Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Tám, 2019, 07:17:31 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại thắng mùa xuân - Đại tướng Văn Tiến Dũng  (Đọc 11847 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #30 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 12:54:33 AM »


Chương 8

BƯỚC NGOẶT CỦA CHIẾN TRANH

        Ngày 15-3-1975, tôi nhận được điện trả lời của Bộ Chính trị do đồng chí Lê Đức Thọ ký và của Quân uỷ Trung ương do đồng chí Võ Nguyên Giáp ký.

        Trong cuộc họp ở Hà Nội, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã đọc kỹ bức điện từ mặt trận gửi về ngày 14 tháng 3, nhất trí với nhận định và chấp thuận các đề nghị của chúng tôi. Những phần nói về kinh nghiệm nghi binh lừa địch, cách đánh, cách huấn luyện cán bộ, chiến sĩ biết sử dụng binh khí kỹ thuật lấy được của địch, những điểm yếu về tác phong chỉ huy đã được Quân uỷ Trung ương giao cho Bộ Tổng Tham mưu phổ biến gấp tới các chiến trường khác.

        Những đề nghị về việc phối hợp chiến trường được Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chuyển thành chỉ thị gửi đến các quân khu để chấp hành.

        Sau khi nhận được điện của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, căn cứ vào tình hình mới nhất ở Tây Nguyên, chúng tôi họp bàn thực hiện kế hoạch phát triển lên phía bắc. Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên rất nhất trí với kế hoạch đã đề ra và quyết tập trung mọi cố gắng để thực hiện cho được vì bao nhiêu năm đánh Mỹ ở chiến trường Tây Nguyên này, các đồng chí phấn khởi hơn ai hết trước những thắng lợi vừa qua và tin tưởng vào những thắng lợi sắp đến. Trong những năm 1968, 1972, ta cũng đánh lớn ở Tây Nguyên, nhưng thắng lợi chưa giòn giã, chưa to lớn như năm nay. Lực lượng ta hồi đó chưa mạnh bằng bây giờ, các cơ sở hậu cần bảo đảm và hệ thống đường sá lại chưa đầy đủ. Địch lúc bấy giờ còn dựa vào sự chi viện hoả lực và hậu cần rất mạnh của Mỹ, còn rảnh tay nơi khác để tập trung đối phó ở Tấy Nguyên. Bây giờ, triển vọng ta giải phóng Tây Nguyên đã rõ ràng, làm tốt, làm nhanh thì có thể xong trước mùa mưa năm 1975. Do đó, các đồng chí thấy rõ trách nhiệm của mình đối với toàn cục lớn quá, vinh dự quá, cũng như nghĩ đến triển vọng trước mắt thì phấn chấn và tự hào vô cùng.

        Đồng chí Hoàng Minh Thảo thường tâm sự với chúng tôi: "Cách mạng miền Nam giành được thắng lợi cho đến ngày nay, ngoài những nguyên nhân quan trọng và quyết định khác, còn có một nguyên nhân là do ta đã làm chủ một phần Tây Nguyên, và đồng bào Tây Nguyên anh hùng, bất khuất đã đóng góp công sức rất lớn cho thắng lợi cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tôi mong ngày mong đêm giải phóng hoàn toàn được Tây Nguyên để đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sớm được tự do và thoát khỏi cảnh nghèo đói, khổ cực".

        Trong ngày 15 và sáng ngày 16 tháng 3, chúng tôi nhận được một số tin kỹ thuật và một vài bài bình luận ngắn của các đài phương Tây, tuy lẻ tẻ, vụn vặt nhưng rất quan trọng đối với việc nhận định tình hình địch lúc bấy giờ ở Tây nguyên.

        Thí dụ, một hãng thông tấn Mỹ đưa tin giá vé máy bay ngày 15 tháng 3 từ Pleiku đi Sài Gòn lên đến 40.000 đồng. Tại sao người ta lại xô nhau mua vé đi Sài Gòn trong ngày 15 tháng 3? Trưa ngày 16 tháng 3, ta bắt được tin của không quân địch cất cánh ở Pleiku gọi nhau về hạ cánh ở Nha Trang. Tại sao máy bay địch cất cánh một nơi, hạ cánh nơi khác xa hơn mà sáng ngày 16 tháng 3 thì ta lại chưa pháo kích mạnh vào sân bay Pleiku? 15 giờ ngày 16 tháng 3, Hà Nội gọi điện báo cho chúng tôi biết là Sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 2 nguỵ và lãnh sự Mỹ đã chuyển về Nha Trang. 16 giờ cùng ngày, một tin từ Thuần Mẫn báo về là đài quan sát của ta ở cầu I-a Leo nhìn thấy ở ngã ba Mỹ Thanh một đoàn xe dài đang chạy về hướng Phú Bổn.

        Đối với chúng tôi lúc đó, khu vực Buôn Ma Thuột vẫn chưa rời mắt khi đọc bản đồ, nhưng khu vực Pleiku, Kon Tum, đường số 14, đường số 19 lại bắt đầu được đặc biệt chú ý. Tin tức gì liên quan đến Pleiku, đến Quân đoàn 2 nguỵ, đến các con đường chiến lược đối với đồng bằng đều rất được quan tâm.

        Khoảng 19 giờ ngày 16 tháng 3, sau khi nhận được các tin kể trên, trong Sở chỉ huy có một cuộc tranh luận sôi nổi giữa các đồng chí cán bộ tham mưu. Tuy chưa kết luận, chưa khẳng định nhưng ai nấy đều cảm thấy là địch ở Tây Nguyên đang làm một cái gì đấy sau hai đòn thất bại đau đớn liên tiếp ở Buôn Ma Thuột và trong cuộc phản kích của Sư đoàn 23.

        Có đồng chí nêu lên khả năng là địch tập trung số quân ở Tây Nguyên còn lại về Nha Trang rồi cùng với quân tổng dự bị chiến lược phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột theo đường số 21.

        Một đồng chí khác lại cho rằng: điện của Quân uỷ Trung ương nêu ba điểm. Điểm 1 là có khả năng địch tăng cường phản kích; Điểm 2 là nếu bị đánh thì chúng co cụm về Pleiku, ta cần hình thành lực lượng bao vây Pleiku ngay; Điểm 3 nói đến dự tính việc rút lui chiến lược của địch. Vậy những tin tức ta nhận được hôm nay cho thấy là địch có thể tăng quân để phản kích mà cũng có thể rút về Nha Trang.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #31 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 12:55:44 AM »


        Và nếu địch rút thì rút cả Quân đoàn hay chỉ có Bộ Tư lệnh Quân đoàn chạy về chỗ an toàn? Nếu rút thì rút bằng cách gì, theo đường nào? Nếu đi theo đường số 21 phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột thì có dễ đâu! Gặp quân thua trận đang chạy trên đường số 21 về Nha Trang cũng đủ làm cho bọn phản kích mất tinh thần rồi.

        Mấy đồng chí khác thì thiên về ý kiến cho rằng địch rút chạy vì trong điện của Quân uỷ Trung ương nêu lên ba khả năng, nhưng thực tế đến lúc này thì việc đánh quân phản kích ta đã làm và sẵn sàng sẽ làm tiếp, ta lại đang bàn việc chuẩn bị chuyển lực lượng lên bao vây và diệt địch ở Pleiku, cũng có thể sau hai trận đại bại vừa rồi địch đau quá, không tăng viện lên được, cảm thấy trước sau cũng bị tiêu diệt cho nên không có cách gì hơn là phải bỏ chạy khỏi Tây Nguyên. Vậy ta phải làm cho tốt cả hai việc, tức là một mặt tiêu diệt cho nhanh quân phản kích, mặt khác, chuẩn bị gấp cho việc triển khai lực lượng nhanh chóng lên bao vây Pleiku. Nếu địch rút chạy thì thế chiến dịch của ta đã cài sẵn rồi, các đường chiến lược đã bị cắt, địch lên không được mà xuống cũng không xong.

        Chúng tôi suy nghĩ nhiều về những mẩu tin kể trên và chú ý lắng nghe cuộc tranh luận. Đúng là Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã dự kiến cả ba khả năng và chúng tôi đã triển khai thế chiến dịch như sau: diệt Buôn Ma Thuột xong thì sẵn sàng diệt viện, không phải một lần mà nhiều lần, không phải chỉ đánh với Quân đoàn 2 nguỵ mà tính cả việc đánh với quân tổng dự bị của Sài Gòn phái đến bằng đổ bộ đường không, vì các đường chiến lược số 19, số 14, số 21 đều đã bị ta cắt và chốt chặn vững chắc, không cho địch lên mà cũng không cho chúng rút.

        Bây giờ tình huống có thể chuyển biến rất nhanh vì địch từ chỗ chủ quan bị hoàn toàn bất ngờ lúc đầu, sau hai trận thua đau có thể đi đến hốt hoảng và có những chủ trương sai lầm lớn hơn. Nếu chúng tăng thêm quân để phản kích thì càng khó khăn, sa lầy và sẽ bị diệt nhiều nữa mà rút chạy thì càng chết, càng xuơng dốc.

        Tin tức còn quá ít nhưng cũng hé ra được nhiều căn cứ để suy nghĩ và hành động.

        Chúng tôi cho kiểm tra lại các hệ thống thông tin, các đài thu tin của địch, gọi về Hà Nội hỏi thêm tình hình chung trên toàn chiến trường, cho mở đài thu thanh nghe các bản tin trong ngày của các đài trên thế giới; đôn đốc Bộ Tư lệnh Tây Nguyên nắm chắc tình hình của các trung đoàn 95, 25, các sư đoàn 320, 10 trên các đường số 19, số 14 và số 21, và phải sẵn sàng tăng cường lực lượng cho Trung đoàn 25 ở đường số 21.

        21 giờ ngày 16 tháng 3, đồng chí trực ban nhận được tin là địch đang rút chạy khỏi Pleiku, một đoàn xe đã qua ngã ba Mỹ Thanh theo hướng đường số 7, kho đạn ở Pleiku đang nổ và có nhiều đám cháy trong thị xã.

        Sở chỉ huy nhộn nhịp hẳn lên.

        Bản đồ mạng đường sá Tây Nguyên được trải rộng ra trên bàn, đèn pin, kính phóng đại soi dọc theo các con đường số 19, số 14, số 7 để tìm các "nút chặn", các đường vòng, các đường xuất kích, đo cự ly giữa đơn vị gần nhất với đường số 7 để tính giờ vận động.

        Tôi cầm máy điện thoại nói chuyện trực tiếp với đồng chí Kim Tuấn lúc đó là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320.

        Trước khi đánh Buôn Ma Thuột, tôi đã mấy lần hỏi về con đường số 7 thì được báo cáo là đường số 7 bỏ từ lâu, cầu hỏng, không có phà qua sông, địch không đi lại. Cách đây hai ngày tôi lại hỏi đồng chí Kim Tuấn về con đường này, đồng chí Tuấn cũng trả lời như vậy.

        Bây giờ nghe tin địch rút theo đường số 7 mà đơn vị vẫn chưa nắm được con đường đó một cách cụ thể, chưa khẩn trương đuổi địch, cho nên tôi đã nói rất nghiêm khắc với người phụ trách cao nhất của đơn vị đó. Tôi nhấn mạnh hai lần với đồng chí Kim Tuấn: "Đó là một thiếu sót, một sơ hở đáng khiển trách. Lúc này do dự một chút, sơ hở một chút, ngại khó một chút, chậm trễ một chút là hỏng việc. Nếu để địch chạy thoát là một tội lớn mà đồng chí là người chịu trách nhiệm".

        Trong những lúc này, tôi không muốn cấp dưới trình bày những lý do này nọ để thiếu cố gắng mà chỉ muốn cấp dưới hoàn thành được nhiệm vụ của mình một cách nghiêm túc và trọn vẹn nhất.

        Đã cùng nhau tham gia nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch, gặp những tình huống phức tạp và khẩn trương nhất, là Tư lệnh, tôi có những đòi hỏi nghiêm khắc đối với anh em và anh em cũng hiểu được tôi cho nên có lệnh rồi là các đồng chí kiên quyết thực hiện và thường là thành công.

        Buông máy điện thoại ra, trong ký ức tôi hiện lên nhiều hình ảnh rút chạy của địch trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ: cảnh tháo chạy của Sáctông và Lơpagiơ trên đường số 4 hồi Chiến dịch Giải phóng Biên giới, cảnh tháo chạy của Trung đoàn thuỷ quân lục chiến Mỹ ở Khe Sanh năm 1968, của Sư đoàn 1, các lữ đoàn dù và lữ thuỷ quân lục chiến nguỵ ở Đường 9-Nam Lào năm 1971, của Sư đoàn 3 nguỵ ở Quảng Trị năm 1972. Địch đã nhiều phen rút chạy trước sức tiến công của ta và thường áp dụng những thủ đoạn nghi binh khác nhau khi rút.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #32 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 12:57:15 AM »


        Nhưng giờ đây, cả một quân đoàn chủ lực của nguỵ rút chạy hộc tốc, bỏ cả Tây Nguyên - một địa bàn chiến lược rất quan trọng thì vì sao? Theo lệnh ai? Hai đòn sấm sét ta đánh ở nam Tây Nguyên đã làm rung động quân địch đến thế kia ư? Đúng là đòn đánh trúng huyệt, địch bắt đầu ngấm, chỉ sau có mấy ngày. Đúng là địch đã choáng váng và rối loạn về chiến lược. Lại một sai lầm nữa rất lớn về chiến lược của chúng.

        Lệnh rút Quân đoàn 2 phải do nguỵ quyền trung ương ở Sài Gòn phát ra, vậy thì vấn, đề đã vượt quá phạm vi chiến dịch và lên tới tầm chiến lược.

        Lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, trong phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch được trang bị hiện đại đã phải bỏ địa bàn chiến lược quan trọng rút chạy. Tình hình này sẽ dẫn đến nhiều sự kiện quan trọng khác, có thể dẫn đến việc ta kết thúc thắng lợi nhanh chóng cuộc chiến tranh.

        Địch không dễ gì khoanh gọn vấn đề này được. Sự kiện này sẽ gây phản ứng dây chuyền cả về quân sự và chính trị, sẽ đụng đến cả Mỹ. Mỹ cũng không gỡ nổi cái rối loạn này.

        Thời cơ lớn bắt đầu từ đây rồi. Muốn nắm chắc thời cơ, trước mắt phải tiêu diệt bằng được quân địch rút chạy, phải diệt chúng ngay trên chiến trường Tây Nguyên, không để chúng thoát về đồng bằng. Phải diệt cho nhanh, cho gọn để thúc đẩy sớm quá trình chuyển biến cục diện chiến tranh.

        Nhớ lại chuyện đã qua và suy nghĩ chuyện hiện tại, chúng tôi vừa mừng vừa sốt ruột.

        Suốt đêm 16 tháng 3, chúng tôi đôn đốc Sư đoàn 320 hành động khẩn trương, ra lệnh cho Bộ chỉ huy Tây Nguyên huy động thêm xe bọc thép, xe vận tải, thêm pháo và vật chất để bảo đảm cho Sư đoàn 320 truy kích tiêu diệt địch. Đồng thời, lệnh cho Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 5 ở Bình Định điều động bộ đội địa phương Phú Yên lên chốt đường số 7, không cho địch chạy thoát về Tuy Hoà. Sư đoàn 968 cũng được lệnh tiến nhanh vào Pleiku, vượt qua các vị trí dọc đường để bám sát đội hình rút chạy của địch và từ phía sau đánh tới. Bộ Tư lệnh 559 cho Sư đoàn 470 công binh tiến vào tiếp quản Kon Tum - Pleiku, dập tắt các đám cháy, đón nhân dân ra vùng an toàn, tiếp quản các kho tàng của địch để lại.

        Từ khi ra lệnh cho đến lúc các đơn vị thực hiện được lệnh đó, nhất là lệnh truy kích tiêu diệt địch rút chạy, chúng tôi rất sốt ruột, mong tin và cảm thấy thời gian trôi chậm quá.

        Thực tế thì Sư đoàn 320, sau khi nhận lệnh, đã hành quân cấp tốc trong đêm 16 tháng 3. Sáng 17 tháng 3, một đơn vị đã nhanh chóng băng rừng ra cắt đường số 7, chặn được quân địch ở phía đông Phú Bổn. Địch ùn lại ở cả phía tây và phía đông Phú Bổn.

        Ngày 18 tháng 3, lực lượng lớn của ta đuổi kịp địch, tiến vào giải phóng thị xã Phú Bổn, tiêu diệt số quân địch bị ùn ở đây và tiếp tục đánh xuống Củng Sơn. Trong lúc đó hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Yên tiến ra cắt cầu Sơn Hoà và cùng với Sư đoàn 320 tiến vào giải phóng Củng Sơn.

        Quân địch hoảng loạn tan rã, bị tiêu diệt gần hết 6 liên đoàn biệt động quân, 3 trung đoàn thiết giáp, chưa kể các cơ quan của Quân đoàn 2 và mất toàn bộ xe tăng, pháo binh, xe công binh, vận tải.

        Đại tá nguỵ Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng biệt động quân thuộc Quân khu 2 khai với ta về cuộc rút chạy của quân nguỵ ở Tây Nguyên như sau:

        "Chiều 14 tháng 3, lúc tôi đang đến các đơn vị xem lại tình hình phòng thủ Pleiku thì Bộ Tư lệnh Quân đoàn gọi đi họp tại văn phòng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn. Phú cho biết vừa đi họp tại Cam Ranh với Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên và Đặng Văn Quang. Phú thuật lại cuộc họp:

        Thiệu hỏi Viên:

        - Còn quân trù bị để tăng cường cho Quân đoàn 2 không?

        Viên trả lời:

        - Không còn.

        Thiệu quay hỏi Phú:

        - Nếu không có quân tăng viện, anh giữ được bao lâu?

        Phú trả lời:

        - Tôi có thể giữ được một tháng với điều kiện không quân yểm trợ tối đa, tiếp tế bằng không vận đầy đủ nhu cầu về vật liệu vũ khí, đạn dược, bổ sung quân số đủ bù số thiệt hại nặng vừa qua. Tôi sẽ ở lại Pleiku chiến đấu và tôi sẽ chết ở đấy.

        Thiệu nói các điều kiện đó không thoả mãn được, mà Quân giải phóng thì đang đánh mạnh cho nên phải rút khỏi Kon Tum, Pleiku để bảo toàn lực lượng, lấy quân đưa về giữ đồng bằng ven biển, tiếp tế thuận lợi hơn.

        Thiệu lại nói:

        - Rút bằng đường số 19 được không?

        Viên trả lời:

        - Trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường số 19 mà không bị tiêu diệt.

        Thiệu hỏi thêm:

        - Thế thì đường số 14 ra sao?

        Viên đáp:

        - Đường số 14 lại càng không thể đi được.

        Mọi người dự họp thấy chỉ còn con đường số 7, từ lâu không dùng đến, tuy xấu nhưng tạo được yếu tố bất ngờ.

        Chuẩn tướng Tư lệnh phó Quân đoàn 2 Trần Văn Cẩm hỏi:

        - Còn các tỉnh trưởng, lực lượng địa phương và dân chúng có tổ chức cho họ rút không?

        Phú trả lời:

        - Theo lệnh ông Thiệu, bỏ lực lượng này lại, không được thông báo cho các tỉnh trưởng, cứ để họ tiếp tục chống giữ. Khi chúng ta rút xong, ai biết thì biết. Địa phương quân toàn là người Thượng thì trả chúng về với cao nguyên.

        Sau khi trình bày xong, Phú ra lệnh cho Cẩm và Lý, Tham mưu trưởng quân đoàn làm kế hoạch rút lui.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #33 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 12:58:52 AM »


        Sáng ngày 15 tháng 3, Phú và Bộ Tham mưu chính của Quân đoàn 2 rút bằng máy bay về Nha Trang lấy lý do là để thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột. Thế là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa. Những đơn vị chuyên môn rút về Phú Bổn mang theo gia đình họ. Việc này làm cho dân chúng thấy rõ ý định bỏ Pleiku. Từ đó sĩ quan binh lính khiếp sợ và gia đình họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay, gây nên sự hỗn loạn. Người nào không vào được sân bay thì dùng đủ các loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắc nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, chửi bới, đánh nhau ầm ĩ, gây thêm nhiều cảnh hỗn loạn trên đường.

        Trong khi đó Liên đoàn biệt động quân 22 cũng rút khỏi Kon Tum. Tới Thanh An, Liên đoàn 25 bị Quân giải phóng đuổi kịp tập kích dữ dội, gây thiệt hại nặng.

        Theo kế hoạch, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 và các đơn vị tác chiến phải lập tuyến phòng thủ tại Phú Bổn chờ các đơn vị cơ giới nặng và các bộ phận chuyên môn qua trước.

        Khi các lực lượng này tới Phú Bổn ngày 16 tháng 3 thì họ mệt mỏi, chán chường quá, cho nên họ dừng lại không đi nữa. Họ không những ở trong thị xã mà người và xe cộ còn ngổn ngang cả trên đường quanh thị xã. Giao thông trong thị xã bị tắc nghẽn vì lính dồn về đông, trong lúc đó xe cộ cứ tiếp tục ùn về. Binh lính bắt đầu phá phách, cướp bóc trong phố, gây nên cảnh tượng rất hỗn loạn.

        Ngày 16 tháng 3, Quân đội giải phóng bắt đầu tiến công một đơn vị của Tiểu đoàn 23 biệt động quân trên đèo Ban Blếch, gây thiệt hại nặng. Ngày 17 tháng 3, Quân giải phóng lại pháo kích vào Ban chỉ huy tiểu khu trong thị xã Phú Bổn, gây thiệt hại đáng kể cho Liên đoàn 23.

        Lúc này các đơn vị địa phương quân thuộc Phú Bổn đã tan rã, tự động bỏ ngũ chạy làm cho tình hình thị xã rối thêm.

        Quân giải phóng lại tiến công và chốt đoạn đường từ phía đông thị xã Phú Bổn đến đèo Tu Na, làm cho tình hình phòng thủ Phú Bổn suy sụp nhanh chóng. Chiều 17 tháng 3, Liên đoàn 7 gọi không quân yểm trợ. Một đoàn máy bay A.37 đến ném bom lại trúng vào quân của Liên đoàn, một tiểu đoàn gần như bị tiêu diệt. Sáng 18-3 lại bị Quân giải phóng đánh một trận nữa, liên đoàn này thiệt hại nặng, chỉ có một số rất ít vượt qua được điểm chốt. Quân giải phóng tiến vào chiếm Phú Bổn. Phú ra lệnh cho chúng tôi bỏ hết vũ khí nặng và quân dụng, chạy khỏi Phú Bổn. Tôi ra lệnh cho quân bỏ lại hết xe cộ, đại bác, đi bộ vòng rừng không qua đèo. Thiết đoàn 3 cũng bỏ hết xe chạy vào rừng sau khi bị Quân giải phóng chặn đánh nhiều lần.

        Quãng đường từ đèo Tu Na đến quận Sơn Hoà, các tàn quân phải lẩn trốn, chui rúc trong rừng. Sỹ quan, binh lính lại mang theo gia đình, hàng trăm, hàng nghìn người kéo sau, ồn ào, lộ mục tiêu. Quân giải phóng truy kích sát cho nên chúng tôi bị tan tác, thiệt hại rất nhiều. Binh lính mệt mỏi, không có chỉ huy, bỏ cả vũ khí, máy móc trên đường chạy. Quân ở quận Phú Túc và các đồn địa phương đều ra hàng hoặc rã ngũ, và các nơi đó đều bị Quân giải phóng đánh chiếm.

        Liên đoàn 6 biệt động quân là cánh quân đi sau cùng và có trách nhiệm hướng dẫn tàn quân các đơn vị khác về Sơn Hoà. Sáng 20 tháng 3, Quân giải phóng bắt đầu tiến công bất ngờ đơn vị đầu tiên của Liên đoàn 6, gây thiệt hại đáng kể. Những ngày kế tiếp, Liên đoàn rút chạy nhưng vẫn bị truy kích và bị đón đánh liên tiếp, chỉ còn một số rất ít chạy được về Tuy Hoà.

        Quân giải phóng vận động nhanh qua phía đông thị xã Phú Bổn, chốt chặn con đường lên đèo Tu Na, đã quyết định sự thất bại cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn.

        Thế là rõ. Trận Buôn Ma Thuột hiểm và mạnh quá, tiếp đến trận đánh diệt quân viện Sư đoàn 23 ở phía đông Buôn Ma Thuột nhanh và gọn quá làm cho địch hốt hoảng, rối loạn không những ở cấp sư đoàn, quân khu mà chính là động đến cơ quan đầu não của nguỵ quyền Sài Gòn. Từ sai lầm về chiến thuật, chiến dịch, bị ta đánh đau quá địch đi đến sai lẩm về chiến lược; nguỵ quyền Sài Gòn hoảng hốt ra lệnh rút chạy khỏi Tây Nguyên, đưa quân về đồng bằng hòng giữ lực lượng và giữ đất. Nhưng nào có đưa được lực lượng về đâu, có giữ được đất nữa đâu! Ta đã diệt chúng trên đường rút chạy.

        Mà đã sai lẩm về chiến lược rồi thì thất bại trong chiến tranh là điều chắc chắn, không sớm thì muộn.

        Chính chúng ta đã đưa địch đến sai lầm đó, biết tạo và nắm thời cơ, thúc đẩy quá trình thất bại của địch, tạo ra bước ngoặt của chiến tranh.

        Ta nhanh hơn lên, quyết đoán hơn lên, táo bạo hơn lên, chủ động hơn lên, thừa thắng xông lên thì chắc chắn là ta thắng cuộc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #34 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 01:00:28 AM »


Chương 9

THỪA THẮNG

        Khi Mặt trận Tây Nguyên nổ súng thì ở Trị Thiên quân ta cũng mở đầu hoạt động phối hợp, tiến công địch ở cả giáp ranh và đồng bằng. Lực lượng vũ trang quân khu đã bao vây trên một diện rộng các căn cứ địch, diệt và bức rút một số đồn bốt, đồng thời đẩy mạnh đánh phá các hậu cứ, kho tàng, cắt đường giao thông của địch.

        Lực lượng Quân đoàn 2 tiến công địch trên tuyến tây nam Huế ở khu vực Núi Bông, Núi Nghệ, diệt được một số căn cứ của chúng và liên tục đánh phản kích, tiêu diệt một bộ phận, kìm chân lực lượng cơ động, không cho chúng rút khỏi Trị Thiên.

        Ở đồng bằng, 7 tiểu đoàn bộ đội địa phương của ta cùng với 100 đội vũ trang công tác thọc xuống vùng sâu cùng lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân trong cả 8 huyện đồng loạt nổ súng tiến công địch, tiêu diệt quận lỵ Mai Lĩnh, diệt gọn 11 phân chi khu trong số 30 phân chi khu bị tấn công, tiến hành vũ trang tuyên truyền trên một diện rộng gồm 53 xã với trên 2 vạn dân, sau khi địch bị thất bại nặng ở Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương kịp thời chỉ đạo Mặt trận Trị Thiên và Quân đoàn 2 nhận rõ thời cơ nhanh chóng chuyển hướng tiến công.

        Ngày 18 tháng 3, phán đoán địch có thể rút bỏ Huế, đưa Sư đoàn bộ binh 1 nguỵ vào Đà Nẵng và tổ chức phòng thủ từ đèo Hải Vân trở vào Nam, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Quân khu Trị Thiên do Thiếu tướng Lê Tự Đồng làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quan khu và Quân đoàn 2 phải táo bạo đưa lực lượng thọc qua tuyến phòng thủ bên ngoài cắt đứt đường số 1 và áp sát Huế, nhằm mục tiêu trước mắt là tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 1 không cho chúng rút về Đà Nẵng, giải phóng Huế và toàn bộ Trị Thiên.

        Ngày 19 tháng 3, các lực lượng vũ trang địa phương Quảng Trị nắm kịp thời cơ chuyển sang tiến công giải phóng thị xã và toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Tuyến phòng thủ phía bắc của địch, bị vỡ một mảng lớn, địch co về phòng thủ tuyến nam sông Mỹ Chánh.

        Trong lúc đó Ngô Quang Trưởng, Trung tướng Tư lệnh Quân khu 1 nguỵ huênh hoang trên đài phát thanh Huế: "Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vô được cố đô này", còn Thiệu thì ba hoa trên đài Sài Gòn: "Bỏ Kon Tum, Pleiku để bảo toàn lực lượng, còn Đà Nẵng, Huế, Quân khu 3, Quân khu 4 sẽ phải giữ đến cùng".

        Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 21 tháng 3, từ ba hướng bắc, tây và nam, các lực lượng Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công vượt qua các tuyến phòng thủ của địch, hình thành nhiều mũi bao vây Huế, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 1 bộ binh nguỵ, Lữ 147 thuỷ quân lục chiến nguỵ, cắt đứt Huếvà Đà Nẵng trên đoạn đường số 1 ở Mũi Né - Bái Sơn. Hàng nghìn xe di tản từ Huế vào Đà Nẵng phải quay lại trong cảnh rối loạn.

        Pháo binh tầm xa của ta chế áp căn cứ Đống Đa, Mang Cá, bắn phá sân bay Phú Bài. Đường bộ bị cắt, đường không bị triệt, địch chỉ còn một lối thoát là rút chạy ra biển theo cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Con đường Huế - cửa Thuận An là niềm hy vọng cuối cùng của chúng, nhưng thực tế đã biến thành con đường chết đối với chúng.

        Nắm vững ý đồ muốn tẩu thoát của địch, pháo ta một mặt khống chế chặt cửa Thuận An và không cho tàu địch vào đón bọn rút lui, mặt khác, bắn tập trung vào đội hình dày đặc của địch còn lại ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền làm cho chúng bị thiệt hại nặng nề. Bộ đội đặc công cũng thả mìn phong toả cửa Thuận An. Xe tăng, xe bọc thép, xe vận tải và hàng chục nghìn lính địch kéo đi kín đường bị pháo ta bắn, đạp nhau mà chạy, bắn nhau để lấy đường chạy.

        Ngày 25 tháng 3, các cánh quân của ta đã kịp hợp vây tiêu diệt và làm tan rã quân địch rút lui còn lại ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền, đồng thời từ nhiều hướng, quân ta tiến công vào thành phố. Đúng 10 giờ 30 phút, lá cờ cách mạng được kéo lên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn.

        Thành phố Huế hoàn toàn được giải phóng, người dân Huế sau 7 năm chờ đợi kể từ Tết Mậu Thân năm 1968, nay lại được thấy lá cờ cách mạng hiên ngang tung bay trước gió.

        Trong quá trình bộ đội tiến hành bao vây chia cắt và truy kích địch, quần chúng đứng lên phối hợp hành động bằng cách dẫn đường cho bộ đội, chỉ đường địch chạy cho quân ta đuổi truy lùng địch lẩn trốn, giúp đỡ bộ đội vượt sông, diệt bắt tề điệp ác ôn làm cho địch càng nhanh chóng tan rã.

        Sư đoàn 1 nguỵ từng được Mỹ coi là sư đoàn thiện chiến của quân nguỵ bị tiêu diệt và tan rã. Tiêu diệt Sư đoàn 1 bộ binh nguỵ, giải phóng thành phố Huế và toàn bộ Trị Thiên, ta đã giáng một đòn nặng vào âm mưu co cụm chiến lược của địch, làm suy yếu và uy hiếp nặng nề Quân đoàn 1 nguỵ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #35 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 01:02:08 AM »


        Chiều ngày 26 tháng 3, trong nhà hầm chỉ huy, tôi đang xem xét lại kế hoạch thực hiện lệnh thành lập Quân đoàn 3 của Bộ Tổng tư lệnh và tổ chức lực lượng bảo vệ Tây Nguyên sau khi giải phóng, suy nghĩ về cách tiếp tục phát triển các binh đoàn Tây Nguyên và chuẩn bị cho kế hoạch di chuyển hậu cần, trinh sát đi vào miền Đông Nam Bộ, thì đồng chí Nguyễn Tuyến đến báo cho biết tin Huế được hoàn toàn giải phóng. Tôi không nén được xúc động. Huế được giải phóng vĩnh viễn rồi, không phải ta chỉ làm chủ quyết liệt được 25 ngày đêm như Tết Mậu Thân năm 1968.

        Các đồng chí Trần Văn Quang, Lê Quang Đạo, Trần Quý Hai cũng như các anh em trong Bộ Tư lệnh, các đơn vị bộ đội, tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên mặt trận Huế, đường số 9, Khe Sanh, Quảng Trị mùa Xuân 1968 nghe được tin này chắc là cũng vui mừng khôn tả. Tôi châm lửa vào điếu thuốc. Tôi đã "cai" thuốc từ lâu, nhưng mỗi lần giải quyết được một vấn đề gì gai góc, giành được một thắng lợi gì lớn, được tin một chiến thắng xuất sắc thì hút một điếu cho vui.

        Hoạt động phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang Quân khu 5, do đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân làm Tư lệnh và đồng chí Võ Chí Công làm Chính uỷ Quân khu, ngoài việc dùng Sư đoàn 3 đánh địch và cắt đường số 19, đã giải phóng Tiên Phước, Phước Lâm, đánh bại quân địch phản kích, buộc địch rút khỏi Sơn Hà, Trà Bồng, giải phóng gần hết vùng giáp ranh, đồng thời đẩy mạnh đánh phá bình định ở đồng bằng, nhất là ở Quảng Ngãi và Bình Định.

        Sau khi ta giành thắng lợi lớn ở Tây Nguyên, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, nhạy bén trước thời cơ mới, đã bỏ kế hoạch phát triển về phía nam, chuyển hướng tiến công về phía bắc nhằm tạo điều kiện cho việc giải phóng Đà Nẵng.

        Sau ngày 18 tháng 3, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cũng chỉ thị cho Khu 5 nhận rõ thời cơ mới đang xuất hiện, đẩy mạnh tiến công với tinh thần khẩn trương và mạnh bạo, nhanh chóng phá vỡ tuyến giáp ranh, tiến xuống cắt đứt đường số 1, đoạn đường giữa Đà Nẵng và Tam Kỳ, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh số 2 nguỵ, không cho chúng co cụm về Đà Nẵng, tổ chức pháo kích Đà Nẵng và chuẩn bị tích cực và khẩn trương cho trận đánh Đà Nẵng.

        Chấp hành chỉ thị nói trên, ngày 21 tháng 3, một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 2 của ta đánh chiếm Tuần Dưỡng, cắt đường bộ từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 2 nguỵ, uy hiếp Tam Kỳ, kéo Sư đoàn 2 nguỵ từ Quảng Ngãi ra để tiêu diệt; nhân cơ hội đó dùng một lực lượng khác thọc nhanh, giải phóng Quảng Ngãi.

        Ngày 22 tháng 3, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh lại nhận định: "Địch đang rút khỏi Huế và cũng không loại trừ khả năng chúng rút bỏ Đà Nẵng", chỉ đạo Khu 5 chuẩn bị tích cực đánh Đà Nẵng theo phương án đã dự kiến.

        Ngày hôm sau, trước tình hình Trị Thiên đang phát triển rất nhanh và quán triệt các chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Thường vụ khu uỷ Khu 5 họp mở rộng, hạ quyết tâm mới: "Động viên toàn đảng bộ, toàn dân trong Khu phấn đấu trong thời gian ngắn nhất, giải phóng hoàn toàn Khu 5". Trong hai ngày 24 và 25 tháng 3, Sư đoàn 2 của quân khu phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt và làm tan rã Trung đoàn 4 và Trung đoàn 5 của Sư đoàn 2 nguỵ, giải phóng Tam Kỳ và Tuần Dưỡng. Lực lượng địa phương Quảng Ngãi phối hợp với quần chúng tiến công và nổi dậy giải phóng phía bắc tỉnh.

        Ta phát triển tiến công chiếm căn cứ Chu Lai, đồng thời lực lượng vũ trang, chính trị Quảng Ngãi liên tiếp tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Việc giải phóng Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Tuần Dưỡng và tiêu diệt những sinh lực ở đây làm cho thế phòng thủ của địch ở Đà Nẵng bị uy hiếp thêm về phía nam. Thiệu ở Sài Gòn lại kêu gọi "tử thủ Đà Nẵng", Mỹ - nguỵ cũng có ý định nếu chúng không giữ được thì cũng phải "trì hoãn" một - hai tháng để tranh thủ thời gian, bố trí lại thế phòng ngự chiến lược đang tan vỡ từng mảng lớn, đồng thời di tản một triệụ dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao hòng gây sức ép để buộc ta ngừng tấn công. Tên Thiếu tướng Tham mưu phó Bộ Tổng Tham mưu nguỵ Nguyễn Xuân Trang được lệnh hoả tốc ra Đà Nẵng kiểm tra tình hình và chuyển từ tổng kho Long Bình ra Đà Nẵng 20.000 khẩu súng để bổ sung cho các đơn vị ở đây. Kế hoạch của địch phòng thủ Quảng Nam - Đà Nẵng được vạch ra nhằm thu hẹp phạm vi phòng thủ, tập trung Sư đoàn thuỷ quân lục chiến, Sư đoàn 3 bộ binh và các đơn vị quân chủng, binh chủng để cố thủ Đà Nẵng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #36 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 01:03:13 AM »


        Ngày 25 tháng 3, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, trên cơ sở nhận định: "Sau khi mất Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Chu Lai, địch dù có muốn giữ Đà Nẵng cũng không thể được", quyết định mở trận tiến công Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo "kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng", và chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Khu 5 "hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay, tập trung lực lượng diệt sinh lực lớn của địch ở Đà Nẵng, chủ yếu là Sư đoàn thuỷ quân lục chiến và Sư đoàn 3 nguỵ, giành thắng lợi lớn trong trận quyết chiến này, tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược sau".

        Để chỉ huy trận đánh quan trọng này, ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, gồm các đồng chí Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân làm Chính uỷ. Đồng chí Lê Trọng Tấn đáp máy bay từ Hà Nội vào Gio Linh. Lúc đó đồng chí Chu Huy Mân đang chỉ huy một cánh quân ở rất xa, giữa Quảng Tín và Quảng Ngãi. Muốn chỉ huy đánh Đà Nẵng phải lập sở chỉ huy ở phía tây Đà Nẵng. Đồng chí Lê Trọng Tấn tới Quảng Trị liền rẽ lên A Lưới theo đường phía đông Trường Sơn rồi vòng về phía tây Đà Nẵng. Đồng chí dùng tổng trạm điện thoại giữa đường để bắt liên lạc với các cánh quân. Thấy tình hình rất gấp, đồng chí dùng điện đài làm việc với đồng chí Chu Huy Mân, thống nhất cách tác chiến. Bộ Tư lệnh và Đảng uỷ Mặt trận Quảng Đà như thế là vẫn chưa gặp mặt nhau.

        Trong những ngày này, tôi cũng rất nóng ruột về tình hình Khu 5. Ở xa, không nắm được tình hình cụ thể, tôi điện cho đồng chí Hoàng Văn Thái, Phó Tổng Tham mưu trưởng, nên chỉ thị cho Quân đoàn 2 gồm các Sư đoàn 304, 324, 325 triển khai ngay pháo tầm xa khống chế sân bay và cảng Đà Nẵng, nhanh chóng cùng với lực lượng Quân khu 5 tiêu diệt tập đoàn địch co cụm ở Đà Nẵng. Làm được như thế thì sẽ đỡ cho chiến trường Nam Bộ trong bước tới. Cũng cần tăng cường chỉ huy đối với trận đánh quan trọng này.

        Từ ngày 25 tháng 3, thành phố Đà Nẵng trở nên hỗn loạn. Các lực lượng của ta tiến nhanh áp sát thành phố. Địch buộc phải bỏ kế hoạch co cụm ở Đà Nẵng và bắt đầu dùng máy bay Boeing 727 và máy bay lên thẳng di tản bọn cố vấn Mỹ và một phần lực lượng nguỵ. Chúng tranh nhau lên máy bay, gây ra cảnh huyên náo, ẩu đả ở sân bay. Có những tên bị bánh máy bay đè nát trên đường băng hoặc mắc kẹt trong càng máy bay lên thẳng. Binh lính, sĩ quan nguỵ cùng gia đình chen nhau chạy. Sư đoàn thuỷ quân lục chiến địch trước khi rút chạy gây ra nhiều vụ cướp bóc, bắn nhau và hãm hiếp phụ nữ. 3.200 tân binh địch ở trung tâm huấn luyện Hoà Cầm nổi dậy đấu tranh bỏ ngũ chạy ra với cách mạng hoặc về nhà.

        Pháo lớn của ta bắt đầu bắn vào sân bay Đà Nẵng, căn cứ Hoà Khánh, nơi Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 nguỵ đóng, cảng Sơn Trà, Sở chỉ huy Sư đoàn ở Non Nước làm cho địch trong thành phố càng hoảng loạn. Anh em ta bị địch bắt giam ở nhà lao Non Nước vùng dậy phá nhà lao, thoát ra ngoài. Sư đoàn 2 của Quân khu 5 do đồng chí Đại tá

        Nguyên Chơn - Anh hùng lực lượng vũ trang - làm Sư đoàn trưởng, sau khi giải phóng Tiên Phước, Phước Lâm, Tam Kỳ, tiến đánh phía nam Đà Nẵng. Ngày 29 tháng 3, bộ binh và xe tăng thuộc Quân đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang của Quân khu 5 từ bốn hướng bắc, tây bắc, tây nam và nam nhanh chóng đánh thẳng vào thành phố, chiếm sân bay Đà Nẵng, các vị trí quan trọng khác, nhất là bán đảo Sơn Trà. Trong khi đó một trung đoàn độc lập của quân khu cũng đánh chiếm Non Nước và sân bay Nước Mặn. Một số cơ sở cách mạng và quân biệt động ta ở trong thành phố chiếm cầu Trịnh Minh Thế, cắm cờ ở toà thị chính, tự vệ và nhân dân dẫn đường cho bộ đội chiếm nhanh chóng các vị trí địch và đuổi bắt tàn quân địch.

        Trong vòng 32 giờ ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 100.000 quân địch ở Đà Nẵng, chiếm được một căn cứ quân sự liên hợp mạnh, giải phóng Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai ở miền Nam. Với việc giải phóng Đà Nẵng, ta đã kết thúc quá trình tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Quân đoàn 1, xoá bỏ Quân khu 1 của nguỵ, tạo điều kiện thúc đẩy quân nguỵ nhanh chóng đi tới chỗ sụp đổ hoàn toàn.

        Ngô Quang Trưởng, sau khi thoát chết tại cuộc họp ở căn cứ hải quân Sơn Trà, dùng máy bay lên thẳng bay ra tàu chiến chạy một mạch về Sài Gòn, vào nằm ở Tổng y viện cộng hoà.

        Chiến dịch Huế - Đà Nẵng thắng lớn có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng. Cùng với chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng Huế, Đà Nẵng làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng về mặt chiến lược hoàn toàn có lợi cho ta, trực tiếp đánh bại âm mưu co cụm chiến lược của địch, làm cho Sài Gòn suy yếu, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng áp đảo trong trận quyết chiến cuối cùng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #37 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 01:04:11 AM »


        Chúng tôi cũng nhận được tin về chiến trường Nam Bộ qua thư của đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh bộ đội Nam Bộ và Khu 6 (còn gọi là B2) gửi ra. Ở hướng Long Khánh - đường số 20, sau khi giải phóng Định Quán, Hoài Đức, Gia Rai, ta đưa phần lớn Sư đoàn 7 có pháo và xe tăng đi cùng, nhằm tiến công và giải phóng Lâm Đồng.

        Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4 nắm vững thời cơ, lần đầu tiên sử dụng binh chủng hợp thành tiến theo đội hình xe bọc thép đi trước, rồi xe tăng, bộ binh, pháo binh, hậu cần đi sau, thẳng đường số 20 tiến quân, gặp địch đâu đánh đấy với khí thế chưa từng thấy. Bọn địch dọc đường ngơ ngác, hoảng sợ, đứa bỏ trốn, đứa chạy lên đồi đứng xem quân ta tiến. Sư đoàn 7 phát triển nhanh, giải phóng tỉnh Lâm Đồng và thị xã Bảo Lộc.

        Đồng chí Trần Văn Trà tiếc rằng không có thêm lực lượng để sau khi giải phóng xong Lâm Đồng tiến lên giải phóng Liên Khằng - Đrăng và Đà Lạt.

        Ở hướng Dầu Tiếng - đường số 22, sau khi tiêu diệt địch ở chi khu Dầu Tiếng, các vị trí Bến Củi, suối Ông Hùng, Cầu Khởi, ngã tư Đất Sét trên, đường 26, ta cắt đường số 22, cô lập Tây Ninh và kéo quân chủ lực nguỵ ra để diệt, tạo điều kiện cho quân ta có thời cơ sẽ tiến đánh giải phóng Tây Ninh. Ở hướng Sư đoàn 5 và Sư đoàn 3 của ta, quân ta đã mở xong hành lang thông với Khu 8 đồng bằng sông Cửu Long, đang chuyển hướng nhằm tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 9 và Lữ đoàn thiết giáp 4 nguỵ ở Mộc Hoá, sau đó chuẩn bị đánh tiếp tiểu khu Mộc Hoá. Ta đã mở rộng khu vực bắc Cái Bè (Mỹ Tho) và đông Kiến Phong, kênh Nguyễn Văn Tiếp.

        Ở hướng Khu 9 miền Tây Nam Bộ, Vĩnh Long đánh tốt nhưng Hậu Giang đánh còn hơi sượng. Nhìn chung, địch ở Nam Bộ còn đông, tinh thần đã bị ảnh hưởng lớn trước thất bại lớn ở hai quân khu 1 và 2. Song ta chưa có những trận thắng lớn rung động, do đó, địch chưa có hiện tượng tan rã.

        Muốn tạo được thời cơ, cần có những trận đánh tịêu diệt lớn, những đòn bất ngờ gây rung động lớn, đẩy địch vào con đường tan rã, không còn gì để co cụm và cũng không còn chỗ để co cụm. Một trong những quy luật cơ bản của chiến tranh là tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, cả sinh lực lẫn phương tiện chiến tranh. Địch có nhiều loại quân, nhiều loại lực lượng. Ta chọn đúng đối tượng, đánh gục những lực lượng chủ yếu của chúng thì mới làm cho địch tan rã nhanh chóng, thay đổi so sánh lực lượng càng lợi cho ta và tạo ra một sự nổ chuyền liên tục, ngày càng lan rộng. Lúc này đối tượng chủ yếu của quân ta là đội quân chủ lực nguỵ, nhất là các cơ quan chỉ huy đầu não của chúng. Đập trúng thì từ đó sẽ kéo theo sự tan rã của toàn bộ hệ thống phòng thủ và nguỵ quyền ở từng chiến trường. Địch không tan rã bỏ chạy nếu ta không giáng cho chúng đòn chí tử, đánn nhanh, đánh mạnh, đánh liên tục.

        Tại Sở chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên, ngày 18 tháng 3 giữa lúc địch đang rút chạy khỏi Tây Nguyên, chúng tôi cũng đã bàn tới phương hướng phát triển của bộ đội Tây Nguyên.

        Chúng tôi phân tích kỹ tình hình địch và ta.

        Thắng lợi của ta ở Tây Nguyên tác động rất mạnh đến sự bố trí chiến lược và tinh thần của địch. Ta tiến công mạnh, phát triển nhanh làm cho địch tan rã mau. Để tránh thế cô lập, bị bao vây không tiếp tế nổi, sớm muộn sẽ bị tiêu diệt hết, địch buộc phải vội vã rút khỏi Tây Nguyên. Ý định của địch rút lực lượng ở Tây Nguyên về là để bảo vệ các tỉnh đồng bằng Quân khu 2 đang rất sơ hở.

        Ở Bình Định, địch có Sư đoàn 22, còn các tỉnh khác chúng chỉ có bảo an, dân vệ. Chung quanh Sài Gòn, địch vẫn giữ lực lượng như cũ hoặc có thể tăng cường thêm. Trên toàn miền Nam, Quân đoàn 2 của địch là quân đoàn bị tiêu diệt nhiều sinh lực nhất và phải bỏ một địa bàn chiến lược trọng yếu là toàn bộ Tây Nguyên gồm năm tỉnh. Đây là vấn đề chưa từng có từ trước đến nay trong lịch sử chiến tranh ở Việt Nam. Quân đoàn 2 nguỵ cũng là quân đoàn bị mất tinh thần nhiều nhất. Trước mắt, Quân đoàn 2 nguỵ ít có khả năng tổ chức những cuộc phản kích lớn khác lên Tây Nguyên nói chung và Buôn Ma Thuột nói nêng. Thất bại của địch ở Tây Nguyên và các chiến trường khác đẩy thêm chính quyền Thiệu vào thế suy yếu, sa sút.

        Nếu chúng thất bại về quân sự thêm nữa thì sẽ dẫn tới khả năng chính quyền Thiệu sụp đổ.

        Thắng lợi của ta ở Tây Nguyên là hết sức to lớn, được thực hiện vượt mức kế hoạch. Ta còn nhiều điều kiện tốt để tiếp tục phát triển thắng lợi. Địch đang hoang mang, rối loạn và bị ta đuổi sát. Lực lượng ta qua chiến đấu càng trưởng thành. Tinh thần của bộ đội ta mạnh lên gấp nhiều ỉần. Hậu cần vẫn bảo đảm, không những chỉ mới dùng hết một phần số lượng đạn dược đã dự tính trong kế hoạch mà lại còn lấy thêm được khá nhiều của địch. Đường chiến lược cho xe tải chạy thông và nhanh hơn trước. Thời tiết mùa khô còn khoảng tháng rưỡi để ta tiếp tục hoạt động.

        Các chiến trường của ta trên toàn miền Nam đều đã hoạt động phối hợp tốt.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #38 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 01:05:02 AM »


        Trước mắt, vấn đề đặt ra là lực lượng Tây Nguyên nên phát triển hướng nào cho liên tục nhất, nhanh nhất, lợi nhất, phát huy được sức mạnh nhất và còn nhiều thời gian để hoạt động nhất. Sự phát triển đó nhằm mục đích tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chia cắt chiến lược cả về quân sự và về hành chính lãnh thổ do chính quyền Thiệu tạm kiểm soát ở miền Nam, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược và tình thế chiến lược của địch, thúc đẩy thêm sự tan rã về quân sự và sự suy sụp về chính trị của Thiệu.

        Nếu dừng lại, tiến công vào một hướng khác, thì địch sẽ co cụm.

        Sau khi thảo luận sôi nổi, chúng tôi nhất trí hướng phát triển chiến dịch của lực lượng Tây Nguyên là tiến về phía đông. Cụ thể là chúng tôi phát triển xuống ven biền cùng với bộ đội Quân khu 5 giải phóng tỉnh Bình Định, Phú Yên và một phần tỉnh Khánh Hoà, tiéu diệt nhiều sinh lực địch và giải phóng hơn một triệu dân. Lúc này bộ đội ta đang náo nức muốn thừa thắng tiến nhanh về đồng bằng.

        Nhân dân vùng ven biển cũng đang tấp nập đi chữa đường, đắp đường, tải gạo, tải đạn, mong đón bộ đội chủ lực về.

        Như vậy, ta sẽ chiếm giữ cả ba đường chiến lược số 7, số 19 và số 21 nối thông vùng rừng núi với đồng bằng, vùng ven biển Khu 5 đông dân với vùng Tây Nguyên thưa dân. Cuộc tiến quân về đồng bằng này còn nhằm tiêu diệt nốt Sư đoàn 22 nguỵ là lực lượng còn lại của Quân đoàn 2, các lực lượng biệt động quân và quân địa phương ở ba tỉnh Bình Định, phú Yên, Khánh Hoà, sẵn sàng tiêu diệt hai hoặc ba trung đoàn địch ở Quân khu 1 hoặc ở Quân khu 3 kéo tới tiếp viện. Làm được như vậy thì cơ bản ta tiêu diệt được Quân đoàn 2 của địch, giải phóng Quân khu 2, cắt rời toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở miền Nam ra làm đôi cô lập Quân khu 1 của địch ở phía bắc.

        Về sau chúng tôi lại bổ sung vào ý định nói trên: ở phía đường số 21, khi giải phóng Khánh Dương xong, phát triển xuống đèo Mơ Đrắc, tạo điều kiện thọc xuống giải phóng Ninh Hoà, rồi tiến vào giải phóng Nha Trang, Cam Ranh.

        Lúc này, cần phải giải quyết hai vấn đề: một là nhanh chóng củng cố bộ đội, trang bị thêm vũ khí cho các đơn vị, hai là hướng dẫn cách đánh địch. Còn vấn đề hậu cần thì không lo, vì ta có ba con đường chiến lược xuống đồng bằng, vận chuyển bộ đội và vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm hoàn toàn bằng cơ giới. Tổng cục Chính trị đã đưa nhiều cán bộ vào, không những để tăng cường sức chiến đấu cho bộ đội mà còn góp phần tích cực vào việc xây dựng chính quyền cơ sở ở các địa phương vừa mới giải phóng. Tổng cục Kỹ thuật điều tới mặt trận thêm 300 kỹ sư và công nhân để dồn lắp và sửa chữa hàng trăm xe tăng, xe vận tải và pháo địch.

        Ngày 19 tháng 3, tôi làm việc với các đồng chí Bùi San, Nguyễn Tuấn Tài, Thường vụ khu uỷ Khu 5, và đồng chí Huỳnh Văn Mẫn, uỷ viên khu uỷ Khu 5 kiêm Bí thư tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tình hình trong thị xã và vùng ven dần dần ổn định. Hầu hết nhân dân thị xã ở lại với cách mạng.

        Chợ họp, bệnh viện hoạt động trở lại. Sau hai ngày, thị xã đã được cung cấp nước. Các tầng lớp nhân dân họp míttinh mừng quê hương giải phóng. Hăng hái nhất là giới công nhân và thanh niên học sinh, nhiều người tự nguyện xung phong đi làm vệ sinh đường phố, sửa chữa đài phát thanh, Bửa chừa điện nước, tham gia giữ gìn trật tự, an ninh.

        Trong các cuộc họp, nhân dân thị xã nêu nhiều câu hỏi. Bây giờ dân tiếp tục làm ăn thế nào? Có được đi làm ruộng nương suốt ngày đến tối mới về không? Có được vào rừng xẻ gỗ không? Tiền gửi ngân hàng có được lấy ra không? Công chức, nhà giáo dục có được lĩnh lương không? Các trường học có mở lại không và học theo chương trình nào?

        Tôi góp ý kiến với các đồng chí lãnh đạo địa phương và chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Tây Nguyên giúp đỡ giải quyết mấy vấn đề lớn: xây dựng chính quyền cơ sở, lực lượng vũ trang địa phương, thi hành các chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục, tổ chức tiếp tế cho 100.000 dân ở thị xã và vùng ven Buôn Ma Thuột cùng hơn 50.000 nhân dân di cư ở các vùng phụ cận, chấp hành đúng các chính sách đối với các dân tộc, các nhà tư sản, các ngoại kiều. Địa phương thiếu nhiều cán bộ và mong các cán bộ người dân tộc đang học ở trường dân tộc ngoài Bắc trở về ngay để công tác, cũng như cán bộ trong cả nước đến giúp. Ta bước đầu lập một quân khu vừa làm nhiệm vụ quân quản vừa lãnh đạo các mặt đối với ba tỉnh ở Tây Nguyên. Thành phần Quân khu uỷ gồm cả cán bộ quân sự và cán bộ dân, chính Đảng; tổ chức này không ra công khai nhưng trực tiếp chỉ đạo việc bảo vệ, khôi phục và xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên. Anh em ước tính ở đây có thể khai thác thêm hàng trăm nghìn hécta đất trong một số năm. Có chiến sĩ vui vẻ nói: Đi qua Buôn Ma Thuột nhìn xem đất đai, trời ơi là trời, sướng quá anh ạ. Đất nước mình như thế này mà bảo là nhỏ và nghèo thì không đúng nữa rồi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20960


« Trả lời #39 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 01:06:20 AM »


        Trận tiến công phát triển về hướng đồng bằng ven biển miền Trung từ đầu tháng 3 sang đầu tháng 4 năm 1975 theo các trục đường số 19, số 7 và số 21 mở màn trong khí thế mãnh liệt. Trên đường số 19, Sư đoàn 968 tiến xuống tỉnh Bình Định, cùng với Sư đoàn 3 của Quân khu 5 tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn 22 nguỵ ở Phú Phong, Lai Nghi, Phù Cát. Nhân dân trong thị xã Quy Nhơn nổi dậy cùng lực lượng vũ trang địa phương giải phóng thị xã, giải phóng bán đảo Phước Lý, Phước Hải, làm cho tàu biển địch không vào bờ bốc bọn tàn quân được Cùng ngày, ta đánh chiếm sân bay Gò Quánh, bắt 1.000 tên địch, thu 30 máy bay còn nguyên. Thế là ý định của địch tháo chạy khỏi Quy Nhơn, đưa một bộ phận trung đoàn 41, 42 xuống tàu để vào tăng cường phòng thủ Nha Trang bị phá vỡ. Tại bãi biển Quy Nhơn, hàng nghìn tên không kịp lên tàu đã bị bắt và đầu hàng. Toàn tỉnh Bình Định được giải phóng.

        Trên đường số 7, Sư đoàn 320 giải phóng Củng Sơn rồi tiến nhanh xuống giải phóng luôn thị xã Tuy Hoà, Tuy An, Sông Cầu và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phú Yên.

        Tại khu vực Nha Trang, Bộ chỉ huy biệt động quân nguỵ Quân khu 2 và trung tâm huấn luyện biệt động quân Dục Mỹ được chỉ thị gấp rút tổ chức lại 2 liên đoàn trong đó Tiểu đoàn 72 mới tổ chức xong đã được lệnh tăng cường cho Lữ đoàn 3 dù ở Khánh Dương. Một bộ phận tàn quân các nơi về mới đổ quân lên Cam Ranh buổi sáng thì được lệnh của tên Trung tướng nguỵ Lê Nguyên Khang, Tổng Tham mưu phó, sắp xếp đưa lên tăng cường cho Khánh Dương bị tiến công mạnh. Tên tướng nguỵ Phạm Văn Phú chỉ huy Quân khu 2 lại gào "tử thủ Nha Trang" trong khi lãnh sự quán Mỹ ở đây lo di tản. Bọn sĩ quan, binh lính nguỵ lo thu vén cho vợ con chạy, 3.000 lính nguỵ ở trung tâm huấn luyện Lam Sơn, trường hạ sĩ quan bỏ chạy về thị xã, cảnh sát gác trại giam cũng bỏ chạy. 2.000 lính nguỵ bị tù thoát ra, cướp súng bắn lung tung, cướp bóc bừa bãi, làm cho thị xã thêm hỗn loạn.

        Giữa lúc đó trên đường số 21, đồng chí Vũ Lăng và đồng chí Nguyễn Hiệp cùng Sư đoàn 10 đuổi địch chạy về phía ven biển. Đồng chí Vũ Lăng nóng ruột muốn được về giải phóng Ninh Hoà, nơi 29 năm về trước, trong hàng ngũ bộ đội Nam tiến, đồng chí đã chiến đấu gian khổ chống giặc Pháp xâm lược. Khi tới đèo Phượng Hoàng thì đồng chí Vũ Lăng được lệnh phải quay về Sở chỉ huy đại diện Bộ Tổng tư lệnh để nhận nhiệm vụ mới. Sư đoàn 10, sau khi giải phóng Khánh Dương, Ninh Hoà, tiến vào thị xã Nha Trang.

        Nhân dân thị xã và một số cảnh sát đi xe máy ra đón bộ đội ta, dẫn đường vào chiếm các vị trí quân sự và các trụ sở chính quyền địch. Bộ đội ta xông vào nơi ở của tên Phạm Văn Phú, mâm cơm mới bày ra, hắn chưa kịp ăn đã bỏ chạy. Một số địch ở Nha Trang chạy thoát về Cam Ranh, một mạch chạy tiếp về Phan Rang. Trong lúc đó, 15 giờ 20 phút ngày 2 tháng 4, Thiệu gửi cho Tư lệnh Quân khu 2: "Giao việc phòng giữ Cam Ranh cho Tư lệnh duyên hải đảm trách". Thừa thắng, Sư đoàn 10 đánh tiếp và tiến vào giải phóng Cam Ranh, một trong những quân cảng lớn và quan trọng, và như thế là giải phóng toàn bộ tỉnh Khánh Hoà.

        Phạm Văn Phú chạy về Phan Thiết thì gặp tên Phó Tư lệnh Quân khu 3 ra báo cho biết: Thiệu sáp nhập hai tỉnh cực Nam của Quân khu 2 là Ninh Thuận và Bình Thuận vào Quân khu 3, nhằm phòng thủ Sài Gòn từ xa. Toàn bộ Quân khu 2 nguỵ không còn trên bản đồ.

        Cần nói thêm rằng khi thấy lực lượng dự bị của ta ở Tây Nguyên còn đông, chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho một đơn vị tiến đánh giải phóng Đà Lạt. Giải phóng Đà Lạt sẽ tạo điều kiện mở đường đưa bộ đội xuống đánh chiếm sân bay Thành Sơn (Phan Rang), một căn cứ không quân quan trọng của địch án ngữ đường tiến của quân ta vào Nam Bộ ở phía đông. Chúng tôi lấy trung đoàn bộ đội đặc công đi làm nhiệm vụ này. Đà Lạt không chỉ là một nơi nổi tiếng về sản xuất rau và hoa quả mà còn là một thành phố nghỉ mát, một trung tâm văn hoá và khoa học. Ở đây có một cơ sở nghiên cứu nguyên tử và một số trường, viện. Phải giáo dục bộ đội tiến công Đà Lạt về tinh thần kỷ luật và tổ chức tốt việc tiếp quản thành phố, giữ gìn và bảo quản tốt mọi thiết bị, phương tiện, mọi cơ sở. Trung đoàn đặc công 198 do đồng chí Thiếu tá Trần Kình chỉ huy được trang bị xe pháo vượt qua tỉnh Quảng Đức và thị xã Gia Nghĩa vừa được quân chủ lực miền Đông Nam Bộ giải phóng để cùng bộ đội Khu 6 tiến về giải phóng Đà Lạt.

        Cán bộ cơ quan tham mưu ở mặt trận lúc này phải thốt lên: "Vẽ bản đồ không kịp bước quân đi".

        Tất cả các chiến trường đang thừa thắng xốc tới.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM