Vông…Trên núi có nhiều hang sâu, thuận tiện cho địch triển khai lực lượng, lợi dụng điểm cao để khống chế toàn khu vực. Phần lãnh thổ của ta thuộc hai huyện Tịnh Biên - Tri Tôn được mệnh danh là vùng Thất Sơn huyền bí. Thất Sơn là bảy ngọn núi nằm trải dài trên địa bàn hai huyện là núi Sam, núi Dài, núi Phú Cường, núi Thoại Sơn, núi Cấm, núi Tượng, núi Sập; với tên chữ là: Thiên Cấm Sơn, Ngọa Long Sơn, Ngũ Hổ Sơn, Anh Vũ Sơn, Liên Hoa Sơn, Phụng Hoàng Sơn và Thủy Đại Sơn. Ở mỗi một tên núi kể trên lại có những ngọn núi nhỏ. Ví như ở núi Dài có nhiều núi nhỏ gộp lại, trong đó có núi Trà Sư. Trên đỉnh núi Trà Sư, chúng tôi bố trí đài thông tin của Sở chỉ huy tiền phương sư đoàn. Dưới chân núi có chùa Hoa Long (Hoa Long tự) là “đại bản doanh” của Bộ Tư lệnh tiền phương sư đoàn - là nơi tôi cùng các anh trong bộ phận tiền phương sư đoàn chỉ huy đánh trận phản kích nổi tiếng ở núi Phú Cường, diệt và hất cả sư đoàn địch sang bên kia biên giới.

        Một trong những yếu tố địa lý rất điển hình ở vùng biên ải có ý nghĩa lớn cả về quân sự và kinh tế, là kênh Vĩnh Tế.

        Lần theo sử sách, tôi được biết sau khi được vua nhà Nguyễn cử làm quan trấn biên vùng Hà Tiên, Kiên Giang, Thoại Ngọc Hầu - một viên quan đầu triều nổi tiếng đức độ, thanh liêm, thông tuệ đã có nhiều đóng góp để chấn hưng kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân trong vùng. Một trong những công trình vĩ đại được ông cho thực thi thành công mỹ mãn là đào kênh Vĩnh Tế (đặt theo tên người vợ yêu của Thoại Ngọc Hầu) vào năm 1818. Kênh Vĩnh Tế dài hàng trăm cây số, vừa là công trình thủy lợi tưới tiêu cho cả vùng An Giang, Kiên Giang; vừa là một công trình có giá trị về ngoại giao - tạo nên đường biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Campuchia. Trên thực tế, từ kênh Vĩnh Tế đến đường biên giới quốc gia còn một khoảng vài trăm mét. Cũng vì thế mà kênh còn là một chiến hào bề thế - một công trình quốc phòng rất quan trọng trong thế trận phòng thủ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, lãnh thổ quốc gia.

        Sinh thời, anh Sáu Dân - nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt rất ngưỡng mộ Thoại Ngọc Hầu và đã vinh danh ông là “Tổng công trình sư” công trình kênh Vĩnh Tế.

        Nghĩ về vai trò của kênh Vĩnh Tế trong thế trận quốc phòng - an ninh, kinh tế - xã hội… Ở miền Tây Nam Bộ, tôi càng khâm phục tầm nhìn của quan Đốc Trấn; và thường nói đùa với anh em rằng: Thoại Ngọc Hầu có thể là vị “Tư lệnh Bộ đội Biên phòng” đầu tiên của Việt Nam.

        Để ghi công lao của vị quan trấn biên ngày đó, nhân dân đã lập đền thờ Thoại Ngọc Hầu và gia tộc ông ngay dưới chân núi Sam. Lễ hội danh tướng Thoại Ngọc Hầu hằng năm được tổ chức vào ngày 6 tháng 6 (âm lịch). Đối diện với đền thờ Thoại Ngọc Hầu, bên kia đường số 2 là đền thờ Bà Chúa Xứ.

        Sự hiện diện của đền thờ Thoại Ngọc Hầu và đền thờ Bà Chúa Xứ đã biến núi Sam - thị xã Châu Đốc - An Giang thành một trung tâm tín ngưỡng tâm linh không chỉ ở miền Tây mà ở cả vùng Nam Bộ. Đặc biệt vào dịp lễ Vía Bà Chúa Xứ hằng năm (ngày 24 tháng 4 âm lịch), tín đồ, phật tử và khách thập phương đổ về đây dự lễ. Trong thời gian xảy ra chiến tranh ở biên giới Tây Nam, pháo của quân Pôn Pốt thỉnh thoảng vẫn bắn sang khu vực núi Sam, nhưng lễ Vía Bà Chúa Xứ vẫn diễn ra rất rầm rộ. Đây là vấn đề làm chúng tôi hết sức đau đầu. Nếu mình can thiệp làm giảm mật độ người tập trung về đây, dễ làm cho phật tử, khách thập phương hiểu nhầm là can thiệp tín ngưỡng của nhân dân; nhưng để người tập trung quá đông, chiến sự xảy ra, khó lường hết sự tổn thất bởi đối tượng tác chiến của ta lúc này là bọn diệt chủng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #81 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:17:35 AM »


        Vào những ngày đó, Sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn 330 đóng ở trên đỉnh núi Sam. Ở đây, chúng tôi bố trí ba đài quan sát: đài trinh sát, đài quân báo và đài thông tin. Đứng ở đỉnh núi Sam có thể thấy rõ từng ngọn cây, bờ ruộng, căn nhà ở phía bên kia biên giới. Pháo l30ly của Pôn Pốt cũng đã nhiều lần bắn sang khu vực núi Sam. Ở vào thời điểm căng thẳng, quyết liệt nhất, khi Sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn ở núi Trà Sư bị địch vây bọc ba phía, tôi cùng anh Năm Thông - Sư đoàn trưởng (anh Năm Thông thay anh Ba Trung) và anh em trong Bộ Tư lệnh đã tính tới phương án, nếu không giữ được Tịnh Biên thì Sở chỉ huy tiền phương sẽ lùi về núi Sâm. Nhưng thực tế tình huống đó không xảy ra.

        Trở về với nhiệm vụ của sư đoàn trong năm 1977, từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6, địch đã tiến công lấn chiếm một phần đất đai của ta từ Đồng Tháp, qua An Giang, sang Kiên Giang. Ở hướng Kiên Giang, từ Căm Pốt, địch tập trung một lực lượng lớn đánh vào Hà Tiên; một cánh quân địch đã vào sát Nhà máy xi măng Hà Tiên. Ở hướng Đồng Tháp, địch đánh qua cửa khẩu Vịnh Bà.

        Khi địch tràn qua biên giới, chiếm đất, cướp của, sát hại đồng bào ta, Sư đoàn 4 và Sư đoàn 8 đang sản xuất xây dựng kinh tế, đã kịp thời tổ chức chiến đấu, chặn địch. Ở hướng Kiên Giang, Trung đoàn 20 Sư đoàn 4 cùng Tiểu đoàn 207 bộ đội địa phương đã đánh chặn địch quyết liệt, nhưng vì lực lượng địch đông hơn ta nhiều lần, thế trận phòng thủ lại triển khai trên một chiều ngang quá rộng, không có chiều sâu, nên các đơn vị tại chỗ đã không đánh bật được địch ra khỏi địa bàn. Tình hình hết sức căng thẳng. Không thể để cho quân Pôn Pốt muốn làm gì thì làm; anh Sáu Nam lệnh cho Sư đoàn 330 sang Kiên Giang chiến đấu.

        Thực hiện lệnh của Tư lệnh quân khu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định để Trung đoàn 1 ở lại giữ Tịnh Biên, đưa Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 sang Kiên Giang. Đồng thời quân khu cũng điều Trung đoàn 416 tăng thiết giáp, một tiểu đoàn pháo và Bộ Quốc phòng tăng cường hai phi đội máy bay trực thăng đi giải tỏa quân địch ở Kiên Giang.

        Với hai trung đoàn bộ binh và lực lượng của Bộ, của quân khu tăng cường, trung tuần tháng 6 năm 1977, chúng tôi đã tiến hành một trận phản kích hiệp đồng quân binh chủng quy mô sư đoàn. Trung đoàn 2 được tăng cường xe M.113, đánh hướng chủ yếu của sư đoàn, tiến công từ Đầm Chích thọc sâu sang bên kia biên giới và vòng về hướng nam, diệt địch tại nông trường Ton Hon. Trung đoàn 3 phát triển tiến công ở sườn phải Trung đoàn 2, tạo thế hỗ trợ cho Trung đoàn 2 và phát triển tiến công quân địch dọc theo tuyến biên giới, sau đó chốt giữ, hỗ trợ cho Trung đoàn 20 Sư đoàn 4 giải quyết tử sĩ hy sinh trước đó chưa đem ra được.

        Trận đánh diễn biến thuận lợi. Trung đoàn 2 nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ quân địch tại Đầm Chích, xã Vĩnh Điện, diệt trên hai trăm tên, thu nhiều súng và 5 tấn đạn. Địch ở các vị trí khác hoảng sợ, vội chạy về bên kia biên giới. Ta khôi phục lại tuyến biên giới Hà Tiên.

        Trong khi chúng tôi đang cùng Sư đoàn 4 khôi phục tuyến biên giới Hà Tiên thì tình hình ở Đồng Tháp lại diễn biến phức tạp. Địch tràn qua khu vực cửa khẩu Vịnh Bà, đánh sâu vào lãnh thổ của ta, chiếm một số khu vực, trong đó có khu vực tăng gia sản xuất tập trung của Sư đoàn 8. Khi anh Ba Trung chỉ huy sư đoàn sang Kiên Giang, tôi được phân công tiếp tục phụ trách Sở chỉ huy tiền phương ở chùa Hoa Long, núi Trà Sư, trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 1 và một số tiểu đoàn binh chủng chốt giữ Tịnh Biên. Tại Sở chỉ huy tiền phương, tôi nhận điện của anh Lê Đức Anh: Đưa ngay một trung đoàn lên Đồng Tháp, cùng Sư đoàn 8 đánh đuổi địch ra khỏi khu vực cửa khẩu Vịnh Bà, khôi phục lại tuyến biên giới.

        Tình thế không đến nỗi khó khăn, căng thẳng; bởi lẽ khi nhận được điện của anh Sáu Nam, tôi cũng đã được tin Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở hướng Hà Tiên. Vì vậy, tôi điện ngay cho anh Ba Trung, báo cáo lệnh của trên, sau đó chúng tôi thống nhất Trung đoàn 3 về chốt giữ Tịnh Biên, để tôi đưa Trung đoàn 1 sang Đồng Tháp. Sau này nghĩ lại, trong trường hợp nhận điện của Tư lệnh quân khu mà ở hướng Kiên Giang, ta chưa khôi phục được tuyến biên giới Trung đoàn 3 chưa lui về được, thì tôi cũng không thể bỏ địa bàn Tịnh Biên mà sang Đồng Tháp được. Dẫu sao thì Tịnh Biên với Thất Sơn vẫn là địa bàn hết sức quan trọng đối với ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #82 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:13:24 AM »


        Sau khi đưa Trung đoàn 1 lên Đồng Tháp, tôi cùng các anh Tư Minh - Trung đoàn trưởng, Ba Tô - Chính ủy trung đoàn… khẩn trương tổ chức trinh sát nắm tình hình; hiệp đồng với các anh bên Sư đoàn 8 tổ chức phản công hất địch qua bên kia biên giới, khôi phục lại khu cửa khẩu Vịnh Bà. Với khu tăng gia sản xuất tập trung của Sư đoàn 8 bị quân Pôn Pốt chiếm từ đầu tháng 5, khi chúng tôi cho Trung đoàn 1 đánh chiếm lại, thì địch đã phá hết máy móc - những thứ mà chúng không mang đi được

        Sau khi giải quyết tương đối ổn thỏa tình hình căng thẳng ở Kiên Giang, Hà Tiên và khu vực cửa khẩu Vịnh Bà - Đồng Tháp, thì điểm nóng lúc này là khu vực Tri Tôn, Ba Chúc - Tịnh Biên (An Giang). Địch tập trung một lực lượng lớn đánh vào Ba Chúc là nơi đứng chân của sư đoàn bộ Sư đoàn 4. Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, Sư đoàn 4 không giữ được địa bàn, buộc phải lùi về phía sau. Quân Pôn Pốt nhân cơ hội đó thả sức tàn sát đồng bào ta.

        Sau khi cùng Sư đoàn 8 khôi phục lại tuyến biên giới ở khu vực Vịnh Bà - Đồng Tháp, tôi đưa Trung đoàn 1 quay về Tịnh Biên. Cùng lúc Trung đoàn 2 từ Kiên Giang trở về. Sư đoàn lại nhận lệnh vào giải vây khu vực Ba Chúc. Vừa trở lại Tịnh Biên, theo phân công của Bộ Tư lệnh Sư đoàn, tôi trực tiếp đi cùng Trung đoàn 1 tiến công địch ở Ba Chúc. Đã có kinh nghiệm tác chiến với quân Pôn Pốt ở đảo Hòn Ông, Hòn Bà và những trận gần đây, Trung đoàn 1 nhanh chóng đẩy lùi quân địch qua bên kia kênh Vĩnh Tế, chiếm lại khu vực Ba Chúc, lấy lại niềm tin của nhân dân trong vùng đối với bộ đội Quân khu 9. Sau khi dồn đuổi địch về bên kia biên giới, Trung đoàn 1 trụ lại gần một ngôi chùa của các tín đồ người Khme, giúp bà con ổn định tình hình.

        Cuối năm 1977, theo yêu cầu của trên, chúng tôi bàn giao địa bàn Ba Chúc lại cho Sư đoàn 4 và bộ đội địa phương An Giang, đưa Trung đoàn 1 trở về đội hình sư đoàn. Qua tiếp xúc nắm thực lực của đơn vị bạn và theo dõi mọi động thái của địch, tôi cảm thấy không thật sự yên tâm khi rút Trung đoàn 1. Tuy nhiên “quân lệnh như sơn” - cứ phải chấp hành lệnh của trên. Cũng vì băn khoăn, ái ngại, nên trước khi cho Trung đoàn 1 rút, tôi gạn hỏi đồng chí Tỉnh đội phó An Giang liệu có giữ được Ba Chúc không, thì được nghe trả lời:

        - Anh Ba yên tâm, tụi tôi giữ được. Vả lại quân Pôn Pốt vừa bị một trận phủ đầu, chắc đám lính trẻ con ấy chưa kịp hoàn hồn.

        Nhưng khi Trung đoàn 1 vừa rút đi, thì tình hình diễn ra đúng như chúng tôi dự đoán. Quân Khme đỏ lập tức quay lại đánh Ba Chúc - Tri Tôn; lần này chúng tập trung quy mô cấp sư đoàn, và một lần nữa đơn vị bạn lại không giữ được địa bàn.

        Xâu chuỗi, hệ thống lại những tổn thất của Sư đoàn 4, Sư đoàn 8, bộ đội địa phương An Giang trong thời gian đầu đụng độ với quân Pôn Pốt; để mất dân, mất đất, tôi cho rằng nguyên nhân chủ yếu là ta đã có phần chủ quan trong xác định kẻ thù; từ đó lơ là mất cảnh giác. Khi chuyển các đơn vị đồng loạt sang làm kinh tế, đã cho xuất ngũ một số lượng lớn cán bộ và bộ đội quê miền Bắc đã từng kinh qua chiến đấu, có bề dày kinh nghiệm. Khi chuyển các đơn vị làm nhiệm vụ sản xuất sang làm nhiệm vụ chiến đấu, thì cán bộ khung thiếu nhiều; số chiến sĩ mới chưa được huấn luyện kỹ càng, nên gặp tình huống căng thẳng ác liệt, đã không hoàn thành nhiệm vụ. Đây là bài học kinh nghiệm phải trả bằng máu.

        Về vấn đề này, cùng thời điểm đó, có một số đơn vị đã có giải pháp tốt. Ví như Quân đoàn 2, khì tổ chức cho bộ đội ra quân, đã giữ lại một số cán bộ khung, nhân viên kỹ thuật, một tỷ lệ “cựu binh”. Khi chiến sự xảy ra, yêu cầu khôi phục tổ chức biên chế đủ, đơn vị chỉ cần lắp số tân binh vào - lính cũ, lính mới có điều kiện kèm cặp, giúp đỡ nhau, chỉ một thời gian ngắn là chiến đấu tốt. Các anh ở Quân đoàn 2 gọi là giải pháp “nở nồi”.

        Trước tình hình diễn biến ngày càng phức tạp, tháng 10 năm 1977, Quân khu ủy họp đánh giá âm mưu, mục tiêu cơ bản của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa Ri không có gì thay đổi, vẫn nuôi tham vọng xâm lấn đất đai, tăng cường gây tội ác giết hại đồng bào ta, cướp bóc của cải…; gây oán thù sâu sắc giữa hai dân tộc. Từ đó, Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu xác định nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang quân khu là tăng cường củng cố tổ chức biên chế, nâng cao sức mạnh chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân…
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #83 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:16:25 AM »


        Học tập và kế thừa kinh nghiệm đánh giặc, giữ nước của các bậc tiền thân - đặc biệt là kế “Tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt thời kỳ kháng chiến chống Tống - muốn loại trừ quân xâm lược, phải ra quân trước - triệt hạ mầm mống xâm lược từ gốc, Bộ Tư lệnh Quân khu giao cho Sư đoàn 330 tổ chức một chiến dịch phản công sâu vào hậu phương của địch. Nhiệm vụ cụ thể là luồn sâu qua bên kia biên giới từ 20 đến 30 cây số, đánh vào hang ổ của địch, làm suy sụp ý chí và hành động xâm lược của chúng, đẩy chiến tranh ra xa biên giới. Chiến dịch mở màn vào trung tuần tháng 12 năm 1977.

        Được giao nhiệm vụ ở mũi tiến công chủ yếu của Quân khu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đưa Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 phát triển dọc theo phía đông và tây lộ 2, được tăng cường một trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 4, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương An Giang, một số xe M-113, đánh thẳng vào khu vực cố thủ của địch ở núi Tham Đưng và núi Som. Trung đoàn 2 tiến công giồng Bà Ca, Bà Cò. Toàn sư đoàn và lực lượng tăng cường đã đập tan tuyến phòng thủ của địch từ Ki Ri Vông đến quận lỵ Rề Minh thuộc tỉnh Tà Keo. Trong quá trình luồn sâu đánh địch, sư đoàn tiến hành nhiều trận đánh hay, đạt hiệu suất cao; điển hình là trận đánh vào Ki Ri Vông và trận đánh vào Ba Sa ở phía đông lộ 2 thuộc tỉnh Tà Keo. Ngày 21 tháng 12, Trung đoàn 3 đánh vào Ki Ri Vông, diệt gọn Tiểu đoàn 360 thuộc Trung đoàn 14 địch. Ngày 28 tháng 12, Trung đoàn 1 đánh vào Ba Sa, diệt gọn Tiểu đoàn 452.

        Thắng lợi của chiến dịch luồn sâu, đánh vào hang ổ kẻ địch, ngoài tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, là điều kiện để cán bộ, chiến sĩ sư đoàn tiếp cận đối tượng tác chiến được kỹ càng hơn; thấy được chế độ diệt chủng vô cùng tàn bạo của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xa Rí đã đẩy đất nước Campuchia tới bờ vực của họa diệt chủng. Cũng vì vậy, khi bộ đội ta truy kích, địch bỏ chạy tán loạn. Nhân dân bạn bị giam cầm trong các trại tập trung, tựa đại hạn gặp mưa rào; xem bộ đội Việt Nam như vị cứu tinh xuất hiện, cứu sống họ. Nhân dân bạn tha thiết mong bộ đội Việt Nam ở lại một thời gian để bà con được nhờ. Khi bộ đội ta buộc phải rút về, hàng nghìn người dân Campuchia nằng nặc đòi đi theo. Nhiều người vừa khóc vừa nói: Bộ đội Việt Nam là bộ đội nhà Phật, đã sang cứu sống chúng tôi. Nay bộ đội rút về, hãy cho chúng tôi về theo, nếu ở lại sẽ bị ăngca giết mất…

        Cảm thương nhân dân bạn vô cùng, nhưng chúng tôi không thể để bà con theo về được.

        Đầu tháng 1 năm 1978, ta rút quân về nước, sau hơn 20 ngày làm cú vu hồi vào sào huyện của địch, thì trung tuần tháng 1, địch cho quân tiến công ào ạt vào các xã Nhơn Hội, Khánh Bình huyện Châu Đốc - An Giang và đặc biệt, ngày 15 tháng 1, địch tập trung 7 tiểu đoàn của Trung đoàn 14 và Trung đoàn 15 Sư đoàn 2 bộ binh đánh chiếm khu vực Ba Chúc, núi Phú Cường thuộc huyện Tịnh Biên. Âm mưu của địch là chiếm giữ các điểm cao thuộc hệ thống núi Phú Cường làm bàn đạp đánh chiếm toàn bộ khu vực Thất Sơn (Bảy Núi) của An Giang.

        Khi địch tràn sang, diễn biến ban đầu như phần trên tôi đã đề cập Sư đoàn 4 và lực lượng địa phương của An Giang đã không giữ được địa bàn. Có quãng, địch đã tiến sâu vào lãnh thổ của ta trên năm cây số, chúng phá sập hai chiếc cầu trên trục đường từ thị trấn Nhà Bàng đi Ba Chúc - Chi Lăng. Đi tới đâu, lính Pôn Pốt xả súng bắn giết đồng bào ta, bắt cả trẻ em, người già. Chúng ngang nhiên đập phá chùa chiền, tượng Phật. Tượng Phật nằm - một công trình văn hóa tâm linh của các phật tử người Khme ở núi Dài đã bị quân Pôn Pốt hủy hoại. Đây cũng là thời điểm Sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn đóng ở Hoa Long tự trên núi Trà Sư bị bao vây ba bề; và chúng tôi cũng đã tính tới phương án xấu hơn là lui về núi Sam. Đỉnh điểm của sự dã man, tàn bạo của quân Pôn Pốt là cuộc thảm sát hơn ba nghìn đồng bào ta ở Ba Chúc.

        Ba Chúc là một xã nằm sát biên giới thuộc huyện Tri Tôn, An Giang. Đồng bào địa phương hầu hết theo đạo Phật, trong xã nhà cửa san sát; cảnh xóm ấp sầm uất như một thị trấn. Khi quân Pôn Pốt tràn qua kênh Vĩnh Tế, đánh vào Ba Chúc, bà con vô cùng khiếp sợ. Hàng nghìn người trong xã hoảng sợ kéo vào hai ngôi chùa lớn để nương nhờ cửa Phật, hy vọng kẻ thù dù có dã man, tàn bạo mấy cũng nương tay trước đức Phật từ bi. Nhưng lính Pôn Pốt đã ném lựu đạn, xả súng giết hại hàng nghìn phật tử - phần lớn là người già, trẻ nhỏ. Một số người trốn chạy vào các hang đá trong núi cũng bị quân Pôn Pốt sục sạo sát hại.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #84 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:19:47 AM »


        Sau khi tổ chức cho sư đoàn tiêu diệt gọn gần một sư đoàn quân Pôn Pốt, chiếm lại núi Phú Cường và Ba Chúc, tôi cùng một số cán bộ, chiến sĩ đã vào các hang đá tìm cứu bà con mình. Trong hang có rất nhiều xác chết không đầu. Thấy chúng tôi tìm vào hang, có mấy người sống sót tưởng chúng tôi là lính Pôn Pốt, bèn quỵ sụp lạy như tế sao. Sau khi được anh em ân cần giải thích, bà con mới trấn tĩnh, kể lại nỗi kinh hoàng ngày 15 tháng 1 năm 1978. Sau khi ném lựu đạn, xả súng bắn chết hàng nghìn bà con ta ở hai ngôi chùa, quân Pôn Pốt gom số còn lại, dẫn giải ra ngoài đồng, xả súng bắn chết; tương tự như vậy, khi sục vào hang núi, chúng bắt dân ta đi theo; ai không đi bị bắn chết ngay tại chỗ; số còn lại bị dẫn giải ra đồng và cũng bị hạ sát hàng loạt, xác chết chất thành đống trong xóm ấp và ngoài đồng. Không khí chết chóc bao trùm; quạ đen bay đầy trời. Để ghi lại tội ác diệt chủng, “trời không dung, đất không tha” của quân Pôn Pốt, sau này chúng ta cho xây dựng ở Ba Chúc khu tưởng niệm những nạn nhân bị quân Pôn Pốt sát hại. Đã bao lần trở lại đất này, đứng trước cảnh sọ người chất thành đống, trong tôi trào dâng nỗi căm thù, ghê tởm lũ sát nhân; đồng thời cũng khắc ghi lòng mình phải luôn cảnh tỉnh với hiểm họa diệt chủng, với lũ sát nhân mặt người dạ thú.

        Trở lại với hoạt động của sư đoàn, sau khi địch đánh vào Phú Cường, Ba Chúc, Bộ Tư lệnh Quân khu hạ quyết tâm và lệnh cho Sư đoàn 330, Sư đoàn 4 phải tổ chức phản công, đánh bật địch sang bên kia biên giới. Phó tư lệnh quân khu Trần Văn Nghiêm được phân công trực tiếp chỉ huy chung.

        Về phía địch, sau khi chiếm được núi Phú Cường (với độ cao 232m, có 4 mỏm) và địa bàn xung quanh, quân Pôn Pốt đã khẩn trương bố trí trận địa chốt giữ dọc theo kênh Vĩnh Tế (từ Cầu Sắt đến Cống Đá). Chúng hy vọng với lợi thế về địa hình sẽ đẩy lùi các đợt phản công của ta, từ đó tạo bàn đạp đánh sâu vào nội địa An Giang. Chỉ huy quân khu Tây Nam của Pôn Pốt đã có những hoạt động nhằm khiêu khích ta. Chúng tung truyền đơn tuyên bố. “Sẽ đánh cho Sư đoàn 330 mười năm sau phải nể mặt”, hoặc: “Dù cho mấy nghìn quân Việt Nam cũng không thể đặt chân đến khu vục Phú Cường”…

        Chẳng phải vì hành động khiêu khích đầy hợm hĩnh của quân Pôn Pốt, mà vì chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm, vì hàng nghìn đồng bào vô tội bị sát hại, và để thực hiện lệnh của quân khu, chúng tôi quyết tâm phải dạy cho quân địch một bài học nhớ đời.

        Sau khi nhận lệnh trên, chúng tôi tổ chức cho các đơn vị trinh sát nắm địch, nghiên cứu địa hình, xây dựng quyết tâm chiến đấu. Để giải tỏa Phú Cường, Bộ Tổng tư lệnh tăng cường cho sư đoàn một trung đoàn của Sư đoàn 341 do các anh Trần Văn Trân, Vũ Cao… chỉ huy vừa từ thành phố Hồ Chí Minh xuống.

        Căn cứ thực lực của sư đoàn, địa hình, địa vật và lực lượng cũng như thế trận chốt giữ của địch, chúng tôi lên phương án tiến công tiêu diệt địch ở Phú Cường như sau: Trung đoàn 1 từ núi Tượng phát triển theo bờ đông kênh Vĩnh Tế qua chốt 23, chốt 21, tiến lên Cống Đá. Trung đoàn 3 từ núi Cậu phát triển theo bờ đông kênh Vĩnh Tế, qua An Phú, chốt 17 và hợp điểm với Trung đoàn 1 ở Cống Đá. Hai trung đoàn có nhiệm vụ đón lõng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở núi Phú Cường bị Tiểu đoàn 2 tiến công trực diện hất xuống. Như vậy lực lượng trực tiếp tiến công hệ thống chốt giữ của địch ở núi Phú Cường là Trung đoàn 2. có pháo binh, thiết giáp của quân khu tăng cường. Đơn vị của Sư đoàn 341 phối thuộc là lực lượng dự bị.

        Khi tôi trực tiếp báo cáo Bộ Tư lệnh Quân khu quyết tâm, phương án của sư đoàn đánh vào Phú Cường, lúc đầu anh Lê Đức Anh không đồng ý. Mặc dù anh Trần Văn Nghiêm được phân công trực tiếp chỉ huy, nhưng Tư lệnh quân khu đặc biệt quan tâm sự kiện Phú Cường. Vì vậy khi tôi báo cáo cụ thể phương án có lực lượng tiến công trực diện, có lực lượng đón lõng, anh Lê Đức Anh phản ứng:

        - Không được, không được. Một trung đoàn khó có thể hất được đội hình tương đương sư đoàn của địch khỏi núi Phú Cường. Các anh phải nhớ quyết tâm của quân khu là hất địch về bên kia biên giới.

        Tôi kiên trì bảo vệ ý đính của Bộ Tư lệnh Sư đoàn và nói rõ:

        - Hất cả sư đoàn địch qua bên kia kênh Vĩnh Tế là không đơn giản, nhưng cố gắng thì chúng tôi vẫn làm được. Tuy nhiên nếu chúng ta chỉ đánh theo kiểu xua đuổi sẽ dẫn tới tình trạng “bắt cóc bỏ đĩa”, địch không sợ, chúng sẽ còn gây khó khăn cho ta nhiều. Quyết tâm của sư đoàn là phải tiến hành một trận đánh có tính chất tiêu diệt, không những đánh bật địch ra khỏi lãnh thổ của ta mà còn làm cho chúng khiếp sợ, làm suy sụp ý đồ lấn chiếm của chúng. Chính vì vậy, Trung đoàn 2 và lực lượng tăng cường đủ sức hất địch khỏi núi Phú Cường, cùng lúc Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 phát triển đón lõng dọc kênh Vĩnh Tế. Địch không còn đường thoát.

        Chưa thật tin tưởng phương án của chúng tôi, anh Sáu Nam lệnh xuống:

        - Không chắc thắng thì chưa đánh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #85 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:22:00 AM »


        Nghe lệnh trên, mấy anh em trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn vẫn không thối chí, mà quyết tìm cách trình bày để thủ trưởng hiểu. Sau này khi trận đánh diễn ra đúng như ý định, chúng tôi mới thấy được giá trị của những quyết định xuất phát từ thực tiễn.

        Tình thế có lúc bế tắc. Tôi chủ động gặp gỡ anh Nghiêm trình bày cặn kẽ, cơ sở phương án chiến đấu của sư đoàn. Là người trực tiếp đi cùng chúng tôi nên anh Nghiêm tán đồng phương án của sư đoàn. Rồi anh về ngay quân khu trao đổi với anh Sáu Nam. Không hiểu anh Nghiêm thuyết phục thế nào đó, mà anh Sáu gọi điện xuống đồng ý cho đánh theo phương án của Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Tuy nhiên anh cũng nhắc nhở chúng tôi phải chuẩn bị chu đáo, kiên quyết phải đánh thắng; không được phạm sơ suất nào - phải cho quân Pôn Pốt thêm một đòn chí mạng, nhớ đời.

        Tôi cảm ơn anh Sáu và hứa quyết tâm cùng sư đoàn giành thắng lợi - không phụ niềm tin của Bộ Tư lệnh Quân khu.

        Triển khai cuộc phản kích địch lấn chiếm, giải phóng núi Phú Cường, Ba Chúc, Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị như sau:

        Trung đoàn bộ binh 2 do anh Năm Thời - Trung đoàn trưởng chỉ huy, được tăng cường hai xe tăng PT.85, sáu xe thiết giáp M.113 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 3 đảm nhiệm mũi tiến công chủ yếu của sư đoàn (một trung đoàn của Sư đoàn 341 làm dự bị), đánh thẳng hướng chính diện vào núi Phú Cường, tiêu diệt toàn bộ cụm địch chốt giữ ở đây; trường hợp không diệt gọn thì hất địch xuống cánh đồng ở phía sau (giữa núi Phú Cường và xã Ba Chúc), để Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 đón lõng, tiêu diệt.

        Trung đoàn 1 do anh Đoàn Quang Minh - Trung đoàn trưởng chỉ huy, được tăng cường ba xe tăng PT.85 và một số xe thiết giáp M.113, một tiểu đoàn của Trung đoàn 10 Sư đoàn 339, được pháo binh yểm trợ, đảm nhiệm hướng tiến công quan trọng, vu hồi cánh trái núi Phú Cường, từ núi Tượng, Lạc Quới đánh lên theo bờ kênh Vĩnh Tế, hợp điểm cùng Trung đoàn 3 tại Cống Đá đón lõng, diệt quân địch bị Trung đoàn 2 tiến công rút chạy hòng vượt kênh Vĩnh Tế về bên kia biên giới.

        Trung đoàn 3, do Trung đoàn trưởng Huỳnh Trọng Phẩm chỉ huy, được tăng cường một tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Cửu Long và ba xe M.113, có pháo binh yểm trợ, đảm nhiệm hướng vu hồi cánh phải núi Phú Cường, từ núi Cậu và núi Đất xã Tân Phú phát triển qua chợ Tịnh Biên vào kênh Vĩnh Tế, phát triển dọc bờ kênh xuống hợp điểm với Trung đoàn 1 ở Cống Đá.

        Trung đoàn 4 pháo binh được Trung đoàn 6 pháo binh quân khu phối hợp, có nhiệm vụ đánh phủ đầu, chế áp quân địch ở núi Phú Cường, chi viện đắc lực cho bộ binh tiến công mục tiêu. Khi bộ binh phát triển tiến công đánh chiếm núi Phú Cường thì pháo binh kịp thời chuyển làn, khống chế pháo địch ở bên kia biên giới.

        Nói thêm về địa hình khu vực diễn ra trận đánh, thì ngoài núi Phú Cường có bốn mỏm; bốn phía núi đều là ruộng đồng bằng phẳng. Núi Phú Cường ngày đó là núi trọc, chỉ có đá “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Cả cánh đồng bao la tít tắp, ruộng đồng vừa sau vụ gặt trống trơn cả vùng. Đứng ở núi Dài, núi Cậu và núi Đất có thể quan sát hết thay. Bên kia biên giới cũng đồng không mông quạnh, nổi lên núi Tham Đưng cách biên giới chừng hai cây số, lùi sâu hơn một chút là núi Xôm. Pháo của địch ở hai ngọn núi này có thể phát huy hỏa lực tốt; riêng với núi Tham Đưng, địch có thể dùng 12, 7ly gây sát thương cho ta. Nhớ lại trước đó, anh Sáu Nam có lần định dẫn một nhóm cán bộ đi qua vùng trống này giữa ban ngày, tôi đã cương quyết can ngăn không để anh đi, rất dễ thương vong.

        Tới ngày 18 tháng 1 năm 1978, từ các mũi, các hướng, anh em báo về mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất. Tối hóm đó, các đơn vị đã tiếp cận mục tiêu. Tất cả sẵn sàng để sáng ngày 19 tháng 1 nổ súng. Công tác chuẩn bị được tiến hành hết sức bí mật và khẩn trương, nên địch hoàn toàn không hay biết gì ý đồ tác chiến của ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #86 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:24:15 AM »


        Sáng sớm ngày 19 tháng 1, khi màn sương mỏng trên cánh đồng vừa tan, tôi báo cáo anh Năm Thông - Tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho các trung đoàn đồng loạt nổ súng tiến công địch. Gần nửa tiếng đầu, các loại hỏa lực cấp tập bắn phá các mục tiêu của địch ở núi Phú Cường. Từ Sở chỉ huy ở núi Cậu, chúng tôi thấy núi Phú Cường bị bao trùm bởi lửa khói đạn pháo. Quân địch đang ngái ngủ, bất thần bị sấm sét chụp xuống đầu, vô cùng hoảng loạn. Màn hỏa lực kết thúc, bộ binh bắt đầu tiến công; được xe tăng, thiết giáp hộ tống đánh thẳng vào núi Phú Cường. Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 2 nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu. Sau cú choáng váng bởi đòn hỏa lực phủ đầu của ta, địch đã lợi dụng công sự, núi đá, chống cự quyết liệt. Phải hơn ba giờ quần lộn với địch, có một số đồng chí hy sinh, mãi đến trưa, Trung đoàn 2 mới chiếm được các mỏm số 1, 2, 3.

        Trực tiếp chỉ huy trận đánh, anh Năm Thông và tôi ra lệnh cho Trung đoàn 2 tập trung hỏa lực đánh chiếm mỏm số 4 và đẩy địch xuống cánh đồng dưới chân núi. Ở hướng Trung đoàn 1, sau khi được lệnh nổ súng, tiến công, từ núi Tượng, toàn trung đoàn dâng đội hình lên áp sát địch. Nhưng phi pháo của ta cấp tập vào hệ thống điểm chốt của địch ở núi Phú Cường thì địch ở nam kinh Thầy Cai đã kịp tổ chức ngăn chặn. Phải mất thời gian khá lâu sau nhiều lần bộ binh, thiết giáp đột phá, Trung đoàn 1 mới chọc thủng được tuyến ngăn chặn của địch ở kinh Thầy Cai, phát triển lên chốt 23 và chốt 21. Lúc này địch từ trên núi Phú Cường bị đẩy dồn xuống cánh đồng, đang cố sống cố chết chạy về bên kia biên giới. Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 phối hợp tổ chức bao vây, chia cắt tiêu diệt địch.

        Đến chiều ngày 13, toàn sư đoàn đã tiến hành xuất sắc trận hợp vây trên cánh đồng làng Ba Chúc. Trung đoàn 2 sau khi giải quyết nốt mỏm còn lại, từ trên núi Phú Cường đánh tràn xuống. Cùng lúc, từ hai cánh tả - hữu, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 tiến theo kênh Vĩnh Tế hợp điểm tại Cống Đá. Gần một nghìn quân địch bị quây lại giữa cánh đồng trống, đã bị đền tội. Kẻ sát nhân đã bị đền tội đúng ở nơi mà chúng đã dẫn hàng nghìn dân thường vô tội ở Ba Chúc ra để sát hại.

        Tuy nhiên, địch tháo chạy ồ ạt, Trung đoàn 3 tiến xuống hợp điểm với Trung đoàn 1 ở Cống Đá chậm so với dự kiến, nên địch đã kịp chạy thoát một số trên quãng từ chốt 21 đến Cống Đá.

        Chừng 16 giờ, chúng tôi quyết định đưa đơn vị của Sư đoàn 341 - lực lượng dự bị tham chiến, truy quét tàn binh địch, giải quyết chiến trường, tận thu vũ khí trang bị. Nắng tắt trên cánh đồng Ba Chúc cũng là lúc chúng tôi làm chủ hoàn toàn trận địa. Vậy là gần trọn ngày chiến đấu liên tục, Sư đoàn 330 và đơn vị bạn tăng cường đã thực hiện một trận đánh tiêu diệt xuất sắc; loại khỏi vòng chiến đấu 1.215 tên địch, bắt 106 tên; tiêu diệt gọn 5 tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn khác; thu 348 khẩu súng các loại, 6 máy thông tin, phá hủy 1 khẩu pháo 105ly… Có hiện tượng lạ là sau khi trận đánh kết thúc, khi kiểm tra chiến trường, chúng tôi bắt gặp xác lính địch phủ phục bên bờ ruộng; khắp người không một vết xây sát. Phải chăng tên lính này chết vì khiếp sợ.

        Tổn thất của ta trong trận này là 34 đồng chí hy sình, bị thương 146 đồng chí, bị cháy 1 xe tăng PT.85. Trận tiêu diệt cỡ sư đoàn địch ở núi Phú Cường là trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô cấp sư đoàn tăng cường đạt hiệu suất cao.

        Sau khi làm chủ chiến trường, chúng tôi đã cho giữ nguyên hiện trạng chừng một tuần để các nhà báo trong nước, quốc tế đến quay phim, ghi hình, đưa tin tố cáo hành động xâm lấn của địch đã bị trừng trị đích đáng. Những kẻ gây nên vụ thảm sát đẫm máu đồng bào ta ở Ba Chúc - Tri Tôn đã bị đền tội. Sự kiện này đã gây tiếng vang trong công luận quốc tế.

        Chiến thắng núi Phú Cường khẳng định sự phát triển nhảy vọt về trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô cấp sư đoàn của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 330. Chiến thắng này cũng lấy lại niềm tin yêu của nhân dân vùng biên giới Tịnh Biên - An Giang và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đối với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 330 và lực lượng vũ trang Quân khu 9 nói chung; tin tưởng vào thắng lợi của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #87 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 01:00:04 AM »


        Với trận thắng quân Pôn Pốt ở núi Phú Cường, ngoài việc tích lũy kinh nghiệm tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh với kẻ thù mới, đối tượng tác chiến mới, điều tâm niệm nhất đối với tôi là bản lĩnh, tính quyết đoán của người chỉ huy trên chiến trường. Việc chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, chấp hành kỷ luật chiến trường luôn là vấn đề tối thượng - là kỷ luật - một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh của quân đội ta - Bộ đội Cụ Hồ. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn có những trường hợp cho phép người chỉ huy trực tiếp có chính kiến - có phương án tác chiến khác với ý định của trên. Vấn đề cơ bản là phương án tác chiến, chính kiến đó phải thật sự khoa học, được hình thành từ điều kiện lịch sử cụ thể và đảm bảo đạt được mục đích cuối cùng của trận đánh, của chiến dịch là giành thắng lợi lớn, hạn chế thấp nhất thương vong. Chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên nhưng chấp hành tới mức thụ động, thiếu sáng tạo, thiếu bản lĩnh… không phải là chuẩn mực của người cán bộ giỏi. Quyết định của người chỉ huy trên chiến trường khác ý kiến cấp trên, nếu dẫn đơn vị tại chỗ không hoàn thành nhiệm vụ, tổn thất; dĩ nhiên cá nhân người chỉ huy phải chịu kỷ luật trước cấp trên, trước Đảng và nhân dân. Ngược lại, nếu thắng lợi, thì hành động của họ phải được lịch sử ghi nhận, cấp trên ghi nhận. Với những ý nghĩa trên, trận đánh quân Pôn Pốt ở núi Phú Cường là một trong những trận để lại dấu ấn sâu đậm nhất, giàu cảm xúc trong cuộc đời binh nghiệp của tôi.

        Sau trận đánh ở núi Phú Cường, chúng tôi nhận lệnh của quân khu, tổ chức cho sư đoàn xây dựng trận địa phòng thủ từ Vĩnh Xương, Tịnh Biên - An Giang lên đến huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp. Sư đoàn phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương An Giang, Đồng Tháp và các đơn vị bạn củng cố vững chắc thế trận phòng thủ, bảo vệ từng tấc đất nơi biên cương thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

        Trong thời gian này, khi quân Pôn Pốt mò sang khu vực núi Tượng, Lạc Quới, Ba Chúc - Tịnh Biên; chúng tôi đã tổ chức cho các trung đoàn đánh một số trận. Trong đó có trận đánh ngày 1 tháng 5, sư đoàn diệt trên 250 tên, thu trên một trăm súng, giải thoát cho trên 200 đồng bào ta bị quân Pôn Pốt bắt giữ. Từ đó, ở Mặt trận Hà Tiên, An Giang, quân Pôn bốt hễ thấy bóng dáng đơn vị nào thuộc Sư đoàn 330 đánh ở đâu, đều hò nhau bỏ chạy, không dám chống cự. Điều đó, tạo điều kiện thuận lợi để sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

*

*       *

        Mùa mưa đến, những cánh đồng khu vực Tịnh Biên - dọc hai bờ kênh Vĩnh Tế nước trắng băng, mênh mông một màu nước. Quân Pôn Pốt vẫn bắn pháo và đột nhập vào lãnh thổ của ta ở một số điểm, nhưng thưa hơn mùa khô. Lúc này tôi cùng anh Ba Trung được trên cho đi học Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Trước khi đi, tôi đã được phong quân hàm thượng tá. Khi đó, quyết định phong quân hàm thượng tá do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký.

        Tháng 8 năm 1978, tôi ba lô khăn gói nhảy xe đò ra Hà Nội. Dọc đường “lai kinh” có một chuyện khá thú vị. Có thể vì dáng dấp tôi nhỏ nhắn, mang quân hàm thượng tá, ngó bộ quá trẻ chăng (mặc đầu năm đó thực tuổi của tôi là 42), nên hai anh công an tỏ vẻ nghi ngờ họ cho rằng tôi giả mạo quân hàm và hỏi giấy tờ của tôi. Với thái độ từ tốn, tôi bảo các đồng chí công an nếu cần thì gọi điện về quân khu xác minh cho rõ. Khi rõ ngọn nguồn, hai anh cảnh sát xin lỗi rối rít. Âu cũng là một bài học về tinh thần cảnh giác thái quá, mà thiếu đi độ sắc sảo về nghiệp vụ.

        Lúc đầu, theo diện chiêu sinh, tôi cùng anh Ba Trung thuộc đối tượng bổ túc ngắn hạn. Nhưng sau xét thấy tôi chưa qua một khóa đào tạo cơ bản nào, nên anh Hoàng Minh Thảo - Giám đốc Học viện đề nghị thủ trưởng Bộ chuyển tôi qua hệ đào tạo hai năm. Còn anh Ba Trung vẫn học chương trình bổ túc, đến cuối năm 1978, anh về lại quân khu, kịp tham gia chiến dịch tiến công giải phóng toàn bộ tuyến biên giới Tây Nam và giúp bạn giải phóng Phnôm Pênh.

        Khóa chúng tôi học là khóa đào tạo cán bộ tham mưu chiến dịch đầu tiên, chuẩn bị cho xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại; chuyển từ xây dựng quân đội theo yêu cầu chiến tranh giải phóng sang xây dựng quân đội theo yêu cầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy nội dung chương trình có nhiều điểm rất mới. Cùng dự học với tôi khóa này có nhiều anh em sau này phát triển tốt, đảm đương một số trọng trách trong cơ quan Đảng, Nhà nước, quân đội, đó là các anh: Lê Văn Dũng, Nguyễn Huy Hiệu, Nguyễn Phúc Thanh, Đỗ Trung Dương, Nguyễn Khắc Dương, Phạm Văn Long, Lê Văn Hân, Lê Ngọc Oa, anh Ba Chia…

        Hai năm chúng tôi học tập trung ở Học viện Quốc phòng là quãng thời gian đất nước và khu vực đầy biến động. Lực lượng vũ trang ta thực hiện chủ trương của Đảng và đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, đã thực hiện được sứ mệnh thiêng liêng, giúp bạn tiến công giải phóng Phnôm Pênh, lật đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa Ri, cứu đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Nhưng, khi tình hình biên giới Tây Nam qua cơn nguy biến thì lửa chiến tranh lại vùng lên ở biên cương phía Bắc…

        Là người lính, là cán bộ từng xông pha nơi chiến trường, trải qua hàng trăm trận chiến đấu; nay hay tin chiến sự diễn ra ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, nhiều khi như có lửa trong lòng. Đã có lúc chúng tôi đề đạt lên Ban Giám đốc Học viện nhanh chóng kết thúc chương trình để được trở về đơn vị chiến đấu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #88 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 01:01:15 AM »


*

*       *

        Kết thúc hơn hai năm dự khóa đào tạo tại Học viện Quân sự cấp cao, cuối năm 1980, tôi trở lại Sư đoàn 330 tiếp tục công tác và được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng. Bộ Tư lệnh Sư đoàn lúc này ngoài tôi ra, có anh Lê Xuân Phong (Ba Phong) - Sư đoàn phó Tham mưu trưởng, sau đó anh Nguyễn Văn Thanh (Ba Chơi) thay; anh Hồ Văn Sanh (Bảy Sanh) - Chính ủy, anh Lê Hữu Thời (Năm Thời) - Sư đoàn phó.

        Thời gian tôi đi học, Sư đoàn 330 cùng với các đơn vị bạn trong quân khu và nhiều đơn vị của các quân khu, quân đoàn bạn đã thực hiện đòn tiến công xuất sắc: lùa đuổi quân Pôn Pốt dọc tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia và phát triển tiến công, giúp bạn giải phóng Phnôm Pênh, giải phóng đất nước, lật nhào chế độ Pôn Pốt, cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Cùng với đại quân tiến vào giúp bạn giai phóng Phnôm Pênh đầu tháng 1 năm 1979, Sư đoàn 330 đảm nhiệm hướng tiến công theo quốc lộ 3 và là đơn vị đánh chiếm sân bay Pô Chen Tông. Tròn hai năm làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn, sư đoàn được phân công đảm trách địa bàn tỉnh Kông Pông Spư. Trong quãng thời gian đó, sư đoàn vừa tổ chức truy quét tàn binh địch, đánh trả một số trận phản kích quy mô cấp trung đoàn của địch; đồng thời tổ chức các đội công tác xuống cơ sở cứu đói, cứu đau, giúp hàng nghìn người dân của bạn bị giam hãm trong các trại tập trung trở về phum, sóc làm ăn, sinh sống; giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng chính quyền phum, sóc…

        Sau hai năm kể từ ngày chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa Ri bị lật đổ, Campuchia đã từng bước hồi sinh. Chính quyền cách mạng đang từng bước thể hiện vai trò tổ chức, quản lý xã hội; lực lượng vũ trang cách mạng non trẻ đang làm quen dần với chức năng là công cụ bạo lực của chính quyền cách mạng - tham gia truy quét tàn quân Pôn Pốt, giữ gìn trật tự an ninh xã hội; nhưng thực tế cách mạng của bạn đang đứng trước thử thách lớn. Bè lũ Pôn Pốt vẫn chưa từ bỏ tham vọng hòng xoay chuyển tình thế, chống phá sự nghiệp cách mạng của bạn bằng chiến tranh du kích lâu dài và cuối cùng dùng lực lượng áp đảo để giành chính quyền. Theo đó, địch gom góp tàn quân về khu vực biên giới giáp Thái Lan, lấy vùng đất này làm “Thánh địa” để xây dựng lại các sư đoàn chủ lực, chờ thời cơ. Ở nội địa, chúng duy trì một số đơn vị nhỏ, dựa vào những địa bàn hiểm trở để xây dựng căn cứ, bí mật và bất ngờ bung ra đánh vào nơi ta sơ hở; phá chính quyền, các tổ chức quần chúng vừa mới được phục hồi. Các thủ đoạn đánh phá của địch buộc ta phải thường xuyên phải căng lực lượng ra đối phó rất căng thẳng. Chính trong bối cảnh đó, có anh em đã liên tưởng tới trước đây quân viễn chinh Pháp và Mỹ đã khốn khổ như thế nào trước phong trào chiến tranh nhân dân “thiên la, địa võng”, chiến tranh du kích của ta phát triển mạnh mẽ. Cái cần phân biệt rạch ròi ở đây rằng: quân viễn chinh Pháp, Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược; còn chúng ta đang thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, cứu đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt vong và đang giúp bạn từng bước ổn định cuộc sống.

        Thời gian tôi trở về Sư đoàn 330 với cương vị Sư đoàn trưởng, chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ giúp bạn, tình hình có một số thay đổi. Do yêu cầu nhiệm vụ, một số đơn vị của ta được lệnh về nước. Vì vậy, lực lượng tình nguyện của Quân khu 9 phải đảm đương thêm nhiều khu vực. Ngoài địa bàn tỉnh Kông Pông Spư đảm trách từ trước, sang năm 1981, sư đoàn được phân công đảm đương một phần tỉnh Kông Pông Chnăng.

        Căn cứ nhiệm vụ quân khu giao và tình hình thực tế, Đảng ủy và chỉ huy sư đoàn xác định ba nhiệm vụ chủ yếu của sư đoàn lúc này là:

        - Giúp hai tỉnh Kông Pông Spư, Kông Pông Chnăng củng cố, xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang. Cùng bạn phát động quần chúng đánh địch với mọi hình thức: quân sự, chính trị, kinh tế, dân vận, phá các tổ chức địch ngầm… Giúp bạn tổ chức sản xuất, ổn định đời sống, phục hồi các hoạt động văn hóa, tôn giáo.

        - Tổ chức trinh sát nắm địch, phát hiện và truy quét, không cho chúng lập căn cứ “lõm”, ngăn chặn hành lang vận chuyển của địch từ nội địa ra biên giới và lực lượng của chúng từ biên giới vào nội địa; bảo vệ mọi hoạt động của ta và bạn trên trục lộ 4 và đường sắt từ Phnôm Pênh đi Puốc Sát.

        - Xây dựng sư đoàn đủ mạnh làm lực lượng cơ động của quân khu và tiền phương Bộ Quốc phòng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20970


« Trả lời #89 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 01:02:09 AM »


        Với nhiệm vụ giúp bạn, chúng tôi xác định: Hiện tại bạn chưa đủ lực, nên ta làm là chính. Khi bạn phát triển lên, ta và bạn cùng làm và tiến lên một bước nữa bạn làm là chính, ta đóng vai trò tham mưu cho đến khi bạn tự gánh vác được mọi việc. Chúng tôi cũng xác định lộ trình đến năm 1983 đạt đến mức ta và bạn cùng làm.

        Làm nhiệm vụ ở một địa bàn rất phức tạp - rừng núi chiếm một tỷ lệ diện tích lớn, thời tiết nghiệt ngã, nguy cơ sốt rét và bệnh thương hàn rất cao; đặc biệt các ổ phục kích, bãi mìn của địch cài đặt khắp nơi. Nhưng không quản hiểm nguy, ngày qua ngày, không một cánh rừng, không một dòng suối cạn nào vắng bước chân của những người lính sư đoàn lùng sục, truy đuổi dịch, giành lại cuộc sống yên bình cho từng phum, sóc của bạn. Không ít cán bộ, chiến sĩ của ta đã thương vong vì địch bắn lén, đặc biệt là vì mìn.

        Năm 1981, sư đoàn đã tổ chức truy quét trên 900 lượt, tác chiến 14 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 136 tên (có 11 tên chỉ huy cấp trung đoàn), bắt 34 tên, thu trên năm chục khẩu súng, 8 máy thông tin.

        Đối với chính quyền cách mạng và ổn định đời sống, ta giúp bạn xây dựng toàn diện vững chắc, ổn định lâu dài; phải giúp bạn có được một cuộc hồi sinh thực sự. Nói thì có phần đơn giản, nhưng nhập cuộc mới thấy lĩnh vực giúp bạn xây dựng chính quyền, lực lượng vũ trang, ổn định cuộc sống cũng gian khổ, khó khăn không kém đánh giặc. Ví như việc vận động quần chúng; đa phần bộ đội ta là tân binh, ngay ở trong nước cũng chưa làm bao giờ; nay sang đất bạn “lạ nước, lạ cái”, ngôn ngữ bất đồng, không thông hiểu phong tục tập quán của bạn… Khó khăn chồng chất khó khăn!

        Trước tình hình đó, chúng tôi bàn bạc, đề xuất một số biện pháp cụ thể giúp đơn vị tổ chức thực hiện:

        - Có ý chí, quyết tâm cao; kiên trì thực hiện bằng được nhiệm vụ; chống tư tưởng ngại khó, chần chừ, do dự. Vừa làm vừa rút kinh nghiệm.

        - Phải dựa vào bạn, tranh thủ ý kiến của bạn, đề cao uy tín của bạn. Trong giúp bạn xây dựng toàn diện chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa… phải luôn chú trọng hàng đầu về chính trị, xây dựng tốt mối quan hệ với nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân, tạo cho nhân dân bạn niềm tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng Campuchia, vào sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam.

        Để nâng cao hiệu quả công tác vận động nhân dân bạn, chúng tôi đề nghị Bộ Tư lệnh Quân khu đưa một số cán bộ người dân tộc Khme sang dạy tiếng Khme cho cán bộ, chiến sĩ sư đoàn; đồng thời động viên anh em tranh thủ học tiếng thông qua tiếp xúc hằng ngày với nhân dân, cán bộ, lực lượng vũ trang của bạn.

        Các trung đoàn và tiểu đoàn trực thuộc sư đoàn đều tổ chức các đội công tác xuống từng phum - sóc, làm việc trực tiếp, thường xuyên với chính quyền, các tổ chức đoàn thể của bạn; giúp bạn tổ chức, điều hành các hoạt động chính trị, kinh tế, quân sự… Dần dần, ta đã giúp bạn xây dựng được chính quyền từ tỉnh xuống huyện, xã. Ngoài bộ máy chính quyền vững, còn có đoàn thể thanh niên, phụ nữ và một lực lượng dân quân, được vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở địa phương và phối hợp với quân tình nguyện truy quét tàn quân Pôn Pốt.

        Một tỷ lệ lớn nhân dân Campuchia theo đạo Phật, chùa chiền được dựng lên khắp nơi. Bởi vậy, người ta vẫn thường gọi Campuchia là đất nước Chùa Tháp. Sau khi thoát khỏi bàn tay diệt chủng của bọn đao phủ “áo đen”, các phật tử ở đây muốn khôi phục nhanh tín ngưỡng của mình, muốn lên chùa, tiến hành lễ “làm phước” cầu nguyện cho những người bị quân Pôn Pốt giết hại; cầu nguyện cho đất nước chóng an bình… Nhưng oái ăm, nghiệt ngã thay - chùa chiền đã bị chính quyền quân đội của Pôn Pốt biến thành chuồng trại, nhà kho; tượng Phật bị đập phá, sư sãi bị giết hại, số còn sống đang “giấu danh ẩn tích”, không dám nhận là sư.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM