Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Tám, 2019, 04:59:57 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đời chiến sĩ - Đại tướng Phạm Văn Trà  (Đọc 26087 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #70 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:26:36 AM »


        Sau này, có điều kiện nghiên cứu kỹ tình hình lúc đó mới thấy rằng: trong khi ta đang dồn sức giải phóng hoàn toàn miền Nam, thì ở Campuchia, với sự giúp sức của ta, ngày 17  tháng 4, Phnôm Pênh đã được giải phóng. Lợi dụng thời điểm chúng ta đang tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách ở những đô thị lớn sau ngày giải phóng, tập đoàn Pôn Pốt đã cho quân ra chiếm các đảo của ta. Vậy là, điểm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng chính là điểm khởi đầu của một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn, lâu dài, ác liệt không hề thua kém hai cuộc chiến tranh giải phóng trước đó.

        Là một dân tộc bao lần bị ngoại bang xâm lăng, đặc biệt vừa kết thúc thắng lợi 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chịu biết bao mất mát, thương đau, hơn ai hết, chúng ta biết cái giá phải trả để có được một ngày hòa bình, non sông độc lập thống nhất. Và cũng vì thế mà dân tộc ta, quân dân ta quyết bảo vệ, giữ gìn những gì ta có được.

        “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cử đi” - khúc hát hành quân từng nâng bước chúng tôi trong những năm trường đánh Pháp, đánh Mỹ, nay lại thúc giục bước chân những người lính Trung đoàn 1 U Minh hướng ra biên giới.

        Chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân khu 9 lúc này là khẩn trương tiếp quản tốt, ổn định tình hình vùng mới giải phóng; đồng thời kiên quyết chặn đứng, đánh bại mọi hành động xâm lấn, phá hoại của tập đoàn phản động Pôn Pốt; quyết không để một tấc đất của Tổ quốc lọt vào tay người khác. Để thực hiện quyết tâm đó, trung tuần tháng 5 năm 1975, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đề nghị Bộ Quốc phòng thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng các đảo thuộc vùng biển Tây Nam của Tổ quốc. Anh Ba Trung - Phó tư lệnh quân khu được chỉ định làm Chỉ huy trưởng chiến dịch; anh Trần Hanh - Anh hùng không quân, Phó tư lệnh Quân chủng Không quân làm Chỉ huy phó.

        Sau khi Bộ chỉ huy chiến dịch được thành lập, anh Ba Trung cho gọi tôi và anh Bảy Sa lên chính thức giao nhiệm vụ. Với tâm trạng rất buồn, anh Ba Trung truyền đạt nhiệm vụ mà như tâm sự, như giãi bày một phẫn uất:

        - Tình hình xấu quá rồi. Quân Pôn Pốt đã chiếm một số đảo của ta hơn một tháng nay. Chúng tàn sát đồng bào ta rất dã man. Được Tư lệnh quân khu phân công trực tiếp giải quyết tình hình các đảo, vừa rồi tôi đã sử dụng một lực lượng của quân khu, có hải quân tăng cường đổ bộ bí mật lên đảo Thổ Chu, bất ngờ tiêu diệt gọn một tiểu đoàn quân Pôn Pốt, bắt 300 tên. Nhưng điều đáng buồn là khi ta giải phóng đảo, quân Pôn Pốt đã sát hại trên 500 bà con ta sinh sống lâu đời ở đây. Nghe bà con mình kể lại mức độ dã man, không còn tính người của quân Pôn Pốt mà tôi giật mình, không tưởngtượng nổi.

        Về nhiệm vụ của Trung đoàn 1 U Minh, anh Ba Trung chỉ thị:

        - Trung đoàn khẩn trương tổ chức bàn giao địa bàn cho lực lượng vũ trang, chính quyền địa phương, nhanh chóng cơ động ra đảo Phú Quốc, sẽ có hải quân trợ giúp; chuẩn bị cùng các đơn vị bạn tiến công thu hồi các đảo.

        Nhiệm vụ đã rõ, thời gian không chờ đợi, ta ra đảo chậm một ngày là có biết bao dân thường vô tội bị sát hại. Ý thức được điều đó, chúng tôi khẩn trương phổ biến quán triệt nhiệm vụ tới từng cán bộ, chiến sĩ; gặp gỡ bàn giao địa bàn cho Huyện đội Long Mỹ, Ba Càng.

        Mọi việc hoàn tất, ngày 25 tháng 5, toàn đội hình trung đoàn được tàu của hải quân và xe vận tải quân sự chuyển xuống thị trấn Rạch Sỏi - Rạch Giá; sau đó hành quân bằng tàu ra Phú Quốc. Ra quân lần này, đơn vị không háo hức, phấn chấn như những lần ra quân đánh Mỹ trước đây; mà nặng phần ưu tư, trăn trở. Thật trớ trêu - thế gian tráo trở, sớm nắng chiều mưa; cũng con người đó, hôm qua còn là “đồng chí” của nhau, nay đã hiện nguyên hình là những tên đao phủ - là kẻ thù không đội trời chung của ta.

        Đặt chân lên đảo, trong khi bộ đội ổn định đội hình đứng chân, tiếp tục làm công tác chuẩn bị, tôi và các anh trong Ban chỉ huy trung đoàn cùng các anh trong Bộ chỉ huy chiến dịch nhiều lần đi máy bay để trinh sát, chuẩn bị hạ quyết tâm chiến đấu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #71 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 07:29:23 AM »


        Ngồi trên máy bay trinh sát nắm địch, mới thấy được phần nào vẻ đẹp của vùng biển đảo Tây Nam Tổ quốc. Trải dưới cánh máy bay, biển xanh biếc, điểm xuyết từng gợn sóng bạc đầu; thuyền buồm đánh cá hàng trăm chiếc như đám lá tre rải trên mặt hồ. Còn đảo lại xanh mướt một màu cây cối. Cảnh quan đất nước thật thanh bình, nếu như không ẩn giấu sau vẻ đẹp cổ điển đó là những bóng ma diệt chủng. Phải chặn đứng bàn tay vấy máu của chúng!

        Ngày 27 tháng 5, Bộ chỉ huy chiến dịch chính thức giao nhiệm vụ cho trung đoàn chúng tôi tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Poulowai (đảo Hòn Ông, Hòn Bà).

        Điều khó khăn nhất của chúng tôi khi đó là không một ai biết hai hòn đảo này như thế nào, nằm ở đâu, đặc biệt là địch tình trên đảo. Lập tức các loại bản đồ hành chính, quân sự của chính quyền Sài Gòn trước đó, được khui tìm; đồng thời qua giới thiệu của bà con ở Phú Quốc, chúng tôi tìm được một ngư dân địa phương trạc bảy chục tuổi. Ngư phủ nãy biết khá rõ Hòn Ông, Hòn Bà. Hằng năm, ông ra làm ăn và qua lại trên hai hòn đảo này chừng sáu tháng. Những thông tin ít ỏi của người ngư phủ này vô cùng quý giá đối với chúng tôi khi nhận nhiệm vụ.

        Qua nghiên cứu các tài liệu về địch, những thông tin do ngư dân cung cấp và đặc biệt sau khi đã làm chủ Poulowai, có thể khái quát tình hình địch, đỉa hình địa vật ở hai hòn đảo này như sau: Cả hai đảo cách thị xã Rạch Giá 220 cây số và cách An Thới, Phú Quốc 113 cây số về phía tây. Hòn Ông cao 51 mét, Hòn Bà cao 61 mét, nằm song song, cách nhau 3 cây số, diện tích tương đương nhau. Mỗi đảo dài khoảng 3.000 mét, chỗ rộng nhất 1.500 mét, chỗ hẹp nhất 800 mét, có một ít cư dân sinh sống trên đảo. Mỗi đảo có một bãi cát có thể đổ bộ dễ dàng; còn lại bốn bề của đảo đều là vách đá dựng đứng. Đảo Hòn Bà có một cây đèn biển và quân ngụy trước đó có làm một sân bay dã chiến, chủ yếu cho trực thăng và máy bay trinh sát L.19 đậu.

        Quân Pôn Pốt ở đảo Hòn Ông có Tiểu đoàn 420; ở Hòn Bà có Tiểu đoàn 410, thuộc Trung đoàn 21 Sư đoàn 3 bộ binh. Trang bị hỏa lực có 10 khẩu ĐKZ, 82ly và 75ly, một số súng cối, đại liên, AK, súng máy 12,7ly, trên bốn chục khẩu B.40, B.41.

        Để tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Hòn Ông, Hòn Bà, ngoài lực lượng của trung đoàn, Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cho trung đoàn tôi 2 khẩu pháo 105ly; về hải quân có 11 tàu PCF, 10 tàu há mồm (LCM), 3 tàu cao tốc, 3 tàu vận tải; về không quân, có 12 máy bay ném bom A.37, bốn trực thăng vũ trang, hai máy bay trinh sát L.19, hai máy bay cần cẩu CH.47, một trực thăng cứu thương. Yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch là trung đoàn đánh chiếm, làm chủ Poulowai trong vòng hai đến ba ngày.

        Tình hình địch - ta, quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch như vậy là khá rõ. Điểm mấu chốt trong quá trình chuẩn bị là vấn đề công tác tư tưởng của bộ đội. Như tôi đã đề cập, khi trung đoàn hành quân xuống Rạch Sỏi, ra Phú Quốc, không còn không khí hồ hởi như khi ra trận đánh Mỹ - ngụy. Tôi và anh Bảy Sa đều cảm thấy phảng phất một chút tư tưởng ngại chiến đấu, tư tưởng cầu an, hòa bình. Vì vậy, chúng tôi thống nhất phải động viên, giáo dục giải quyết ngay tình trạng nói trên. Mọi công việc chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Bộ đội xốc lại tinh thần, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng là người lính của Trung đoàn 1 U Minh anh hùng.

        Lần đầu tác chiến với đối tượng mới, hành quân xa trên biển, chúng tôi chủ động hiệp đồng chặt chẽ với các anh bên hải quân và không quân. Với hải quân, anh Chinh - Tư lệnh Vùng 5 và anh Hán - Hạm đội trưởng cùng chúng tôi bàn thảo, thống nhất cách đánh, các bước hành quân… Nói thêm một chút về hải quân, sau khi ta giải phóng miền Nam, thu được một số tàu của hải quân ngụy, nên Bộ Tư lệnh Hải quân đã thành lập một số hạm đội. Nói là hạm đội cho có vẻ to tát vậy thôi, chứ thực chất lực lượng, trang bị rất mỏng. Cả hạm đội chỉ có 2 chiếc tàu cao tốc, được trang bị mấy khẩu 12,7ly và 2 khẩu pháo phòng không 37ly; một số tàu “há mồm” và tàu tuần tiễu. Nhân viên lái tàu là lính ngụy trước đây, nay được ta tuyên truyền vận động, mặc dù nhận nhiệm vụ, nhưng chắc chắn rất sợ đánh đấm, chết chóc…; đặc biệt, khi ta sử dụng lái tàu tham gia trận đánh trên biển, họ rất sợ sóng gió, đắm tàu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #72 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:43:26 AM »


        Khi bàn cách đánh, quan điểm của tôi khác các anh chỉ huy Vùng 5 và Hạm đội hải quân. Anh Chinh và anh Hán cho rằng quân Pôn Pốt cùng lắm cũng như quân ngụy trước đây, thế và lực đều yếu; ta nên đánh một cách bài bản, đổ bộ trực tiếp vào bãi cát rộng khoảng 400m2; kết hợp xung lực, hỏa lực đánh chiếm đảo. Quan điểm của chúng tôi hoàn toàn ngược lại. Tôi cho rằng: ta chưa tường tỏ về địch tình, địa hình, hỏa lực không có, rất khó đánh theo kiểu bài bản. Quân Pôn Pốt có thể không mạnh, nhưng mưu mô, thâm hiểm cũng không vừa; khi ta đánh chiếm lại đảo Thổ Chu, rất có thể địch tăng cường binh - hỏa lực để phòng thủ đảo Hòn Ông, Hòn Bà. Kinh nghiệm thực tế dạy cho tôi, muốn thắng địch, phải thận trọng, đánh chắc, đánh theo cách đánh của trung đoàn - triệt để khai thác yếu tố bí mật bất ngờ.

        Sau một hồi bàn bạc, tranh cãi, các anh bên hải quân đồng ý đánh theo cách của chúng tôi. Cụ thể là ta sẽ đánh vào ban đêm. Với khoảng cách 120 cây số từ Phú Quốc ra đảo Hòn Ông, Hòn Bà, tôi dự kiến tàu đi mất 12 giờ; nếu xuất phát sớm, ra tới đảo trời chưa sáng, có thể tiến công địch trong đêm. Lúc này, đang vào mùa gió bấc, chúng tôi sẽ cho tàu đi vòng xuống phía Malaixia, sau đó đi ngược lên, tiếp cận đảo từ phía nam; do ngược gió nên địch khó phát hiện tiếng máy tàu, giữ được bí mật. Khi đổ bộ lên đảo sẽ không tiếp cận bãi cát bằng phẳng, mà chọn khu vực bãi đá hiểm trở, địch không ngờ ta đổ bộ lên đó, tạo được yếu tố bất ngờ.

        Sau khi thống nhất cách đánh, công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn tất, chiều ngày 31 tháng 5 năm 1975, toàn trung đoàn được lệnh xuất kích. Theo kế hoạch, Tiểu đoàn 309 và một số phân đội trực thuộc sẽ đánh vào Hòn Bà, Tiểu đoàn 303 đánh vào Hòn Ông, Tiểu đoàn 307 là lực lượng dự bị của trung đoàn. Đội hình xuất phát gồm 2 tàu cao tốc, 10 tàu “há mồm”, 10 tàu tuần tiễu chở hai tiểu đoàn 309, 303, chỉ huy trung đoàn, tiếp đó là Tiểu đoàn 307, lần lượt rời bến với khí thế quyết thắng trận đầu. Nhưng mới đi được chừng một phần ba quãng đường, màn đêm vừa buông trên biển, thì bất ngờ giông gió nổi lên. Biển nổi sóng. Những con sóng lừng lững như muốn nuốt chửng mấy con tàu bé bỏng. Đêm mỗi lúc một đen đặc. Bộ đội say sóng, nôn mửa khắp tàu. Với tôi, đây là lần đầu tiên đi biển, mặc dầu không say sóng, nhưng trước tình huống bộ đội nằm la liệt, không hình dung sóng gió kéo dài bao lâu; sau khi hội ý chớp nhoáng với anh Chỉnh, anh Hán, chúng tôi quyết định quay về Phú Quốc. Liên tiếp mấy ngày sau đó, bão gió lui rồi, nhưng thời tiết vẫn xấu, trung đoàn tiếp tục chuẩn bị và chờ đợi lệnh xuất quân.

        Chiều ngày 4 tháng 6, biển lặng, trời quang, tôi truyền lệnh xuất phát. Toàn bộ đội hình đi vòng xuống phía Malaixia, sau đó căn tọa độ vòng lên, triển khai kế hoạch tiếp cận đảo từ phía nam. Đã tính toán kỹ thời gian hành quân, thời điểm đổ bộ lên đảo, nên tôi lệnh cho các tàu giữ ổn định tốc độ. Sau 12 giờ tàu chạy liên tục, vẫn chưa thấy xuất hiện mục tiêu, tôi trao đổi với anh Hán: Có lẽ chúng ta đã đi chệch hướng, đi quá mất rồi!

        Sau một thoáng lưỡng lự, đồng chí Hạm đội trưởng lệnh cho các tàu tạm dừng, xác định lại tọa độ và cho tàu tuần tiễu kiểm tra kỹ. Một lúc sau thì tàu tuần tiễu phát hiện ánh đèn ở trên đảo. Tất cả được lệnh điều chỉnh lại đội hình, tiếp cận hải đảo từ phía nam. Bốn giờ sáng ngày 5 tháng 6, Tiểu đoàn 309 tiếp cận đảo Hòn Bà. Cách đảo 60 mét. tôi lệnh cho bộ đội nhảy xuống nước lội vào, không lên đảo ở khu vực bãi cát, mà chọn một vị trí khác, tuy khó tiếp cận, nhưng bảo đảm bí mật. Theo cách đó, toàn bộ Tiểu đoàn 309 và lực lượng tăng cường lên đảo trót lọt mà địch vẫn không hay biết gì. Đúng ra thì địch ở đảo Hòn Ông biết chúng tôi đột nhập đảo Hòn Bà, nhưng vì hệ thống thông tín hay vì lý do gì đó mà chúng không báo cho đồng bọn ở Hòn Bà biết được.

        Sau khi bộ đội lên đảo, ổn định đội hình chiến đấu, xong, Nguyễn Thành Chiến - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 309 báo cáo không thấy địch, tôi lệnh cho tiểu đoàn khẩn trương đào ít nhất phải được 300m công sự, để sáng ngày, khi địch phát hiện được, là ta có công sự để chiến đấu được, hạn chế thương vong.

        Ở hướng Hòn Ông, Tiểu đoàn 303 tiếp cận đảo muộn hơn Tiểu đoàn 309 ở Hòn Bà. Vì vậy, khi tàu của ta tiếp cận Hòn Ông thì trời vừa sáng, địch phát hiện trung đoàn lệnh cho tàu chở quân lao thẳng vào bờ. Khi bộ đội nhảy khỏi tàu, đổ bộ lên bờ thì một chiếc tàu há mồm trúng đạn pháo của địch, bị chìm.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #73 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:45:53 AM »


        Súng ở Hòn Ông nổ cũng là hiệu lệnh báo động cho địch ở Hòn Bà. Lập tức, tôi phát lệnh nổ súng tiến công địch. Đúng như dự đoán của tôi: bãi cát ở Hòn Bà chính là nơi địch bố trí trận địa phòng ngự hỏa lực mạnh. Nếu như chúng tôi đổ bộ vào bãi cát thì chắc chắn toàn bộ đội hình sẽ lọt vào trận địa bày sẵn của địch, và không hiểu khi đó tình hình sẽ ra sao! Bộ đội ta phát triển được chừng trăm mét thì gặp địch phản kích quyết liệt. Khi thấy địch bộc lộ lực lượng, anh Chỉnh và anh Hán rất phục phán đoán của chúng tôi. Anh Hán nắm chặt tay tôi, xúc động nói:

        - Kỳ thật, nói là chưa biết tí gì về địch mà anh lại đi guốc trong bụng chúng!

        Tôi vui vẻ trả lời: Cũng không có gì to tát cả, kinh nghiệm thực tế dạy chúng tôi rằng địch không bao giờ dành cho ta những gì dễ dàng, đơn giản. Một trận đánh dù lớn hay nhỏ cũng là một cuộc đấu trí giữa hai bên. Không những không mắc mưu địch mà ta còn phải biết “tương kế tựu kế”…

        Suốt mấy ngày, kể từ sáng sớm ngày 5 tháng 6, chiến sự diễn ra căng thẳng ở Hòn Bà và Hòn Ông. Ngay trong ngày 5 tháng 6, địch đã cho quân ở đảo Cô Tang đến tăng viện cho Hòn Bà. Tàu cao tốc do anh Hán chỉ huy đã bắn chìm một chiếc PCF, bắn hỏng một chiếc khác, bắt 3 tù binh. Hết ngày 5 tháng 6, Tiểu đoàn 309 cũng chỉ chiếm được một số điểm cao ở phần nam Hòn Bà. Sang ngày thứ hai, bộ đội ta phát hiện ở Hòn Bà có một sân bay dã chiến - đường băng dài chừng 300m.

        Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 6, chiến sự diễn ra ác liệt chủ yếu ở khu vực bãi cát và xung quanh cao điểm 61 - nơi đặt sở chỉ huy Tiểu đoàn 410 quân Pôn Pốt. Nhiều cán bộ, chiến sĩ của ta thương vong ở đây. Liên tiếp những ngày này thời tiết xấu, biển động mạnh, máy bay chiến đấu và tàu chiến của ta không xuất kích được. Đến ngày 10 tháng 6, trời quang, biển lặng, không quân và hải quân hoạt động tốt, hỗ trợ tích cực cho các lực lượng của chúng tôi trên đảo đang vây chặt địch ở cao điểm 61. Trực thăng vũ trang của ta tiến công đoàn tàu địch từ Cô Tang tăng viện cho Hòn Bà, máy bay A37 ném bom cao điểm 61. Máy bay trực thăng và máy bay A37 bay ra chỉ tiếp cận mục tiêu, ném một loạt bom rồi quay về ngay, vì thời tiết xấu.

        Biết địch đã đến lúc “sức cùng lực kiệt”, chiều ngày 12 tháng 6, tôi phát lệnh tiến công tiêu diệt địch ở cao điểm 61 và một số vị trí đang bị vây chặt. Tiểu đoàn 309 và các lực lượng tăng cường làm chủ toàn bộ Hòn Bà, bắt hơn 700 tên, thu rất nhiều súng đạn, trong đó có hai khẩu cối 106,7ly, 10 khẩu ĐKZ 75ly, 82ly và 8 khẩu 12,7ly của địch bố trí trên bãi cát dài chừng 400 mét.

        Sau khi làm chủ hoàn toàn Hòn Bà, ngày 13 tháng 6, chúng tôi cho Tiểu đoàn 309 đưa hai khẩu pháo 105ly mới được máy bay cẩu ra, đặt ở đảo Hòn Bà bắn sang Hòn Ông. chi viện cho Tiểu đoàn 303 và Tiểu đoàn 307 tiêu diệt Tiểu đoàn 420 - tiểu đoàn được mệnh danh là thiện chiến bậc nhất - tiểu đoàn “anh hùng” của Pôn Pốt. Cũng trong ngày 13, không quân ta xuất kích ném bom sở chỉ huy Tiểu đoàn 420 quân Pôn Pốt, oanh kích tàu chiến của địch tăng viện, bắn chìm một chiếc. Lúc này tôi rời Hòn Bà sang trực tiếp chỉ huy đánh địch ở Hòn Ông.

        Sáng ngày 14 tháng 6, Tiểu đoàn 303 và Tiểu đoàn 307 dồn toàn lực mở cuộc tiến công cuối cùng, diệt và bắt toàn bộ quân địch (bắt 782 tên), làm chủ hoàn toàn Hòn Ông, thu hàng nghìn khẩu súng. Về phía trung đoàn, hy sinh 18 đồng chí và bị thương trên tám chục đồng chí. Như vậy, hòa bình chưa được hai tháng, mà những người lính Trung đoàn 1 U Minh vẫn tiếp tục chiến đấu, tiếp tục hy sinh vì chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

        Sau khi đánh chiếm, làm chủ Hòn Bà, Hòn Ông, chúng tôi tổ chức cho bộ đội đi tìm dân cư trên đảo. Anh em tìm mãi chẳng thấy ai. Bao trùm khắp đảo là cảnh tượng hoang vắng rợn người. Khủng khiếp và ghê rợn nhất là khi bắt gặp những đống quần áo cũ, chăn màn, xác chết tấp vào dọc mép biển. Anh em tập trung thu gom chôn cất xác chết, vệ sinh môi trường. Sau đó, theo lệnh trên, chúng tôi để một lực lượng của Tiểu đoàn 309 ở lại tổ chức phòng thủ bảo vệ Hòn Ông, Hòn Bà. Lực lượng chủ yếu của trung đoàn đưa theo tù binh trở về đảo Phú Quốc. Những tháng ngày ở Phú Quốc, trung đoàn vừa tổ chức phòng thủ đảo, vừa cải tạo lại khu vực trại giam Phú Quốc, chuẩn bị nhận số sĩ quan ngụy ra học tập, cải tạo.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #74 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:51:01 AM »


        Thời gian ở Phú Quốc, ngoài ngư phủ đã gặp lần trước chúng tôi tiếp xúc thêm với mấy người dân ở đảo Hòn Ông, Hòn Bà sống sót chạy về đây. Với vẻ mặt chưa hết nỗi kinh hoàng, khiếp đảm, những người dân may mắn sống sót kể lại: vào cuối tháng 4, hàng trăm ngư dân của ta sinh sống lâu nay ở trên đảo, thấy tàu đổ quân Pôn Pốt lên bờ lại nghĩ là Quân giải phóng, không đề phòng và không kịp chạy, liền bị chúng bắt ngay lập tức. Chỉ những ai đi vắng mới thoát nạn. Lính Pôn Pốt tập trung tất cả thường dân vô tội, xả súng bắn chết rồi hất xác xuống biển. Thật khó tưởng tượng nổi sự tàn bạo, mất hết tính người của những kẻ vừa mới đây đang được ta cưu mang, giúp đỡ; đang cùng ta chung chiến hào đánh Mỹ.

        Thắng lợi của trận tiến công tiêu diệt quân Pôn Pốt, giải phóng đảo Hòn Ông, Hòn Bà, có ý nghĩa hết sức to lớn cả về quân sự và chính trị; chặn đứng âm mưu hành động lấn chiếm của thế lực thù địch mới, thu hồi một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng bị chúng lấn chiếm trái phép. Trận đánh khẳng định một bước tiến mới của trung đoàn về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng. Còn về phần mình, trận đánh này thêm một lần nữa giúp tôi khẳng định những kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn chiến tranh khốc liệt, từ biết bao thắng lợi và cả tổn thất, luôn có tác dụng mọi lúc mọi nơi. Trong tác chiến, thì biết địch, biết ta, thận trọng, chắc chắn nhưng khi cần phải quyết đoán, có được quyết định chuẩn xác đúng lúc, là những nhân tố quyết định thắng lợi cuối cùng.

        Sau hai tháng ở Phú Quốc, cuối tháng 10 năm 1975, chúng tôi bàn giao địa bàn cho đơn vị bạn, đưa toàn bộ đội hình về đất liền. Lực lượng chốt giữ đảo Hòn Ông, Hòn Bà cũng rút về hết. Thời gian này, đội hình trung đoàn đứng chân ở Vị Thanh và thị xã Cần Thơ. Trở về đất liền lần này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 U Minh vô cùng phấn khởi, cùng với niềm vui thắng trận trở về, chúng tôi còn nhận được thông báo, ngày 2 tháng 9 năm 1975, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký quyết định phong tặng trung đoàn danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai. Như vậy, trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, đã hai lần tôi cùng cán bộ, chiến sĩ của mình vinh dự được đón nhận danh hiệu cao quý này. Sau đó, năm 1989, trung đoàn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lần thứ ba. Nếu tôi nhớ không nhầm thì Đoàn Đắc Tô (thuộc Quân đoàn 3) cũng là đơn vị ba lần được tuyên dương Anh hùng. Quả là hiện tượng hiếm có trong toàn quân, toàn quốc. Đây cũng là niềm vinh dự, tự hào chính đáng, lớn lao của các thế hệ cán bộ. chiến sĩ Trung đoàn 1 U Minh.

        Sau khi ổn định tình hình đơn vị ở địa bàn đóng quân mới, cuối năm 1975, tôi nghỉ phép thăm gia đình. Vậy là đã hơn 11 năm kể từ ngày tôi tạm biệt miền Bắc hậu phương, lên đường vào Nam đánh Mỹ. Hơn 11 năm, đất nước, quê hương, gia đình biết mấy đổi thay. Hơn 11 năm, tôi chiến đấu ở chiến trường cực Nam của Tổ quốc, hầu như gia đình không nhận được thư từ, tin tức của tôi, nhưng mẹ già và người vợ yêu quý vẫn âm thầm kiên tâm trông đợi, hy vọng. Sau mấy ngày chen chúc xe đò từ Tây Đô về Sài Gòn, rồi từ đó ra Bắc, tôi được chứng kiến biết bao cảnh tình của hai miền Nam - Bắc thời “hậu chiến”. Tất cả còn ngổn ngang, chộn rộn. Riêng Hà Nội và quê hương Quế Võ - Bắc Ninh vẫn như ngày tôi lên đường ra trận, chẳng mấy đổi thay.

        Ngày tôi khoác ba lô trở về, thôn xóm, gia đình như vỡ òa ra vì ngỡ ngàng, sung sướng. Hơn 11 năm “bặt vô âm tín”, mọi người vẫn nghĩ là tôi đã hy sinh. Chỉ có mẹ và vợ còn một chút hy vọng mỏng manh là tôi còn sống bởi không ai ngoài mẹ và vợ tôi hiểu được độ “lỳ” của tôi, rằng tôi không sống ồn ào, rất “tiết kiệm” thư từ. Tôi nhớ mãi phút giây mẹ ôm chặt tôi vừa khóc vừa nói:

        - Làm sao vậy con? Anh em bạn bè trong làng ngoài xóm đi Nam cũng nhiều, nhưng năm thì mười họa còn có mẩu tin hoặc lá thư; riêng con thì biệt tăm biệt tích. Đã bao đêm mẹ thắp hương, cầu mong tổ tiên ông bà và bố con phù hộ độ trì cho con tránh khỏi mũi tên, hòn đạn. Làm sao vậy hở con?

        Tôi ôm chặt lấy mẹ, đứng như trời trồng, một lúc sau mới giãi bày được vài lời, để mẹ hiểu cho chiến trường tôi đánh giặc xa xôi, cách trở…thư từ gửi về không thấu; nhưng dẫu sao tôi vẫn thấy mình có lỗi nhiều với gia đình. Năm đó, mẹ tôi đã 73 tuổi. Đã là lớp người “xưa nay biếm”, nhưng ơn trời, nhờ tần tảo lao động nên mẹ tôi vẫn khỏe, minh mẫn.

        Tròn một tháng nghỉ phép thăm nhà, là quãng thời gian cho phép tôi khỏa lấp phần nào sự trống vắng - mất mát về tình cảm của mẹ, của vợ…, bởi những tháng ngày đằng đẵng tôi đi xa. Thật cảm động và biết ơn đất nước đã sản sinh những bà mẹ anh hùng, những người vợ trọn một đời làm lụng, hy sinh vì con, vì chồng; những người mẹ, người vợ suốt bao năm ròng oằn lưng bởi việc nước, việc nhà, để những người con, người lính chúng tôi yên lòng nơi tiền tuyến, tập trung lo việc binh đao.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #75 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:53:38 AM »

        Về phép lần này, tôi có ý định sẽ đưa vợ tôi vào định cư lập nghiệp ở Cần Thơ - nơi tôi xem như là quê hương thứ hai của mình. Vả lại, vợ chồng xa cách nhau đã lâu lắm rồi. Tình hình biên giới Tây Nam đang nóng lên từng ngày. Tôi khó có điều kiện về thăm nhà đều đặn hằng năm được. Ý định của tôi được mẹ và vợ đồng thuận. Có mặt hai vợ chồng, mẹ tôi vui vẻ nói:

        - Con tính thế là phải. Vợ chồng đứa Nam đứa Bắc đã hơn chục năm rồi. Cũng chỉ có đất nước này mới có cảnh như vậy. Cứ nghĩ rằng đất nước hòa bình rồi, vợ chồng được sống gần nhau. Ai ngờ, phía đó vẫn chưa yên. Con vào trong đó thu xếp sớm để đưa vợ vào. Mẹ ở nhà còn có anh, chị em con, có bà con chòm xóm.

        Nghe mẹ căn dặn, tôi càng thương mẹ vô cùng. Từ ngày bố tôi mất đi, gánh nặng gia đình oằn đôi vai gầy của mẹ, mọi tình thương mẹ dành trọn cho anh chị em chúng tôi. Dĩ nhiên, với tôi, quãng thời gian 23 năm kể từ ngày xa nhà đã có tới 15 năm ra vào nơi mũi tên, hòn đạn, nên mẹ thương nhất. Nhớ lại hôm tôi mới về, mẹ đã giãi bày: Đêm nào cũng vậy, đêm năm canh, mẹ thường trằn trọc, mỗi canh dành nghĩ về con cái đứa Nam, đứa Bắc, nhưng nghĩ về tôi là nhiều nhất; đêm đêm, cứ thao thức nghĩ lần hết mấy đứa con là trời vừa sáng…

        Khi hồi tưởng những điều này thì mẹ tôi đã là người thiên cổ hai chục năm rồi. Hỏi rằng - là con cái, mấy người trong chúng ta thấu được sự sâu lắng của mẹ mình; để rồi tự mình lại dằn vặt đớn đau bởi nếu có một lần trong đời làm mẹ không vui?

*

*       *

        Mấy ngày phép thoáng chốc qua nhanh, tạm biệt mẹ già, gia đình, quê hương, tôi trở về đơn vị. Về tới trung đoàn, tôi được anh Bảy Sa thông báo quân khu có quyết định điều tôi sang làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 4. Đồng thời, Trung đoàn 1 U Minh cũng được quân khu điều sang trực thuộc đội hình Sư đoàn 4.

        Sư đoàn bộ bình 4 Quân khu 9 ra đời ngày 19 tháng 8 năm 1974, nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến tập trung của lực lượng vũ trang miền Tây trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Khi mới thành lập, biên chế của sư đoàn gồm ba trung đoàn bộ binh: Trung đoàn 2 (Đoàn Lộc Ninh), Trung đoàn 10 (Trung đoàn Sông Hương), Trung đoàn 20 (Trung đoàn Cửu Long) và một số đơn vị binh chủng trực thuộc.

        Ra đời trên cơ sở những trung đoàn có bề dày lịch sử truyền thống và kinh nghiệm chiến đấu, nên vừa mới thành lập, Sư đoàn 4 đã khẳng định được tính chất “quả đấm” chủ lực của Quân khu 9 trong tổng tiến công Xuân l975; đã tổ chức một số trận đánh quy mô sư đoàn, trung đoàn đạt hiệu suất chiến đấu cao. Điển hình là trận vận động phục kích tại rạch Bàu Ráng - Cả Đỉa (Long Mỹ - Cần Thơ), trận tiến công địch tại khu vực xã Thanh Xuân, huyện Châu Thành A (Cần Thơ), tiến công giải phóng chi khu Hưng Long, tham gia giải phóng Cần Thơ…

        Sau vài ngày chuẩn bị, bàn giao công việc cho anh Ba Chơi - người kế nhiệm tôi trên cương vị Trung đoàn trưởng, gặp gỡ liên hoan chia tay anh em đồng chí, cộng sự, tôi sang nhận nhiệm vụ ở Sư đoàn 4. Là người lính - người cán bộ quân đội, thì chuyện thuyên chuyển công tác theo yêu cầu nhiệm vụ là rất bình thường. Nhưng với riêng tôi, việc phải rời xa Trung đoàn 1 gây xúc động mạnh. Nếu như ở Tiểu đoàn Thiên Đức (Bắc Ninh), tôi chập chững bước vào đời quân ngũ, trưởng thành từ những “trận chiến đấu vỡ lòng”, thì Trung đoàn 1 U Minh là nơi giúp tôi trưởng thành rất nhiều cả về bản lĩnh, tư duy chiến thuật, trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu. Với Trung đoàn 1 và chiến trường Khu 9, tôi đã có hơn chục năm chiến đấu công tác vô cùng cam go ác liệt, nhưng rất đỗi sống động, hào hùng. Ở đây, tôi được sống trong tình thương yêu của đồng chí, đồng bào, đặc biệt là nghĩa tình đồng đội. Các anh Ba Trung, Bảy Sơn, Ba Tôn, Tư Bằng, Dương Tử, Sáu Sơn, Bảy Sa, Ba Chơi… luôn là những người đồng chí, người anh, người bạn tri kỷ, cùng sống, chiến đấu vì mục đích cao cả là độc lập tự do của Tổ quốc, vì Bắc Nam sum họp một nhà. Thật sự vinh dự tự hào là một người lính, một cán bộ của Trung đoàn 1 U Minh - đơn vị ba lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; và cũng vô cùng biết ơn một tập thể đã tôi rèn nên đội ngũ cán bộ, tướng lĩnh hùng hậu, từng giữ nhiều trọng trách mà Đảng, Nhà nước, quân đội giao phó; đó là các anh Ba Trung (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 9); Trung tướng Phạm Hồng Lợi - Phó Tổng tham mưu trưởng, Thiếu tướng Lê Duy Mật (Bảy Sơn), Thiếu tướng Trần Vinh Quang - Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh - Xã hội, Thiếu tướng Nguyễn Việt Quân - Ủy viên Trung ương Đảng - Chính ủy Quân khu 9, Thiếu tướng Mai Quang Phấn - Ủy viên Trung ương Đảng - Chính ủy Quân khu 4; Nguyên Phong Quang - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Dũng - Ủy viên Thường trực Ủy ban kiểm tra Đảng ủy  quân sự Trung ương… cùng nhiều anh em khác đã và đang công tác trong và ngoài quân đội.

        Đất nước đang trên lộ trình đổi mới với nhiều thành tựu trên tất cả các mặt đời sống xã hội; đặc biệt đời sống kinh tế đã có những bước nhảy diệu kỳ. Dẫu còn nhiều khó khăn, nhưng người người, nhà nhà không còn quá nặng lòng bởi bát cơm manh áo hằng ngày, điều kiện giao thông đi lại thuận lợi… Hết thảy những điều đó cộng với ý thức trân trọng lịch sử, trân trọng nâng niu tình đồng chí, đồng đội một thời gian khó, hy sinh… là điều kiện để hằng năm bạn chiến đấu Trung đoàn 1 U Minh họp mặt nhân ngày truyền thống. Thực sự xúc động khi được sống trong không khí ấm áp tình đồng chí, đồng đội; kẻ Bắc, người Nam cùng nhau ôn lại kỷ niệm một thời lửa đạn, nhường nhau tấm áo manh quần; chia nhau cọng rau thèo lèo; chia nhau niềm vui, nỗi buồn, chia nhau cái chết…
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #76 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2016, 09:55:58 AM »


*

*       *

        Thời điểm tôi về làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 4, cũng là lúc toàn đơn vị đang tích cực chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế và củng cố thế trận phòng thủ khu vực biên giới An Giang, Kiên Giang.

        Bộ Tư lệnh Sư đoàn thời gian này có các anh: Võ Văn Đường (Ba Tôn) - Tư lệnh, Dương Tử - Phó tư lệnh, Nguyễn Văn Hên (Hai Hên) - Chính ủy, Hai Lược - Phó tư lệnh. Trừ anh Hai Lược - cán bộ quê miền Trung, trưởng thành từ Trung đoàn Sông Hương lên, còn lại các anh trong Bộ Tư lệnh đều là bạn bè thân hữu, từng bao năm sống chết lăn lộn trên chiến trường miền Tây, nên môi trường, quan hệ công tác không có gì lạ lẫm, tôi nhập cuộc nhanh.

        Anh Ba Tôn, anh Hai Hên khái quát nhiệm vụ của sư đoàn vừa được Tư lệnh quân khu giao là: Xây dựng vùng kinh tế quốc phòng ở khu vực kênh Tám Ngàn và một phần tứ giác Long Xuyên; đồng thời tổ chức tuyển chọn, huấn luyện chiến sĩ mới, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn chiến lược quan trọng ở biên giới Tây Nam thuộc các huyện Tri Tôn (An Giang), Hòn Đất, Kiên Lương, Hà Tiên,…(Kiên Giang).

        Qua tâm sự bước đầu, các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn đều cho rằng cái khó nhất của sư đoàn lúc này là tư tưởng bộ đội. Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ chiến đấu chuyển sang lao động sản xuất, đã có biết bao vấn đề nảy sinh trong suy nghĩ, hành động của bộ đội, không thể giải quyết bằng mệnh lệnh trong ngày một ngày hai.

        Tập thể lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn chúng tôi thống nhất quan điểm: Vùng Châu Đốc - Hà Tiên có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về cả quân sự, kinh tế là địa bàn địch dễ dàng tấn công xâm lấn, nhưng cũng là nơi có địa thế tốt để ta phòng thủ phản công địch, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ dân, trấn áp bọn phản động, bảo vệ các mục tiêu quan trọng của cả vùng.

        Về kinh tế, sư đoàn được phân công đảm trách một vùng đất rộng lởn từ trước đến nay chưa được khai thác. Do vậy, xây dựng nông trường quân đội không những có ý nghĩa về mặt quốc phòng mà còn ý nghĩa về mặt kinh tế. Xây dựng vùng kinh tế - quốc phòng Châu Đốc – Hà Tiên vững mạnh cũng có nghĩa sư đoàn đã tạo được địa bàn phòng thủ chiến lược vững chắc của Quân khu 9.

        Sư đoàn nhận nhiệm vụ hết sức nặng nề, nhưng đồng thời lại phải đối mặt với thực trạng tư tưởng của bộ đội đang diễn biến khá phức tạp. Sau bao nhiêu năm chiến đấu liên tục, gian khổ, ác liệt, chính sách hậu phương quân đội chưa được giải quyết thỏa đáng; yêu cầu được nghỉ phép, phục viên của anh em chưa được giải quyết, nhất là số anh em quê miền Bắc, hàng năm - bảy năm, thậm chí cả chục năm biền biệt xa nhà; rồi tư tưởng “xả hơi”, nghỉ ngơi, bộ đội đang từ thành phố, thị xã. nay lên vùng biên khai hoang, làm kinh tế, trần mình suốt ngày với cỏ dại, cây hoang, sình lầy, chua phèn; thiếu thốn cơ cực đủ bề… Tất cả những điều đó như gánh nặng lo toan đặt lên vai người cán bộ.

        Biết là tư tưởng của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ “đang có vấn đề”, nhưng nhận nhiệm vụ quân khu giao, Bộ Tư lệnh Sư đoàn vẫn phải quán triệt, động viên anh em, xác định quyết tâm tiến vào mặt trận mới.

        Lúc này, ngoại trừ Trung đoàn 1 vừa tăng cường cho Sư đoàn 4 đang đứng chân ở nông trường Cờ Đỏ (Cần Thơ), tiếp tục nhiệm vụ sản xuất tại chỗ, các đơn vị còn lại của sư đoàn đều được điều chuyển vị trí đứng chân. Cho đến trước Tết Bính Thìn (1976), Trung đoàn 20 Cửu Long được điều lên đứng chân ở tây nam kinh Tám Ngàn. Trung đoàn 10 về đứng chân ở tây bắc kinh Tám Ngàn, huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang. Hai trung đoàn có nhiệm vụ khai hoang vỡ hóa, đắp đập, đào mương trồng lúa. Các tiểu đoàn trực thuộc, có tiểu đoàn ra Phú Quốc khai thác gỗ, có đơn vị đi đóng gạch, nung vôi…

        Nhưng rồi, “Tư tưởng không thông đeo bình tông chẳng nổi” câu ngạn ngữ rất lính, được đúc kết trong hai cuộc kháng chiến, nay lại được kiểm nghiệm ở một số không ít chiến sĩ sư đoàn. Do không nhận thức đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ, cộng với điều kiện sinh hoạt, lao động vô cùng khó khăn, thiếu thốn, nên một số anh em không chịu lao động, tự do sinh hoạt, vi phạm kỷ luật… Ở những đơn vị có đông chiến sĩ quê miền Bắc, tình trạng nằm ì, kêu ca, đòi phục viên, chuyển vùng… khá phổ biến. Nhưng dở ở chỗ là số cán bộ quê miền Nam lại rất ngại làm công tác tư tưởng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #77 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:03:30 AM »


        Theo dõi sát sao tình hình Sư đoàn 4, anh Ba Trung - lúc này là Phó tư lệnh quân khu, trong một lần xuống công tác ở đơn vị đã thân tình trao đổi cùng tôi:

        - Tình hình ngó bộ dở quá Ba Trà ơi! Có lẽ tôi với anh phải trực tiếp xuống đơn vị, lấy cái tình cũng là dân miền Bắc với nhau để động viên, bảo ban anh em mình. Anh em đa phần gốc gác nông dân, cần cù, chịu thương chịu khó, nề hà chi gian khổ. Để xảy ra tình trạng này, lỗi đầu tiên phải là cán bộ.

        Tôi trả lời: Anh Ba cứ yên tâm lo công việc của quân khu. Vừa về sư đoàn, nhưng tôi cũng đã nắm được tình hình các đơn vị, tôi đã xuống nằm đồng mấy hôm với anh em dưới đó. Đồng ý với anh là trách nhiệm đầu tiên phải là cán bộ. Tôi đã bàn với các anh Ba Tôn, Hai Hên… cách giải quyết…

        Anh Ba Trung bắt tay tôi, bày tỏ sự tín tưởng. Tôi thấy trên khuôn mặt, trong ánh mắt anh vơi đi nỗi trăn trở đượm buồn.

        Quả thật, có sâu sát người lính lúc đó mới thấu phần nào nỗi cơ cực của anh em. Ngày qua ngày bộ đội đằm mình trong sình lầy, bùn nước, để đào mương xả phèn, vỡ hoang. Mùa khô nắng nóng như rang, đồng không mông quạnh không một bóng cây. Nước chua, phèn pha mặn, vì gần biển. Bộ đội thiếu cả nước ăn, nước tắm giặt. Anh nào anh nấy đen đúa, hốc hác. áo quần rách tưa tướp may mắn và khéo giữ lắm mới có một bộ lành.

        Sau khi bàn bạc thống nhất, cán bộ các cấp từ sư đoàn trở xuống thật sự lao vào cuộc, mỗi người mỗi việc: người lo chuyện nước nôi ăn uống, sinh hoạt cho anh em, huy động xe bồn chở nước ngọt cho bộ đội dùng; người lo mua sắm dụng cụ, giống vốn cho sản xuất. Cán bộ cùng làm, ăn ở, sinh hoạt với bộ đội, trao đổi để anh em dần dần nhận thức làm kinh tế cũng là đánh giặc - giặc đói; tuy không đổ máu nhưng không kém phần gian khổ, tổn hao sức lực…

        Khi cán bộ, chiến sĩ tìm được tiếng nói chung, xác định được quân đội không chỉ là đội quân đánh giặc giỏi mà còn là một đội quân công tác tốt, thì vướng mắc được tháo gỡ dần, công việc có chiều hướng tiến triển tốt. Hàng trăm hécta lúa đã thay dần cỏ dại; kênh mương xả phèn, cấp nước đan nhau, chạy dài; ruộng đồng dần ngời lên sức sống.


        *

        Công việc ở Sư đoàn 4 đã qua được những ngày “khai sơn phá thạch” khó khăn, cực nhọc nhất, thì một bước ngoặt mới lại đến với quãng đời binh nghiệp của tôi.

        Cuối năm 1976, tình hình biên giới Việt Nam - Campuchia ngày một nóng lên. Mặc dù đã bị ta chặn đứng hành động xâm lấn, bằng các cuộc tiến công tiêu diệt lực lượng chiếm đóng trái phép các đảo ở vùng biển Tây Nam, nhưng tập đoàn Pôn Pốt vẫn nuôi mưu đồ chống phá Việt Nam. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, Pôn Pốt bắt đầu cho quân hoạt động vũ trang ở biên giới. Lúc này, Sư đoàn 4 chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế; Sư đoàn 8 thực hiện biểu biên chế rút gọn, cho bộ đội phục viên, xuất ngũ hàng loạt. Trước yêu cầu tình hình mới, Quân khu 9 được trên chấp thuận cho tổ chức Sư đoàn 330 cơ động sẵn sàng chiến đấu.

        Bước vào thời kỳ mới, Nhà nước và Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức lại một số quân khu. Theo đó, Khu ủy Khu 9 giải thể. Quân khu 8 và Quân khu 9 hợp nhất thành Quân khu 9. 18 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long dồn ghép lại thành 9 tỉnh là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre. Đồng Tháp, Cửu Long, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang và Minh Hải.

        Đầu năm 1976, anh Lê Đức Anh được điều trở lại làm Tư lệnh Quân khu 9, Chính ủy quân khu là anh Lê Văn Tưởng.

        Cùng với quyết định thành lập Sư đoàn 330, anh Ba Trung - Phó tư lệnh quân khu, sau một thời gian được điều xuống giữ chức Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hậu Giang, nay được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng, anh Huỳnh Xuân Quang (Sáu Hoài) - Phó chủ nhiệm chính trị quân khu được bổ nhiệm Chính ủy sư đoàn. Anh Nguyễn Minh Thông (Năm Thông) - vừa đào tạo ở Học viện quân sự cấp cao về giữ chức Sư đoàn phó và tôi được bổ nhiệm Sư đoàn phó Tham mưu trưởng.

        So với Sư đoàn 4, Sư đoàn 8 của quân khu thì Sư đoàn 330 - sinh sau đẻ muộn hơn, nhưng hợp thành Sư đoàn 330 lại là những trung đoàn có bề dày truyền thống, đó là Trung đoàn bộ binh 1 U Minh, Trung đoàn bộ binh 1 Đồng Tháp, Trung đoàn bộ binh 3 Cửu Long, Trung đoàn 4 pháo binh và một số tiểu đoàn binh chủng.

        Trung đoàn 1 U Mình - đơn vị gắn bó máu thịt với tôi ngót 15 năm, lúc này đã rạng danh với hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Bước đường trưởng thành, chiến thắng của Trung đoàn 1, tôi đã dành thể hiện trong phần lớn cuốn hồi ký này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #78 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:05:14 AM »


        Trung đoàn 1 Đồng Tháp được thành lập tháng 7 năm 1964 tại chiến trường miền Trung Nam Bộ (Khu 8 ). Tiền thân của trung đoàn là Tiểu đoàn 261 - đơn vị đã tham gia đánh trận Ấp Bắc nổi tiếng đầu năm 1963, lập chiến công vang dội, được Chính phủ Cu Ba tặng danh hiệu Tiểu đoàn Hirông (để kỷ niệm chiến thắng Mỹ trên bãi biển Hirông của lực lượng vũ trang cách mạng Cu Ba). Từ khi thành lập đến kết thúc thắng lợi kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn 1 Đồng Tháp đã đánh trên hai nghìn trận; lập nhiều chiến công xuất sắc, được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đội ngũ cán bộ trung đoàn có nhiều người trưởng thành, như các anh Trần Minh Phú, Nguyễn Hữu Vị, Lê Phú Tươi, Nguyễn Cang, Châu Hoàng Nam,… Khi Sư đoàn 8 thành lập, Trung đoàn 1 Đồng Tháp thuộc đội hình Sư đoàn 8. Nay đứng trong đội hình Sư đoàn 330, Trung đoàn 1 Đồng Tháp chuyển đổi phiên hiệu là Trung đoàn 2.

        Trung đoàn 3 Cửu Long được thành lập ngày 20 tháng 4 năm 1968 tại Trà ôn, Vĩnh Long, do yêu cầu cấp thiết tiếp tục đẩy mạnh đến công địch ở chiến trường Vĩnh Trà trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968.

        Từ khi thành lập đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 3 đã đánh ngót 1.600 trận, lập nhiều chiến công xuất sắc; xây dựng nên truyền thống “Đoàn kết hiệp đồng, khắc phục khó khăn, bám trụ kiên cường, tiến công nhanh, đột phá mạnh”. Trung đoàn 3 đã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nói tới Trung đoàn 3 Cửu Long, đồng bào và chiến sĩ miền Tây khó quên tên tuổi các anh Ba Trung, Huỳnh Xuân Quang, Đinh Trung Thành, Lê Xã Hội, Huỳnh Trọng Phẩm, Nguyễn Văn Tố,…

        Riêng Trung đoàn 4 pháo binh, chính thức thành lập cùng với sự ra đời của Sư đoàn 330. Hợp thành Trung đoàn 4 pháo binh là Tiểu đoàn 10 (pháo 105ly), Tiểu đoàn 11 (pháo 85ly) và Tiểu đoàn 12 (pháo 37ly). Trung đoàn trưởng là anh Tám Tu, Chính ủy trung đoàn là anh Chín Cà Lâm.

        Ngày 27 tháng 12 năm 1976, lễ tuyên bố thành lập sư đoàn được tổ chức tại Thành Cổ Loa, xã Tân Ngãi, thị xã Vĩnh Long - vị trí đứng chân của sư đoàn bộ. Vào thời điểm này, Trung đoàn 1 U Minh đứng chân tại huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ đang làm nhiệm vụ sản xuất xây dựng kinh tế ở Nông trường Cờ Đỏ. Từ chiến trường tiến tới nông trường, những người lính trung đoàn đã gieo cấy 5 nghìn hécta lúa. Nay lúa đang vào kỳ thu hoạch thì trung đoàn nhận lệnh sẵn sàng chiến đấu. Trung đoàn 2 đứng chân tại Bình Đức, Đồng Tâm - Mỹ Tho, đang làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch và vận động quần chúng, giúp địa phương xây dựng chính quyền cách mạng. Trung đoàn 3 đứng chân ở thị xã Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp, có một bộ phận khai hoang, sản xuất lúa ở Bình Minh, Vĩnh Long. Trung đoàn 4 pháo binh đóng ở sân bay Vĩnh Long.

        Cuối năm 1976  - đầu năm 1977, Bộ Tư lệnh Sư đoàn tập trung chỉ đạo các đơn vị củng cố tổ chức biên chế chuẩn bị triển khai nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; tạm ngừng giải quyết cho cán bộ, chiến sĩ phục viên xuất ngũ; khẩn trương huấn luyện; đồng thời tranh thủ thu hoạch vụ đông xuân. Chỉ qua một vụ thu hoạch, sư đoàn đã có hơn 5.000 tấn lúa. Quả là đất miền Tây không phụ sức người! Không phụ những người lính đã đổi bát mồ hôi lấy hạt thóc.

        Với bản thân, thực hiện ý định trong lần nghỉ phép thăm nhà, đầu năm 1976, tôi đón vợ từ Bắc Ninh vào. Thời gian này tôi đang cùng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 4 lặn ngụp trong bùn đất, sình lầy vùng tứ giác Long Xuyên, khai hoang trồng lúa. Đưa vợ từ miền Bắc vào với hai bàn tay trắng; đơn vị vừa làm kinh tế vừa sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, có thể nay đây mai nơi khác, nên mặc dù rất khó khăn, tôi cũng tính chuyện kiếm đất làm nhà. Được anh em đồng đội động viên giúp đỡ, đặc biệt là anh Thống - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phụng Hiệp - bạn chiến đấu chí cốt rất nhiều năm khi tôi làm cán bộ tiểu đoàn rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, tôi đã được địa phương cấp cho vài công đất ở thôn Xểu Long, xã Phụng Hiệp, huyện Phụng Hiệp, sát lộ 4 (nay là quốc lộ l). Đây cũng chính là vùng đất có nhiều kỷ niệm với tôi trong chiến tranh. Bà con cô bác ở đây đã từng cưu mang, giúp đỡ Trung đoàn 1 rất nhiều. Anh Thống cũng được cấp một mảnh đất ở bên cạnh. Nói là đất cho có vẻ to tát, chứ thực chất là một đám ruộng trũng. Vì vậy, cớ chủ nhật, tôi tranh thủ về Phụng Hiệp, cùng với anh Thống và một vài anh nữa lặn ngụp lấy bùn tôn nền làm nhà. Khó kể hết những vất vả, cơ cực lúc đó! Rồi dần dà vợ chồng tôi cũng có được một căn nhà tuềnh toàng, đơn bạc như đa phần nhà cửa của bà con miền Tây mình vào thời điểm đó. Ở đây chúng tôi được sống trong sự cưu mang đùm bọc của bà con xóm ấp. Rồi hạnh phúc hơn là chính nơi đây vợ chồng tôi có con trai đầu lòng - cháu Chung, thỏa niềm mong mỏi khát khao sau bao năm vì chiến tranh mà chồng Nam - vợ Bắc...

        Cũng thời gian này tôi được đón nhận một tin vui, một niềm vinh dự, tự hào - ngày 20 tháng 10 năm 1976, tôi được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cùng được phong Anh hùng với tôi đợt này, trong Sư đoàn 330 có đại úy bác sĩ Nguyễn Tấn Đang (Tư Đang) - Chủ nhiệm quân y Trung đoàn 3. Trước đó Tư Đang là Chủ nhiệm quân y Trung đoàn 1 U Minh. Khi được trên thông báo được phong tặng danh hiệu Anh hùng, tôi thật sự bất ngờ. Bởi tôi luôn tâm niệm rằng những gì tôi làm được, những thành tích, chiến công của mình cũng rất khiêm tốn, nhỏ nhoi. Tôi cũng không ngờ việc lập hồ sơ, đề nghị Nhà nước phong Anh hùng cho tôi đã được quân khu chuẩn bị từ trước năm 1975.

        Tại lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng do Bộ Tư lệnh Quân khu tổ chức, tôi đã bật khóc khi đồng chí Tư lệnh quân khu gắn lên ngực áo Huy hiệu cao quý mà Đảng, Nhà nước, quân đội, nhân dân phong tặng. Có nhũng giọt nước mắt vì vinh dự tự hào; có nhiều giọt nước mắt dành cho những đồng chí đồng đội, bà con cô bác một thời đồng cam cộng khổ bên nhau chiến đấu và biết bao người trong số đó đã hy sinh. Tự sâu thẳm lòng mình, tôi vẫn luôn tâm niệm, máu xương, nhiệt huyết của biết bao người đã tạo nên ánh hào quang lấp lánh của tấm Huy hiệu Anh hùng mà tôi vinh dự được trao tặng. Cũng vì vậy, tôi tự thấy trách nhiệm của mình trước Đảng, nhân dân và anh em đồng chí càng nặng nề hơn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #79 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:08:43 AM »


*

*       *

        Đúng vào dịp quân và dân ta đang tận hưởng niềm vui kỷ niệm hai năm kết thúc thắng lợi kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thì đêm 30 tháng 4 năm 1977, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa Ri đã đưa quân đánh chiếm lãnh thổ của ta suốt một dải biên giới Tây Nam từ Tây Ninh đến Hà Tiên - Kiên Giang. Với bản chất của bè lũ diệt chủng, quân Pôn Pốt đã giết hại dã man đồng bào ta; đốt phá, cướp bóc nhiều tài sản của ta. Lửa chiến tranh lại bùng lên ở nhiều xóm ấp đang yên ấm, thanh bình. Chỉ riêng tuyến biên giới do Quân khu 9 đảm trách, từ huyện Mộc Hoá tỉnh Long An đến huyện Hà Tiên tỉnh Kiên Giang, Pôn Pốt đã tung bảy tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 2 bộ binh và lực lượng địa phương quân thuộc quân khu Tây Nam đánh vào nhiều khu vực thuộc hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Trọng tâm đánh phá của địch là khu vực Bảy Núi - Tịnh Biên - An Giang. Địch đã tàn sát hàng trăm thường dân, đốt phá trên một trăm ngôi nhà. Từng chứng kiến tội ác của địch đối với đồng bào ta ở các đảo Phú Quốc, Hòn Ông, Hòn Bà…, nên được tin kẻ địch tràn qua biên giới, tôi đã hình dung phần nào tội ác của chúng.

        Địch tiến công ồ ạt, bất ngờ. Các đơn vị của quân khu đứng chân gần biên giới đã kịp thời tổ chức chiến đấu, đánh trả quyết liệt, bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Nhưng vì hầu hết các đơn vị của ta đang làm nhiệm vụ sản xuất xây dựng kinh tế, chưa chuẩn bị đối phó với địch, nên có phần bất ngờ, bị động, lúng túng, thậm chí bị tổn thất.

        Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định đưa các đơn vị ở phía sau lên biên giới đánh địch. Ngay đêm 30 tháng 4 năm 1977, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 330 nhận lệnh của anh Lê Đức Anh: Chuyển toàn bộ sang trạng thái sẵn sàng cơ động lên tuyến biên giới đánh địch. Đồng thời, Quân khu cũng được trên đồng ý cho thành lập thêm Sư đoàn 339 làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

        Kháng chiến chống Mỹ kết thúc tròn hai năm, cũng có nghĩa thời gian đó, quân và dân ta - đặc biệt là những người lính chúng tôi được sống trong hòa bình. Nhưng thực tế không như vậy. Những ngày chứng kiến bè lũ sát nhân Pôn Pốt gây tội ác với đồng bào ta ở các đảo vùng biển Tây Nam; lùi xa hơn nữa là những hành động đầy thù hận của chúng đối với bộ đội ta những năm  1971 - 1973…, chúng tôi đã tiên liệu tình hình còn phức tạp hơn khi lòng người dễ dàng đổi trắng thay đen “sớm nắng, chiều mưa”, đang là bạn bỗng chốc trở thành kẻ thù. Vì vậy, mặc dù tạm gác súng gươm, tăng gia sản xuất, những người lính vẫn luôn ý thức được nhiệm vụ cao cả của mình là chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Và luôn nêu cao cảnh giác là “bản năng” của mỗi một anh lính Cụ Hồ. Cũng chính vì vậy, mà chỉ hai ngày sau khi nhận lệnh của Tư lệnh quân khu, toàn bộ đội hình Sư đoàn 330 đã hoàn tất công tác chuẩn bị, sẵn sàng nhận lệnh hành quân chiến đấu.

        Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ và thực lực, vị trí đóng quân của các đơn vị, chúng tôi chỉ thị cho Trung đoàn 1 đang đứng chân ở Vàm Cống - thị xã Long Xuyên tỉnh An Giang, khẩn trương đưa Tiểu đoàn 1 cơ động lên Tịnh Biên, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch lấn chiếm, hất chúng sang bên kia biên giới.

        Tiếp đó, toàn bộ đội hình còn lại của Trung đoàn 1 cũng được đôn lên tuyến trước chốt giữ khu vực An Phú, thị xã Châu Đốc. Trung đoàn 2 đứng chân ở bên này kênh Vĩnh Tế - dọc theo các xã An Phú, Nhân Hưng huyện Tịnh Biên. Trung đoàn 3 đóng từ xã Thái Sơn đến đông cầu Sắt, sau thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên.

        Lúc này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn hình thành hai bộ phận. Sở chỉ huy cơ bản của sư đoàn về đứng chân ở Vàm Cống thị xã Long Xuyên. Bộ phận chỉ huy tiền phương lên đứng chân ở khu vực từ chùa Thất Sơn, núi Trà Sư đến cầu Bà Mai - thị trấn Chi Lăng, Tịnh Biên, để chỉ huy trực tiếp, kịp thời các đơn vị phía trước. Tôi được phân công phụ trách bộ phận tiền phương.

        Khi sư đoàn chúng tôi được đôn lên đảm trách địa bàn Tịnh Biên; thì Sư đoàn 4 và Sư đoàn 8 cũng được lệnh trở lại làm nhiệm vụ chiến đấu. Sư đoàn 4 đảm nhiệm tuyến biên giới từ cửa khẩu Xà Xía, Hà Tiên (Kiên Giang) đến thị xã Châu Đốc (An Giang). Sư đoàn 8 làm nhiệm vụ chặn địch ở tuyến biên giới tỉnh Đồng Tháp.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM