Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Mười Một, 2020, 09:36:47 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn  (Đọc 30155 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #80 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2016, 07:58:16 am »


Bọn tàn quân Thanh phải theo đường tắt, chạy băng qua cánh đồng Lưu Phái, Quỳnh Đô ở khoảng giữa đường thiên lý và sông Tô Lịch. Chúng qua cầu Vĩnh (hay cầu Viềng ở xã Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội) để mong tránh sự bao vây của quân Tây Sơn, tìm đường vòng về phía tây trốn về Thăng Long. Nhưng vừa qua khỏi cầu Vĩnh thì một điều bất ngờ khủng khiếp mới lại ập đến với bọn chúng. Một đạo quân Tây Sơn có nhiều voi chiến yểm hộ, bỗng nhiên xuất hiện chặn kín mọi ngả đường tháo chạy của chúng. Đây là đạo quân do đại đô đốc Bảo chỉ huy, theo kế hoạch của Quang Trung, đã được lệnh tiến lên lợi dụng địa hình vùng Ích Vĩnh, Quỳnh Đô bố trí sẵn một trận địa chờ địch.

Đạo quân của đại đô đốc Bảo đã chăng sẵn một mẻ lưới bủa vây và tiêu diệt toàn bộ tàn quân địch ở đây. Từ Đại Áng, đạo quân này đi theo con đường qua các làng Vĩnh Trung, Vĩnh Thịnh (thuộc xã Thanh Hưng, Thường Tín, Hà Tây), Lạc Thị (xã Ngọc Hồi, Thường Tín, Hà Tây) tiến lên khu đầm Mực. Một bộ phận của đạo quân này bố trí ở phía bắc làng Quỳnh Đô để chặn đường rút chạy của quân Thanh về Thăng Long. Một bộ phận nữa từ phía nam làng Ích Vĩnh sẵn sàng tiến lên, dồn ép quân địch vào khu đầm Mực.

Quân Thanh vừa qua khỏi cầu Vĩnh thì cả hai ngả đường dọc theo bờ phải sông Tô Lịch, ngả phía bắc và phía nam đều bị chặn đánh. Sau lưng chúng, quân chủ lực của Quang Trung và cánh quân vu hồi chặn địch cùng phối hợp đuổi theo ráo riết, cả ba mặt, phía bắc, phía nam và phía đông, quân địch đều bị bao vây, uy hiếp mãnh liệt. Chúng không còn con đường tháo chạy nào khác ngoài hướng duy nhất là đâm đầu vào khu đầm Mực ở phía tây.

Quân địch bị dồn vào bước đường cùng. Chúng còn khoảng vài vạn quân nhưng chỉ là một khối người rã rời kiệt sức về thể xác và kinh hoảng đến tuyệt vọng về tinh thần. Từ ba mặt, quân ta khép chặt vòng vây, dồn ép chúng vào khu đầm Mực lầy lội, um tùm mà tiêu diệt. Quân Thanh "hết hồn hết vía, vội trốn xuống đầm Mực làng Quỳnh Đô”"quân Tây Sơn lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạn người”1. Toàn bộ bọn tàn quân địch ở đồn Ngọc Hồi đều bị tiêu diệt, trong đó có cả tổng binh Trương Triều Long. Một số tên lẩn trốn vào các làng xóm chung quanh cũng bị nhân dân giết chết hoặc bắt nộp cho quân Tây Sơn.

Chỉ trong sáng ngày mồng 5 tháng Giêng Tết Kỷ Dậu, quân Tây Sơn đã phá tan đồn lũy Ngọc Hồi, tiêu diệt toàn bộ quân địch khoảng 3 vạn tên ở Ngọc Hồi và đầm Mực. Quân Tây Sơn đã nhanh chóng tiêu diệt một cứ điểm then chốt nhất của quân địch, đập nát hệ thống phòng thủ của chúng ở phía nam Thăng Long, mở toang cửa ngõ tiến vào giải phóng kinh thành, uy hiếp đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long. Đạo quân chủ lực của Quang Trung và đạo quân của đại đô đốc Bảo đã hoàn thành hết sức rực rỡ nhiệm vụ nặng nề của hướng tiến công chủ yếu, trong đó trận Ngọc Hồi - Đầm Mực giữ vai trò quyết chiến có ý nghĩa quyết định.
_____________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #81 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2016, 11:04:50 pm »


*
*   *

Cũng vào sáng ngày mồng 5 tháng Giêng, lúc trời còn tối, khi đạo quân chủ lực tiến đánh đồn Ngọc Hồi thì trên hướng tiến công phối hợp, đạo quân của đô đốc Đông cũng đồng thời mở cuộc tiến công hết sức bất ngờ vào đồn Đống Đa.

Đồn Đống Đa tuy không kiên cố như đồn Ngọc Hồi, nhưng cũng giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ Thăng Long của Tôn Sĩ Nghị.

Quân Thanh lập đồn trại ở Đống Đa là để khống chế con đường cái từ Tam Điệp ra phía tây - nam Thăng Long, đề phòng cuộc tiến công của quân Tây Sơn theo hướng này và bảo vệ trực tiếp cửa ô Thịnh Quang, một cửa ngõ phía tây - nam thành Thăng Long.

Tại đồn Đống Đa, quân Thanh không xây dựng công sự, đắp chiến lũy, mà chỉ dựa vào địa hình và làng mạc bố trí doanh trại.

Phía bắc trại Khương Thượng xưa kia là một cánh đồng rộng và cao. Đây là trường thi võ đời Lê, gọi là trường thi bác cử.

Quân Thanh chiếm cánh đồng cao ráo ở phía bắc trại Khương Thượng để dựng đồn trại, sở chỉ huy của Sầm Nghi Đống đặt trên núi Cây Cờ tức Loa Sơn. Đó là một điểm cao lợi hại có thể bao quát cả khu đồn trại và kiểm soát con đường vào Thăng Long. Doanh trại quân lính xây dựng chung quanh sở chỉ huy bao gồm cả hai bên đường cái. Để canh phòng từ xa và bảo vệ đồn Đống Đa, Sầm Nghi Đống còn lập một số đồn binh nhỏ ở chung quanh.

Đóng giữ đồn Đống Đa là đạo quân Điền Châu, Triều Châu. Đặc điểm của đạo quân này là số lượng khá đông - ước đoán khoảng vài vạn quân - nhưng chất lượng không đều và khá ô hợp. Sầm Nghi Đống có một đội quân hộ vệ riêng rất trung thành và tinh nhuệ gọi là thân binh chỉ độ mấy trăm người. Số quân lính Điền Châu và Triều Châu - gọi là thổ binh - được điều động cho Sầm Nghi Đổng cũng chỉ có 2.000 người. Đó là những lực lượng nòng cốt của quân địch ở đồn Đống Đa. Ngoài ra là những quân lính mới tuyển mộ trên đường sang xâm lược nước ta, trong số cư dân vùng biên giới và một số dân phu trong các công trường khai mỏ, gọi chung là "nghĩa dũng". Trong cuộc tiến quân sang xâm lược nước ta hồi cuối năm 1788, Sầm Nghi Đống chỉ trổ tài bằng cách chiêu nạp nhiều "nghĩa dũng" và càn quét vùng Cao Bằng, Thái Nguyên. Hắn được vua Thanh thưởng cho cái lông công cắm lên mũ gọi là "đeo hoa linh".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #82 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2016, 11:05:43 pm »


Sự bố trí lực lượng phòng thủ quanh Thăng Long càng chứng tỏ Tôn Sĩ Nghị tuy có phòng bị mặt tây - nam nhưng với tư tưởng chủ quan, coi thường, cho rằng quân Tây Sơn ít có khả năng tiến công theo hướng này. Với sự phán đoán chủ quan của kẻ xâm lược, Tôn Sĩ Nghị nghĩ rằng quân Tây Sơn dù có tiến công ra Thăng Long cũng không thể đi theo con đường khó khăn, trắc trở đó. Ý định ấy càng được củng cố khi hắn được tin quân Tây Sơn đang tâp trung lực lượng đánh ra mặt nam Thăng Long. Hắn chỉ lo tăng cường lực lượng cho tuyến phòng thủ phía nam và sẵn sàng điều động cả đạo quân chủ lực ở đại bản doanh chi viện cho tuyến xung yếu này.

Đạo quân Tây Sơn làm nhiệm vụ tập kích tiêu diệt đồn Đống Đa do đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy. Đạo quân của đô đốc Đông phải hành quân bí mật, đi theo một con đường núi đã bế tắc, phải mở lấy đường mà đi và khắc phục nhiều trở ngại của núi rừng. Nhiệm vụ đó đòi hỏi tướng chỉ huy không những phải giàu nghị lực, có tài tổ chức, mà còn phải am hiểu cặn kẽ địa hình và đường đi lối lại trong vùng. Đặng Tiến Đông quê ở Lương Xá (Chương Mỹ, Hà Tây), nằm trên vùng con đường "thượng đạo" đi qua nên đáp ứng hơn ai hết yêu cầu trên. Đạo quân của đô đốc Đông không nhiều lắm - chỉ khoảng một vạn quân - nhưng theo kế hoạch phối hợp của Quang Trung, phải bất ngờ đánh úp, tiêu diệt đồn Đống Đa thật nhanh, gọn. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó, quân đội Tây Sơn cần được sự tham gia, hỗ trợ trực tiếp của nhân dân xung quanh đồn địch. Đặng Tiến Đông sinh ra và lớn lên ở gần Thăng Long, lại thuộc dòng dõi một họ lớn có nhiều bà con thân thuộc và bạn bè quanh vùng. Ông có nhiều điều kiện thuận lợi nhất để cử người ra bí mật vận động nhân dân các làng xã xung quanh đồn Đống Đa sẵn sàng phối hợp với quân Tây Sơn bao vây, tiêu diệt đồn giặc. Hưởng ứng sự vận động đó, nhân dân 9 làng xã vùng này đã lấy rơm bện thành hình những "con rồng" lớn rồi tẩm dầu và các loại nhựa dễ cháy, cất giấu sẵn trong nhà để đến ngày diệt đồn sẽ đốt cháy, tạo thành lưới lửa bao vây và thiêu hủy đồn giặc phối hợp với quân Tây Sơn. Giao cho Đặng Tiến Đông chỉ huy đạo quân vu hồi đánh thọc sâu vào đồn Đống Đa, Quang Trung không những tín nhiệm ông mà còn xét đoán và sử dụng rất đúng tài năng của ông.

Tối mồng 4 tháng Giêng, đạo quân của đô đốc Đông đã bí mật tiến về phía Nhân Mục (xã Nhân Chính, Từ Liêm, Hà Nội). Sáng mồng 5, trước giờ tiến công, lúc trời còn tối mù mịt, quân Tây Sơn nhanh chóng vượt qua sông Tô Lịch, bí mật áp sát đồn Đống Đa, hình thành sẵn thế trận bao vây tiến công.

Đạo quân của đô đốc Đặng Tiến Đông gồm kỵ binh và tượng binh, tuy không nhiều nhưng có sức cơ động nhanh và đột phá mạnh. Quân đội cũng được trang bị nhiều hỏa hổ và đại bác đặt trên mình voi chiến. Cuộc tiến công bắt đầu vào khoảng cuối canh tư (khoảng 3 giờ sáng). Bằng khí thế áp đảo quân thù, quân Tây Sơn với đội hình đã bày sẵn, xông thẳng vào đồn trại của địch. Quân ta đột phá các doanh trại phía ngoài rồi nhanh chóng đánh thọc vào sở chỉ huy của địch, Sầm Nghi Đống cố đốc thúc quân lính chống cự nhưng không sao đương nổi sức tiến công mãnh liệt của quân Tây Sơn. Chỉ trong chốc lát, số quân Thanh bị chết và bị thương đã lên đến 5.000 người, Sầm Nghi Đống phải bỏ các doanh trại bên ngoài, rút về bảo vệ sở chỉ huy trên Loa Sơn để chờ quân cứu viện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #83 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2016, 11:07:36 pm »


Cùng lúc đó, xung quanh đồn trại của địch đột nhiên xuất hiện một hàng rào lửa dày đặc. Đó là "trận rồng lửa" (hỏa long trận) của nhân dân địa phương góp sức cùng với quân đội Tây Sơn diệt giặc.

Quân địch đang choáng váng vì đòn tiến công bất ngờ của quân Tây Sơn lại càng khiếp đảm trước lưới lửa bao vây trùng điệp của nhân dân. Trong đêm tối, chúng chỉ còn trông thấy bốn bề lửa cháy rực trời, tiếng reo hò dậy đất. Đồn trại của địch tan vỡ nhanh chóng. Quân địch đang lúc đêm tối, tự xéo lên nhau mà chạy. Các mũi tiến công của quân Tây Sơn lao vào chém giết như vào chỗ không người.

Từ trên sở chỉ huy, Sầm Nghi Đống thấy rõ đã lâm vào cảnh thế cùng lực kiệt: chống đỡ không nổi, quân cứu viện không có, phá vây không được. Hắn tuyệt vọng, thắt cổ chết ngay tại sở chỉ huy. Đội thân binh trung thành của hắn cũng tự sát theo chủ tướng đến vài trăm tên.

Đồn Đống Đa bị tiêu diệt vào lúc trời chưa sáng. Quân Tây Sơn thừa thắng tiêu diệt luôn các đồn Yên Quyết, Nam Đồng rồi nhanh chóng tràn vào cửa ô tây - nam thành Thăng Long.

Sau trận đánh, hàng vạn xác giặc nằm ngổn ngang khắp chiến trường từ trại Khương Thượng, Thịnh Quang đến trại Nam Đồng. Khi thu dọn chiến trường, quân dân ta đã nhặt xác giặc, xếp thành từng đống rồi đắp đất lên thành những gò đống lớn. Đó là lối chôn cất cổ truyền của nhiều nước phương Đông vừa có ý nghĩa biểu dương chiến công, để lại một di tích chiến thắng cho muôn đời con cháu, vừa nhằm cảnh cáo kẻ thù. Những đống xác giặc đó gọi là Kình nghê kinh quán, có nghĩa là gò đống lớn vùi xác quân giặc hung dữ ví như loài cá kình, cá nghê ngoài biển cả (là loại cá to hay đuổi bắt loại cá nhỏ mà ăn). Mười hai gò đống như vậy đã xuất hiện trên trận địa ngày hôm qua như những chiến tích bất diệt của dân tộc. Trong bài Loa Sơn điếu cổ, nhà thơ Ngô Ngọc Du đã ca ngợi võ công oanh liệt của quân dân ta gắn liền với những chiến tích đó:

      Thành Nam thập nhị Kình nghê quán,
      Chiếu diệu anh hùng đại võ công.


Nghĩa là:
      Phía nam thành, mười hai gò xác giặc
      Rạng rỡ võ công lớn của anh hùng.

Tuy vậy, mười hai gò lớn vẫn chưa vùi hết xác quân xâm lược, đây đó trên cánh đồng vẫn còn nhiều xác giặc chôn rải rác. Chứng cớ là năm 1851, khi đào đất để đắp đường, mở chợ ở khu vực này, người ta còn tìm thấy nhiêu xương cốt và thu nhặt đem chôn vào một hố, đắp thành gò thứ 13.

Trải qua năm tháng, trên các gò đống đó, cây cối mọc um tùm, nhiều nhất là cây đa. Với tên đất sẵn có, nhân dân thường gọi những gò đống đó là “gò Đống Đa” và cùng có những gò đống đó là “xứ Đống Đa”1.
_____________________________________
1. Cho đến giữa thế kỷ XIX, các gò Đống Đa vẫn còn y nguyên. Nhưng đến bản đồ Hà Nội năm Tự Đức thứ 26 (năm 1873) thì chỉ còn thấy sáu gò trong khu vực ghi là "Đống Đa xứ”. Trong khoảng đời Nguyễn và Pháp thuộc, những chiến tích lịch sử đó không được bảo vệ nên đã bị phá hoại dần, nhiều gò bị san bằng. Hiện nay chỉ còn lại hai gò được gọi là gò Đống Đa, tức gò thứ 13 đắp thêm năm 1851 (trên gò này có đền Trung Liệt nên còn gọi là gò Trung Liệt) và gò Đống Thiêng (trong khu Thái Hà ấp, trên gò này trước đây có chùa của làng Thịnh Quang, gọi là chùa Thiêng). Phía sau chùa Bộc, giáp chùa Đồng Quang còn có gò Đầu Lâu nhưng gò đã bị phá từ lâu, nhân dân chỉ còn ghi nhớ vị trí và tên gò.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #84 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2016, 11:09:45 pm »


*
*   *

Tại đại bản doanh đóng ở cung Tây Long bên bờ sông Nhị, Tôn Sĩ Nghị và bộ chỉ huy quân Thanh đang lo lắng theo dõi chặt chẽ diễn biến của mặt trận phía Nam.

Sáng mồng 4, tuy hắn có bị sửng sốt về cuộc tiến công bất ngờ của quân Tây Sơn nhưng vẫn chủ quan , về sức mạnh của quân Thanh và sự phán đoán đúng đắn của hắn. Hắn tập trung sự chú ý vào mặt trận phía Nam và sẵn sàng tung đạo quân chủ lực chi viện cho đồn Ngọc Hồi khi cần thiết. Cứ khoảng chốc lát lại có một kỵ binh tin cậy mang tin tức của mặt trận phía Nam về đại bản doanh cho Tôn Sĩ Nghị. Nhưng như tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã nhận xét: "Ý của Nghị chỉ lo có một mặt đó, không ngờ lại có mặt khác ập tới".

Sáng mồng 5, lúc canh tư, Tôn Sĩ Nghị đột nhiên nghe tiếng súng nổ liên hồi ở phía tây - nam thành Thăng Long. Hắn vô cùng kinh ngạc, vội sai thám tử cấp tốc phi ngựa ra xem xét tình hình. Sau đó ít lâu, khoảng đầu canh năm lính kỵ mã ở đồn Ngọc Hồi lại phi báo cho hắn biết: đồn Ngọc Hồi đang bị đánh dữ dội. Hắn đang băn khoăn chưa kịp điều quân đi tiếp ứng cho mặt trận phía Nam thì thám tử vừa sai đi đã trở về báo tin: đạo quân Điền Châu, Triều Châu đã tan vỡ, đồn Đống Đa có nguy cơ bị tiêu diệt. Ngay sau đó, hắn lại được tin quân Tây Sơn đã ập vào cửa ô thành Thăng Long "đốt giết lung tung, khói lửa bốc lên đầy trời"1.

Theo kế hoạch của Quang Trung, trong khi đạo quân chủ lực công phá đồn Ngọc Hồi, thì đạo quân của đô đốc Đặng Tiến Đông bất ngờ tập kích tiêu diệt đồn Đống Đa, rồi nhanh chóng thọc sâu vào thành Thăng Long, uy hiếp đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị. Do đó, mờ sáng ngày mồng 5, lúc đồn Đống Đa sắp bị tiêu diệt, đô đốc Đặng Tiến Đông đã hết sức khẩn trương, mau lẹ, đem đội kỵ binh tiên phong của mình đánh thọc vào Thăng Long. Như một mũi dao nhọn, đội kỵ binh Tây Sơn lao thẳng về phía cung Tây Long. Đấy là hành động bất ngờ, táo bạo mà Tôn Sĩ Nghị không thể nào lường trước được. Trong một bài văn bia đương thời, Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm đã ca ngợi hành động của Đặng Tiến Đông: "Ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm"2.
____________________________________
1. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.
2. Tông đức thế tự bi tại chùa Thủy Lâm (Lam Điền, Chương Mỹ, Hà Tây). Bài văn bia do Phan Huy Ích soạn, Ngô Thì Nhậm nhuận sắc, khắc ngày 15 tháng 6 năm Cảnh Thịnh thứ 5 (ngày 9-7-1797).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #85 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2016, 11:12:07 pm »


Những tin tức khủng khiếp của mặt trận phía Nam và phía tây - nam đồng thời đến với Tôn Sĩ Nghị như những đòn trời giáng. Cả một đạo quân chủ lực còn nguyên vẹn trong tay, nhưng viên chủ soái của quân Thanh hoảng hốt, không còn biết xoay xở, đối phó thế nào. Như trong bản tâu gửi về triều đình nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị cảm thấy "quân giặc nhiều quá" và quân Thanh đã bị "vây kín bốn mặt". Hắn "sợ mất mật""ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng Bắc mà chạy"1. Viên thiên tổng Tiết Trung phải dắt cương ngựa cho Tôn Sĩ Nghị chạy trốn và phó tướng Khánh Thành đi theo hộ tống.

Chủ tướng bỏ chạy, "quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều"2. Tình hình hỗn loạn đến mức độ, tổng binh Lý Hóa Long chạy đến giữa cầu phao cũng bị quân lính đẩy ngã nhào xuống sông. Thật là một cuộc tháo chạy thảm hại, nhục nhã.

Qua khỏi cầu phao sang bờ bắc sông Nhị, Tôn Sĩ Nghị lại sợ quân Tây Sơn lợi dụng cầu phao đuổi theo. Chỉ lo bảo toàn tính mạng của bản thân, viên bại tướng đó không ngần ngại ra lệnh cắt đứt cầu phao để chẹn phía sau.

Hành động ích kỷ và tàn nhẫn của Tôn Sĩ Nghị đã làm cho hàng vạn quân Thanh bị dòng nước sông Nhị cuốn trôi. "Cầu gẫy, người bị chết vô kể”"nước sông Nhị vì thế mà tắc nghẽn không chảy được”3. Số quân Thanh không kịp qua cầu phao cũng tìm mọi cách liều lĩnh vượt sông. Có bọn cướp được một số thuyền buôn và thuyền đánh cá đang đỗ bên bờ sông nhưng rồi chúng tranh nhau xuống thuyền đông quá nên hầu hết cũng bị đắm. Có bọn thì buộc giáo, mác, khiên, mộc lại thành từng bó để làm bè vượt sông. Vừa lúc đó, quân Tây Sơn ập tới. Số phận quân Thanh chưa kịp qua sông đã được định đoạt: nếu không vùi xác theo dòng sông Nhị thì cũng bị chém giết hoặc bắt làm tù binh. Một số tàn quân trốn tránh vào các xóm làng thì sau đó, trong vòng 10 ngày, đều phải ra đầu thú.

Số phận đám quân Thanh đóng ở bờ bắc sông Nhị cùng với số tàn quân vượt qua cầu phao chạy trốn theo Tôn Sĩ Nghị cũng không may mắn hơn bao nhiêu. Bọn chúng bị quân Tây Sơn truy kích phía sau và đến Phượng Nhân lại bất ngờ bị đạo quân của đô đốc Lộc chặn đánh. Tôn Sĩ Nghị và bọn tàn quân không dám chạy theo đường cái. Chúng phải luồn rừng, lội suối, leo núi đường đi quanh co rẽ ngang rẽ dọc... luôn luôn lạc lối không tìm được nẻo đi và đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi. Tôn Sĩ Nghị phải vất bỏ tất cả mọi thứ mang theo kể cả sắc thư, kỳ bài, quân ấn chủ soái do vua Thanh ban cho, để lo chạy thoát thân. Theo Minh đô sử thì điều đáng tiếc là đạo quân của đô đốc Lộc trong khi vượt biển vì gặp gió đông - bắc nên tập kết ở sông Lục Đầu hơi chậm. Do đó, đạo quân này chưa kịp bịt kín hết các ngả đường như kế hoạch của Quang Trung đã đề ra, "nếu đến sớm vài ngày thì quân Thanh đã bị bắt hết, không còn sót một mống”.

Nhưng cuối cùng, chỉ còn độ ba, bốn chục tên thoát chết trở về nước mang theo tin bại trận thảm hại. Đó có lẽ là nhóm tàn quân chạy theo Tôn Sĩ Nghị và về đến biên giới sớm nhất. Ngoài ra còn có những bọn chạy tán loạn vào rừng và trong khoảng một tháng sau mới lục tục tìm đường về nước. Theo lời tâu của Tôn Sĩ Nghị thì số lính sống sót chạy về Quảng Tây trước sau cả thảy hơn 5.000 người. Một bọn hơn 500 người trốn tránh trong núi rừng, bị lạc đường, cuối cùng chạy bạt về Vân Nam. Khí thế chiến thắng vang lừng của quân Tây Sơn và cảnh trốn chạy tả tơi của bọn tàn quân địch làm cho quân Thanh ở vùng biên giới cũng hốt hoảng. "Từ cửa ải Nam Quan trở về Bắc, trai gái, già trẻ bồng bế dắt díu nhau chạy trốn suốt vài trăm dặm lặng ngắt không một bóng người"4.
____________________________________
1-4. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #86 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2016, 11:12:31 pm »


Đạo quân Thanh đóng ở Hải Dương cũng bị đánh tan. Riêng đạo quân Vân Nam do đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy ngày 21 tháng Chạp năm Mậu Thân (ngày 16 tháng 1 năm 1789) đến Tuyên Quang và những ngày cuối năm đó mới đến Sơn Tây. Vừa đóng quân được mấy ngày thì được tin Tôn Sĩ Nghị bại trận, cả đạo quân này hốt hoảng tháo chạy về nước. Không bị tiến công nhưng đạo quân Ô Đai Kinh cũng bị tan vỡ và rút chạy trong cảnh hỗn loạn. Qua vùng Tuyên Quang, chúng lại bị một đội dân binh dân tộc Tày do Ma Doãn Dảo chỉ huy chặn đánh. Chúng càng hoảng sợ, chen lấn, xô đẩy nhau giành đường về nước và một bộ phận khá đông tán loạn vào núi rừng. Một toán quân do Phùng Chấn Tiên cầm đầu, bị lạc đường chạy sang Quảng Tây. Theo lời tâu của tổng đốc Vân Quý là Phú Cương thì trong đạo quân Ô Đại Kinh có một số không thấy trở về, trong đó có một viên vũ cử (cử nhân võ), một viên ngoại ủy (võ quan cấp dưới) và mấy chục tên lính.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến thật là rực rỡ, chói lọi. Toàn bộ quân xâm lược Mãn Thanh khoảng 29 vạn quân cùng với vài vạn quân của bù nhìn Lê Chiêu Thống đã bị đánh tan tành, bị tiêu diệt đại bộ phận và bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Trong bốn đạo quân Thanh thì ba đạo, trong đó có đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị, bị tiêu diệt gần hết và một đạo không bị đánh mà cũng tan tác. Hàng loạt tướng soái cao cấp của địch bị bỏ mạng: đề đốc phó tướng Hứa Thế Hanh, phó tướng Hình Đôn Hạnh; các tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Lý Hóa Long; tri phủ Sầm Nghi Đống; các tham tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm. Đó là chưa kể một số võ quan khác cũng bị chết trận như: Minh Trụ, Trương Thuần, Vương Đàn, Trương Hội Nguyên, Lưu Việt; đô ty Đặng Vinh Lượng, thủ bị Lê Trí Minh, tri huyện Vi Thiên Quỳ, kinh lịch Trương Thành. Số quân Thanh đầu hàng và bị bắt làm tù binh có đến vài vạn.

Vua Càn Long, Tôn Sĩ Nghị cho đến các sử thần nhà Thanh đều cố che đậy thất bại thảm hại của quân Thanh và tìm cách biện bạch trách nhiệm của vua quan nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị thì đổ tội cho Lê Chiêu Thống mới nghe tin "Nguyễn Huệ thân hành đem binh đến đánh" đã "mất cả hồn vía" và bỏ chạy trước làm cho "binh sĩ hoang mang rối loạn”. Điều đó thật oan uổng cho tên vua bù nhìn này. Sáng mồng 5, đang ở trong cung điện, được tin quân Thanh bại trận, Tôn Sĩ Nghị rút chạy, Lê Chiêu Thống vội vàng bám gót chạy theo. Nhưng ra đến bờ sông thì cầu phao đã bị cắt, hắn hoảng sợ theo bờ sông chạy lên Nghi Tàm, cướp được chiếc thuyền đánh cá chèo qua sông. Hắn tìm đường chạy lên ải Nam Quan mới gặp Tôn Sĩ Nghị để bắt đầu cuộc sống lưu vong nhục nhã nơi đất khách quê người. Vua Càn Long nhà Thanh thì cho rằng quân Thanh bại trận là vì "Trời đã chán ghét họ Lê" và Tôn Sĩ Nghị sau khi chiếm được thành Thăng Long, không chịu rút quân về nước như chỉ dụ của nhà vua. Vị hoàng đế nhà Thanh còn lo xa, viết hai bài An Nam ký sựAn Nam thủy mạt sử ký với mục đích: "Sợ người đời sau không hiểu cái kế nặng nhẹ lâu dài của ta cho nên bày tỏ mà chép ra đây”. Thực ra, trước đó, chính vua Thanh đã cho phép Tôn Sĩ Nghị tiến quân vào tận sào huyệt Quảng Nam để "bắt sống Nguyễn Huệ” hoặc tiến quân đe dọa buộc Nguyễn Huệ đầu hàng. Vì vậy, tuy quy trách nhiệm cho Tôn Sĩ Nghị, vua Thanh không dám xử tội bại tướng họ Tôn. Vua Thanh có thu hồi tước công nhưng vẫn coi Tôn Sĩ Nghị là người "xuất sắc trong hàng tổng đốc" và triệu về kinh cho giữ chức thượng thư rồi bổ làm tổng đốc Tứ Xuyên, thăng lên tổng đốc Lưỡng Giang.

Về căn bản, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Thanh đã kết thúc từ sáng ngày mồng 5 tết với chiến thắng có ý nghĩa quyết định của trận Ngọc Hồi, Đống Đa.

Mờ sáng ngày hôm đó, sau khi tiêu diệt đồn Đống Đa một cách chớp nhoáng, đạo quân của đô đổc Đặng Tiến Đông là lực lượng Tây Sơn đầu tiên tiến vào giải phóng kinh thành Thăng Long. Đến trưa, sau khi quét sạch quân Thanh ở mặt trận phía Nam, đạo quân chủ lực của Quang Trung cùng với đạo quân của đại đô đốc Bảo, đội ngũ chỉnh tề, tư thế hiên ngang, tiến vào kinh thành. Từ cửa thành phía nam, Quang Trung thấy lá cờ đỏ bách chiến bách thắng của quân đội Tây Sơn đã tung bay trên bầu trời Thăng Long và đô đốc Đông đem quân ra đón tiếp. Quang Trung trên mình voi chiến, với chiếc áo chiến bào đen sạm khói súng qua những ngày đêm chiến đấu ác liệt, dẫn đầu đoàn quân chiến thắng. Nhân dân kinh thành tràn ngập trong niềm vui khải hoàn, đổ ra chật phố phường hoan nghênh, đón chào người anh hùng vĩ đại của dân tộc vừa lập nên những chiến công thần kỳ, giải phóng hoàn toàn kinh thành và đất nước khỏi ách chiếm đóng của quân xâm lược Mãn Thanh, giữ vững nền độc lập tự do của Tổ quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #87 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2016, 01:40:02 pm »


Câu hỏi 14: Trình bày một số bài học kinh nghiêm về nghệ thuật điều hành chiến tranh của Nguyễn Huệ và về mối quan hệ giữa quân Tây Sơn với nhân dân Thăng Long trong sự nghiệp đánh tan thù trong giặc ngoài?
Trả lời:


Một là, nắm vững nhân tố chính trị, nhân tố chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng, thu phục lòng dân ở Bắc Hà và ở Thăng Long, tạo nên sức mạnh đánh địch to lớn.

Trong hoàn cảnh Nam - Bắc phân chia dẫn đến kỳ thị Đàng Trong - Đàng Ngoài, trước những luận điệu phản động của bọn thống trị coi phong trào Tây Sơn là giặc cướp, gọi lãnh tụ của họ là phản nghịch thì việc thu phục được lòng dân Bắc Hà và Thăng Long về phía nghĩa quân không phải là dễ dàng, đơn giản.

Tháng 6 năm 1786, sau khi hạ thành Phú Xuân, tiêu diệt địch ở sông Gianh, Nguyễn Huệ có quyết định sáng suốt là tiến ra Đàng Ngoài tiêu diệt tập đoàn chúa Trịnh. Tình hình Đàng Ngoài lúc đó hỗn loạn. Kẻ thù chính của nhân dân lúc này - họ Trịnh - cũng là đối tượng mà Nguyễn Huệ chủ trương đánh đổ. Hành động tiến ra Bắc Hà của quân Tây Sơn phù hợp với lòng dân, chính vì vậy ngay khi được tin đạo quân của Tây Sơn tiến đánh Vị Hoàng, nhân dân Bắc Hà đã nô nức chờ đón, nhiệt liệt hoan nghênh và hăng hái tham gia phong trào diệt Trịnh. Chỉ trong vòng một tháng, Nguyễn Huệ đã lật nhào ách thống trị kéo dài gần 300 năm của họ Trịnh. Nếu không có sự ủng hộ của nhân dân Đàng Ngoài, nhất là nhân dân Bắc Hà - Thăng Long thì dù Nguyễn Huệ và các tướng lĩnh của ông có tài thao lược đến mấy cũng không thể có chiến thắng to lớn và mau lẹ như vậy.

Với chiến thắng này, lòng dân Bắc Hà ngả theo Tây Sơn, vừa ca ngợi tài năng và đức độ của người anh hùng áo vải, vừa mến phục đội quân có kỷ luật, biết giúp dân, khác xa với lũ kiêu binh của nhà Lê - Trịnh. Những luận điệu vu khống xuyên tạc nhằm vào quân Tây Sơn bị bác bỏ nhanh chóng. Việc Nguyễn Huệ duy trì triều vua Lê Hiển Tông sau khi diệt họ Trịnh, lập lại trật tự ở Thăng Long rồi sau đó rút vào Nam đã gây ấn tượng tốt đẹp trong lòng dân chúng và sĩ phu Bắc Hà.

Khi 29 vạn quân Thanh tràn sang xâm lược Đại Việt, bọn Lê Chiêu Thống cam tâm làm bức màn che đậy cho hành động xâm lược của giặc, không ít người Bắc Hà đã gia nhập đội quân "Cần vương". Trong tình thế chính trị lúc đó và nhất là trong thế so sánh lực lượng quá chênh lệch, quân Tây Sơn ở Thăng Long đã rút lui về Tam Điệp - Biện Sơn. Nguyễn Huệ đã khen ngợi và tán thành kế hoạch "cho giặc ngủ trọ một đêm rồi đuổi chúng đi" của Ngô Thì Nhậm. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Huệ đã nắm rất chắc tình hình, chứng tỏ nhân quan chiến lược quân sự của ông dựa trên một nhân quan chính trị tỉnh táo, nhìn xa, trông rộng. Thời gian "ngủ trọ" cũng là thời gian đủ để kẻ thù bộc lộ bản chất của chúng là quân xâm lược và bè lũ bù nhìn bán nước. Tất nhiên đến lúc đó, toàn dân nước Việt mà trước hết là dân chúng Bắc Hà, người Thăng Long đã hướng về phía những lực lượng giữ nước, ủng hộ quân Tây Sơn và sẵn sàng quy tụ dưới cờ nghĩa của anh hùng Nguyễn Huệ.

Nhìn lại các võ công hiển hách của Quang Trung - Nguyễn Huệ có thể thấy rõ sức mạnh của quân Tây Sơn bắt nguồn từ sức tiềm tàng của nhân dân, từ truyền thống anh hùng của dân tộc. Quang Trung sở dĩ đánh đâu thắng đấy, đã đánh là thắng trước hết vì các cuộc chiến đấu của ông đều nhằm những mục đích chính trị tiến bộ, chính nghĩa: giải phóng dân tộc, chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc.

Nguyễn Huệ hiểu rõ thế nào là sức mạnh của nhân dân và đã biết khơi dậy, tập hợp được sức dân đi với mình. Tài khôn khéo của Nguyễn Huệ là biết chỉ ra kẻ thù chủ yếu của từng thời kỳ. Khi ra Bắc lần đầu ông nêu khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh"; trước họa xâm lăng, ông chỉ đích danh: kẻ thù là bọn Tôn Sĩ Nghị, lên án Lê Chiêu Thống rước ngoại xâm vào giày xéo non sông, giết hại giống nòi. Vì vậy nhân dân Bắc Hà đã đứng về phía Nguyễn Huệ, ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của Tây Sơn. Đó là một nhân tố khiến cho quân Tây Sơn đã lập nhiều chiến công trong sự nghiệp đánh đuổi thù trong giặc ngoài.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #88 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2016, 01:40:31 pm »


Hai là, vận dụng nghệ thuật quân sự tài giỏi, Nguyễn Huệ và các tướng lĩnh Tây Sơn đã biểu lộ một nghệ thuật quân sự rất cao, tạo nên được một thế trận đánh giặc tài tình trong 6 ngày đập tan 29 vạn quân xâm lược ở kinh đô và vùng phụ cận.

Lần đầu trong lịch sử nước ta, một phong trào nông dân vươn lên đảm nhiệm và hoàn thành nhiệm vụ dân tộc. Khí thế của phong trào quần chúng khởi nghĩa được nhân lên gấp bội với lòng yêu nước, chí căm thù và tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc. Quân đội Tây Sơn trong hành quân cũng như trong chiến đấu được sự tham gia ủng hộ về mọi mặt của nhân dân. Tự nguyện gia nhập nghĩa quân, giữ bí mật cho các cánh quân tiếp cận mục tiêu, tiếp tế lương thực cho quân đội... đó là những biểu hiện sinh động của một "cuộc chiến tranh nhân dân phát triển ở trình độ cao trong thời đại phong kiến".

Phát huy sức mạnh vật chất và tinh thần lớn lao của chiến tranh nhân dân, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã biết tạo nên "một thế trận rộng rãi mà hiểm, táo bạo mà rất vững". Thế trận ấy kết hợp giữa chính binh và kỳ binh, đánh chính diện với đánh cạnh sườn, với chia cắt thọc sâu, vu hồi bao vây chiến lược. Tất cả các cánh quân đều cùng một lúc tiến công vào toàn bộ đội hình chiến lược của địch, làm cho chúng lâm vào tình thế bị chia cắt, buộc phải bị động đối phó, mất hết quyền tự do hành động. Thế trận chung ấy lại tạo điều kiện để xây dựng thế trận bộ phận trong từng khu vực và để hiệp đồng chặt chẽ giữa các cánh quân. Trong từng trận cũng như trong cả hội chiến, quân ta ít, quân địch đông, mà đâu đâu ta cũng chủ động đánh địch trên thế mạnh, áp đảo và giành thắng lợi giòn giã.

Lực lượng của quân đội và nhân dân, thế trận chiến lược và chiến thuật, chỉ huy tác chiến tài giỏi, tất cả các nhân tố ấy tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, đại phá nhanh chóng một kẻ địch đông và mạnh hơn ta. Với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã đưa nghệ thuật quân sự truyền thống cả nước đánh giặc, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh của dân tộc ta lên một bước phát triển mới, sáng tạo xuất sắc.

Ba là, khéo léo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao. Từ kinh đô Thăng Long, Quang Trung chủ trương "giảng hòa với nước lớn", nhằm nhanh chóng lâp lại quan hệ bang giao hòa hiếu, giữ vững hòa bình, xây dựng đất nước.

Đối với Quang Trung, phương lược tiến đánh ông đã trù liệu từ trước và dự kiến khoảng 10 ngày có thể đuổi được quân Thanh. Người xưa gọi đó là "thần toán". Nhưng sâu xa hơn, ông đã tính trước một cách tỉnh táo, không chủ quan rằng đối phương là một nước lớn gấp mười nước mình, thua trận này ắt vì thể diện nước lớn mà lo báo thù. Ông nghĩ rằng, vì thế chiến tranh sẽ không bao giờ kết thúc, không phải là phúc cho dân, nên lúc ấy phải "giảng nghĩa hòa mục" để xếp bỏ binh đao, có nghĩa là dùng ngoại giao để hòa giải với nhà Thanh, chấm dứt chiến tranh.

Chính sách ngoại giao của nhà Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Quang Trung là rất khôn khéo: vừa cương, vừa nhu, vừa linh hoạt, chủ động. Đó là ngoại giao của một nước nhỏ nhưng là nước chiến thắng; mềm dẻo nhưng kiên quyết, nhằm đẩy lùi thái độ trịch thượng và âm mưu thôn tính của nước lớn.

Mục tiêu lâu dài, ý đồ chiến lược hằng ấp ủ của Quang Trung là tranh thủ điều kiện hòa bình để nuôi dưỡng lực lượng cho nước giàu quân mạnh, là củng cố nền độc lập bền vững bằng cách khẳng định cương vực, cải thiện thế nước, làm nản mưu đồ chiến tranh xâm lược của quân thù mà hầu như đời nào cũng xảy ra.

Như vậy là thắng lợi rồi mà Quang Trung vẫn dành ưu tiên cho việc "dưỡng tinh sức nhuệ", chăm lo xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, làm cho "quốc phú binh cường" nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược: tăng cường thế phòng thủ, đẩy lùi hiểm họa ngoại xâm, giữ yên hòa bình, xây dựng đất nước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #89 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 07:38:12 am »


Câu hỏi 15: Hãy cho biết một số hoạt động ngoại giao Việt - Thanh dưới thời vua Quang Trung?
Trả lời:


Sau khi 29 vạn quân Thanh đại bại, vua Càn Long nghiến răng căm giận, đòi Tôn Sĩ Nghị về kinh hậu cứu, cử Phúc Khang An làm tổng đốc lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây), đốc suất binh mã 9 tỉnh, đem 50 vạn quân, định ngày kéo đến ải Nam Quan, chực quyết một phen sống mái với quân Tây Sơn để rửa cái nhục thua trận trước.

Nhưng còn đang trù trừ trước mưu định ấy, Khang An đã được ngay một bài học trước mắt: 29 vạn quân không thấy đâu cả, bấy giờ chỉ thấy Sĩ Nghị chiếc thân lếch thếch, tiều tụy trong bộ áo một viên tướng bại trận, chết hụt trốn về! Khang An lại sợ oai phong của vua Quang Trung và tinh thần anh dũng của quân Tây Sơn, nên không ngần ngại bỏ "chiến" mà chủ "hòa" nhưng khéo lót miệng bằng câu: "Nam Bắc tắt được binh lửa, thật là phúc lớn cho sinh linh và cũng là cái may to cho kẻ biên thần".

Vua Quang Trung định tạm gác binh đao, muốn giải quyết việc giao thiệp với nhà Thanh bằng cách hòa bình.

Dân Thanh bấy giờ vì tin lời đồn đại, tưởng Tây Sơn sẽ kéo sang tận nội địa Trung Quốc, nên họ mới vội vã kéo nhau chạy trốn. Thực ra, vua Quang Trung khi đó vẫn chủ trương hòa bình. Chính nhà vua đã tỏ ý ấy trong thư viết cho Thang Hùng Nghiệp, binh bị đạo ở Quảng Tây: "Bộc tòng vô xâm biên phạm cảnh dĩ đắc tội vu Thượng quốc" (Tôi không hề có ý xâm phạm biên cảnh để mắc tội với Thượng quốc).

Nhà vua nghĩ: nước nhà sau cơn nguy biến, nguyên khí đã kiệt, cần phải bổ dưỡng ít lâu mới khôi phục được nguyên trạng. Vì vậy, chính sách khôn khéo bấy giờ là phải hòa hoãn với Thanh để mình có đủ thì giờ mà mài nanh rũa vuốt.

Kế hoạch ấy đã định, Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung giao nhiệm vụ tiến hành công việc ngoại giao.

Bấy giờ nhà Thanh đã gờm, có ý muốn hòa, nên Tả giang binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Tây Sơn gợi ý bảo vua Quang Trung nên nhân dịp này, vận động lên thế vị họ Lê. Nghiệp sẽ đứng trong, ngầm giúp cho chóng nên việc.

Nhận được bức thư mật ấy của Thang Hùng Nghiệp, vua Quang Trung biết người Thanh ra mặt làm hòa, chứ chẳng dám giở trò gì nữa, nên mới chịu cho người đứng lên dàn xếp như vậy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM