Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Tư, 2020, 12:19:46 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ mặt trận HN đến các chiến trường  (Đọc 24484 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #60 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:01:12 AM »


        Đêm 22 tháng 2 năm 1947, Bộ chỉ huy tổ chức mít tinh mừng chiến thắng của trung đoàn Thủ Đô, có đầy đủ các đại biểu, các cơ quan Đảng, chính, dân. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, nhân danh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chính thức tuyên dương công trạng của trung đoàn Thủ Đô. Trong bài diễn văn của đồng chí, có đoạn nói: “Trung đoàn Thủ Đô đã tượng trưng một quân đội của một dân tộc nhỏ yếu quyết tâm không muốn làm nô lệ và đã ngang nhiên chống lại quân đội một nước lớn, đội quân hùng mạnh của chủ nghĩa đế quốc”. Cuối cùng, đồng chí nói: “Hôm nay tôi thay mặt Chính phủ chính thức trao danh hiệu “Trung đoàn Thủ Đô” cho các đồng chí. Thay mặt Bộ Quốc phòng và Quân đội quốc gia, tôi tặng các đồng chí một lá cờ thêu tên “Trung đoàn Thủ Đô” để nêu cao tấm gương anh dũng của các đồng chí”.

        Đêm hôm ấy, một đêm tưng bừng rộn rã. Các chiến sĩ hô lớn khẩu hiệu: “Quyết chiến thắng quân thù!”, rồi hát vang:

        “Hà Nội ơi! Hà Nội ơi!
        Ngày mai ca vang đời mới huy hoàng...”.

        Dưới sự lãnh đạo trực tiếp vô cùng sáng suốt của Trung ương Đảng và sự chỉ huy tài tình của Bộ Tổng chỉ huy, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã làm cho giặc Pháp phải kinh hoàng với tinh thần chiến đấu vô cùng anh dũng, sức kiên trì chịu đựng trước gian nan thiếu thốn, đằng đẵng 60 ngày đêm căng thẳng và quyết liệt. Quân và dân Thủ đô giam chân địch tại Hà Nội để hậu phương kịp huy động và tổ chức lực lượng kháng chiến lâu dài, tiêu diệt một phần sinh lực của chúng, bảo vệ các cơ quan của Đảng xà Nhà nước rút an toàn về căn cứ chỉ đạo kháng chiến, bảo vệ hàng chục vạn đồng bào Thủ đô thoát khỏi bàn tay đẫm máu của bọn thực dân xâm lược Pháp. Các lực lượng vũ trang của Hà Nội không những không bị tiêu diệt, mà còn lớn mạnh không ngừng về mọi mặt. Từ 5 tiểu đoàn độc lập, dần dần phát triển thành 8 tiểu đoàn, và sau khi trung đoàn Thủ Đô rút khỏi Hà Nội thì xung quanh Hà Nội lực lượng Vệ quốc quân đã lớn lên thành 5 trung đoàn bộ đội chính quy.

        - Trung đoàn 80 (tức trung đoàn 48 hiện nay) gồm tiểu đoàn 523, 145 và 77 bố trí ở khu vực Văn Điển, Thường Tín giữ trục đường số 1 Hà Nội - Nam Định.

        - Trung đoàn 35 phụ trách con đường Hà Nội - Hà Đông - Hoà Bình.

        - Trung đoàn 37 (tức trung đoàn 66 hiện nay) gồm trung đoàn 9 và 13 sáp nhập làm một, phụ trách con đường Hà Nội - Sơn Tây.

        - Trung đoàn Thủ Đô, lấy tiểu đoàn 101 làm nòng cốt trưởng thành trong Liên khu 1. Sau khi rút ra, về nghỉ ngơi và huấn luyện tại khu vực Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, rồi trở về trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy.

        - Trung đoàn Tây Tiến (tức trung đoàn 52 hiện nay) gồm tiểu đoàn 212 của Hà Nội sáp nhập với tiểu đoàn 62 của Khu III tổ chức thành, về hoạt động ở tỉnh Hoà Bình.

        Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy, mỗi trung đoàn chỉ để lại một đại đội gọi là “biệt động đội” lưu động trong khu vực trung đoàn phụ trách, luôn luôn bám sát địch hoạt động đánh lẻ làm chậm bước tiến của chúng. Còn toàn bộ trung đoàn ở phía sau học tập chính trị, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật xây dựng lực lượng để chuẩn bị bước sang giai đoạn làm nhiệm vụ mới và khi cần thiết thì cơ động đi tác chiến.

        Từ ngày trung đoàn Thủ Đô rời khỏi Liên khu I, các đơn vị bắt đầu về hậu phương xây dựng lực lượng, đến ngày 2 tháng 3 năm 1947, tức là sau hai tuần lễ, giặc Pháp mới mở các đợt tấn công ra các làng mạc thuộc ngoại thành Hà Nội như Yên Duyên, Khuyến Lương và Giáp Tứ, Giáp Bát. Ngày 3 tháng 3, quân địch mới tiến quân vào thị xã Hà Đông. Mỗi bước đi của giặc Pháp đều gặp sự chống cự quyết liệt của nhân dân và bộ đội xung quanh Thủ đô Hà Nội.

        Lực lượng để kháng chiến lâu dài đã được huy động và chuẩn bị sẵn sàng...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #61 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:02:15 AM »


PHẦN THỨ BA

TIẾNG VANG BẤT TẬN

        Từ “Những ngày đầu kháng chiến” đến nay đã gần 20 năm. Thủ đô anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng đã viết lên những trang sử oanh liệt bằng xương và máu còn lưu truyền mãi mãi.

        Giặc Pháp đưa vào Hà Nội một lực lượng quân sự mạnh hơn ta gấp bội. Riêng về quân chủ lực thì chúng nhiều hơn ta 3 lần, vũ khí bộ binh gấp 9 lần, pháo binh gấp 6 lần. Các loại xe cơ giới (xe tăng, xe bọc sắt, xe vận tải ), ca nô, tàu chiến và máy bay thì giặc Pháp chiếm ưu thế tuyệt đối, quân ta hoàn toàn không có. Giặc Pháp là một đội quân nhà nghề chuyên đi xâm lược, chúng có bộ máy chỉ đạo chiến tranh và cơ quan tham mưu hoàn chỉnh, là một quân đội đế quốc dã man và tàn bạo. Bọn thực dân Pháp đã cai trị nước ta hơn 80 năm, nên chúng thông thuộc địa hình từ biển khơi đến rừng núi, thành phố đến làng mạc, quen cả thổ ngơi và thời tiết khí hậu. Chúng cũng hiểu rất rõ tình hình kinh tế nước ta, một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, sau 80 năm bị chúng và tay sai vơ vét kìm hãm. Nhưng có một điều chúng không thể hiểu được, (mặc dầu chúng đã ở trên đất nước ta ngót một thế kỷ) đó là tinh thần yêu nước, chí quật cường của nhân dân ta. Trở lại xâm lược nước ta, giặc Pháp hy vọng dựa vào bọn trong chính quyền bù nhìn trước kia và các tổ chức phản động cũ hòng thực hiện màn đảo chính cướp nước ta trong chớp nhoáng.

        Về phía ta, chính quyền cách mạng mới được thành lập, quân đội còn non trẻ, hầu hết là những thanh niên sục sôi lòng căm thù địch, thiết tha mến yêu Tổ quốc, vừa mới tình nguyện đứng vào đội ngũ chiến đấu. Với vũ khí thô sơ, trang bị hết sức nghèo nàn, kỹ thuật chiến thuật chưa được rèn luyện bao nhiêu, kinh nghiệm chiến đấu ở thành phố hoàn toàn chưa có, chúng ta chủ yếu dựa vào lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm và mưu trí để chống lại gang thép của quân thù. Cuối cùng phần thắng đã về phía chúng ta. Phần thất bại nhục nhã đã dành cho quân đội thực dân xâm lược Pháp. Chúng huênh hoang tuyên bố nào 24 tiếng đồng hồ, nào một tuần lễ, nào nửa tháng... chiếm xong Hà Nội; nào Việt Minh trong vòng đai sắt sớm muộn sẽ bị tiêu diệt(!).

        Nhưng mọi việc đều ngược lại. Ròng rã hai tháng trời, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã giam chân địch trong thành phố để hậu phương kịp thời huy động và tổ chức lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài, đã phá tan âm mưu ngông cuồng của bọn thực dân xâm lược Pháp, bảo vệ Trung ương Đảng và các cơ quan Nhà nước di chuyển an toàn về căn cứ địa chỉ đạo kháng chiến. Quân ta đã bảo vệ hàng chục vạn đồng bào thoát khỏi bàn tay đẫm máu của bọn xâm lược Pháp man rợ, đã chiến đấu gần 200 trận tiêu diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy hàng chục xe cơ giới, bắn đắm 1 ca nô, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay. Quân và dân Hà Nội còn thu được rất nhiều vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng để trang bị cho mình.

        Hai tháng trời sống trong gian nan hiểm nghèo, bền bỉ chiến đấu giữ từng tấc đất, từng căn nhà của Thủ đô Hà Nội, quân dân ta đã làm cho giặc Pháp phải giật mình chùn bước. Cuối cùng, trung đoàn Thủ Đô đã rời khỏi Liên khu I một cách toàn vẹn để bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài, làm cho giặc Pháp đã thất vọng lại càng thêm thất vọng!

        Trong khói lửa, quân và dân Thủ đô lớn lên không ngừng. Đứng trong hàng ngũ, người chiến sĩ được giữ khẩu súng trường, quả lựu đạn, trong lòng vui mừng khôn xiết, nhưng cũng không khỏi lo âu. Vui mừng vì vinh dự được giao trách nhiệm giữ súng bảo vệ Tổ quốc. Lo âu vì mọi thứ đều mới không biết sử dụng ra sao, chiến đấu ra sao? Hăm hở mang vũ khí ra đi, nhưng vô cùng bỡ ngỡ; cho đến khi các chiến sĩ Thủ đô biết dùng súng máy hạ máy bay địch, bắn chìm ca nô, dùng badôca, trọng pháo bắn đổ xe tăng, bắn sụp lô cốt của giặc Pháp. Các tổ “bắn tỉa săn Tây” ngày đêm hoạt động làm cho chúng đi đứng không yên, bước xuống xe bọc sắt, chui ra khỏi lô cốt là nơm nớp lo sợ và ngay cả lúc rúc trong lô cốt và xe bọc sắt, chúng cũng sợ chết. Các chiến sĩ của ta giết giặc, cướp súng giặc để bắn trả lại vào đầu quân giặc. Từ những trận đầu bỡ ngỡ trên đường Cửa Nam, phố Huế đến những trận chặn địch quyết liệt ở Ô Cầu Dền, Bạch Mai, phản kích đánh địch tan hoang ở đường Yên Phụ, phố Đội Cấn, đuổi địch chạy dài ở Thanh Nhàn, Lò Lợn... phối hợp với các hoạt động ở nội thành như: đánh du kích ở các phố Lê Bình, Minh Khai, tập kích nhà Moóc-li-e, cắm cờ đỏ sao vàng trên đỉnh Tháp Rùa, và Đồn công an Quận 2, v.v... làm cho bộ chỉ huy quân đội xâm lược Pháp ở Hà Nội ngày đêm lo lắng, đau đầu nhức óc, mà rốt cuộc thất vọng vẫn hoàn toàn thất vọng. Chúng ta, từ những trận chiến đấu chống với một vài chục, một vài trăm tên giặc tiến đến những trận chống với hàng ngàn tên, với hàng trăm cơ giới, có máy bay, pháo binh yểm hộ. Có những nơi, bên ta chỉ với số quân rất ít đã kiên cường cố thủ, suốt một ngày giặc Pháp xung phong hàng chục lần nhưng cũng không chiếm được như nhà thương Vọng, nhà Xô-va, Trường Ke, v.v... Có những nơi ta chiến đấu quyết liệt tiêu hao địch, chặn địch tới một mức độ nhất định, rồi lại nghi binh khéo léo rút lui để bảo toàn lực lượng. Khi giặc Pháp xông vào, ở đó chỉ còn “vườn không nhà trống” như Vĩnh Tuy, làng Ngọc Khánh, nhà thờ Bờ-ri-gát Mô-bin... Trong khói lửa, quân và dân Thủ đô lớn nhanh hơn “Thánh Gióng”. Từ tiểu đoàn độc lập phát triển thành 3 trung đoàn chính quy. Sau khi trung đoàn Thủ Đô rút ra khỏi Liên khu I, thì xung quanh Hà Nội (kể cả trung đoàn 35 và 37) có tới 5 trung đoàn chủ lực.

        Đó là một chiến công lớn lao, nói lên đường lối lãnh đạo của Đảng ta vô cùng đúng đắn: Yếu hơn địch mà lại chiến thắng địch. Không những không bị tiêu diệt mà lại lớn lên không ngừng...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #62 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:03:15 AM »


*

*        *

        Gần 20 năm qua, Hà Nội ngày nay biết bao nhiêu đổi mới. Cứ mỗi bước đi trên mảnh đất Thủ đô yêu quý, ta đều thấy ở đấy đã lập nên biết bao nhiêu chiến công oanh liệt. Ở đấy có những người con anh dũng của Thủ đô đã “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Trên những bờ tường mới đẹp đẽ của ngày nay với những khẩu hiệu: “Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa”, “Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam”, v.v... xưa kia đã có những khẩu hiệu: “Sống chết với Thủ đô”, “Thà chết không chịu làm nô lệ”. Không ai có thể quên được những anh em công nhân xe lửa chiến đấu vô cùng anh dũng ở Đấu Xảo, Hàng Lọng, nhà dầu Shell. Sự phối hợp chặt chẽ của công nhân nhà máy điện. Nhà máy nước Yên Phụ, nhà bưu điện và nhà đèn Bờ Hồ... Rồi đến những hình ảnh vô cùng xúc động như khi được lệnh “Tiêu thổ kháng chiến”, thực hiện “Vườn không nhà trống”, nhân dân Thủ đô cũng như nhân dân các xóm làng xung quanh Hà Nội tự tay mình dỡ nhà mình, đập vỡ tường gạch, chặt đổ cây cối, di chuyển thóc lúa, súc vật, cùng những người già yếu và trẻ nhỏ trong gia đình tản cư tránh giặc. Để chặn bước tiến của địch, cả làng xóm từ cụ già đến trẻ em ở các khu phố đều xô ra đường đào hào, đắp ụ, ngả cây cối, phá sập cầu cống tạo thành cây số chướng ngại vật. Súng vẫn nổ, máy bay khu trục của giặc vẫn bay lượn bắn phá, nhưng đồng bào từ bốn phương vẫn kìn kìn gồng gánh lương thực tiếp tế cho mặt trận. Các chị em tiếp tế vượt qua lửa đạn, đem cơm nước ra tận chiến hào, ụ súng cho các chiến sĩ. Các bà mẹ đi uý lạo các đơn vị và anh em thương binh. Các gia đình xin nhận thương binh về nhà để chăm sóc.

        Không ai có thể quên được, khi Đảng và Bác Hồ kêu gọi: “Toàn dân kháng chiến” thì khắp nơi các cụ già đầu tóc bạc phơ, có cụ lưng còng phải chống gậy, nhưng cũng hăng hái nhập đội “Bạch đầu quân”, những thiếu nữ từ bỏ những thứ mà xưa nay họ tha thiết nhất, cắt tóc ngắn, mặc trang phục nam giới để xung phong vào Vệ quốc đoàn, những em thiếu niên, nhi đồng đòi cho kỳ được vào làm liên lạc, trinh sát cho các anh lớn. Khi tiếng súng kháng chiến rền vang bầu trời Hà Nội, thì cũng là lúc tiếng đàn, tiếng hát của các chị trong đội thông tin tuyên truyền hoà theo như không bao giờ mất. Ở đầu phố Hàng Bột, anh chị em bị thương nhưng không rời trận địa, vẫn chiến đấu, vẫn ca hát cho đến hơi thở cuối cùng. Tiểu đội nữ cứu thương của đại đội 134, những người con gái trồng hoa vùng Ngọc Hà đã anh dũng hy sinh tại Giảng Vũ. Tiểu đội nữ giao thông ở Lãng Bạc, những chị em công nhân và dân nghèo trước đây chịu trăm ngàn cơ cực sống trong những túp lều lụp xụp bên hồ, khi kháng chiến bùng nổ, đã trở thành những người con gái kiên cường mang theo dòng máu anh hùng của Hai Bà Trưng thuở trước. Chị em vượt muôn ngàn nguy hiểm giữ vững “mạch máu” giữa Liên khu I và hậu phương bao la. Tiểu đội du kích Hồng Hà, những người công nhân, nông dân của quê hương Tân Lập, Nghĩa An, Nghĩa Dũng, Phúc Xá đã hàng tháng trời sống trong hầm hố, trên bãi dâu, giữa dòng sông Hồng giữ vững đường dây liên lạc, tiếp tế cho trung đoàn Thủ Đô. Ngày cuối cùng, 7 chiến sĩ du kích ấy đã chiến đấu vô cùng quả cảm để thu hút lực lượng địch, góp xương máu giành phần thắng lợi toàn vẹn cho quân và dân Thủ đô Hà Nội. Những người con yêu quý ấy đã vĩnh biệt bãi dâu sông Hồng, vĩnh biệt Liên khu I. Những tấm gương anh dũng ấy còn lưu truyền mãi mãi về sau.

        Khắp các đường phố Thủ đô Hà Nội, các anh, các chị xông ra giết giặc thì các em nhỏ cũng không chịu ngồi yên. Tấm gương anh dũng chiến đấu hy sinh vì dân vì nước của Trần Quốc Toản, Kim Đồng, Lý Tự Trọng đã truyền cho các em một chí khí bất khuất. Tuổi nhỏ nhưng chí lớn. Xe tăng, xe thiết giáp của giặc hung dữ dẫn quân đến Ngọc Hà, 3 em nhỏ đã gan lì ngồi lại trong hố ở ria đường, ném lựu đạn, chai cháy, phá hủy xe thiết giáp của địch. Hai em khác dùng mưu ném lựu đạn vào xe gíp của bọn chỉ huy Pháp qua phố Hàng Bột, đoạt súng đem về cho bộ đội. Một em khác leo lên nóc Bắc Bộ Phủ cắm cờ đỏ sao vàng, khi bị giặc Pháp bắt em đã chửi vào mặt bọn cướp nước và một mực không chịu cung khai. Em chết đi, chưa đầy 14 tuổi. Em liên lạc Lai vượt theo ống máng về báo cáo với ban chỉ huy tiểu đoàn tiếp viện cho Trường Ke... Biết bao tấm gương chói lọi của lứa tuổi thơ ngây trên đất Thủ đô anh hùng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #63 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:03:34 AM »


        Không bao giờ lịch sử có thể quên được những chiến sĩ “quyết tử” của Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch. Một tiếng nổ kinh khủng, xé tai, một vùng lửa khổng lồ loé ngay trước mặt, xe tăng địch tan tành thì người chiến sĩ lao bom phần nhiều cũng anh dũng hy sinh. Biết như vậy, nhưng không một ai do dự. Các thanh niên hầu hết muốn được sung vào đội quyết tử để phá chiến xa của giặc. Quyết không hề lui nửa bước trước bom đạn và xe tăng, xe bọc sắt của quân thù. Phải cho quân thù thấy ý chí bất khuất của một dân tộc anh hùng, quyết không chịu làm nô lệ. Người chiến sĩ quyết tử bảo vệ Bắc Bộ Phủ đã ôm bom ba càng phá hủy xe tăng địch. Hình ảnh ấy còn ghi mãi trong lòng quân dân Hà Nội. Từ đó biết bao nhiêu chiến sĩ quyết tử khác dùng bom ba càng phá hủy chiến xa của giặc trên khắp các đường phố Hà Nội như ở ngã năm Hàng Kèn, phố Huế, đường Thụy Khuê v.v... Giặc Pháp càng dùng vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại để ra oai, thì lòng căm thù của quân và dân Thủ đô càng bốc lên ngùn ngụt, tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ Thủ đô càng vô cùng quả cảm. Đảng viên Trần Đan một mình dùng lựu đạn đánh bật sáu, bảy đợt xung phong của địch cho đến khi tay phải bị cụt, còn một tay trái vẫn chiến đấu giữ vững trận địa. Đồng chí Minh bị lựu đạn khói địch làm mờ hai mắt nhưng quyết không rời trận địa, nhằm hướng có tiếng động bắn cản địch xung phong. Anh công nhân Tưởng, người thợ sửa chữa ô tô đã chiến đấu đến khi hết đạn, hết lựu đạn, dùng dao thái thịt quần nhau với giặc hết bàn này đến phản khác ở chợ Đồng Xuân... Đến nay mỗi khi nhắc tới những cán bộ gương mẫu, những người chỉ huy hết lòng vì Đảng vì dân như chính trị viên Lê Gia Định ở Bắc Bộ Phủ, Lê Trí Thực ở Giảng Vũ và Vũ Công Định, đại đội trưởng đại đội 134... mọi người không khỏi bùi ngùi. Chúng ta không bao giờ quên được hình ảnh đồng chí Tổng chỉ huy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp ra tận chiến hào, ụ súng để nhận xét rút kinh nghiệm về cách đánh giặc và động viên khích lệ kịp thời, chỉ đạo giúp đỡ Bộ chỉ huy mặt trận từng giờ, từng phút. Đồng chí Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái xuống tận pháo đài, đi tới các phố đổ nát để chỉ đạo việc phá hoại, xây đắp chướng ngại và bổ sung kế hoạch tác chiến. Đồng chí Trần Quốc Hoàn - đặc phái viên của Trung ương, có đồng chí Lê Quang Đạo đi cùng đã không nề hà bất cứ việc gì, đã vượt qua lửa đạn vào thăm Liên khu I giữa những ngày gay go quyết liệt. Đồng chí Nguyễn Văn Trân, bí thư Đảng ủy mặt trận đã ngày đêm làm việc không biết mệt mỏi. Đồng chí đã bò, lăn qua mặt đê Bình Lao tới bờ tường, chiến hào thăm hỏi các chiến sĩ quyết tử, rồi suốt một đêm mưa rét đồng chí đã đứng ở ven sông Hồng mong ngóng được gặp mặt các chiến sĩ trung đoàn Thử đô yêu quý. Chính trị ủy viên mặt trận trong lúc gian nan luôn luôn gặp gỡ động viên các chiến sĩ. Và còn biết bao nhiêu hình ảnh ân cần khác của các đồng chí Trung ương, Tổng chỉ huy và Đảng ủy mặt trận đã sưởi ấm lòng quân và dân Thủ đô, khích lệ các chiến sĩ và các cấp chỉ huy, cấp lãnh đạo trực tiếp càng hăng hái quyết tâm giết giặc cứu nước. Quân và dân Thủ đô Hà Nội đã kề vai sát cánh bên nhau đánh thắng kẻ thù xâm lược.

        Những tấm gương chói lọi ấy đã ghi thêm những trang sử vẻ vang cho Thủ đô của một dân tộc anh hùng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #64 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:04:17 AM »

         
*

*        *

        Thủ đô Hà Nội kiên quyết đứng lên, từ không trở thành có, từ yếu trở thành mạnh, làm nên biết bao chiến công lừng lẫy.

        Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến của mặt trận Hà Nội, tài tình và kiên quyết.

        “Trung đoàn Thủ Đô đã tượng trưng một quân đội của một dân tộc nhược tiểu quyết tâm không muốn làm nô lệ và đã ngang nhiên chống lại quân đội một nước lớn, quân đội hùng mạnh của chủ nghĩa đế quốc”. Lời nói đó của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp còn vang lên mãi mãi trong tâm trí các chiến sĩ Thủ đô Hà Nội. Đảng đã đoàn kết toàn dân, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước vốn có của dân tộc, đã vũ trang tinh thần cách mạng triệt để cho quần chúng ở Thủ đô Hà Nội và cả nước ngay từ khi Đảng mới ra đời và nhất là từ khi chính quyền cách mạng mới được thành lập. Đảng đã biến tinh thần bất khuất của một dân tộc anh hùng, Thủ đô anh hùng trở thành sức mạnh vật chất vô tận. Đảng đã khéo léo vận dụng lý luận sách lược cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, đặc biệt là ở Thủ đô Hà Nội thời kỳ đầu kháng chiến. Đảng đã đoàn kết được mọi lực lượng chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam, tranh thủ được sự đồng tình của dư luận tiến bộ trên thế giới, cô lập kẻ thù cao độ. Đảng đã lãnh đạo quân và dân Thủ đô, cũng như nhân dân cả nước tiến hành một cuộc chiến tranh cứu nước bền bỉ và vô cùng anh dũng với khẩu hiệu: “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến!”, “Tự lực cánh sinh!” và “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!”. Toàn dân đoàn kết gắn bó xung quanh Đảng và Hồ Chủ tịch, hết lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo anh minh của Đảng tiền phong bách chiến, bách thắng. Quân và dân Thủ đô sẵn sàng đi theo con đường của Đảng đã chỉ ra. Đảng bảo “Đánh là đánh!”, bảo “Thắng là thắng!”. Giữa lúc thù trong giặc ngoài xúm lại định xâu xé Tổ quốc ta, giữa lúc quân thù hung ác diễu võ giương oai, ngang nhiên lấn át, nhưng được sự ân cần chỉ bảo của Đảng, một lời nói của Bác Hồ truyền tới thì trăm ngàn mối lo, thắc mắc vương vấn trong lòng quân và dân Hà Nội lập tức tiêu tan. Quân giặc mạnh hơn gấp bội, dân ta chỉ có gậy gộc, giáo mác đứng lên kháng chiến, ngàn vạn gian lao chắn ngang trước mặt, nhưng được Đảng và Bác kiên trì dìu dắt khuyên răn, mọi người lại quyết chí vượt qua. Ở Hà Nội, tất cả mọi lực lượng vũ trang, mọi tổ chức quần chúng đều chiến đấu dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng ủy mặt trận. Đảng đã lãnh đạo quân dân Thủ đô đoàn kết để chiến thắng kẻ thù. Đoàn kết đã thành sức mạnh vô địch, không bom đạn nào phá nổi. Quân đội ta ở Thủ đô Hà Nội ít hơn giặc Pháp, vũ khí quá nghèo nàn và thô sơ, kỹ thuật chiến thuật còn non yếu, nhưng chúng ta đã có đội ngũ trùng trùng điệp điệp và nguồn bổ sung vô tận là quảng đại quần chúng, một lòng một dạ hy sinh tất cả để bảo vệ Tổ quốc. “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước”. Quân và dân Thủ đô cũng như nhân dân cả nước đã hành động đúng như lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

        Hà Nội đứng lên! Cả nước chi viện cho Hà Nội, phối hợp với Hà Nội giữ vững và phát huy truyền thống chống ngoại xâm của Thủ đô anh hùng và dân tộc Việt Nam anh hùng. Hà Nội kháng chiến, được sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, sự chỉ đạo tài tình của Bộ Tổng chỉ huy, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã chiến đấu anh dũng tuyệt vời, với khẩu hiệu: “Sống chết với Thủ đô!”, “Thà chết không chịu làm nô lệ!”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước!”. Tiếng súng kháng chiến ở Thủ đô bùng nổ, Thủ đô chiến thắng như một hồi chuông vang dậy tới mọi vùng đất đai trên khắp trái đất. Trước đây, trên thế giới có nhiều nơi chưa hề biết đến Hà Nội, Việt Nam là đâu. Có nơi chỉ hiểu Việt Nam là một bộ phận của xứ Đông Pháp! Nhưng Thủ đô Hà Nội đứng lên kháng chiến. Ngọn cờ chiến thắng của quân và dân Thủ đô Hà Nội, Việt Nam đã giương cao chói lọi. Tiếng súng chiến thắng ở Thủ đô đã vang dội trên toàn thế giới. Đảng Cộng sản Pháp lãnh đạo nhân dân phản đối chính phủ phản động Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt Nam. Dư luận tiến bộ trên khắp trái đất đều ủng hộ cuộc chiến đấu tự vệ của nhân dân Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #65 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:04:55 AM »


        Hà Nội lớn lên và chiến thắng! Những ngày đầu kháng chiến ở Thủ đô Hà Nội đã biểu hiện đường lối quân sự đúng đắn của Đảng, đường lối chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân mà Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội đã quán triệt và trực tiếp tiến hành, biến nghị quyết của Đảng thành hành động cụ thể. Đó là sự chỉ huy thống nhất mọi lực lượng tham gia chiến đấu tại mặt trận, là sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ đội chủ lực và dân quân tự vệ, giũa hình thức tác chiến tập trung với hình thức tác chiến phân tán lẻ tẻ, là sự phân tích đúng đắn lực lượng so sánh để tổ chức chiến đấu cho thích hợp với địa hình, trang bị vật chất và trình dộ kỹ thuật lúc đó ở Hà Nội. Đảng ủy đã nắm vững đường lối quần chúng, tin tưởng vào quần chúng, có những chủ trương xây dựng và tác chiến đúng đắn. Qua thử thách trong chiến đấu, quần chúng đã sáng tạo ra muôn vàn cách tiêu diệt giặc, bảo vệ mình, thích hợp với tình hình lực lượng so sánh lúc đó. Suốt 2 tháng trời, gần 200 trận chiến đấu đã diễn ra muôn màu muôn vẻ, nhưng hầu hết thực hiện đánh ban đêm, đánh giáp lá cà, đánh bất ngờ. Ta không tự trói buộc vào một lối đánh, mà đã tùy tình hình cụ thể, thực hiện xen kẽ rất sinh động tất cả các hình thức tác chiến: tấn công, tập kích, biệt kích, phục kích, quấy rối, nghi binh, đánh lẻ, đánh tiêu hao, v.v... Đặc biệt là thuật “trùng độc chiến” là một lối đánh cách mạng rất độc đáo, rồi đến các thuật “ba lan”, thuật “xoáy trôn ốc”, thuật “chuyển thoái vi công”, v.v... càng thể hiện sức sáng tạo của quần chúng trưởng thành trong khói lửa, từ thực tiễn đã trở thành nguyên tắc.

        Nhưng trong điều kiện lịch sử hồi ấy, trình độ chúng ta còn rất hạn chế nên mọi việc đều bỡ ngỡ. Nếu chúng ta có kinh nghiệm sử dụng lực lượng trong việc kết hợp tập trung ưu thế tuyệt đối từng lúc, từng nơi với lối đánh du kích, nói cụ thể hơn, nếu chúng ta hiểu và thể hiện đúng đắn như thế nào là tập trung ưu thế tuyệt đối, như thế nào là đánh tiêu diệt, và biết nắm lực lượng cơ động và cơ động lực lượng một cách linh hoạt thì giặc Pháp còn gặp nhiều khốn đốn hơn nữa. Mặt khác, Bộ chỉ huy mặt trận còn hết sức bỡ ngỡ chưa biết dự kiến sâu xa quá trình phát triển của chiến sự để có kế hoạch chỉ đạo kịp thời và thấu suốt lâu dài hơn, chuẩn bị mọi mặt bảo đảm cho mặt trận được chu đáo hơn. Nhưng những thiếu sót cụ thể về trình độ có tính chất lịch sử ấy cũng không thể nào làm phai mờ được chiến thắng vô cùng lớn lao của quân và dân Thủ đô Hà Nội dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, sự chỉ huy tài tình và cụ thể của Bộ Tổng chỉ huy. Chúng ta đã quật ngã một kẻ thù mạnh hơn ta gấp bội, mở đầu cho cuộc kháng chiến thần thánh của cả dân tộc ta, suốt 9 năm trường oanh liệt.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #66 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:05:59 AM »


*

*        *

        Ra đi rời khỏi Hà Nội, lời căn dặn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn vang mãi trong lòng các chiến sĩ Thủ đô suốt 3.000 ngày khói lửa. Họ đã đi trên khắp các nẻo đường Trung, Nam, Bắc. Các chiến sĩ Thủ đô đã không ngừng phát huy truyền thống chiến đấu anh dũng, lập chiến công vang lừng trên khắp các mặt trận.

        Trải qua tám, chín năm vật lộn trong lòng địch lúc âm ỉ, lúc sục sôi, nhân dân Hà Nội đã cùng nhân dân cả nước, cùng các chiến sĩ Thủ đô và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đóng góp vào chiến thắng vô cùng to lớn: Điện Biên Phủ, một chiến công hiển hách, một chiến thắng làm chấn động thế giới, kết thúc một trang sử nhuốc nhơ đầy tội ác đẫm máu của bọn thực dân xâm lược Pháp ở Việt Nam. Hà Nội - Điện Biên Phủ, những tiếng vang ngàn năm bất tận.

        Trở về Hà Nội, các chiến sĩ Thủ đô lại được nghe những lời căn dặn trong bản nhật lệnh lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “... Tiêu biểu cho Quân đội nhân dân Việt Nam anh dũng và hùng mạnh, các đồng chí là những đơn vị đầu tiên về Thủ đô Hà Nội trước sự chờ mong của đồng bào Thủ đô và sự vui mừng phấn khởi của đồng bào toàn quốc. Nhiệm vụ của các đồng chí rất nặng nề nhưng rất vẻ vang...”.

        Ngày 10 tháng 10 năm 1954, các chiến sĩ Thủ đô đã trùng trùng điệp điệp trong rừng cờ đỏ sao vàng trở về Hà Nội, giữa muôn ngàn đoá hoa tung lên, muôn ngàn tiếng hò reo, tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay như sấm động của nhân dân Thủ đô. Quân và dân cảm động sung sướng đến rơi nước mắt. Cả Thủ đô lộng lẫy trong rừng cờ, rừng hoa... Hà Nội giải phóng lại như một hồi chuông rung vang trời đất! Nhân dân cả nước, kiều bào ở nước ngoài và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới hân hoan vui mừng tới tấp gửi điện văn, thư từ chúc mừng Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, chúc mừng nhân dân Thủ đô Hà Nội anh hùng.

*

*        *

        Ngày nay nhân dân Hà Nội phát huy cao độ truyền thống yêu nước vốn có của dân tộc và truyền thống oanh liệt của “60 ngày khói lửa”, đang tay búa tay súng, tay cày tay súng ra sức xây dựng và sẵn sàng bảo vệ Thủ đô xã hội chủ nghĩa ngày càng tươi đẹp và giàu mạnh.

        Vào những ngày đầu tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ không chịu rút bài học thất bại của thực dân Pháp trước kia và bài học thất bại trước mắt của chúng ở miền Nam hiện nay đã xâm phạm miền Bắc nước ta, và đã bị quân dân ta trừng phạt đích đáng. Giữa không khí của mùa thu cách mạng, hàng chục vạn nhân dân Thủ đô đã xuống đường biểu tình kiên quyết phản đối bọn xâm lược Mỹ. Rồi đây nếu chúng còn liều lĩnh xâm phạm đất nước ta, xâm phạm Thủ đô yêu quý của chúng ta, thì nhân dân Thủ đô cùng với nhân dân cả nước, triệu người như một đứng lên tiêu diệt chúng như đã tiêu diệt bọn thực dân Pháp xưa kia.

        (Sưu tầm, viết từ tháng 9 năm 1961, xong tháng 9 năm 1964).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #67 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:07:03 AM »


PHẦN PHỤ LỤC

VỊ TRÍ VÀ LỰC LƯỢNG CỦA ĐỊCH TRƯỚC NGÀY KHỞI CHIẾN

        (Chưa kể số quân từ nước Pháp và các thuộc địa tiếp tục tiếp viện tới Hà Nội trong quá trình xâm lược nước ta).

        Tổng số:

        Quân số: 4.220 tên, về sau ở Hải Phòng lên thêm, quân số tới 6.500 tên.

        Vũ khí 5.000 súng trường, 600 liên thanh nhẹ, 180 liên thanh nặng, 42 khẩu pháo.

        Cơ giới: 22 xe tăng, 40 xe thiết giáp.

        Bố trí như sau:

        1. Trại lính (thành Hà Nội):

        Quân số:

        Vũ khí: 300 súng trường Mỹ, 300 súng liên thanh nhẹ, 70 liên thanh nặng.

        Cơ giới: 9 xe tăng, 26 xe thiết giáp.

        2. Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An):

        Quân số: 250, gồm có:

        1 đại đội bộ binh 150 tên.

        1 phân đoàn thiết giáp của hải quân R.B.F.M. (Régiment Blindée des Fusileries Marines) 100 tên.

        Vũ khí: 100 súng trường, 49 tôm-xơn, 40 các-bin, 9 liên thanh nhẹ.

        Cơ giới: 3 xe tăng, 4 xe thiết giáp.

        3. Trường An-be Xa-rô (nay là số 2 phố Hoàng Văn Thụ):

        Quân số: 500, gồm có:

        1 đại đội bộ binh (đại đội 10, tiểu đoàn 3, trung đoàn bộ binh thuộc địa 6), một quan ba chỉ huy: Moles.

        1 cụm pháo binh sư đoàn (tiểu đoàn 1, trung đoàn pháo binh thuộc địa dã chiến 1/R.A.C.M.) có 3 khẩu đội.

        Chỉ huy gồm: 1 quan tư, 1 quan ba, 2 quan hai.

        Vũ khí: 200 súng trường, 60 các-bin, 60 tôm-xơn, 20 liên thanh nhẹ, 15 liên thanh nặng.

        Cơ giới: 5 xe thiết giáp, 2 xe tăng loại lớn, 2 xe tăng loại nhỏ.

        4. Phủ toàn quyền cũ:

        Quân số. 500 (thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn bộ binh thuộc địa 6, đại đội 1 và 9).

        Vũ khí: 120 súng trường, 80 tôm-xơn, 60 các-bin.

        5. Trường sư phạm Đỗ Hữu Vị (nay là Trường Nguyễn Trãi):

        Quân số: 50 thợ máy, một tiểu đội 12 lính gác.

        Vũ khí: 7 súng trường, 2 các-bin, 2 tôm-xơn, 1 liên thanh nhẹ.

        6. Quán Thánh:

        Quân số: 1 đại đội.

        Vũ khí: 10 liên thanh nhẹ, 10 các-bin, 20 tôm-xơn, 100 súng trường.

        7. Nhà thương Đồn Thuỷ:

        Quân số: 250.

        Vũ khí: 6 liên thanh nặng, 3 liên thanh nhẹ, 66 súng trường.

        Cơ giới: 4 hồng thập tự, 2 xe vận tải, 3 xe gíp.

        8. Khách sạn Métropole:

        Quân số: 200 sĩ quan và binh lính đầy đủ vũ khí nhẹ.

        9. Gia Lâm:

        a) Trường bay:

        Quân số: 800.

        Vũ khí: loại nhẹ trang bị đủ, 7 pháo 75mm, 2 liên thanh nặng.

        Cơ giới: 6 xe tăng, 2 xe thiết giáp, 50 xe vận tải.

        Máy bay: 4 Xpít-phai, 4 Mo-ran, 5 oanh tạc, 6 khu trục mới ở Sài Gòn ra.

        b) Xưởng sửa chữa:

        Quân số: 36. Trang bị đủ vũ khí nhẹ. 1 liên thanh loại nặng.

        Kho vũ khí: 300 súng trường và liên thanh nhẹ.

        Kho lương thực: 500 tấn cá khô, bột mì, đậu.

        Dù người: 2.000 chiếc.

        c) Nhà máy khuy:

        Quân số: 100. Trang bị đủ vũ khí nhẹ, có thêm 3 liên thanh nặng.

        Vị trí lực lượng nhỏ:

        10. Viện Quang tuyến: thường có 1 tiểu đội. Tới 23 tháng 11 năm 1946 đưa đến 2 pháo đặt chĩa về phía Hoả Lò.

        11. Hàng Trống (nhà Moócli-e): thường có 1 tiểu đội. Ngày 23 tháng 11 năm 1946 tăng thêm lực lượng, bố trí cẩn mật.

        12. Trần Nhật Duật (đầu cầu Long Biên): 1 trung đội, 22 súng trường, 6 các-bin, 4 tôm-xơn, 2 liên thanh nhẹ.

        13. Nhà băng Đông Dương: 2 tiểu đội gác chung với Vệ quốc đoàn.

        14. Ga Hàng Cỏ: 1 tiểu đội gác chung với Vệ quốc đoàn.

        15. Nhà dầu Shell Khâm Thiên: 1 tiểu đội, có 1 khẩu súng cối.

        16. Số 7 phố Tư Do cũ (phía Ngọc Hà): 19 lính, 4 cai đội, 1 quản, 3 xe thiết giáp, 2 xe gíp, 1 xe vận tải.

        17. Số 10 Thụy Khuê: 30 lính, 14 súng trường, 4 các-bin, 4 tôm-xơn, 6 liên thanh, 2 xe thiết giáp.

        18. Số 18 Cao Bá Quát (kho Descourd): 10 lính thợ, 1 quan ba (vũ khí không rõ).

        19. Ga-ra Xi-ta-ga Hàng Cỏ (một bộ phận của xưởng Chiến Thắng hiện nay): 10 lính thợ, vũ khí không rõ.

        20. Ga-ra Béc-xê (xưởng Dân Sinh, Trường Thi): 6 lính thợ, 6 súng trường, 1 liên thanh.

        21. Ga-ra Boa-lô (số 5 Tràng Tiền): 20 lính thợ, 2 liên thanh.

        22. Ga-ra Pho (công ty xe con, 7 Đặng Thái Thân): 1 tiểu đội

        23. Ga-ra Gi-rô-đô: 20 lính thợ, 1 liên thanh.

        24. Nhà dầu Shell (nay là Ủy ban khoa học Nhà nước góc phố Trần Hưng Đạo và Ngô Quyền): 1 tiểu đội.

        25. Số 23 Hàn Thuyên: 20 lính, 1 quan tư, 1 quan ba, 14 súng trường, 4 liên thanh nhẹ.

        26. Số 44 Tăng Bạt Hổ: 15 lính, 4 sĩ quan.

        27. Số 51 Lý Thái Tổ: 1 tiểu đội.

        28. Làng Xuân Biểu, đường Hoàng Hoa Thám: 1 sĩ quan, 9 lính đủ súng.

        29. Nhà Chi-vo, đường Hoàng Hoa Thám: 8 lính, 1 cai, 1 quan tư, 8 súng trường, 1 tôm-xơn, 1 súng ngắn, 1 liên thanh, 16 lựu đạn, 1 hòm đạn súng trường, 1 xe gíp.

        30. Số 5 Phan Đình Phùng: 1 tiểu đội súng các-bin, 1 quan ba, 1 quan một.

        31. Hùng Vương: 16 lính, 1 quan tư, 1 quan hai, 1 quan một, 1 quản, 1 đội, 2 xe vận tải, 5 xe gíp, 1 ô tô du lịch.

        32. Số 6 bis Tôn Trung Sơn: 1 tiểu đội đủ vũ khí.

        33. Số 42 Hoàng Diệu: 10 lính, 1 quan hai, 1 quan một, 1 xe ô tô du lịch.

        34. Số 32 Hoàng Diệu: 6 lính, 1 quan tư, 1 quan hai, 2 đội, 1 ô tô du lịch (nhà phái bộ Mỹ).

        35. Số 58 Hoàng Diệu: 1 quan năm không quân (Duvieux), 1 quan tư không quân, 6 lính gác, 1 Sten, 6 súng trường, 18 lựu đạn, 4 hòm đạn.

        36. Số 29 Tôn Thất Thuyết (nay là đại lộ Lê Hồng Phong): 1 quan tư, 1 quan hai, 1 quan một, 7 đội và quản, 3 lính, 2 xe du lịch, 2 xe thiết giáp (tối có lính trong thành ra gác).

        37. Số 48 Phan Chu Trinh (nay là phố Nguyễn Thái Học): 4 lính, 2 quan hai, 2 quan ba, 1 xe gíp, 1 xe du lịch (tối có lính trong thành ra gác).

        38. Số 40 Phùng Hưng (cơ quan quân bưu): hàng ngày có 4 xe vận tải và 2 xe gíp đến liên lạc (tối có 4 lính gác).

        39. Nha Tài chính: 1 trung đội đủ vũ khí.

        40. Nhà đèn Bờ Hồ: 1 tiểu đội gác chung với Vệ quốc đoàn.

        41. Nhà máy điện Yên Phụ: 1 tiểu đội gác chung với Vệ quốc đoàn.

        42. Nhà máy nước: 1 tiểu đội gác chung với Vệ quốc đoàn.

        43. Phố Tôn Thất Thuyết (nay là đại lộ Lê Hồng Phong): 1 trung đội.

        44. Phà Đen: 1 trung đội.

        45. Nhà chiếu bóng Majestic (nay là Rạp Tháng Tám): 1 trung đội.

        (Ngoài ra còn có các tổ ở một số nhà thờ và nhà Pháp kiều khác)...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #68 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:07:52 AM »


VỊ TRÍ VÀ LỰC LƯỢNG CỦA TA TRƯỚC NGÀY GIẶC PHÁP KHỞI CHIẾN

        (Chỉ tính bộ đội chính quy Vệ quốc đoàn)

        Tổng số: 5 tiểu đoàn (2.515 người chiến đấu được).

        Vũ khí: 1.516 súng trường, 7 pháo cao xạ 75mm của các pháo đài do Pháp để lại nay ta dùng làm pháo mặt đất và 1 sơn pháo 75mm, 1 pháo chống tăng 25mm. Số đạn còn lại rất ít. Tất cả đều không có máy ngắm và dụng cụ đo đạc.

        Bố trí như sau:

        Liên khu I (đông bắc thành phố):

        Tổng số: 463 người do đồng chí Toàn Vinh và đồng chí Nguyễn Văn Triệu chỉ huy.

        Căn cứ: Hàng Bè.

        1. Yên Phụ (nhà máy điện): 2 tiểu đội 25 người gác chung với quân Pháp).

        2. Yên Phụ: 2 tiểu đội 34 người.

        Nguyễn Thái Học: một nửa tiểu đội 6 người (giữ đường Nguyễn Thái Học, đê Yên Phụ và đường Cổ Ngư).

        3. Nhà máy nước: 1 tiểu đội 13 người (gác chung với quân Pháp).

        4. Nhà in Viễn Đông: 1 tiểu đội 12 người (gác chung với quân Pháp).

        5. Trường Hàng Than: 2 tiểu đội 25 người.

        6. Đầu cầu Long Biên (Trần Nhật Quật): 1 trung đội 45 người (gác chung với quân Pháp).

        7. Giữa cầu Long Biên: 1 trung đội 32 người (gác chung với quân Pháp).

        8. Cuối cầu Long Biên (Gia Lâm): 1 trung đội 38 người gác chung với quân Pháp).

        9. Bộ Ngoại giao: 1 tiểu đội 13 người.

        10. Nhà máy đèn Bờ Hồ: 1 tiểu đội 12 người (gác chung với quân Pháp).

        11. Kho bạc Lê Lai (nay là Sở Thương nghiệp Hà Nội): 1 tiểu đội 15 người.

        12. Nhà băng Đông Dương (nay là Ngân hàng Nhà nước): 1 tiểu đội 15 người (gác chung với quân Pháp).

        13. Nha Thương chính (nay là Bảo tàng Cách mạng): 1 tiểu đội 16 người (gác chung với quân Pháp).

        14. Quân huấn Cục (số 18 phố Tôn Đản): 1 tiểu đội 16 người.

        15. Nhà dầu Shell (39 Trần Hưng Đạo): 1 trung đội 48 người.

        16. Toà Thị chính (sau là Ủy ban hành chính Hà Nội): 1 trung đội rưỡi 57 người.

        17. Bắc Bộ phủ (nay là khu vực Bộ Lao động, Bộ Nội vụ, Vụ Lễ tân): 1 đại đội 98 người.

        13 Tháng Bảy, 2009, 11:16:50 pm

        Liên khu II (phía nam thành phố):

        Tổng số: 1.074 người, do đồng chí Bùi Sinh và Quang Tuấn chỉ huy. Về sau đồng chí Phùng Thế Tài chỉ huy.

        Căn cứ: Chợ Hôm và trại Hàn Lâm.

        18. Viện Bảo tàng Lịch sử: 1 tiểu đội 11 người.

        19. Sở Khoáng chất (nay là Tổng cục Địa chất): 2 tiểu đội 23 người.

        20. Bộ Quốc dân kinh tế (nay là Bộ Tài chính): 2 tiểu đội 26 người.

        21. Nhà thương Đồn Thủy (nay là Quân y viện 108): 2 tiểu đội 25 người.

        22. Phía nam Nhà thương Đồn Thuỷ: 1 đại đội 147 người.

        23. Khu Lò Lợn (sau là Lò sát sinh): 308 người (Khu bộ).

        24. Nhà Đúc tiền (nay là thêu ren xuất khẩu, phố Lò Đúc): 1 tiểu đội 11 người.

        25. Nhà rượu (phố Nguyễn Công Trứ): 1 tiểu đội 16 người.

        26. Trại Vệ quốc đoàn Trung ương (40 phố Hàng Bài): 2 trung đội 63 người.

        27. Thư viện Bác Cổ (nay là Thư viện khoa học): 1 tiểu đội 11 người.

        28. Trường Đồng Khánh (nay là Trường Trưng Vương): 1 trung đội 40 người.

        29. Trụ sở liên lạc Việt - Pháp (số 21 Bà Triệu): 2 tiểu đội 27 người (gác chung với quân Pháp).

        30. Thông tin tuyên truyền (ở phố Trần Hưng Đạo): 1 tiểu đội 12 người.

        31. Quân y viện Trung ương (nay là Bệnh viện C): 1 tiểu đội 13 người.

        32. Đề lao Trung ương (Hoả Lò): 1 trung đội 44 người.

        33. Nhà ga: 1 tiểu đội 11 người (gác chung với quân Pháp).

        34. Nhà công binh Star (góc đại lộ Lý Thường Kiệt và phố Phan Bội Châu): 1 tiểu đội 11 người.

        35. Số 52, 54 Trần Nhân Tông: 1 trung đội 51 người.

        36. Trường Phan Sào Nam: 3 tiểu đội 38 người.

        37. Thanh niên cứu quốc (ở phố Lê Đại Hành): 1 tiểu đội 15 người.

        38. Trại Hàn Lâm: 1 trung đội 35 người.

        39. Làng Tám: 1 tiểu đội 13 người.

        40. Làng Sét: 1 tiểu đội 14 người.

        41. Pháo đài Bạch Mai: 1 trung đội 37 người.

        42. Vĩnh Tuy: 1 tiểu đội 11 người.

        43. Sở Vô tuyến điện (Ngã Tư Vọng): 2 trung đội 60 người.

        44. Kim Liên: 2 tiểu đội 23 người.

        Liên khu III (phía tây thành phố):

        Tổng số: 978 người do đồng chí An Giao chỉ huy. Về sau đồng chí Lê Quân chỉ huy.

        Căn cứ: Ô Cầu Giấy

        45. Trường bay Bạch Mai: 1 đại đội.

        46. Ngã Tư Sở: 1 trung đội 33 người.

        47. Khuơng Hạ: 1 tiểu đội 11 người.

        48. Khương Thượng: 1 tiểu đội.

        49. Khương Trung: 1 trung đội 30 người.

        50. Cự Lộc: 1 trung đội 40 người.

        51. Nhà máy tóc (Ô Chợ Dừa): 1 trung đội 32 người.

        52. Phố Hàng Bột: 1 trung đội 42 người.

        53. Trại Khách (Ô Chợ Dừa): 1 trung đội 41 người.

        54. Nhà dầu Khâm Thiên: 1 tiểu đội 17 người.

        55. Sở Tài chính (gần đường Hùng Vương và Ngọc Hà): 2 tiểu đội 26 người.

        56. Kho bưu điện phố Tôn Thất Thuyết: 1 tiểu đội 10 người.

        57. Sở Đúc tiền (gần bến ô tô Kim Mã): 1 trung đội 41 người.

        58. Đình làng Kim Mã: 1 trung đội 39 người.

        59. Trại con gái Ngọc Hà: 1 tiểu đội 12 người.

        60. Nhà Đông Hải: một nửa tiểu đội 4 người

        61. Quần Ngựa: 2 tiểu đội 24 người.

        62. Nhà dầu Tam Đa: 1 tiểu đội 12 người.

        63. Đường Cam Lộ: 2 tiểu đội 28 người.

        64. Ngã tư Cầu Giấy: 2 trung đội 53 người.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23090


« Trả lời #69 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2016, 12:08:56 AM »


VỤ ÔN NHƯ HẦU, ĐƯỜNG QUÁN THÁNH, CHÂU LONG, SÀO HUYỆT CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG QUỐC DÂN ĐẢNG

        Sau khi Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam lục tục trốn theo bọn Tàu - Tưởng rút khỏi Việt Nam thì hai tổ chức: Việt Nam Quốc dân đảng còn lại trong nước và Đại Việt liền họp với nhau để hợp nhất hai đảng và đổi tên là Quốc dân đảng. Quốc dân đảng bầu ra Trương Tử Anh thủ lĩnh Đại Việt làm đảng trưởng. Giặc Pháp ra sức giúp đỡ Quốc dân đảng, trong đó chủ yếu là Đại Việt, ráo riết thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền ta. Chúng thường tổ chức ám sát những Pháp kiều hoặc lính Pháp đi lẻ tẻ để mượn bàn tay Pháp tiêu diệt dần dần lực lượng của ta làm cho chúng ta suy yếu. Đến mức độ nào, giặc Pháp sẽ giúp đỡ bọn phản động lật đổ Chính phủ ta, lập chính quyền bù nhìn tay sai. Mặt khác, chúng ra sức tìm cách ám sát các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Chính phủ ta. Về hoạt động công khai, chúng tổ chức lực lượng vũ trang riêng, đóng trụ sở riêng, xuất bản báo chí riêng. Sau khi ta lấy đầy đủ tài liệu chứng cớ về kế hoạch lật đổ Chính phủ ta của chúng vào ngày 14 tháng 7 do thực dân Pháp chủ mưu, thì trước đó 2 ngày, tức là 5 giờ sáng ngày 12 tháng 7, chúng ta đã tấn công trụ sở bọn Đại Việt ở số 132 phố Đuy-vi-nhô (Duvigneau), bắt sống hơn 20 tên mình trần, đang nằm ngủ ngổn ngang với một chiếc máy in chưa khô mực, khuôn chữ chưa kịp tháo ra và từng đống truyền đơn, yết thị kêu gọi lật đổ Chính phủ ta, lập chính quyền phản động. Bảy giờ sáng ngày 12 tháng 7, các lực lượng vũ trang nhân dân lại tiếp tục tấn công vào ba trụ sở Quốc dân đảng ở hồ Thiền Quang. Ở đây có một tên phát xít Nhật làm cố vấn và một lớp huấn luyện trên 70 tên được chúng thường tung đi rải truyền đơn khiêu khích. Bọn này dùng trung liên bắn lại tự vệ và công an ta rất kịch liệt. Đến khi ta phong toả mạnh, uy hiếp hoả lực của chúng thì chúng đầu hàng. Tại nhà số 7 phố Ôn Như Hầu, ta bắt được Phan Kích Nam, ủy viên ban chấp hành trung ương của Việt Nam Quốc dân đảng, cầm đầu bọn này. Đây là sào huyệt của bọn chuyên nghề bắt cóc, giết người, tống tiền. Một buồng tắm nhỏ có đủ dụng cụ tra tấn ngổn ngang, máu me bê bết chung quanh tường. Ngoài vườn từng đống xác người bị chặt vụn chôn dưới bụi chuối. Trong nhà để xe có một người hàng giò bị trói, vứt nằm còng queo dưới đất. Trong những xác người bị rữa, có người đạp xích lô, bà hàng rong và những người mà chúng nghi là có nhiều tiền của, v.v...

        Tám giờ tối hôm đó, ta tiếp tục đánh vào các trụ sở của chúng ở khu vực Quán Thánh, nhất là căn nhà số 80 phố Quán Thánh là cơ quan báo chí của chúng. Trong ngày 12 tháng 7, bọn phản động tập trung về Quán Thánh để dựa vào thế lực giặc Pháp trong thành. Khi ta bao vây, chúng dùng súng trường, súng máy bắn trả lại ta kịch liệt. Một mặt chúng cho người đi cầu giặc Pháp cứu viện. Khoảng 10 giờ đêm, xe thiết giáp của Pháp lù lù tiến đến. Pháo binh, súng cối của Pháp bắn xiên hồi vào vị trí của ta. Nhưng đại biểu của ta trong phái đoàn Liên kiểm lập tức đến can thiệp. Không có lý do gì để nhúng tay vào công việc nội trị của chúng ta, lại không muốn tự lật tẩy mình, nên bọn Pháp bắt buộc phái rút lui. Trong lúc đó, chúng ta xung phong vào bắt toàn bộ đầu sỏ, trong đó có Xuân Tùng, Khái Hưng, Phan Khôi, v.v... Ở đây, ta cũng phát hiện ra rất nhiều người bị chúng bắt cóc, chôn sống, chôn đứng, chặt nửa người, vùi người dưới sân Trường Yên Thành và trong các trụ sở của bọn chúng. Nhân dân Hà Nội đều được chứng kiến những sự thật dã man vô nhân đạo của bọn bán nước này.

        Đêm 12 tháng 7, mọi việc thanh toán bọn phản động Quốc dân đảng ở Hà Nội đều làm gọn. Cuộc diễu binh ngày 14 tháng 7 của giặc Pháp không có nữa. Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp định dùng bọn tay sai phản động lật đổ Chính phủ ta bị hoàn toàn thất bại.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM