Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2019, 02:50:52 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Đông Dương qua tiếng nói của binh lính Pháp  (Đọc 11910 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #40 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 10:55:22 PM »


        Dân tộc ăn không no, mặc không đủ này đã có thể bắt chúng tôi chịu trách nhiệm về sự đói nghèo của họ (Chúng tôi đã thường được mặc ấm và được ăn thịt thường xuyên hơn họ), khi mà máy bay của chúng tôi đã phá huỷ làng mạc, giết trâu bò của họ và hầu như cản trở mọi công việc ban ngày; tuy nhiên dân tộc này đã luôn luôn thể hiện với chúng tôi lòng tốt, sự khoan dung và một tình bạn thực sự. Về phần tôi, trong quá trình di chuyển hoặc thay đổi trại, tôi đã không bao giờ xin một tách trà mà bị từ chối. Thường thường người dân đặt ở trước cửa nhà họ một bình trà lớn mà tất cả đoàn người có thể uống. Họ thường mời tôi thuốc và bưởi. Tết năm 1953, làng mà chúng tôi ở đã tặng cho chúng tôi mỗi người một chiếc bánh chưng kèm với thịt lợn và dưa hành. Cái làm cho chúng tôi thích thú hơn cả đó là những món quà tặng này thường đi cùng với một nụ cười chân thật, đã loại bỏ mọi ý nghĩ gò bó và cử chỉ cầu kỳ.

        Cuộc sống tù binh của chúng tôi: Nó bao gồm hai phần riêng biệt: lao động chân tay và những giờ học chính trị. Lao động chân tay thường chiếm một nửa ngày (có thể hơn khi nhu cầu đòi hỏi) chỉ gồm công việc vận chuyển hoặc xây dựng những thứ dành riêng cho chúng tôi hưởng (gạo, muối, rau, củi, làm nhà cho các nhóm khác). Không bao giờ có chuyện chúng tôi phải tham gia vận chuyển chiến lược về phía mặt trận hoặc bảo dưỡng các tuyến đường giao thông. Công việc vận chuyển này được thực hiện dưới sự giám sát của hai hoặc ba anh bộ đội, những người này không bao giờ đánh đập chúng tôi, mặc dầu một vài người trong số chúng tôi rất chậm chạp, và đôi khi họ còn mang giúp chúng tôi ở chặng cuối.

        Những giờ học chính trị thường diễn ra vào buổi chiều hoặc buổi tối. Đôi khi chúng được thay bằng các buổi họp thông báo hoặc đọc các sách tiến bộ. Lúc đầu tôi thường tìm cách viện ra nhiều cớ để không tham dự vì nghĩ rằng đó chỉ là sự tuyên truyền có dụng ý và trả thù, đối lại với sự tuyên truyền đã lừa dối chúng tôi ở phía bên kia. Về sau tôi đã phải ghi nhận rằng những giờ học này đã kêu gọi người ta đi theo lẽ phải và lương tri, đã dẫn ra những sự kiện cùng với những bằng chứng không thể bác nổi và tôi càng ngày càng quan tâm đến chúng. Bây giờ tôi thường đọc một cách hứng thú những tạp chí tiến bộ bàn về sự xã hội hoá các phương tiện sản xuất, phương pháp hợp lý duy nhất về tổ chức và năng suất lao động, tạo ra sự cải thiện mức sống cho người lao động. Cuối cùng tôi đã hiểu được ý nghĩa và cái được thua của cuộc đấu tranh thế giới vì hoà bình mà tôi là một trong những người tham gia tán thành tin tưởng. Chính trong thời gian bị bắt mà tôi chinh phục được sự thờ ơ và sự lười biếng trí tuệ của mình và không luyến tiếc về điều đó.

        Tôi không muốn kết thúc mà không nói lên lòng biết ơn của mình đối với những chăm sóc tận tình đã dành cho những người bệnh. Quả vậy, trong suốt hơn 22 tháng bị bắt, tôi đã có thể trở nên có ích cho tập thể nhiều nhất là ba hoặc bốn tháng. Thời gian còn lại bệnh nhọt, bệnh viêm ruột non có mủ, những cơn sốt rét theo tỷ lệ là bốn lần một tháng đã buộc tôi phải nằm bệnh xá hoặc được miễn mọi công việc. Trong suốt thời kỳ bệnh tật mà tôi chỉ có thể quy lỗi cho sự khắc nghiệt của khí hậu và sự yếu ớt của cơ thể, tôi đã thường xuyên được chăm sóc một cách tận tâm bởi cơ quan y tế Việt Nam.

        Tôi không bao giờ thiếu thuốc men cần thiết và mùa nóng trong suốt những tháng mà tôi cảm thấy ăn không ngon miệng thì một chế độ ăn uống đặc biệt từ trứng, sữa, đường và đồ hộp đã luôn luôn cho phép tôi ăn hết được khẩu phần cơm hàng ngày của mình. Tôi phải đặc biệt cảm ơn người trưởng trại của Trại số 1 cuối cùng mà sự ân cần của ông ấy đối với tôi không có lời ca ngợi nào diễn tả hết được.

        Cuối cùng để kết thúc, tôi cũng sẽ nói về công việc, sự hiểu biết kỹ thuật, lòng tốt và sự tận tâm của đội ngũ nhân viên bệnh viện “nấm” Tuyên Quang. Được xây dựng trong vòng có vài ngày với sự lao động miệt mài, những khu nhà được thiết kế cho hàng trăm bệnh nhân đã được bảo dưỡng và cải tạo từng ngày. Ở đây có một điều kiện vệ sinh chặt chẽ. Những điều trị và thuốc men đắt nhất đã được áp dụng ở đó. Một đội ngũ nhân viên gồm bác sĩ phẫu thuật, y tá cả nam và nữ luôn luôn tích cực hoạt động ngày và đêm khi cần thiết. Đối với mỗi bệnh nhân, một hồ sơ chi tiết cũng được lập và bác sĩ chăm sóc ghi rõ chế độ thức ăn phù hợp. Về phần tôi, tôi không còn phải nài nỉ đề nghị thay đổi chế độ ăn của mình hàng ngày nữa.

        Vì vậy ở Tuyên Quang, tôi đang chờ đợi trong sự tin tưởng tuyệt đối và được chăm sóc ân cần, đoàn y tế sẽ đưa tôi đến một vùng tạm thời dành cho đội quân viễn chinh. Trong cuộc đời tôi sau này, tôi sẽ không quên nhớ lại những điều đạt được về mặt tinh thần ở đất nước Việt Nam tự do.

        Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình muôn năm!

        Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đoàn kết hữu nghị vì một tương lai hợp tác có hiệu quả muôn năm!

(Hồ sơ: No 1359)       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #41 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:01:13 PM »

         
       Cảm tưởng của Trung úy Pierrard Lucien

        Hôm nay có biết bao tình cảm hỗn độn trong lòng tôi đến mức khó mà có thể sắp xếp cho có thứ tự. Một loạt những cảm nghĩ tràn ngập trong tôi. Để cho rõ hơn, tôi sẽ kể lại ở đây vài điểm nổi bật trong những ngày tôi bị bắt làm tù binh.

        Tôi đã bị Quân đội nhân dân Việt Nam bắt cách đây bốn năm rưỡi và ngay lúc ấy, tôi đã trở thành nạn nhân của một sự hỗn loạn sâu sắc. Sao nhỉ! Vì lẽ gì mà tôi đã đến đây đánh “quân phản nghịch”! Sao tôi lại tham gia vào một trận đánh đầy nguy hiểm!

        Ở thời kỳ này tôi đã bắt đầu hiểu rõ, nhưng cái ý nghĩ sai lầm và tai hại là người sĩ quan cần phải phi chính trị đã giam hãm tôi trong một sự im lặng hoàn toàn và trong một thái độ thù địch đối với mọi lời giải thích của các cán bộ Việt Nam.

        Tôi đã vượt ngục bằng cách sử dụng các phương tiện bạo lực. Tôi đã nhanh chóng hiểu ra rằng người ta không thể đánh lừa được sự cảnh giác của một dân tộc vừa đoàn kết vừa nhiệt tình. Bị bắt ngay lập tức, trong thâm tâm tôi đã nhận ra rằng tôi xứng đáng chịu hình phạt chặt đầu và cam chịu nỗi buồn kinh khủng vì đã gây ra cho bố mẹ tôi nỗi đau khổ này; tôi chờ bản án.

        Bản án đã đến dưới dạng thể hiện đầu tiên đối với tôi là chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ của Người: 45 ngày giam cách ly sau đó trở lại cuộc sống làm tù binh bình thường ở trại. Lúc đó tôi đã suy nghĩ, trầm ngâm và đầu tiên là thề trong lòng mình sẽ cư xử đúng đắn với nhà chức trách và nhân dân Việt Nam. Tôi đã suy nghĩ trong hai năm và một hôm, không có sức ép cũng như một ràng buộc nào, tôi đã quyết định rằng mình phải là một con người chứ không phải là một cái máy trong bộ quân phục. Vậy thì cái gì đã tạo điều kiện dễ dàng cho sự nhận thức này? Sau khi đã phân tích kỹ câu hỏi này, tôi đã đi tới xác định được yếu tố chính: tấm gương đầy xúc động trong cách đối xử của nhân dân Việt Nam. Quân đội thì nhiệt tình, đoàn kết, vui vẻ, gắn bó với nhân dân như tay với thân. Nhân dân cũng nhiệt tình, ý thức được là chỗ dựa chính cho cuộc kháng chiến và đã tin tưởng chắc chắn vào thắng lợi. Một chân lý hiển nhiên: chỉ có một sự nghiệp đúng đắn mới có thể khích lệ toàn dân tộc tới mức này.

        Thời gian tiếp theo không có chuyện gì cả. Tôi đã bắt đầu bằng việc tiếp nhận tài liệu và những bài học mà cán bộ Việt Nam giảng cho tôi. Tất nhiên là con đường không phải lúc nào cũng thẳng tắp và bằng phẳng. Đầu óc đầy mâu thuẫn của tôi và những biểu hiện cuối cùng của một người cổ điển đã “chọc gậy bánh xe”.

        Điều đầu tiên mà tôi đã trở thành một môn đồ say mê và hào hứng của nó là phê bình và tự phê bình. Đó chính là một trong những nền tảng của sự tiến bộ. Ví dụ như là tại sao nếu như cần 5 năm để kiến thiết lại Tuyên Quang thì việc đó sẽ chỉ làm trong 3 năm. Bởi vì phê bình và tự phê bình tạo ra sự phát triển và sự tiến bộ ổn định mà chúng có thể làm đảo lộn mọi kế hoạch.

        Thứ hai là việc khám phá ra cái mà một chế độ chính trị dựa vào hoà bình và hạnh phúc của nhân dân nhất định là chế độ duy nhất có thể tồn tại vĩnh viễn, bởi vì nó xuất phát từ nhân dân và vì nhân dân.

        Vì vậy, hôm nay niềm hy vọng trở lại trong tôi là sớm được gặp lại người thân của tôi. Tôi sẽ hướng về cái đã thúc đẩy sự tiến bộ của tôi và không cần làm những bài diễn văn dài, tôi xin cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ của Người, cảm ơn những người cán bộ và toàn thể nhân dân Việt Nam. Lòng biết ơn của tôi sẽ vững chắc như thép. Tương lai sẽ chứng minh cho lòng chân thành và niềm tin mới của tôi là: tôi đã sẵn sàng trở về với nhân dân Pháp và những chiến sĩ của hoà bình.

        Hoà bình ở Việt Nam muôn năm!

        Độc lập của Việt Nam muôn năm!

        Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Pháp muôn năm!

Ngày 12 tháng 8 năm 1954        

        Tái bút: Tình cảm được trở về đất nước tôi mạnh hơn lúc ra đi. Tôi có được tình cảm này là nhờ tất cả những người đã mở đôi mắt cho tôi. Từ tận đáy lòng mình, tôi xin được cảm ơn cán bộ và nhân dân Việt Nam về điều đó. Ý thức được sự cao quý và cần thiết của cuộc đấu tranh cho hoà bình, tôi hứa sẽ đứng vững trên con đường mà mình đã chọn, đứng trong hàng ngũ của nhân dân Pháp. Chúc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ và kiên cường gặp nhiều may mắn.

 
(Hồ sơ: No 1359)        
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #42 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:07:53 PM »


        Cảm tưởng của Trung úy Jégo Rémy

        Cảm tưởng nổi bật nhất của tôi có thể là những cảm tưởng của những ngày đầu bị bắt. Tôi đã khám phá một cách ngạc nhiên một thế giới mới, gương mặt thật của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến và tôi đã bị chinh phục một cách nhanh chóng.

        Bị bắt ngày 9 tháng 9 năm 1952 ở gần Kẻ Sặt, người ta đã cho tôi đi qua, với tư cách là một tù binh, những làng mạc mà cách đó vài ngày tôi vẫn thường đi qua với tư cách là một cán bộ của quân đội viễn chinh Pháp. Trước đây tôi đã có cảm giác rằng đó là một dân tộc sợ sệt buồn rầu và cam chịu. Phần lớn thời gian những người dân này lẩn tránh. Những người ở lại thường tránh cái nhìn của chúng tôi và chúng tôi thường được tiếp đón một cách e dè bởi một vài cụ già run rẩy. Ngược lại, ngay từ cái làng đầu tiên mà chúng tôi đi qua cùng với Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi thấy mọi người tươi cười, phấn chấn mỗi khi có đoàn quân đi qua. Tuy nhiên, trận chiến vẫn còn tiếp tục, nhưng mỗi khi chúng tôi đi qua thì mọi người lại ra khỏi căn hầm trú ẩn của họ và nói chuyện với những người lính dẫn tôi đi bằng những lời cổ vũ động viên.

        Tôi nhớ lại một chuyến thăm cách đó một vài ngày, có ông quận trưởng cùng đi và bây giờ tôi gặp lại những người dân này được tập hợp lại đồng thanh trả lời “vâng” cho mọi câu hỏi mà không hề ngẩng đầu lên. Thú thực tôi đang chờ để đón nhận những lời chửi bới, chế giễu, những lời nói căm thù và tôi rất đỗi ngạc nhiên bởi thái độ của họ đối với tôi. Buổi tối, trong một ngôi làng còn bị đặt dưới tầm bắn của đạn pháo mà từ đó người ta còn nhìn thấy làng bên cạnh bị bom na-pan đốt cháy, một người nông dân già nói với tôi về cuộc kháng chiến, về chính sách khoan hồng. Ông ấy làm cho tôi yên tâm về số phận của mình. Ông ấy cũng nói với tôi về nhân dân Pháp, về Henri Martin. Ông ấy còn cho tôi xem ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ông ấy giữ bên mình một cách cẩn thận. Với một sự kính cẩn, ông ta nói với tôi về con người vĩ đại này. Tôi sống như vậy 15 ngày ở tỉnh Hưng Yên giữa những người dân. Tôi được chứng kiến những làng mạc, đường sá, cả ngày lẫn đêm. Hoạt động về đêm thật kỳ diệu. Không cần những lời giải thích, mà chỉ cần quan sát, tôi đã hiểu rằng cuộc kháng chiến thật sự là của toàn dân, rằng nó đã đáp ứng khát vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam, rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ của Người thật sự là người đứng đầu của nước Việt Nam. Ngay sau đó tôi đã có thể đi sâu vào tâm hồn của cuộc kháng chiến và tôi đã hiểu rõ những mối quan hệ hữu nghị đang gắn nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp. Người ta không cần phải giải thích cho tôi thế nào là chính sách khoan hồng. Tôi đã chấp nhận nó ngay tức khắc. Ngày hôm sau nữa khi tôi bị bắt, người ta đã cấp cho tôi một món tiền. Được nhân dân nuôi dưỡng, tôi rất đỗi ngạc nhiên. Người ta giải thích cho tôi rằng đó là sự bù giá bằng 1.200 gam gạo mà tôi có quyền được hưởng và rằng tôi đã không ăn hết. Người ta khuyên tôi mua hoa quả, thuốc lá. Tôi đã so sánh với tình trạng của những người Việt Nam bị giam như là tôi đã nhìn thấy họ bị đối xử trong các đồn bốt. Nhất là tôi đã đo cái trách nhiệm mà tôi đã làm đối với nhân dân Việt Nam khi còn là thành viên của quân đội viễn chinh Pháp ở Viễn Đông.

        Là nhân chứng và cũng là tác giả của nhiều việc làm tàn bạo đang xảy ra ở Việt Nam, tôi cảm thấy mình có tội trước những con người dũng cảm này. Trong suốt buổi nói chuyện với ông nông dân già buổi tối đầu tiên, khi mà hàng loạt đạn pháo 105 ly dội như mưa xuống làng, tôi hiểu được lòng căm thù mà người dân ở đây có quyền thể hiện chống lại quân đội viễn chinh. Vì vậy trước sự đối xử dành cho tôi, tôi đã hiểu được ý nghĩa sâu sắc của chính sách khoan hồng.

        Tôi đã nhanh chóng có được một trạng thái tinh thần như vậy nhờ vào một thực tế cụ thể. Và từ đó tôi chỉ còn việc đi từ khẳng định này đến khẳng định khác. Chắc chắn là sau những ngày ở vùng đồng bằng này, những ngày đầu của cuộc sống tù binh sẽ khó khăn. Tôi đã phải thích nghi với một cuộc sống mới, với một chế độ ăn uống mới, phải đi bộ nhiều và vượt qua nhiều khó khăn. Nhưng tôi đã làm được điều đó, ý thức được hoàn cảnh của mình và cố gắng làm cho nó trở nên dễ chịu nhất có thể. Và chính vì vậy mà tôi đã đến Trại số 1, nơi tôi đã gặp lại rất nhiều bạn bè của mình. Tôi đã lo lắng cho số phận của họ, nhưng họ thì lại làm cho tôi yên tâm về số phận của mình và của chính tôi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #43 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:08:34 PM »

           
        Trong vòng hai năm, nhờ tiếp xúc với những cán bộ và chiến sĩ, càng ngày tôi càng hiểu sâu hơn tinh thần của cuộc kháng chiến và đã tự chinh phục mình hoàn toàn bằng khẩu hiệu đang khích lệ những người Việt Nam: “Hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc”. Tôi còn nhớ một buổi tối tháng 1 năm 1954, hôm ấy được triệu tập vì một công việc ở Ban giám đốc trại, tôi đã tình cờ được tham dự một cuộc họp của các cán bộ và chiến sĩ. Tôi rất muốn rằng những người bạn đồng hương của tôi được tham dự vào một cuộc họp như vậy để họ có thể thấy được tinh thần và sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Sau khi đã biết sự nhiệt tình của người dân vùng đồng bằng, tôi còn được biết đến sự nhiệt tình của người dân miền núi. Tôi đã chứng kiến sự đoàn kết của toàn thể nhân dân Việt Nam xung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ của Người, gắn bó với cuộc kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng, thiết tha với hoà bình, và làm bạn với các dân tộc khác. Gần đây nhất, tôi đã may mắn được chứng kiến nhân dân miền núi và nhất là thanh niên chuẩn bị cho cải cách ruộng đất trong niềm phấn khởi như thế nào.

        Biết nói gì về sự đối xử mà tôi đã nhận được về mặt vật chất cũng như về mặt tinh thần, trừ phi là tôi biết ơn sâu sắc và chân thành chính sách khoan hồng, biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - người khởi xướng ra nó và biết ơn toàn thể nhân dân Việt Nam đã áp dụng nó một cách vững vàng. Tôi đã luôn luôn tin tưởng rằng các cán bộ và chiến sĩ có nhiệm vụ chăm sóc chúng tôi đã thấm nhuần sâu sắc trước nhân dân Pháp. Họ đã luôn luôn lo lắng cho hạnh phúc và sức khoẻ của chúng tôi. Tôi xin kể lướt qua sự cố gắng của những người chiến sĩ “anh nuôi” đã bền bỉ đi khắp vùng nông thôn để tìm những thực phẩm cần thiết cho cuộc sống của chúng tôi. Và tôi thường thấy họ trở về sau những chặng đường đi bộ rất dài với gánh nặng trên vai. Tôi cũng kể ra đây sự quan tâm lo lắng của các cán bộ đối với việc phát triển trồng trọt. Việc trồng trọt này chỉ để cải thiện điều kiện sống của chúng tôi. Không áp đặt, việc trồng trọt này được tạo điều kiện thuận lợi. Và tất cả mọi người đều có thể tham gia và hưởng thụ một cách tự do thành quả lao động của mình hoặc là trực tiếp hoặc là bán cho ban quản lý trại để mua những thức ăn khác và đồ dùng hàng ngày. Chính vì vậy mà cá nhân tôi, tôi đã luôn có thuốc hút thoải mái hoặc là nhờ vụ thu hoạch của mình hoặc là nhờ có tiền bán gia cầm.

        Sự biết ơn này càng lớn hơn thế vì tôi nhớ tôi cũng đã là một người sử dụng tù binh Bắc Kỳ (PMT)1 và vì tôi so sánh thái độ đối xử với tôi với thái độ đối xử đối với những con người đáng thương, khốn khổ và bị khinh miệt này mà người ta đã sử dụng cho những hoạt động chiến tranh trong khi đó thì chúng tôi đã không làm gì khác ngoài những công việc liên quan tới đời sống riêng của mình. Sự biết ơn càng lớn hơn thế vì tôi nhớ lại đã tham gia vào những hoạt động mà hôm nay tôi cho rằng tàn nhẫn đối với nhân dân Việt Nam.

        Bởi vậy ý thức được và từ đáy lòng tôi đã chấp nhận tham gia vào cuộc đấu tranh vì hoà bình. Tôi đã hiểu rằng đó chính là bổn phận của mình, rằng tôi đã làm việc vì lợi ích của đất nước tôi và vì lợi ích của toàn thể các dân tộc. Mới đây, nhờ anh trai tôi, tôi đã biết được tầm vóc của những cuộc biểu tình đấu tranh của tù binh trên báo chí địa phương. Đặc biệt, anh tôi đã nói với tôi là rất tự hào được nhìn thấy chữ ký của tôi ở dưới một bức thư gửi tới Hội nghị Giơ-ne-vơ, tự hào rằng những người bạn cũ cùng trường của tôi đến cho anh tôi biết điều đó. Anh tôi là thợ lợp nhà, một người công nhân dũng cảm của nước Pháp. Sự đánh giá của anh ấy đã làm tôi thoả mãn. Tôi ý thức được là đã làm tròn bổn phận của mình và tôi sẽ có thể ngẩng cao đầu trước nhân dân Pháp. Tôi còn biết ơn nhân dân Việt Nam đã cho phép tôi có thể làm được điều đó. Ngoài ra sẽ rất công bằng khi chúng tôi, những tù binh, phải cảm ơn chính phủ Việt Nam vì đã quan tâm tới sự tiến bộ của chúng tôi.

-----------------
        1. Đây là cách gọi của quân đội Pháp đối với các chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam bị bắt làm tù binh trong các chiến dịch càn quét của địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #44 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:09:54 PM »


        Tôi tin rằng họ đã làm điều đó vì một mục đích cao thượng và vô tư và tôi đã luôn luôn khâm phục sự tận tâm của những người cán bộ đã “giúp đỡ” một cách chân thành những tù binh tìm ra con đường đúng đắn. Người ta đã nói nhiều tới sự tuyên truyền thuyết phục các tù binh, nhưng phải công nhận rằng những giờ học và những bài học mà chúng tôi nhận được chỉ nhằm giới thiệu cho chúng tôi một cách khách quan những vấn đề thời sự thế giới, đặc biệt là vấn đề hoà bình. Chúng tôi đã nghiên cứu cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nghiên cứu Liên bang Xô-viết mà nhiều người chưa biết tới, nghiên cứu vấn đề của CED... Những bài học này không áp đặt và sau khi đã học tập, tù binh đã có thể xác định được lập trường mà họ cần phải có. Nhiều người trong số chúng tôi đã nghiêng về vấn đề hoà bình, về số phận của các tầng lớp lao động và về số phận của các dân tộc bị áp bức. Bằng cách giúp đỡ họ, Chính phủ Việt Nam đã tuyên truyền rộng rãi cho hoà bình, cho tình hữu nghị và hạnh phúc của các dân tộc.

        Cuối cùng chúng tôi đã nhận được tin đình chiến với một niềm vui vô hạn. Điều tôi suy nghĩ về hiệp định đình chiến này đó là một thắng lợi lớn của các lực lượng hoà bình. Ngày hôm sau, trại chúng tôi đã vận động và các nhà chức trách Việt Nam đã không cần phải đợi một ngày để cho chúng tôi lên đường hồi hương. Trên đường đi chúng tôi đã gặp những trại khác cũng di chuyển. Ngay từ khi tôi đến điểm tập trung đầu tiên, tôi đã nhận thấy rõ hơn sự ân cần qua việc tổ chức. Chiếc xe dự kiến đã đợi đoàn chúng tôi đúng giờ ấn định, chuyển chúng tôi ngay tới trại tập trung của các đoàn hồi hương. Khi tới trại này, tôi đã ngạc nhiên một cách thú vị về tổ chức của trại: các khu nhà ở, bếp, nhà ăn... Để dựng lên khu trại này trong một thời gian ngắn, chắc chắn là cần phải có rất nhiều cố gắng của nhân dân. Nhân dân ở đây lại tiếp tục tận tụy đảm bảo một cách tuyệt vời việc phục vụ bếp núc và các dịch vụ khác. Cơ quan tổ chức nội vụ và các đơn vị Quân đội nhân dân đều tích cực và có hiệu quả. Buổi tối đầu tiên, tôi đã cảm động về buổi biểu diễn của đoàn văn công Quân đội nhân dân. Tôi đã có thể thật sự nhận thấy ý chí tôn trọng cam kết đình chiến của nhân dân Việt Nam và đặc biệt là thiện chí trả chúng tôi về gia đình sớm nhất. Đó là một kết cục đầy sức thuyết phục.

        Như vậy từ những ngày sống ở đất nước Việt Nam tự do, tôi đã rút ra cho mình một bài học làm người. Tôi đã không lãng phí thời gian của mình.

        Giờ đây tôi định làm gì? Tôi sung sướng có thể sớm được gặp lại gia đình và quê hương tôi. Nhưng tôi biết cái giá phải trả để giành được hoà bình. Tôi muốn cho mọi người biết giá trị của nhân dân Việt Nam và sự nghiệp chính nghĩa của họ. Tôi muốn làm việc để mà nền hoà bình này được bền vững, để mà tình hữu nghị giữa các dân tộc là một cái gì đó xúc động và là sự đảm bảo của hoà bình thế giới. Là một thành viên của quân đội Pháp, tôi muốn làm việc để đất nước tôi có một quân đội thật sự mang tính quốc gia và nhân dân nhằm bảo vệ lãnh thổ và tự do của chúng tôi nhưng sẽ không đi xâm lược các dân tộc khác, một quân đội xứng đáng với những truyền thống vĩ đại của Pháp về tự do, bình đẳng, bác ái.

Ngày 13 tháng 8 năm 1954         

        Tái bút: Trước khi rời Việt Nam tự do, tôi muốn gửi lời chào tới nhân dân Việt Nam, tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, tới Chính phủ và tới những người cán bộ và chiến sĩ của Quân đội nhân dân. Cảm tưởng cuối cùng mà tôi mang đi từ Việt Nam là cảm tưởng sâu sắc về hoà bình. Hoà bình đã thể hiện trên tất cả các khuôn mặt. Trước khi ra đi, tôi xin cảm ơn các bạn. Cảm ơn về điều kiện sống trong những ngày lưu trú bên các bạn, cảm ơn tấm gương tuyệt vời mà tôi sẽ mang theo và sức mạnh hoà bình mà tôi đã có được ở các bạn. Tôi sẽ luôn luôn đứng về phía các bạn cả trong suy nghĩ lẫn hành động. Tôi xin hứa sẽ xứng đáng với tấm gương của các bạn bằng cách đấu tranh tích cực vì nền hoà bình lâu dài ở Đông Dương, vì tình hữu nghị giữa các dân tộc, vì sự đảm bảo của hoà bình và hạnh phúc trên thế giới.

        Dân tộc Việt Nam muôn năm!

        Tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp muôn năm!

        Trại hoà bình muôn năm!

Ngày 18 tháng 8 năm 1954         
(Hồ sơ: No 1359)               
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #45 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:15:45 PM »

           
        Cảm tưởng về Việt Nam của cha tuyên úy Paul Guerry và Paul Guidon trước lúc hồi hương

        Sắp được hồi hương, trong cái tháng 9 đẹp trời này khi mà thiên nhiên dường như đang chia sẻ sự vui mừng của chúng tôi, chúng tôi rất sung sướng được cùng chia sẻ làn gió hoà bình đang tràn ngập toàn thế giới.

        Là những giáo sĩ ở Việt Nam, người thì từ nhiều năm, người thì từ năm 1949, chúng tôi chào đón buổi bình minh của hoà bình ở đây có thể còn với nhiều niềm vui và hy vọng hơn bởi vì đối với chúng tôi, Việt Nam là tổ quốc thứ hai của chúng tôi.

        Quả vậy, mỗi người giáo sĩ đều có hai tổ quốc, tổ quốc sinh ra họ và tổ quốc mà bề trên cử họ đến. Vậy mà do những hoàn cảnh đau thương của cuộc chiến tranh mà tổ quốc thứ hai của chúng tôi phải ở trong nỗi đau khổ: chúng tôi đã có thể hiểu được nỗi đau khổ này và theo khả năng của mình, chúng tôi cố gắng làm giảm bớt một chút nỗi đau thương đó trong phạm vi hoạt động mà bề trên đã cử chúng tôi đến để thực hiện việc truyền đạo của mình.

        Vì có những người bạn và những con chiên trung thành ở cả hai chiến tuyến nên chúng tôi đã rất buồn và từ đáy lòng mình, chúng tôi mong muốn kết thúc cuộc xung đột tàn bạo này.

        Từ khi hoà bình trở lại, chúng tôi sung sướng nhận thấy những bước đầu của sự hồi sinh trên đất nước này. Sau cơn giông tố, thiên nhiên có vẻ rạng rỡ hơn. Chúng tôi hy vọng và cầu mong cho Việt Nam một kỷ nguyên thịnh vượng và thật sự hạnh phúc. Chúng tôi tin tưởng ở Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã không ngừng khẳng định và nhấn mạnh sự tự do tín ngưỡng hoàn toàn để mà lợi ích tinh thần của Việt Nam tiến lên cùng nhịp với lợi ích chung.

        Để kết thúc, từ đáy lòng cùng với những người Việt Nam, chúng tôi hô “Việt Nam muôn năm!”. Hoà bình và thịnh vướng mãi mãi cho Việt Nam. Chúa hãy che chở bảo vệ Việt Nam!

        Tuyên Quang, ngày 3 tháng 9 năm 1954

        Linh mục Paul Guerry

        Giáo sĩ Hội thiên chúa giáo Sơn Tây

Linh mục Paul Guidon        
(Giáo sĩ)                    

       Tái bút: Hiệp định đình chiến này là một bước tiến lớn tới hoà bình vĩnh viễn và lâu dài ở Đông Dương và tới sự phát triển phồn vinh về thương mại giữa các dân tộc với dân tộc Pháp, nói tóm lại, tới tình hữu nghị giữa các dân tộc. Vậy đó cũng là một bước tiến trên con đường đúng đắn. Mọi người phải cố gắng để cho nhiều người khác theo bước tiến này nhằm đạt tới đích cuối cùng: Một nền hoà bình lâu dài.

(Hồ sơ: No 1490)        

        Cảm tưởng của những người lính Bắc Phi

        Từ khi chứng tôi bị bắt, chúng tôi đã được đối xử một cách công bằng. Chính sách khoan hồng của Ngài Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được lãnh đạo các cấp thực hiện một cách tỷ mỷ.

        Thái độ của các sĩ quan và bộ đội đã có tác dụng lớn đối với hoạt động tinh thần của chúng tôi. Thái độ đúng đắn, chân thành và đặc biệt là công minh chính trực này đã được tất cả những người chỉ huy, lãnh đạo cũng như cố vấn của chúng tôi đều công nhận.

        Điều đáng lưu ý là tất cả những người dân Việt Nam cho đến ngày hôm nay đều đã là những tấm gương cho chúng tôi, những tấm gương rất ấn tượng đối với những người Bắc Phi chúng tôi.

        Chúng tôi cảm phục tình cảm của tất cả những người đã luôn bảo vệ và tiếp đón chúng tôi nồng nhiệt. Mặc dù thường xuyên có những khó khăn lớn về lương thực thực phẩm, quần áo và đồ dùng cá nhân, chúng tôi đã nhận thấy rất rõ rằng những người Việt Nam đã làm hết sức mình để cung cấp cho những nhu cầu của chúng tôi.

        Hôm nay đây, rời mảnh đất Việt Nam, chúng tôi còn mang trong tận đáy lòng mình những kỷ niệm ân tình và nhất là những kỷ niệm về một tình yêu tổ quốc tương đương với tình yêu tổ quốc của chúng tôi ở mọi phương diện. Những ngày tháng lưu lại ở đây đã giúp chúng tôi mở mang đầu óc của mình đã bị chìm trong bóng tối và bị bọn thực dân - kẻ thù “số một” của các nước yêu chuộng tự do và hoà bình, điều khiển.

        Cái ách thực dân đã được lột bỏ khỏi Việt Nam sẽ bị tiêu diệt vĩnh viễn ở châu Phi. Và chính nhờ có chiến thắng vẻ vang này của Quân đội nhân dân Việt Nam mà thời kỳ này sẽ là tấm gương cho đất nước thân yêu của chúng tôi, đang bị chế độ bẩn thỉu của chủ nghĩa thực dân làm tổn thương, làm cho hèn hạ, chuyên chế và áp bức.

        Cuối cùng, gặp lại những người Việt Nam quang vinh - chủ nhân của đất nước - một lần cuối, thay mặt tất cả những người Bắc Phi, chúng tôi cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vì tất cả những che chở mà Ngài đã dành cho chúng tôi.

Ngày 31 tháng 7 năm 1954        

Wahel, Trung sĩ, 2/3 REI        
 (Người Tuy-ni-di)            
 (Hồ sơ: N o 1490)            
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #46 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:19:28 PM »


        Cảm tưởng của Hạ sĩ Canus Claude

        Trước khi rời nước Việt Nam Dân chủ, tôi nảy ra ý định đưa ra cảm tưởng của mình về những điều mà tôi nghĩ về nhân dân Việt Nam và về đội quân có tính tổ chức cao của họ.

        Có nhiều điều cần phải nói, trước hết tôi muốn khẳng định rằng tôi đã sung sướng được làm tù binh theo đúng nghĩa, bởi vì tù binh đương nhiên không có cuộc sống của một con người bình thường. Sung sướng được làm tù binh. Vâng, vì điều đó cho phép tôi học được rất nhiều điều trong những ngày lưu trú và nó đủ để cho tôi nhìn rõ sau tấm màn sắt như người ta nói ở Pháp.

        Biết được những gì đang xảy ra ở một nước dân chủ tự do, vì điều đó không phải người Pháp nào ở nước Pháp cũng làm được. Rất nhiều người Pháp chỉ biết qua báo chí đầy những điều giả dối bởi vì báo nào nói sự thật sẽ bị tịch thu ngay.

        Bởi vậy tôi sung sướng vì đã mang theo mình những sự thật về đất nước Việt Nam Dân chủ. Tôi sẽ vui mừng ngay khi trở về nước sẽ thông báo cho bố mẹ, bạn bè và tất cả mọi người biết những điều mà tôi suy nghĩ về một đất nước dân chủ đã được giải phóng khỏi chế độ thực dân và tư bản.

        Trước hết là những cảm tưởng của tôi về Quân đội Việt Nam mà tôi đã tiếp xúc với họ ở Điện Biên Phủ. Cuộc tiếp xúc đầu tiên của tôi với nước Việt Nam Dân chủ được thực hiện dưới những làn pháo kích. Đó là những trận đánh lớn mà ở đó Quân đội nhân dân bị xé lẻ đã cố gắng tổ chức lại trong khi quân đội viễn chinh Pháp bị mất tinh thần. Cuối cùng, tôi đã bị bắt làm tù binh và những tiếp xúc đầu tiên của tôi cũng bắt đầu với Quân đội nhân dân. Thật không thể nào tưởng tượng nổi đối với những ai chưa sống cuộc sống tù binh ở nước Việt Nam Dân chủ. Trước hết điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là ngay từ khi bị bắt, chúng tôi được coi không phải như những tội phạm chiến tranh mà như những nạn nhân của chủ nghĩa thực dân. Việc coi chúng tôi như là những nạn nhân đã làm nhiều người trong chúng tôi bị sốc và điều đó thức tỉnh đầu óc của chúng tôi.

        Sau khi tìm hiểu vì sao lại là nạn nhân, tôi đã hiểu rằng đúng vậy, vì một bè lũ thực dân đã lôi kéo rất nhiều thanh niên vào cuộc chiến tranh bẩn thỉu này bằng cách đưa ra những món tiền thưởng cho những thanh niên không kiếm nổi cuộc sống của họ do đường lối chính sách thực dân của chúng. Đúng vậy, đó thực sự là nạn nhân chứ không phải là tội phạm chiến tranh.

        Dấu hiệu đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và thủ lĩnh của họ đối với chúng tôi là một chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và những ngày lưu trú của chúng tôi qua đi, tôi luôn tìm hiểu xem có phải thật sự những người Việt Nam và nước Việt Nam tự do là đối thủ và kẻ thù của chúng tôi hay không. Từ đó, chúng tôi đã đến Trại số 42, nơi mà chúng tôi đã ở lại đó. Trong cái trại giam dường như là đáng ghét này, khi đến lại có những điều rất thú vị, nhưng lúc đầu thì không có cái gì được tổ chức để cho cái trại thoải mái dễ chịu cả. Thế rồi điều đó cũng đã đến và một lần nữa nhờ những bài học chính trị, những cuộc thảo luận và những buổi nói chuyện đã cho phép chúng tôi nghiên cứu sự thật. Tôi đã tham gia một cách hứng thú bởi vì đối với tôi đó là điều mà tôi đã tìm kiếm và cuộc sống của tôi trong trại trở nên tốt hơn. Tôi là người phụ trách học tập của trại, điều đó đã cho phép tôi thấy rõ hơn vấn đề. Cùng với tất cả những ý kiến của anh em trong trại về những buổi họp và thảo luận, tôi đã bắt đầu xây dựng cho mình một quan điểm mới và thu được những công trình nghiên cứu bổ ích. Và từ đó tôi đã cố gắng để giúp đỡ ban chỉ huy trại về vấn đề học tập nghiên cứu.

        Thời gian trôi đi, những kết quả luôn luôn thú vị đã đến và một hôm, tin vui lớn đã đến: đình chiến. Thắng lợi vĩ đại này là của nước Việt Nam Dân chủ và các nước Đông Dương. Cuộc đấu tranh vô cùng vĩ đại của nước Việt Nam Dân chủ đã đạt được mục đích của mình: Hoà bình.

        Rất nhiều tù binh cùng sung sướng vì ngày chiến thắng này, nhưng đáng tiếc cũng còn nhiều người không như vậy. Sung sướng vì tự do đã đến gần, nhưng riêng tôi, tôi biết rằng đó là một thắng lợi đối với các dân tộc ở Đông Dương chứ không phải đối với sự tự do của tôi. Bọn tư bản đã mất chỗ đứng sau 8 năm chiến tranh bị nguyền rủa nhiều bởi nhân dân Pháp.

        Ngày trở về đất nước của tôi đã đến gần, giờ đây tôi còn đang sống trong một cái trại mà người ta có thể nói là hiện đại, nơi mà chúng tôi đang chờ đợi ngày trở về và hôm nay, sau khi đã sống khoảng chục ngày trong trại này, chúng tôi đã biết ngày ra đi của chúng tôi vào đúng dịp trao trả tù binh. Chính vì điều đó mà trước khi ra đi, tôi muốn viết những cảm tưởng về cuộc sống tù binh của tôi ở một nước dân chủ, nơi mà tôi tiếc rằng rất nhiều bạn bè của tôi đã không thể hiểu thực sự đường lối chính sách mà Việt Nam đã thực hiện là như thế nào. Cuối cùng hoà bình đã trở lại và ngày hội hoà bình 15 tháng 8 là một bằng chứng đối với Việt Nam rằng mỗi một tù binh cũng sung sướng vì hoà bình. Và đối với tôi, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như đường lối hoà bình không thể bác được của Người chỉ để lại cho tôi một kỷ niệm tốt đẹp. Và hãy ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc của Người trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, vì đây là một sự nghiệp đúng đắn và hiệp định đình chiến mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra chỉ là một bằng chứng lớn cho hoà bình của đất nước mình.

        Tất cả những điều tôi đã có thể biết được về Việt Nam Dân chủ chỉ là những gì mà rất nhiều người trên thế giới còn chưa biết. Khi trở về Pháp, tôi sẽ lấy làm sung sướng được làm sáng tỏ sự thật cho bố mẹ và bạn bè tôi về cuộc chiến tranh ở Đông Dương và giải thích với họ một nước dân chủ và độc lập đang tìm kiếm hoà bình là gì.

Canus Claude, Hạ sĩ, 5è BPVN         
(Hồ sơ: No 1490)                       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #47 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:21:52 PM »


        Cảm tưởng của Binh nhì Mohamed Ben Lancen (bị bắt làm tù binh ở Ba Lai ngày 18 tháng 11 năm 1952)

        Trong những ngày phục vụ trong quân đội thực dân, tôi đã bị lừa bịp bởi chính sách dối trá của thực dân Pháp. Những lời gièm pha ác ý chống lại “Việt Minh” không chịu tiếp thu văn minh như tệ cướp phỉ, những kẻ thù nguy hiểm cần phải tiêu diệt. Khi bị bắt ngày 18 tháng 11 năm 1952, tôi đã hiểu ngay lập tức sự lừa bịp của những kẻ xúi giục chiến tranh và của bọn tư bản để làm giàu. Nói một cách khác là tôi đã đem xương thịt của mình làm mồi cho đại bác vì lợi ích của những tên thực dân Pháp trục lợi và những tên quan thầy của chúng là đế quốc Mỹ.

        Chính sách khoan hồng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ đối với chúng tôi là bằng chứng rằng nhân dân Việt Nam đã luôn luôn mong muốn hoà bình vì hạnh phúc và sự phồn vinh của đất nước. Sự đối xử đối với tôi ở trại giam đã rất nhân đạo. Mặc dù có rất nhiều khó khăn trong việc tiếp tế mặc dù nhân dân Việt Nam còn rất nghèo do sự tàn phá của 8 năm chiến tranh, nhưng các cán bộ của trại giam vẫn cung cấp đều đặn cho chúng tôi gạo, thịt và rau tươi cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của chúng tôi. Mỗi năm tôi được cấp hai bộ quần áo, màn, chăn và chiếu như là một chiến sĩ Việt Nam.

        Nhân dân Việt Nam anh hùng đoàn kết vì một lý tưởng đã chiến đấu bằng tất cả sức mạnh của mình để chiến thắng quân đội viễn chinh Pháp được trang bị vũ khí hiện đại và máy bay của Mỹ. Nguồn gốc thắng lợi của nhân dân Việt Nam chính là sự nghiệp đúng đắn vì nền độc lập dân tộc của mình, trong khi đó thì quân đội viễn chinh Pháp chiến đấu chỉ vì mục đích kiếm tiền. Đại đa số chúng tôi chỉ là con em công nhân được tuyển dụng vì sự đói nghèo và thất nghiệp.

        Hôm nay, hoà bình đã trở lại ở Việt Nam nhờ có sự hy sinh lớn lao của tất cả những người lao động thuộc tầng lớp công nhân và trí thức và nhờ có những anh hùng đã ngã xuống chiến trường. Vinh quang và lòng biết ơn thuộc về những con người này và không một nỗi khổ đau nào có thể ngăn cản được bước chân họ để cho Việt Nam tự do muôn năm, cho hoà bình muôn năm và trải rộng trên toàn thế giới. Tên tuổi của họ sẽ mãi mãi vẻ vang.

        Sau chính sách cải tạo tù binh và nhờ các cán bộ của Việt Nam, tôi đã nhận biết được sai lầm và sự mơ hồ của mình. Tôi đã hiểu rằng chỉ có một kẻ thù chung duy nhất là bọn thực dân Pháp và bọn đế quốc Mỹ, những kẻ xúi giục chiến tranh, kẻ thù của hoà bình thế giới và của phong trào tiến bộ của tất cả các dân tộc đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, kẻ thù của hạnh phúc trong mọi gia đình và của công ăn việc làm cho những ai cần có nó.

        Khi trở về đất nước mình, tôi có bổn phận phải đấu tranh, phải góp phần vào việc giải phóng đất nước tôi khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp bằng mọi phương tiện của mình. Bởi lẽ chừng nào còn bọn thực dân ở Bắc Phi thì nhân dân Bắc Phi sẽ còn là nô lệ và cuộc đời của họ sẽ mãi mãi khốn khổ dưới sự đô hộ của bọn thực dân tham tàn.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

        Hoà bình thế giới muôn năm!

Mohamed Ben Lancen, Bình nhì, 4/1 RTM         
(Hồ sơ: No 1490)                     


        Cảm tưởng của Binh nhì Pueye Ali

        Tôi vinh dự được bày tỏ rằng từ khi bị bắt ở Điện Biên Phủ cho đến nay, tôi đã được Quân đội nhân dân Việt Nam đối xử tử tế. Dọc đường đi, tôi được nhân dân tiếp đón chu đáo và nhường nhà cho chúng tôi trú chân. Đến trại tù binh, nhiều cuộc vui chơi được tổ chức. Chúng tôi chỉ phải làm việc ít, lại được chăm sóc, ăn ở tốt. Về mặt y tế các bác sĩ của Việt Nam là những người anh em, tất cả chúng tôi sống không có sự phân biệt.

        Trước khi rời trại, nhân dân đã đến thăm chúng tôi và tặng cho chúng tôi quà. Họ còn hát cho chúng tôi nghe và múa cho chúng tôi xem.

        Cảm ơn nhân dân Việt Nam cũng như các em học sinh đã cho mỗi người chúng tôi những kỷ niệm tốt đẹp và những lời khuyên bổ ích.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

        Nhân dân Việt Nam muôn năm!

        Quân đội nhân dân Việt Nam muôn năm!

        Tình hữu nghị giữa các dân tộc muôn năm!

Pueye Ali, Binh nhì, 2/4 RAC         
(Hồ sơ: No 1490)             
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #48 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:26:50 PM »


        Cảm tưởng của phân đội 1 thuộc đội số 2 của Trại 124

        Chúng tôi, những tù binh, nguyên là lính đánh thuê của phe tư bản, nhận thấy:

        a. Sự đón tiếp của nhân dân rất thiện cảm; chúng tôi thấy ở họ là những chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình. Buổi liên hoan tối ngày 5 tháng 8 năm 1954 đối với chúng tôi là một tối không thể nào quên. Nó lại một lần nữa giúp chúng tôi hiểu thêm về chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ của Người.

        b. Chúng tôi thấy ở nhân dân Việt Nam những con người yêu chuộng hoà bình và không giữ bất cứ một mối hận thù nào đối với kẻ thù cũ của họ.

        Chúng tôi cảm ơn nhân dân của nước Việt Nam tự do, bởi vì rằng chúng tôi được trở về nhà thế này chính là nhờ sự đấu tranh và sự đau khổ của họ.

        Chúng tôi hứa với nhân dân Việt Nam sẽ noi gương họ để đưa đất nước chúng tôi tới một cuộc sống tự do và một nền dân chủ. Chúng tôi cũng hứa với họ đấu tranh bằng tất cả sức mạnh của mình vì một nền hoà bình thế giới và lâu dài.

        Chúng tôi cũng nhận thấy rằng cuộc sống trong trại này là một cuộc sống dễ chịu và yên bình. Được như vậy là nhờ ở Ban chỉ huy của trại và nhất là nhờ công sức của nhân dân mà bằng lao động tự nguyện của mình, họ đã xây dựng cho chúng tôi một trại kiểu mẫu.

        Chúng tôi, những tù binh người Bắc Phi, nguyện sẽ nói hết tất cả những gì mà chúng tôi được tai nghe mắt thấy ở một đất nước Việt Nam tự do. Chúng tôi cũng nguyện bằng cách tốt nhất có thể, sẽ rút ra những bài học bổ ích thu được trong suốt thời gian chúng tôi bị giam giữ để chiến đấu cho tự do của đất nước chúng tôi hiện cũng đang bị bọn tư bản Pháp - Mỹ thống trị.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

        Nhân dân của nước Việt Nam tự do muôn năm!

        Tình đoàn kết giữa các dân tộc muôn năm!

        Hoà bình thế giới muôn năm!

        Sự hồi hương muôn năm!
(Hồ sơ: No 1490)       


        Cảm tưởng của Lán trại số 11, Đội số 19

        Cuộc tiến công bất ngờ, sau đó những loạt súng của đối phương đã khiến chúng tôi vô cùng ngạc nhiên. Chính trong cái trạng thái ngây dại mà chúng tôi đã tuân theo những mệnh lệnh ngắn gọn của các chiến sĩ Quân đội nhân dân một cách không hiểu rõ lắm. Cái nóng bức, những thao tác và những nghệ thuật sử dụng lợi thế đã giết chết các phản xạ của chúng tôi.

        Bị tước vũ khí nhưng không bị đối xử tàn bạo, những người lính chúng tôi ngồi cách đường nửa bước để chờ cho chiến trận xa dần. Mặt đất bị phủ đầy những thứ khác nhau: vỏ đạn, bi-đông, ga-men, cờ, mũ, những người bị thương máu me đầy người, và còn có cả những người bạn chiến đấu đã tắt thở - những người thanh niên dũng cảm, thiện chiến, những người bạn tuyệt vời mà người ta sẽ không còn nghe thấy tiếng cười của họ nữa. Lúc này đầu óc chúng tôi như bị rỗng vì sợ. Chúng tôi chưa có suy nghĩ gì nhiều. Suy nghĩ đầu tiên đến với chúng tôi là “làm sao mình lại thoát chết?”. Thật là kỳ lạ!

        Không lâu sau, những người lính Việt Nam quay trở lại. Và một cách nhanh chóng, chúng tôi đã phải vượt qua cái khoảng cách ngăn cách chúng tôi với một ngôi làng mà ở đó đã diễn ra một trận phục kích lớn. Tiếng đạn vẫn còn đang réo; không cần mệnh lệnh, đôi chân mệt mỏi vẫn cố sức đỡ thân hình chúng tôi. Máy bay vẫn đến bất thần. Chúng tôi phải ngụy trang và chúng tôi nhận thấy rằng những đợt tiến công bằng máy bay thật là vô bổ làm sao.

        Quân đội nhân dân nắm rất sâu nghệ thuật ngụy trang. Những người lính của họ đã dựng những cái cây dưới một lớp đất dày. Tận dụng lúc tạm thời yên ắng, bằng những bước đi gấp gáp, chúng tôi đã đi xa dần và đi hết làng này qua làng khác, chúng tôi đã đến được những nơi yên tĩnh hơn. Một ngày qua đi và màn đêm lại sắp buông xuống trên một góc của trái đất đã đánh dấu nỗi bất hạnh của chúng tôi. Tuy nhiên chúng tôi vẫn đo và sẽ đo cùng với thời gian xem còn gì bất hạnh hơn chúng tôi trong ngày hôm đó không.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #49 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 11:27:25 PM »


        Chúng tôi đã bỏ lại phía sau những ruộng lúa và một con đường lớn đã hiện ra cho những đôi chân vụng về của chúng tôi, không quen với những bờ ruộng nhỏ hẹp mà những người nông dân mảnh mai của Việt Nam đi rất khéo léo. Thỉnh thoảng lại vọng lên tiếng rít của máy bay và sự ra đi cáu kỉnh của nó thể hiện bằng những quả tên lửa. Nghe mệnh lệnh của những người lính gác, chúng tôi người thì nằm rạp xuống đất, người thì nấp sau những mô đất. Tất cả những cái đó diễn ra rất nhanh. Tuy nhiên chúng tôi vẫn nhận thấy tính kỷ luật cao ở những người dân thường cũng như những người lính Việt Nam. Cuối cùng đến một ngôi chùa, một sĩ quan Việt Nam đã tiếp chúng tôi một cách khẩn trương, thiện cảm và bảo đảm về số phận của chúng tôi.

        Như vậy đó, chúng tôi nghĩ đến điều tim mình còn đập và mình còn sống. Biết bao nhiêu chuyện bịa loan truyền trong hàng ngũ chúng tôi. Chúng tôi đã nghe người ta nói rằng đối phương không bắt làm tù binh. Ngạc nhiên vì vẫn còn được sống và yên tâm vì được nghe nói điều đó, chúng tôi tiếp bước phấn chấn hơn trên con đường trở về thủ đô. Những người thường dân quan sát chúng tôi một cách tò mò nhưng cũng tỏ ra lịch sự mặc dầu trước đó ít phút, có một nhóm nói một vài lời bằng ngôn ngữ của chúng tôi đã làm nổ ra một sự tức giận có thể giải thích được.

        Chúng tôi vẫn tiếp tục bước đi; thật là một sự nghỉ ngơi kỳ cục đối với một ngày nặng nhọc. Nhưng còn nói gì được khi chúng tôi đang là tù binh. Một ngôi làng hiện ra và chúng tôi dừng ở đó để qua đêm. Buổi sáng từ rất sớm chúng tôi lại lên đường, đi được ít lâu thì đến một trại giam. Nó không giống trại giam chút nào cả và đoàn chúng tôi đã vào trong đó. Biết nói gì đây. Đúng hơn là chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên bởi vì nó khác xa điều chúng tôi tưởng tượng. Chúng tôi điền vào một vài tờ khai những thông tin cần thiết. Người ta nói với chúng tôi một cách tử tế hoàn toàn không có cảm giác của người bị bắt. Chúng tôi được ăn nhiều món ăn lạ nhưng mà thịnh soạn. Những người bạn khác của chúng tôi cũng vừa đến. Chúng tôi không còn đơn độc nữa. Đáng tiếc đó chỉ là một cái trại tạm thời. Chúng tôi đã có thể quen với những thú vui mới của cuộc sống giam cầm này.

        Lại tiếp tục đi, chúng tôi đã lần lượt vượt qua nhiều làng mạc, những cánh đồng, những ruộng lúa, nơi mà những người nông dân Việt Nam đang bận rộn. Đó là những nơi rất đẹp. Chúng tôi muốn có thể dừng lại đây để thăm và có thể hiểu biết về đất nước này trong những lúc bình yên hơn. Chúng tôi luôn luôn đi về phía trước. Khắp nơi nhân dân Việt Nam đều bận rộn với công việc. Không có cánh tay nào được nhàn rỗi. Khắp nơi trên các cánh đồng cũng như đường sá, người thì lao động, người thì sửa chữa. Những con người dũng cảm này đã cho chúng tôi một tấm gương và một sự can đảm biết bao nhiêu. Mặc dù phương tiện còn nghèo nàn, nhưng những cánh đồng rất đẹp và những con người luôn nở nụ cười tươi.

        Sau không biết bao chặng đường đã đi, một ngày lại kết thúc. Một nhóm tù binh đến bên khu rừng trống và được tin rằng họ sắp được trả lại tự do. Thật là vui biết bao! Thật là may mắn biết bao! Đó là điều không thể tưởng tượng nổi. Đước mặc quần áo mới từ đầu đến chân: Vâng1 Không gì có thể nghiêm túc hơn thế nữa. Dép cao su, quần dài, áo vét, sơ mi trắng, mũ nan, túi dết, tất cả những cái đó đã được trao cho chúng tôi, mặc dầu còn rất nhiều khó khăn trước mắt, nhưng nhân dân Việt Nam, những người đã cho chúng tôi rất nhiều, một lần nữa lại hào hiệp may cho chúng tôi những bộ quần áo này. Không hề có một mối thù hằn nào mặc dù phải chịu đựng những hy sinh mất mát và đau khổ, đó là tư tưởng của dân tộc này. Điều đó đã khiến chúng tôi vô cùng xúc động. Ít ngày sau, chúng tôi đã đến một thị trấn vào dịp lễ hội. Đón chúng tôi bằng những lá cờ Việt Nam, bằng những lá cờ hoà bình và những khẩu hiệu chào mừng, chúng tôi bước vào trong một cái trại được xây dựng trong một thời gian kỷ lục, một thành tựu mới của dân tộc phi thường này. Những cái lán bằng gỗ được dựng ở phía hai bên phải và trái của một khoảng không gian rộng rãi và đẹp tuyệt vời. Ở giữa là chim bồ câu biểu tượng của hoà bình. Toàn bộ đều sạch sẽ đã làm mọi người hài lòng. Ngày hôm sau, chúng tôi đã được những người dân của thị trấn chào đón thân mật trong một ngày lễ hội mà không một ai sẽ có thể quên được. Những bài hát đồng ca, những bài dân ca Việt Nam dịu dàng mà rất tiếc là chúng tôi còn biết rất ít, rồi những bài diễn văn chào mừng đã được tiến hành để giúp chúng tôi khuây khoả. Dân tộc này tốt biết bao nhiêu đối với tất cả chúng tôi.

(Hồ sơ: No 1490)       
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM