Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2019, 05:26:45 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chặng đường chiến đấu - Nguyễn Chơn  (Đọc 21784 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #80 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 09:47:10 AM »

        
NGUYỄN CHƠN - NGƯỜI ĐỒNG CHÍ, NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU

Trung Tướng NGUYỄN HUY CHƯƠNG        

        Nguyễn Chơn về lại chiến trường Quân khu 5 từ tháng 2 năm 1959. Tôi vào sau anh một năm. Tuy không cùng đơn vị, nhưng cả hai có nhiều dịp phối hợp chiến đấu cùng nhau. Mỗi bước đi, từng hơi thở, niềm vui, nỗi lo của chúng tôi đều được chứng kiến và sẻ chia cùng nhau.

        Trận đầu Nguyễn Chơn đánh là trận đồn Ga Lâu - một điểm chốt của địch trên vùng cao huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam. Đồn này do một trung đội bảo an có 4 tiểu đội, xung quanh có nhiều hàng rào thép gai bao bọc, bãi mìn dày đặc Đồn có 3 lô cất phòng thủ từ 3 hướng. Do ý thức phải chuẩn bị chiến trường cụ thể, tỉ mỉ, nên khi đi trinh sát, anh đã phát hiện địch có thêm một lô cốt bên phải dùng hỏa lực chi viện cho các hướng để bảo vệ đồn khi bị tấn công. Khi chuẩn bị trận đánh, anh đã bò vào tận hàng rào cuối cùng, sờ vào lô cốt địch để ước lượng bề dày của tường, độ rắn của từng lô cốt. Nguyễn Chơn nghĩ rằng, là chỉ huy phải nắm và hiểu địch thật chắc, thật kỹ, thì mới thắng được địch.

        Giờ G cấp trên ấn định là 1 giờ sáng ngày 17 tháng 10 năm 1960. Nhưng cái khó cho người chỉ huy là thời điểm này núi rừng Trường Sơn đã vào mùa mưa lũ. Nước sông A Vương dâng cao và chảy xiết nên rất khó vượt sông. Nguyễn Chơn đã biến khó khăn này thành thuận lợi. Đi dọc bờ sông, thấy cây chò cao hơn 10m, anh liền lệnh cho một số anh em dân tộc trong đơn vị đốn cây chò cho ngã nằm vắt ngang sang bờ bên kia sông, thành cây cầu vững chắc để bộ đội vượt sông. Lúc này, bọn địch trong đồn đã ăn no ngủ kỹ, vì chúng nghĩ "trời mưa lũ thế này, bọn Việt cộng có cánh cũng không vượt sông A Vương được". Chính vì vậy, khi ta bất ngờ nổ súng tấn công, địch hoàn toàn bị động, tổ công binh nhanh chóng phá sạch bãi mìn và các hàng rào dây thép gai để các mũi bộc phá, xung kích xung phong tiêu diệt địch; gặp chỗ bờ tường cao, Nguyễn Chơn kê vai mình kiệu anh em vượt qua nhanh chóng phát triển vào bên trong tiêu diệt địch. Trận đánh diễn ra nhanh gọn. Chỉ trong nửa giờ, ta diệt gọn đồn Ga Lâu, bắt tù binh, thu nhiều vũ khí. Đây là trận đánh của lực lượng vũ trang "non trẻ" Quảng Nam buổi đầu, tiêu diệt hơn một đơn vị địch trong công sự chắc chắn, mở rộng hành lang vùng giải phóng.

        Năm 1960, khi vào Ga Lâu, tôi vẫn còn nghe âm vang trận đánh Ga Lâu do Nguyễn Chơn chỉ huy mở rộng đường dây và giải phóng tỉnh Quảng Nam.

        Sư đoàn 2 đập tan căn cứ Nông Sơn, giải phóng các xã tây Quế Sơn

        Mùa hè năm 1974, Nguyễn Chơn ra Hà Nội tập huấn quân sự do Bộ Tổng Tham mưu tổ chức. Anh chỉ được nghỉ vài ngày ở Bãi Cháy - Quảng Ninh, khi về Hà Nội chưa kịp dự lớp tập huấn, anh được đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó giao nhiệm vụ trở về chiến trường Quân khu 5 giữ chức Sư trưởng Sư đoàn 2 tấn công dứt điểm Nông Sơn, phối hợp với Sư đoàn 304 tiêu diệt Thượng Đức.

        Lúc này, tôi đang là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam (tôi được chuyển qua phụ trách công tác đảng từ năm 1970) được thông báo gặp Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 ở Phú Toản, Phú Hữu để bàn kế hoạch phối hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng ở các xã tây Quế Sơn.

        Nguyễn Chơn là người chỉ huy quân sự, nhưng trong anh luôn ý thức về sự phối hợp với địa phương khá nhuần nhuyễn. Vì thế, bao giờ anh cũng tôn trọng sự kết hợp chặt chẽ với địa phương dù trong một trận đánh hay trong một chiến dịch quân sự - kết hợp giữa tấn công và nổi dậy.

        Cụm cứ điểm Nông Sơn do tiểu đoàn 78 biệt động biên phòng, có trận địa pháo 105 ly chiếm giữ. Xung quanh Nông Sơn còn có 11 chốt điểm ngoại vi Quế Khương, Phường Rạnh, Trung Phước, thôn 7 Sơn Thọ, thôn 4 Sơn Phúc - mỗi chốt điểm có từ 1 đến 2 trung đội bảo an, dân vệ chốt giữ. Riêng cứ điểm Cà Tang cao 462m so với mặt biển phía tây do trung đội biệt động quân tiểu đoàn 78 thay phiên nhau chiếm giữ. Bên cạnh các chốt điểm còn có sự chi viện của các trận địa pháo Quế Sơn, Ái nghĩa. Để tạo điều kiện cho Sư đoàn 2 hoàn thành nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tăng cường Sư đoàn Trung đoàn 26 bộ binh, 2 đại đội pháo 85 ly nòng dài, một đại đội pháo 105 ly, 3 xe tăng PT85.

        Theo kế hoạch, bước một diễn ra đêm 17 rạng ngày 18 tháng 7. Nhưng chiều 17 tháng 7 lại xảy ra một tình huống ngoài dự kiến. Tại Bộ chỉ huy tiền phương Sư đoàn, Nguyễn Chơn nhận được tin của đài quan sát báo về: Địch dùng 12 chiếc trực thăng đổ quân xuống Nông Sơn. Mười phút sau, bộ phận quân báo của ta lại báo về: địch dùng trực thăng đổ quân tiếp xuống Nông Sơn thêm một tiểu đoàn khoảng 400 tên. Nguyễn Chơn báo cáo với Đảng ủy Sư đoàn có 2 tình huống: Một là, kế hoạch của ta bị lộ, địch tăng cường đối phó; hai là địch thay quân. Khả năng một ít hơn, vì nếu bị lộ, địch sẽ đổ quân kết hợp với pháo tấn công ta ở những nơi chúng nghi vấn, cho nên chỉ có khả năng duy nhất là chúng thay quân. Đảng ủy Bộ Tư lệnh Sư đoàn nhất trí với ý kiến của Tư lệnh, đề nghị Quân khu vẫn cho đánh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #81 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 09:48:49 AM »


        Vào lúc 0 giờ ngày 18 tháng 7 năm 1974, công binh Sư đoàn tấn công địch trên chốt điểm Cà Tang làm hiệu lệnh tấn công cho toàn Mặt trận. Đồng chí Nguyễn Chơn cho công binh dùng dây kẽm gai bện thành các cáp dài căng ngang sông Thu Bồn. Trận địa bố trí bên bờ nam sông Thu Bồn sẵn sàng nhả đạn diệt ca nô địch khi chúng tháo chạy, một cách nghĩ và làm khá độc đáo, táo bạo được rút kinh nghiệm từ trận Bạch Đằng của Ngô Quyền! Đúng như ta dự kiến, khi ca nô địch tháo chạy chân vịt bị vướng vào thép gai và bị trúng đạn đại liên, hàng trăm tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu.

        Được phát lệnh từ Cà Tang, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1, Trung đoàn 36 (thiếu) tấn công; 11 chốt điểm ngoại vi lần lượt bị tiêu diệt. 6 giờ ngày 18 tháng 7, toàn bộ hệ thống ngoại vi bị quét sạch; 35 trung đội bảo an, dân vệ, 3 phân cục cảnh sát, 6 mâm hội tề ngụy đều bị tiêu diệt và bắt; một mảng lớn các xã tây Quế Sơn được giải phóng với 20.000 dân.

        Trong lúc các đơn vị lo giải quyết các chốt ngoại vi, Trung đoàn 31 áp sát cứ điểm Nông Sơn. Gần sáng, địch tung quân ra định chiếm lại các cứ điểm lân cận, bị các chiến sĩ Trung đoàn 31 chiếm giữ đẩy lùi quân địch vào bên trong cứ điểm. 8 giờ sáng ngày 18 tháng 7, mặt trời lên cao xua tan đi đám sương mù bao phủ đỉnh Nông Sơn; những cứ điểm hiện rõ dần qua ống nhòm trinh sát pháo binh. Với khẩu hiệu "Đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng" ba trận địa pháo 85 ly nòng dài một ngày diệt 5 lô cốt.

        Đến 16 giờ, trên đài quan sát của Bộ Tư lệnh, Nguyễn Chơn qua ống nhòm nhìn thấy 38/41 lô cốt đã bị phá sập. 16 giờ 30 phút, sau khi dứt tiếng pháo, thấy thời cơ dứt điểm Nông Sơn xuất hiện, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 lệnh cho pháo binh bắn cấp tập lần cuối cùng dọn đường cho bộ binh xung phong đánh giáp lá cà với số bộ binh địch còn lại, diệt từng tên, giành giật với địch từng hào giao thông. 17 giờ, căn cứ Nông Sơn bị chiến sĩ Trung đoàn 31 tràn ngập; tiểu đoàn 78 biệt động biên phòng và tiểu đoàn 3 bộ binh ngụy bị tiêu diệt. Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, Chính ủy Nguyễn Huy Chương kiểm tra trận địa và triển khai đánh viện trong các ngày từ 20 đến 30 tháng 7. Các trung đoàn triển khai và đánh địch trên các điểm cao tây Quế Sơn như núi Gai, Lạc Sơn buộc địch tháo chạy khỏi Việt An, Chóp Chài, Gò Mè,...

        Sau chiến thắng dứt điểm Nông Sơn, tôi gặp lại Nguyễn Chơn trao đổi tình hình và thống nhất nhận định về địch và ta lúc bấy giờ. Cuộc họp của Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức ngay tại chiến trường bàn việc di dời 20.000 dân vùng Nông Sơn, Trung Phước lên Hiệp Đức, vì sợ nếu địch chiếm lại Nông Sơn, ta sẽ mất dân. Lúc đó giành được một người dân đưa về vùng giải phóng quý như vàng.

        Qua chiến thắng Nông Sơn - Trung Phước càng bộc lộ phẩm chất tốt đẹp của Nguyễn Chơn - Tư lệnh Sư đoàn 2. Ông luôn có tác phong chuẩn bị chiến trường sâu sắc, phán đoán, đánh giá địch tỉ mỉ, cách xử trí tình huống linh hoạt, thông minh và quyết đoán trong việc phối hợp, hiệp đồng cụ thể với cấp ủy địa phương về công tác phát động quần chúng giành dân, giành đất' tôn trọng nguyên tắc kết hợp chặt chẽ với cấp ủy đảng địa phương.

        Sau chiến thắng Nông Sơn - Trung Phước, do Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá chưa đúng tình hình về địch, nên chậm di dời 20.000 dân ở vùng này lên huyện Hiệp Đức. Vì thiếu gạo, thiếu muối, thiếu thuốc men, nên đời sống của họ rất cơ cực và gian khổ lãnh đạo Tỉnh ủy, Huyện ủy gặp nhiều khó khăn trong việc giúp dân ổn định cuộc sống.

        Song, cũng thời gian này, Sư đoàn 2 vẫn giữ vững vùng giải phóng, mặc dù tướng ngụy Ngô Quang Trưởng vội vàng tung hết lực lượng sư đoàn 3 bộ binh, liên đoàn 12 biệt động vào khu chiến để chiếm lại vị trí đã mất, nhưng rồi chỉ ngậm đắng nuốt cay chịu lấy thất bại.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #82 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 05:15:11 PM »


        Đường về giải phóng Tam Kỳ

        Đầu năm 1974, chiến trường Quảng Nam được kết hợp giữa địa phương và chủ lực (Sư đoàn 2) do Nguyễn Chơn làm Tư lệnh - mở rộng địa bàn vùng giải phóng tạo thế xen kẽ cài răng lược giữa ta và địch.

        Được chỉ thị của Khu ủy và Quân khu, đoàn cán bộ chủ chốt của Quảng Nam do Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam dẫn đầu về thôn Phú Toản bên bờ sông Tranh thuộc huyện Hiệp Đức (Quế Tiên) nơi đóng quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 để họp. Cuộc họp này do các anh Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy, Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 chủ trì; dự cuộc họp có các anh Nguyễn Chơn - Tư lệnh Sư đoàn 2, Nguyễn Huy Chương - Chính ủy Sư đoàn; đại diện Quảng Đà có anh Trần Thận - Bí thư, Phạm Đức Nam - Phó Bí thư và Phan Hoan - Tư lệnh Mặt trận 4. Nội dung cuộc họp bàn phương án tấn công và nổi dậy giành dân, diệt địch, tạo thế chủ động trên chiến trường, tạo thời cơ giải phóng Khu 5 và bàn biện pháp cụ thể thi hành chủ trương đó.

        Tại cuộc họp, chúng tôi tự kiểm điểm công việc của từng tỉnh về đánh địch, giành dân, giữ vững vùng giải phóng, nêu lên những ưu điểm, khuyết điểm trong chỉ đạo.

        Tại chiến trường Quảng Nam, tính đến ngày Hiệp định Pa- ri có hiệu lực, vùng giải phóng mở rộng đến phía tây các huyện đồng bằng nối liền huyện Trà My - Phước Sơn thành mảng liên hoàn có các căn cứ lõm xen kẽ vùng ta, vùng địch kiểm soát (tuy vùng giải phóng còn thưa dân hơn trước khi ký hiệp định). Trên chiến trường Quảng Nam - Quảng Đà, lúc này địch đang ra sức đôn quân bắt lính bù vào số quân bị ta tiêu diệt và làm tan rã.

        Năm 1973, chúng có 63.000 tên, sang năm 1974 tăng 74.500 tên, đóng ở 534 đồn bốt lớn nhỏ, 253 khu dồn dân, ấp chiến lược.

        Trong phương án chiến dịch xuân năm 1975, ta chủ trương đánh vào khâu yếu của địch. Mục tiêu được chọn là quận lỵ Tiên Phước - Phước Lâm. Nơi đây là một thung lũng rộng 200 cây số vuông nằm ở phía tây Tam Kỳ chừng 20 cây số theo đường chim bay, chung quanh có nhiều dãy núi cao, làng mạc xen kẽ. Trong tình thế phòng ngự lúc bấy giờ, đây là cụm chốt điểm phòng thủ cơ bản để giữ thị xã Tam Kỳ - tỉnh ly Quảng Tín của địch. Lực lượng địch ở đây có 3.000 tên, gồm 6 tiểu đoàn bảo an, 2 đại đội biệt kích, 41 trung đội nghĩa quân dân vệ, 2 đội pháo có. 10 khẩu 105 - 155mm. Toàn cụm phòng thủ có 77 cứ điểm, chia thành 3 khu. Chi khu quân sự quận lỵ Tiên Phước; chi khu quân sự quận ly Phước Lâm; dãy điểm cao suối đá chốt giữ đường Tam Kỳ - Tiên Phước vì nó nối liền Núi Sâu, Dãy Thám, Dương Huệ, Dương Bàn Quân tạo thành lá chắn trấn giữ thị xã Tam Kỳ.

        Hợp đồng với 2 trọng điểm then chốt của Bộ đánh ở Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 52 Quân khu 5 cùng quân và dân huyện Tiên Phước được Nguyễn Chơn - Tư lệnh Sư đoàn 2 phân công cụ thể như sau:

        - Hai trung đoàn 31 và 38 có nhiệm vụ tiêu diệt chi khu quận lỵ Tiên Phước.

        - Lữ đoàn 52 tiêu diệt cụm Suối Đá.

        - Trung đoàn 36 diệt cứ điểm Hàn Thôn, bao vây bức hàng quận ly Phước Lâm.

        - Trung đoàn 1 (Ba Gia) làm dự bị cho chiến dịch.

        - Trung đoàn 572 pháo chi viện hỏa lực cho Lữ đoàn 52.

        - Trung đoàn 368 pháo binh chi viện cho hai trung đoàn 31 và 38.

        - Trung đoàn pháo cao xạ chi viện toàn Mặt trận.

        4 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3, từ chân núi Dương Côn tại Sở chỉ huy Sư đoàn 2, Nguyễn Chơn ra lệnh bắn 2 phát pháo hiệu 1 xanh, 1 đỏ vút lên bầu trời báo hiệu giờ G bắt đầu. Đến 16 giờ cùng ngày, quân ta đã làm chủ các mục tiêu trong phương án; đánh tan rã và chiếm toàn bộ các mục tiêu quân địch chiếm đóng (chỉ thực hiện bằng 1/3 thời gian dự kiến).

        Bị một đòn choáng váng, ngày 10 tháng 3, Ngô Quang Trưởng điều sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra Tam Kỳ chuẩn bị hành quân giải tỏa, ngày 11 tháng 3 liên đoàn biệt động 12 cùng tiểu đoàn Bảo An chi đoàn xe bọc thép từ Tuần Dưỡng tiến lên Cẩm Khê, Dương Côn. Ngày 12 tháng 3, trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra Dương Leo, Dãy Thám; Ngô Quang Trưởng ra lệnh điều trung đoàn 4 sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra, điều trung đoàn 2 của sư đoàn 3 ngụy từ Quảng Đà vào để tăng cường lực lượng phản kích chiếm lại mục tiêu đã mất. Hành động của địch càng tạo điều kiện thuận lợi cho 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Đà tấn công các mục tiêu đã định trong chiến dịch. Chỉ trong hai ngày 14 và 15 tháng 3, quân và dân Quảng Nam tấn công tiêu diệt 11 chốt điểm, giải phóng 3 xã tây Thăng Bình để tạo điều kiện mở rộng hành lang đưa lực lượng ta xuống vùng đông. Rạng sáng 17 tháng 3, Tiểu đoàn 70 Đại đội 16 đặc công cùng lực lượng địa phương Thăng Bình tấn công các chốt điểm giải phóng Bình Hải và một phần xã Bình Triều.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #83 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 05:16:30 PM »


        Đêm 18 tháng 3, các tiểu đoàn 72, 74 cùng Đại đội 12 do đồng chí Lê Hải Lý - quyền Tỉnh đội trưởng chỉ huy hành quân xuống vùng đông. Cùng đêm, Tiểu đoàn 70 tấn công san bằng đồn Chợ Được. Từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 3, các tiểu đoàn 70, 72, 74 và Đại đội 12 cùng quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược khu dồn, giải phóng 5 xã vùng đông Thăng Bình, phối hợp nhịp nhàng với cánh đông, Sở chỉ huy tiền phương của địa phương đóng ở Đồi Tròn - Đức An, chỉ đạo Tiểu đoàn 11 trong đêm 20 tháng 3 cùng Đại đội bộ đội địa phương Phước Sơn, du kích xã phía tây Thăng Bình đánh sập cầu ông Triệu trên đường 16 làm chủ khu vực Trảng Chỗi, cắt đường 16 khiến địch vội vã điều trung đoàn 56 từ vùng đông lên phản kích vùng tây.

        Trên hướng trọng điểm Tiên Phước - Phước Lâm, sau 7 ngày chiến đấu, ta đã làm chủ hoàn toàn, nhân dân phấn khởi kêu gọi con em họ trong hàng ngũ địch ra hàng; một số khác ngoan cố, bị ta truy quét loại ra khỏi vòng chiến đấu 250.000 tên địch, giải phóng 21.000 dân, quét sạch hệ thống ngụy quyền kìm kẹp, nhân dân làm chủ chính quyền mới được thành lập ở Tiên Phước và Phước Lâm.

        Sau khi thực hiện thắng lợi giai đoạn 1, Tư lệnh Nguyễn Chơn ra lệnh tổ chức lại đội hình phản công địch. Trung đoàn 31 có tổn thất một ít, Trung đoàn 36 và Trung  đoàn 1 thuộc Lữ đoàn 52 còn nguyên vẹn. Nhìn chung, lực lượng ta còn sung sức. Đêm 23 tháng 3, các đơn vị tiếp tục chiếm lĩnh trận địa. Nhân dân và bộ đội địa phương mang hàng trăm tấn lương thực, đạn dược tiếp tế bộ đội. Tin thắng trận Buôn Ma Thuột dội về. Bộ đội, nhân dân vô cùng phấn khởi hân hoan. Đúng 5 giờ 15 phút, ngày 24 tháng 3, trận quyết chiến chiến dịch bắt đầu. Sau 2 giờ 30 phút chiến đấu, quân ta đánh quỵ trung đoàn 4 sư đoàn 2 của ngụy làm chủ khu vực ngã ba Trường Xuân, sân bay Ngọc Bích, cầu sắt Núi Lân đến dốc Bà Tỡ. Trên hướng tấn công quan trọng, quân ta đánh chiếm khu vực Cẩm Khê Quán Rường; liên đoàn biệt động 12 ngụy phòng ngự ở khu vực này đã bị ta tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Thừa thắng, từ 3 hướng đông, nam và tây có xe tăng yểm trợ quân ta tấn công vào thị xã Tam Kỳ và tỉnh Quảng Tín; địch trong thị xã, một số chống cự lại, bị quân ta tiêu diệt, một số còn sống sót vứt súng tháo chạy ra Đà Nẵng. Quân ta mở cửa nhà lao giải thoát tù chính trị, anh chị em xúc động ôm hôn các chiến sĩ giải phóng, mừng vui nói không nên lời.

          10 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 3 năm 1975, thị xã Tam Kỳ hoàn toàn giải phóng. Tỉnh trưởng Đào Mộng Xuân bỏ cả quân phục, cởi trần tháo chạy cùng tàn quân Đà Nẵng. Chỉ huy tiền phương điều động hai tiểu đoàn 70 và 72 lên chặn địch ở Ngọc Phô chỉ diệt được 3 xe, số còn lại tháo chạy ra Đà Nẵng. Ngày 25 tháng 3, vùng đông Thăng Bình, Tam Kỳ được giải phóng. Nhân dân bung ra phá các khu dồn trở về làng cũ; du kích, cán bộ lo tổ chức chính quyền cơ sở, thu đạn dược, vũ khí do địch tháo chạy bỏ lại.

        Ở phía nam thị xã, Trung đoàn 36 chiếm quận Lý Tín, dùng pháo bắn phá căn cứ Chu Lai, quận Lý Tín được giải phóng. Ngày 25 tháng 3, Trung đoàn 38 có xe tăng yểm trợ đánh Tuần Dưỡng - căn cứ trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy, địch chống cự yếu ớt, rồi tháo chạy. Tỉnh đội Quảng Nam điều hai tiểu đoàn 70 và 72 lên chốt chặn Mộc Bài không cho tàn quân địch chạy ra Đà Nẵng. Ngày 26 tháng 3, nhân dân cùng lực lượng vũ trang Thăng Bình đánh Hà Lam, địch tháo chạy ra khỏi Duy Xuyên. Trong ngày, chúng dùng không quân ném bom đánh sập cầu Bà Rén để cản đường quân ta phát triển. Ở Quế Sơn, lực lượng vũ trang huyện cùng nhân dân nổi dậy hù dọa địch ở đồn Chợ Gò; địch hoang mang, binh lính nổi dậy diệt bọn chỉ huy, mang toàn bộ vũ khí ra nộp cho du kích.

        Đến ngày 27 tháng 3 năm 1975 các địa phương trong tỉnh Quảng Nam hoàn toàn giải phóng. Không một phút nghỉ tay, vị Tư lệnh chiến trường Nguyễn Chơn lấy xe Jeép về Trà Nô tiếp tục nhận lệnh của Khu ủy - Quân khu, cấp tốc hành quân về giải phóng Đà Nẵng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #84 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 05:21:54 PM »


ĐÔI ĐIỀU VỀ TƯỚNG NGUYỄN CHƠN

Thiếu Tướng, nhà văn NGUYỄN CHÍ TRUNG       

        Những người lính cuối cùng của Liên khu 5 lên đường tập kết ra Bắc trên một con tàu Ba Lan. Tàu neo ngoài khơi Quy Nhơn một đêm. Biển vỗ vào đêm đen. Chỉ có biển nói. Còn những người lính chúng tôi ngồi tựa mạn tàu, câm lặng. Từ hôm nay đây và ở nơi này đây - biển - ta bắt đầu xa quê. Hai năm nữa, chỉ hai năm nữa thôi, sau một cuộc tuyển cử theo như hiệp định ký ở cái thành phố xa tít mù nào đó, ta sẽ trở về. Có thật không, hai năm nữa, ta sẽ trở về? Trong kia là bờ. Sau những rặng thông thưa và xơ xác, những đốm đèn đỏ hoe, thoáng hiện, thoáng mất. Và kéo dài về phía núi, xa nữa là quê hương của người lính này hay người lính khác, cắt rốn ở đấy và chôn nhau ở đấy. Mẹ cha, em gái và em trai, cô, dì, cậu, mợ, bầu bạn thuở nhỏ và một đôi mắt đau đáu, có thể nhìn rõ nhau trong khuya và những mối tình cũng ở đấy.

        Người lính nào quê ở vùng tự do, được đơn vị cho phép về thăm nhà mấy bữa. Còn ai quê ở vùng Pháp tạm chiếm, không sao có thể về kịp trong dăm ba ngày. Như quê tôi ở tận Đồng Bò, cánh đồng vàng rực với những đàn bò thong dong nhai cỏ trong tiếng xào xạc của gió mía; còn Nguyễn Chơn quê ở tận làng Phú Lộc, dưới chân đèo Mây, giặc đóng từ ngày đầu kháng chiến. Chúng tôi chỉ kịp chạy vội về thăm một ông chú, một bà thím, một đứa em nào đó - đơn vị đã từng đóng quân trong nhà, chiều chiều đến vẫn đem cho chúng tôi một nồi cháo đường, một rổ khoai chà, khoai luộc.

        Giữa đêm mông lung, tưởng đã bị cắt lìa với tất cả, làng quê kia và những mối tình vùi ủ tận nơi sâu kín nhất, bỗng từ trong sóng biển, trôi lai láng, một bóng người bơi tới Bóng người bám nhanh vào chiếc phao. Sau đó, những người lính chúng tôi, vẫn tựa hết bên mạn tàu, nghe nói trong hơi thở gấp:

        - Bọn ác ôn về cả rồi!

*

*       *

        Có thật không, hai năm nữa ta sẽ trở về?

        Câu hỏi ấy dằn vặt và triền miên, dày vò nặng trĩu. Nhưng rồi, mùa đông đến, rủ nhau đi xin rơm về ủ chỗ nằm, giúp dân làm cỏ lúa, rồi đi chống bọn phản động cưỡng ép đồng bào di cư, đi đắp đê, đóng gạch xây dựng doanh trại, bắn bia, tập đội ngũ, đọc "Thép đã tôi thế đấy! " nỗi ưu tư nguôi dần. Thôi cứ hẳn tin vậy.

        Cho đến buổi chiều ngày 17 tháng 7 năm 1956, vừa ăn cơm xong, đài đưa tin: Ngô Đình Diệm tuyên bố không có tổng tuyển cử, ngày 20 tháng 7 năm 1956 không có tổng tuyển cử...

        Hồi ấy Thanh Hoá đang đói. Đơn vị chúng tôi đóng ở Còng. Bữa cơm chiều, mỗi người lính đều nhịn một ít, đem về một bát cơm cho các cháu nhỏ. Tôi rụng rời tay chân làm rơi bát cơm. Cúi xuống hốt, cơm rơi hốt lại chỉ còn lưng bát, nước mắt ràn rụa.

        Đã hai năm rồi mà ta không thể trở về. Anh Nguyễn Chánh, trong kháng chiến chống thực dân Pháp là Bí thư, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5, đến thăm đơn vị chúng tôi. Trên nụ cười bình thản hằn rõ vô số những nếp ưu tư, anh nói:

        - Tôi cũng muốn trở về lại Liên khu ngay bây giờ đây. Với Cao Muôn, Đá Chát, Hiên, Giằng, An Khê, Cheo Reo,... chúng ta hoàn toàn có thể gây dựng những căn cứ du kích và bắt đầu từ đánh du kích. Nhưng không được, phải chờ đợi.

        Anh Chánh, có lẽ hơn ai khác, hiểu niềm khao khát và nỗi dày vò của chúng tôi. Anh lại cười:

        Hồi ra đi, ở Tam Quan, chúng ta đã nói với nhau: nếu kẻ thù không để cho chúng ta trở về với ngọn cờ hoà bình, thì chúng ta sẽ trở về bằng ngọn cờ Quyết chiến quyết thắng.

*

*       *

        Một trong những người được trở về đầu tiên đó là Nguyễn Chơn. Ngày ấy chưa có đường dây 559. Theo con đường giao liên hồi chống Pháp, ngày 25 tháng 2 năm 1959, Nguyễn Chơn cùng với đoàn ra đi. Hơn một tháng sau, đến Ga Chị Thể. Ga Chị Thể là mật danh trạm đón anh em ở tây Quảng Nam. Từ Ga Chị Thể, Nguyễn Chơn và đoàn về nơi ở. Đó là một cụm rừng. Lúc này Mỹ và Diệm đang ráo riết làm chiến dịch "Thượng du vận", tên riêng bọn chúng đặt cho các chiến dịch tố cộng ở vùng núi. Cách đó không xa là làng A Dinh - một làng của đồng bào dân tộc Ca Tu, đầu nguồn sông A Vương. Làng xơ xác. Đói muối đã bốn mùa rẫy. Đàn bà mặc váy bằng vỏ cây. Đêm đến leo lét mấy ống đèn chai, khói đen kịt.

        Công việc đầu tiên của những người lính trở về là chặt cây che lán: Mỗi ngày, mỗi người được phát một lon nếp Lào, mua dọc đường đi. Ba tháng, mới được phát một lon muối nên Nguyễn Chơn trải tấm ni- lông ra sạp, đổ lon muối trên ni lông, bẻ một chiếc que nhỏ, gạt đi gạt lại, chia lon muối cho đủ 90 phần, để biết chắc một phần là bao nhiêu, hằng ngày lấy vừa đủ ăn, để khỏi phải hụt những ngày sau.

        Ban đêm cả đoàn mắc võng nằm quanh đống lửa. Mảnh đất heo hút sơn cùng, thuỷ tận, không thấy được đồng bằng, không thấy được thành Phố, chiều ập đến rất mau, còn sương thì tan rất chậm. Cả đoàn phải giữ bí mật không cười to, không nói lớn. Lúc nào cũng thắc thỏm. Không có lịch, cho nên ngày tháng cũng không cần ghi nhận. Nhưng, chính ở rẻo núi mù sương và lạnh buốt này là miền Nam. Bởi thế, phải tồn tại, tồn tại ở nơi hẻo lánh tột cùng, xa cách tột cùng, gian khổ tột cùng này. Tồn tại, ấy là sự bắt đầu của mọi sự bắt đầu. Tồn tại mới có thể gây dựng, đợi chờ, rồi khởi nghĩa, rồi tiến công, đứng ở nơi này mà ước ao và khao khát.

        Ban ngày cả đoàn ra rẫy rong thân, cốt cây, tạo thế làm cho những thân cây to (hai người ôm không hết) ngã xuống, đè chồng lên các thân cây nhỏ, kích đổ hàng mảng rừng, nghe ào ào như có gió bão, rồi dùng rựa băm nhỏ, trải ra, cho cành, cho lá khô cong dưới nắng và đốt, lửa ngùn ngụt, cháy lan, đuổi chạy không kịp, vấp ngã sưng vù cả tay chân. Mặt rẫy ngổn ngang những thân cây cháy xém. Một lớp tro đày phủ lên đất, nhìn lớp tro có thể đoán được kết quả cuối mùa. Qua mấy đêm, sương xuống làm cho đất ẩm. Cuối cùng là trồng tỉa.

        Người chọc lỗ cầm một cây cọc vót nhọn. Người tỉa cầm một nắm lúa giống trong lòng bàn tay, đều đều xỉa xuống lỗ; mỗi lỗ dăm bảy hạt. Người tỉa lúa đi tụt lùi. Trên lớp tro mịn và dày là dấu của những bàn chân. Bàn chân trái của Nguyễn Chơn thiếu ngón út in đậm trên tro, như có ai đó đã từng cùng với thời gian vẽ lên trên quả đất này từ xa xưa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #85 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 05:24:02 PM »

     
*

*      *

        Đà Nẵng được giải phóng, Nguyễn Chơn về làng thăm cha. Người cha giương mắt nhìn con, không nói. Người cha cúi sát hơn:

        - Chởn đa con? - Tên khai sinh của Nguyễn Chơn là Nguyễn Chởn - Thằng hai Chởn về thiệt à?

-   Sao không thiệt. Hắn đó. Thấp, đôi mắt tròn và bàn chân trái thiếu ngón út.

        Thế mà đã gần ba mươi năm, rồi ngày pháp đánh chiếm lại Đà Nẵng, Chơn thưa với cha:

        - Cho con đi tòng quân. Pháp hắn trở lại rồi.

        Bà mẹ hỏi:

        - Tòng quân có chết không?

        Nguyễn Chơn cười:

        - Có sống, có chết.

        Ông cha nói:

        - Mi đi, hắn giết hết cả nhà. Giết y như giết cộng sản hồi trước.

        Ông gọi:

        - Cấp ơi, Nhã ơi, Khâm ơi, út ơi! Ra cả đây. Chởn ơi, thôi mi giết hết cả mẹ, cả cha, cả em, rồi mi đi. Mi không giết, Tây đến, hắn biết mi đi đánh Tây, hắn cũng giết.

        Bên An Hải, trong Ngã Năm, dưới bến đò lửa cháy, những cột khói đen ùn ùn che lấp cả Sơn Trà. Ngoài khơi, tàu chiến Pháp đậu lô nhô, ca- nô máy cập vào Vũng Thùng .

        Tai nghe súng nổ cái đùng.

        Thôi rồi Tây chiếm Vũng Thùng hôm qua...

        Câu ca ngày xưa, gieo qua mấy thế hệ, bén rễ vào gan, vào óc như vọng lên tím bầm từ mặt đất pha cát nghèo hèn những đôi chân trần đang đứng kia.

        Nguyễn Chơn cúi đầu thưa với cha:

        - Cha nạ, cho con đi thôi không đi thì mất nước. Cha đừng ép con ở lại với bọn giặc.

        Mỗi một con người không chắc gì đã nhận biết được hết khát vọng của chính mình. Bởi thế, cho dù là cha mẹ, anh em máu mủ ruột rà, ở bên ngoài cái tâm hồn sống ấy, của riêng nó, đơn nhất mà vô cùng, làm sao mà có thể nhận biết trọn vẹn.

        Nguyễn Chơn lại nói:

        - Xin cha cho con đi thôi. Cha đừng ép con ở lại với bọn giặc.

        Giữa tất cả những ngổn ngang bề bộn, lửa, máu, nước mắt ròng ròng, cái giật mình đau đớn, tiếng gọi tòng quân có thể đốt lên thành đuốc, sự bịn rịn đến não lòng, làm sao có thể diễn đạt cho những người thân nhận ra được khát vọng kết tủa trong tro, trong cát, trong muối đọng và biển sâu, trong vô vàn những sườn núi đá chen đầy các cánh hoa dại toả hương, trên đèo Mây, trên núi Chúa và trong tâm hồn của người thanh niên trai tráng.

        Nỗi đau lớn nhất là nỗi đau không nói. Còn khát vọng, khát vọng lại chỉ có thể nói bằng một nỗi đau, mà mỗi dân tộc từ thuở hoang sơ và mỗi con người, đơn nhất và vô  cùng đều có.

        Nguyễn Chơn đứng gần hơn về phía cha:

        - Cha tha lỗi cho con. Con đã quyết chí rồi.

        Chính trong giây phút ấy, may ra chỉ có nỗi đau mới có thể lý giải được sự khôn cùng của khát vọng, Nguyễn Chơn chặt đứt ngón chân út của mình.

*

*       *

        Đồng đội thường nghĩ: Nguyễn Chơn sinh ra như để mà xây dựng, để mà tiến công, để mà đánh  những đòn tiêu diệt gọn.

        Nguyễn Chơn ít nói và khi nói, thì nói ngắn. Nhưng con đường mà bàn chân thiếu ngón út in đấu khát vọng đau đáu của một thời, dài xiết bao.

        Khát vọng ấy vẫn còn đó, nguyên vẹn và sâu thẳm, như Nguyễn Chơn nói ở Đại hội Đảng toàn quân: Một khi non sông đã thu về một mối, phải bảo đảm cho Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chúng ta qua hàng trăm thế hệ, hàng ngàn thế hệ, mãi mãi không bị bất ngờ về chiến lược.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #86 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 05:26:59 PM »


LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ Ở CAM- PU- CHIA: CHIẾN THẮNG Ở ĐIỂM CAO 547

Đại tá TRẦN NHƯ TIẾP       

        Mùa hè năm 1984, từ Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ở Đà Nẵng, Trung tướng Nguyễn Chơn bay sang Cam- pu- chia để nghiên cứu chiến trường, chuẩn bị cho trận đánh tiêu diệt điểm cao 547 đang nằm trong tay quân Pôn Pốt.

        Trước khi về nhận chức Tư lệnh Quân khu 5, ông biết các sư đoàn thuộc Quân khu 5 đã nhiều lần tấn công cao điểm này, nhưng lần nào cũng thất bại. Đặc biệt, trong cuộc tấn công lần thứ tư, Sư đoàn 307 do bị thiệt hại nặng đã phải để lại liệt sĩ, thương binh khi rút lui. Những thất bại liên tiếp này, không những làm giảm sút lòng tin, ý chí chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu, mà còn tạo ra những biểu hiện thiếu tin tưởng, mất đoàn kết giữa sở chỉ huy cơ bản và tiền phương Quân khu, làm ảnh hưởng đến tình hình chung. Chính vì vậy, ngay sau khi về nhận chức Tư lệnh, ông quyết định phải đánh thắng một trận giòn giã để củng cố khối đoàn kết nội bộ. ông chọn điểm cao 547, vì đây là nơi ác liệt, gay go nhất. Nếu thắng địch ở đây, thì sẽ mở ra rất nhiều cơ hội thuận lợi để tiêu diệt quân địch trên toàn chiến trường, đồng thời sẽ củng cố được khối đoàn kết nội bộ, khơi dậy niềm tin, ý chí chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu.

        Nguyễn Chơn tổ chức một đoàn cán bộ đi kiểm tra Mặt trận 579, nghiên cứu chiến trường tại chỗ. Đã gần 6 năm kể từ khi quân tình nguyện Việt Nam giúp bạn thoát khỏi họa diệt chủng, Nguyễn Chơn đã nhiều lần trở lại đất nước Chùa Tháp, nhưng đây là lần đầu tiên ông đặt chân lên dãy Đăng Rếch nằm sát biên giới Thái Lan - Cam- pu- chia.  Đăng Kếch tiếng Khơ Me có nghĩa là chiếc đòn gánh, dài hàng trăm cây số, rộng khoảng 30 cây số, độ cao từ 4 đến 6 trăm mét. Đứng dưới chân núi nhìn lên trông như một bức trường thành vững chắc, núi non hiểm trở. Dãy núi này về mùa khô, những khe suối thường cạn kiệt nước, thỉnh thoảng mới có vài vũng nhỏ đọng sát chân núi, ven những thung lũng khô khốc vì nắng nóng, có khi phải đi hàng buổi mới kiếm được một ít nước. Vào sâu trong nội địa, các bản làng thưa thớt, núi rừng mênh mông toàn là cây khộp, nên nước càng trở nên khan hiếm. "Đây chính là nguyên nhân dẫn đến thất bại của những đánh trước" - Nguyễn Chơn nói với cán bộ trinh sát đi bên cạnh như vậy.

        Pôn Pốt chọn dãy Đăng Rếch để xây dựng thành một căn cứ địa vững chắc vì nhiều lý do: Đây là nơi có thể tổ chức phòng thủ nhiều tầng, có chính diện rộng, có chiều sâu an toàn, kết hợp với địa hình hiểm trở có núi cao, rừng rậm, nhiều hang động, vách đá cheo leo, dựng đứng, có nơi muốn qua, phải dùng thang dây mới qua được, khi tiến, có thể thọc sâu nội địa, khi lùi, có thể rút sang Thái Lan bằng con đường lớn từ biên giới Thái Lan vắt qua lưng chừng núi. Pôn Pốt vẫn thường tự hào nói với thuộc hạ: "Đây là dãy Ma Thiên Lãnh của đất nước ăng- co!".

        Nhiệm vụ phòng thủ điểm cao 547 được giao cho hai sư đoàn (thiếu) 612 và 616. Ngoài ra còn có 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 hoặc 2 phi đội máy bay Thái Lan đóng cách Đăng Rếch khoảng 50 cây số. Quân Pôn Pốt chia căn cứ 547 thành 2 tầng phòng thủ. Tầng dưới gài các loại mìn chống bộ binh, mìn chống tăng, tầng trên treo hàng nghìn quả mìn trên cây, trên đá thay cho lính cảnh giới. Trên cơ sở 2 tầng đó, hệ thống phòng thủ lại được chia làm 3 tuyến: Tuyến 1, làm nhiệm vụ tuần tra canh gác, an ninh cảnh giới. Tuyến 2, làm nhiệm vụ phòng thủ chính do các lực lượng bộ binh kết hợp với hỏa lực phi pháo dựa vào các hang động, các công sự vững chắc có hệ thống vật cản tự nhiên kết hợp với các hàng rào dây thép gai và các loại mìn, bẫy. Tuyến 3, bộ phận đầu não gồm sở chỉ huy, kho tàng, lực lượng vệ binh... hình thành từng cụm liên hoàn.

        Do tính chất quy mô của căn cứ, Nguyễn Chơn với tư cách là Tư lệnh Quân khu sẽ trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Trước tiên, để nắm chắc tình hình quân địch, ông tổ chức một hệ thống trinh sát gồm 7 toán trinh sát của Trung đoàn, Sư đoàn và Mặt trận, 4 đội trinh sát luồn sâu, 25 toán trinh sát cơ động, 1 toán trinh sát bắt tù binh, 13 toán trinh sát dự bị và cho đặt 4 đài quan sát ở 4 hướng.

        Lực lượng tham gia trận đánh gồm Sư đoàn 307, Trung đoàn 1 của Sư đoàn 2, Trung đoàn 143 của Sư đoàn 315, 1 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn cao xạ, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn M.113, 1 tiểu đoàn cao xạ 37 ly cùng một số đơn vị kỹ thuật khác như vận tải, công binh, thông tin, hậu cần, quân y... Riêng bộ phận thông tin đã có đến 1.628 cán bộ, chiến sĩ đảm trách 2 xe tổng đài tiếp sức, 2 xe công trình, 803 máy thông tin liên lạc, 670km dây hữu tuyến.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #87 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 06:56:10 AM »


        Xác định tinh thần, ý chí, kỷ luật và kỹ thuật chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường là yếu tố quyết định để giành thắng lợi, nên trước khi trận đánh diễn ra, ông đã tổ chức các đợt tập huấn, huấn luyện cho tất cả các đơn vị tham gia trận đánh. Cán bộ chỉ huy từ đại đội trở lên đều phải học các bài về chiến thuật đánh địch trong địa hình hiểm trở, phân tích, rút kinh nghiệm trận đánh thứ tư của Sư đoàn 307, xây dựng quyết tâm chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đối với bộ đội tổ chức huấn luyện từ cơ bản đến diễn tập phân đội, có bắn đạn thật và tập luyện theo phương án đánh địch trong công sự vững chắc.

        Để đảm bảo thắng lợi, ông đưa vào khu chiến hơn 1 vạn quân, trong đó đưa từ Việt Nam sang 3.000 quân, huy động 438 chuyến xe và 5 chuyến chuyên cơ đưa cán bộ từ Pleiku sang và cho phân đội A72 từ Hà Nội sang Tà Beng ứng chiến. Bộ phận hậu cần phải đảm bảo đủ lương thực, thực phẩm cho hơn 11 nghìn quân ăn trong 25 ngày. Bộ phận vận tải phải đảm bảo vận chuyển 531 tấn vũ khí, đạn dược, trong đó có 591 pháo, cối, súng bộ binh và các phương tiện kỹ thuật khác trước ngày nổ súng. Bộ phận công binh bảo đảm hoàn thành việc khai thông 3 sân bay trực thăng, bảo đảm khắc phục vật cản, mở đường cho bộ binh, xe tăng, pháo binh tấn công chiếm lĩnh mục tiêu.

        Một vấn đề hết sức quan trọng cần phải khắc phục là vấn đề nước uống cho bộ đội trong thời gian tấn công vào căn cứ địch. Qua nghiên cứu chiến trường, Nguyễn Chơn nhận thấy các trận đánh trước đây đều bị thất bại là do bộ đội thiếu nước uống. Trên điểm cao trời nắng nóng, không có nước uống, nên nhiều chiến sĩ bị ngất xỉu. Một số đi tìm nước uống, vấp phải mìn, bị thương vong làm ảnh hưởng đến tinh thần và sức chiến đấu của đơn vị. Có đơn vị hành quân đến nơi, không còn nước uống, buộc phải rút lui...

        Nguyễn Chơn suy nghĩ mãi để tìm cách giải bài toán hóc búa này. Cuối cùng cũng tìm ra cách giải quyết, ông điện về Đà Nẵng, ra lệnh cho bộ phận hậu cần thu tất cả các vòm cống dã chiến của Mỹ còn lại trong các đơn vị và ở các tỉnh trong toàn Quân khu, sau đó đem hàn ghép lại thành những thùng có sức chứa từ 3 đến 4 khối nước rồi đưa sang Cam- pu- chia. Các đội xe chuyển nước của Quân khu gồm 30 chiếc, có 10 xe bọc thép hộ tống đã đưa nước từ nguồn nước cách xa gần 50 cây số về các trạm tiếp nước của các trung đoàn đặt ở sát khu chiến. Đồng thời ông cho mua thêm hàng nghìn can nhựa, bao ni- lông có sức chứa từ 4 đến 20 lít gởi sang để trang bị cho các tiểu đội, trung đội với cách làm này, mỗi chiến sĩ ngoài bi đông cá nhân chứa từ 1 đến 5 lít nước, còn có những túi nước tập thể chứa từ 10 đến 20 lít sẵn sàng đưa đến tận chiến hào. Mỗi xe tăng, xe kéo pháo... đều được trang bị 1 hoặc 2 thùng phuy có sức chứa từ 1 đến 2 trăm lít. Việc đảm bảo đủ nước uống trong chiến đấu đã làm cho bộ đội yên tâm đánh địch, không sợ chết khát như những lần trước.

        Ngày 20 tháng 4 năm 1984, một cánh quân của Sư đoàn 307 bắt đầu thực hiện đánh chia cắt, tạo thế cho bộ đội công binh mở đường triển khai hệ thống thông tin phục vụ chỉ huy chiến đấu. Cánh quân này đã đánh tan một cánh quân địch ngăn chặn, chiếm được hồ nước Suối Tre và điểm cao 106.

        Trong các ngày từ 20 đến 23 tháng 4, đại bộ phận Sư đoàn 307 và Trung đoàn 143 Sư đoàn 315 bí mật đưa đội hình vào vị trí chiến đấu. Bộ đội được lệnh tìm cách tránh địch, không cho địch phát hiện việc chuyển quân. Cùng thời gian đó, Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 và xe thiết giáp K63, đại đội tăng T54, pháo binh, cao xạ cũng triển khai đội hình chuẩn bị đột phá trên hướng tấn công chủ yếu. Ở mũi phối hợp, Trung đoàn 19K bộ đội Cam- pu- chia đã tổ chức bao vây và đánh chiếm khu vực An Lung.

        Mọi công việc chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành, Nguyễn Chơn cùng các cán bộ chỉ huy Mặt trận 579 và chỉ huy các Sư đoàn đi kiểm tra trận địa lần cuối cùng. ông hài lòng nhận thấy mọi việc đã được sắp xếp đâu vào đó, đúng theo mệnh lệnh chỉ huy của mình.

        7 giờ sáng ngày 24 tháng 4, Nguyễn Chơn ra lệnh tấn công. Từ khắp các nơi quanh căn cứ, bộ đội đồng loạt nổ súng. Ở hướng chủ yếu, các chiến sĩ Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 được hỏa lực pháo binh, xe tăng, thiết giáp chi viện đã ào lên đánh chiếm các mục tiêu quy định.

        Ngay từ những giờ đầu, Trung đoàn đã đập tan đơn vị địch phòng thủ ở khu vực Z6, chiếm lĩnh mục tiêu. Đến cuối ngày 24 tháng 4, Trung đoàn đã hoàn toàn kiểm soát được các khu vực Zl, Z12, Z14, diệt phần lớn số quân địch chốt giữ tại đây.

        Trong lúc đó, ở cánh phải, các trung đoàn của Sư đoàn 307 tiến hành bao vây sau lưng địch, đánh từ trong đánh ra, dồn địch vào thế bị động, lần lượt bỏ các điểm cao dọc theo con đường chạy sang biên giới Thái Lan. Ở cánh trái, Trung đoàn 143 Sư đoàn 315 được lệnh Mặt trận 579 không được tiến sâu vào đất Thái Lan, nên đã dừng lại làm nhiệm vụ chốt chặn, không cho địch thoát sang bên kia biên giới.


        Ngày 25 tháng 4, những khu vực còn lại được địch tăng cường phòng thủ, tổ chức chống trả một cách quyết liệt với ý đồ ghìm chân các đơn vị bộ đội lại, để bộ đội ta, vì khát nước, sẽ tự động rút lui như những lần trước. Nhưng địch không ngờ rằng, lần này bộ đội không những không chết khát mà sức chiến đấu càng lúc càng tăng lên. Những khẩu đội ĐKZ, trọng liên, đại liên địch được bố trí ở các hang động trên vách núi lần lượt bị hỏa lực pháo binh và xe tăng tiêu diệt. Sư đoàn 307 từ các điểm cao phía sau lưng đánh thốc tới, dồn địch lại thành từng cụm trong khu vực trung tâm. Đến cuối ngày 25 tháng 4, Sư đoàn 307 đã chiếm được các khu vực chính yếu như Z1A, Z1B, Z4...

        Ở các khu vực M1, M2, các mũi tấn công của Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 bị hỏa lực cực mạnh của địch bố trí ở các khu vực M4, M5 chặn lại. Đứng trên một điểm cao, Nguyễn Chơn quan sát thấy đội hình Trung đoàn 1 đang ở vào thế bất lợi, ông liền ra lệnh cho lựu pháo 105 ly và pháo cao xạ 37 ly ngắm bắn trực tiếp vào các ổ hỏa lực địch ở M4, M5, đồng thời lệnh cho Trung đoàn 29 Sư đoàn 307 nhanh chóng chuyển dịch đội hình giải quyết các mục tiêu địch ở M4, M5 để tạo điều kiện cho Trung đoàn 1 xung phong tiêu diệt địch ở M1 và M2.

        Sáng ngày 26 tháng 4, các cánh quân của Sư đoàn 307 và Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 từ hai hướng phía trước và phía sau mở đợt tấn công dứt điểm vào trung tâm chỉ huy đầu não địch. Không còn tinh thần chiến đấu, các đơn vị địch nhanh chóng bị tiêu diệt. 10 giờ, sở chỉ huy căn cứ cửa khẩu 547 bị xóa sổ, các mục tiêu còn lại xung quanh căn cứ lần lượt đầu hàng.

        Trong trận đánh này, hai sư đoàn 612 và 616 Pôn Pốt đã bị xóa sổ, 1.800 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó hơn 300 tên bị bắt. Trên 600 súng các loại bị tịch thu, trong đó, phần lớn là vũ khí hạng nặng như cối 82 ly, ĐKZ 82 ly, cùng với nhiều quân trang quân dụng, 30 tấn lương thực, hàng trăm tấn đạn, nhiều tài liệu quan trọng.  

        Chiến thắng điểm cao 547 một lần nữa khẳng định tài năng lãnh đạo chỉ huy, tác phong sâu sát, tỉ mỉ trong chiến đấu của tướng Nguyễn Chơn. Những yếu tố mang tính quyết định làm nên chiến thắng này là việc giải quyết một vấn đề tuy nhỏ, nhưng hết sức quan trọng là nước uống, kế đó là việc lo tập huấn, huấn luyện bắn đạn thật và xây dựng quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi. Chính nhờ đi sâu, đi sát cán bộ, chiến sĩ, không bỏ qua từng việc nhỏ, mà ông đã làm nên một chiến thắng có tầm chiến lược, giúp nhân dân bạn từng bước đẩy lùi những tên diệt chủng đến bờ vực thất bại, đồng thời củng cố được khối đại đoàn kết nội bộ, khôi phục niềm tin, truyền thống "Quyết chiến quyết thắng" cho cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #88 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 07:01:20 AM »


VÙNG BA BIÊN GIỚI - NƠI GHI DẤU CHIẾN CÔNG CỦA QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM

Đại tá TRẦN NHƯ TIẾP       

        Sau chiến thắng điểm cao 547 tháng 4 năm 1984, Bộ Tư lệnh Mặt trận 719 đã tổ chức họp tổng kết rút kinh nghiệm về trận đánh cho tất cả các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam, đồng thời cho các quân khu huấn luyện bộ đội, chuẩn bị đến đầu năm 1985 sẽ tiến hành tấn công tiêu diệt 16 căn cứ của Pôn Pốt dọc theo biên giới Cam- pu- chia và Thái Lan.

        Tình hình Cam-pu-chia lúc này đã được cải thiện rõ rệt. Quân đội của chính quyền Cam- pu- chia dân chủ đã xây dựng và làm chủ được một thế trận tương đối vững chắc ở một số vùng nội địa. Tuy nhiên, ở vùng biên giới, đặc biệt là ở vùng ba biên giới Lào - Cam-pu-chia - Thái Lan, tình hình còn diễn biến phức tạp. Các lực lượng địch được sự giúp sức của Thái Lan đã dựa vào địa hình hiểm trở để xây dựng nơi đây thành một căn cứ "kháng chiến" lớn nhất bắc Cam- pu- chia. Đây là nơi Pôn Pốt chọn làm căn cứ huấn luyện, hậu cần, hậu cứ, kho tàng... Từ nơi đây địch tổ chức tiếp nhận các loại súng đạn, hàng hóa, lương thực... được chuyển bằng Ô tô từ Thái Lan đưa đến, Sau đó dùng sức người chuyển đi các căn cứ khác. Đây cũng là nơi xuất phát những đợt hoạt động quân sự của các lực lượng địch vào sâu trong nội địa, gây nhiều khó khăn cho lực lượng cách mạng Cam- pu- chia.

        Để giúp bạn nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng phản động, ổn định tình hình, Bộ Tư lệnh Mặt trận 719 quyết định mở đợt tiến công tiêu diệt các lực lượng địch ở vùng ba biên giới. Một lần nữa, Tư lệnh Quân khu 5 Nguyễn chơn lại trực tiếp chỉ huy.

        Đã từng quen thuộc địa hình núi cao, dốc đứng của dãy Đăng Rếch trong trận đánh điểm cao 547, nhưng ông vẫn tiến hành làm kỹ công tác trinh sát, nghiên cứu chiến trường. Đối với ông, công tác chuẩn bị chiến trường chu đáo là một phần quan trọng để giành thắng lợi. ông nói với một cán bộ trinh sát Sư đoàn:

        - Đi trinh sát, đi chuẩn bị chiến trường là phải đột nhập vào tận nơi, mắt phải nhìn thấy, tay phải sờ đến, tai phải nghe được, thì mới gọi là đi chuẩn bị chiến trường!

        Đi nghiên cứu chiến trường với ông thật gian khổ, vất vả nhưng cũng rất thú vị vì luôn học được những bài học thực tế, sống động. ông không chỉ có lòng dũng cảm, sự phán đoán, quan sát nhạy bén, tinh tế, mà còn có những động tác kỹ thuật rất điêu luyện, thuần thục như đi không gây tiếng động, chui rúc qua các lớp hàng rào rất nhẹ nhàng, khéo léo. ông thường nói với những cán bộ chỉ huy đi nghiên cứu chiến trường cùng ông:

        - Có chuẩn bị kỹ công tác trinh sát, nắm cụ thể được địa hình, quan sát được cách bố trí của địch, thì mới xác định đúng phương án, chọn đúng hướng đột phá chủ yếu, hướng quan trọng và hướng bao vây chốt chặn chính xác.

        Nhờ sự dìu dắt, chỉ bảo tận tình của ông mà sau này nhiều cán bộ từng làm việc dưới quyền ông đã trở thành những người chỉ huy giỏi, được giao đảm nhận những chức vụ quan trọng.

        Vùng ba biên giới Cam- pu- chia - Lào - Thái Lan trải rộng trên một địa hình đa dạng. Ở phía Cam-pu-chia, dãy Đăng Rếch kéo dài rồi thấp dần về phía Lào. Trên sườn núi, dốc đá lởm chởm, dựng đứng, rất khó khăn cho việc di chuyển đội hình.

        Theo dõi Nguyễn Chơn trình bày phương án đánh, Đại tướng Đoàn Khuê - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 719 đã 2 lần di chuyển mũi tên luồn sâu trên sa bàn cát và cạo sửa các mũi tên tác nghiệp trên bản đồ. Đại tướng đã đặt ra cho ông nhiều câu hỏi, câu nào cũng được ông giải đáp một cách thuyết phục. Cuối cùng, phương án đánh hết sức táo bạo, hiểm hóc của ông đã được Bộ Tư lệnh 719 phê chuẩn.

        Giữa tháng 12 năm 1984, các đơn vị đặc công và một bộ phận Sư đoàn 307 bắt đầu thực hiện bước đánh nghi binh lừa địch bằng cách đánh chiếm Núi Cụt của quân Sri-ê-ka, mở thông đường kéo pháo, triển khai lực lượng trên hướng chính diện.

        Tiếp đó, từ ngày 28 tháng 12, các lực lượng đánh ép nghi binh bắt đầu triển khai đội hình. Các đơn vị bộ binh, pháo binh, công binh, pháo cao xạ, xe tăng... đồng loạt xuất quân đánh phá các mục tiêu trong khu chiến, đánh chiếm một số điểm cao, buộc địch phải đưa lực lượng bộ binh và hỏa lực ra chống đỡ. Đợt đánh nghi binh này kéo dài trong 10 ngày. Bộ Tư lệnh Mặt trận 579 sử dụng Trung đoàn công binh dùng cả xe húc và bộc phá mở đường lên biên giới, đồng thời sử dụng xe tăng, pháo binh, cao xạ đánh mạnh vào phía trước căn cứ địch. Địch sai lầm dốc hết lực lượng cả công binh lẫn hỏa lực từ phía sau Pẹt úm ra phía trước, tăng cường công sự, trận địa để đối phó với các đợt tấn công liên tục ở hướng chính diện.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21500


« Trả lời #89 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2016, 07:04:40 AM »


        Trong lúc địch đang tập trung đối phó ở hướng chính diện thì đại bộ phận các đơn vị bộ đội Quân khu 5 đã bí mật chia làm 2 cánh luồn sâu vào đất Thái Lan khoảng 13 cây số. Cánh trái xuất phát trên đất Cam- pu- chia gồm các đơn vị của Sư đoàn 315. Cánh phải xuất phát trên đất Lào gồm các đơn vị của Sư đoàn 2. Các phân đội hỏa lực phải khiêng vác pháo cối bám theo đội hình hai sư đoàn.

               Sau nhiều ngày băng rừng lội suối, chịu đựng cái nóng khốc liệt trên đất Lào, dùng thang dây vượt qua dãy Đăng Rếch cheo leo trên đất Cam- pu- chia, cuối cùng hai sư đoàn cũng đến nơi quy định đúng thời gian và đã bắt liên lạc được với nhau. Lúc này đội hình hai sư đoàn cách nhau khoảng 24 cây số.

        Đúng 7 giờ sáng, ngày 4 tháng 1 năm 1985, qua máy điện đài, Nguyễn Chơn ra lệnh tấn công trên toàn Mặt trận. Ngay lập tức, các cánh quân từ khắp các hướng đồng loạt nổ súng đánh dồn về phía căn cứ địch. Ở phía sau lưng, các đơn vị thuộc Sư đoàn 315 tiến công bên cánh trái, đánh chiếm điểm cao 753. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 2 tiến công bên cánh phải, đánh chiếm điểm cao 412. Hai cánh quân từ phía sau lưng cùng lúc đánh thốc ra, ép địch vào thế lúng túng, bị động. Đây là một đòn đánh hiểm hóc mà cả Pôn Pốt, Sri-ê-ka, lẫn Thái Lan đều không ngờ tới.

        Đến cuối ngày 4, các mục tiêu đồi Không Tên, X4, X5 lần lượt rơi vào tay các chiến sĩ Sư đoàn 2.

        Trưa ngày 5 tháng 1 năm 1985, hai sư đoàn đã bắt liên lạc với nhau tại Pẹt úm. Sau đó, các cánh quân của Sư đoàn 315 tiếp tục đánh chiếm các điểm cao 694, 651, tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch ở suối Ô Chênh.

        Cùng lúc, các cánh quân của Sư đoàn 2 tiếp tục đánh chiếm điểm cao Ba số 5, tiêu diệt chỉ huy sở của sư đoàn 801 quân Pôn Pốt.

        Trong lúc các cánh quân phía sau đánh thốc vào sau lưng địch, thì các mũi tiến công phía trước vẫn tiếp tục đẩy mạnh cường độ tấn công. Các loại hỏa lực pháo cối, xe tăng, cao xạ... dội bão lửa vào căn cứ địch trong lúc các chiến sĩ đặc công, công binh phối hợp với một bộ phận Sư đoàn 307 đánh chiếm điểm cao 612, bao vây và tiêu diệt toàn bộ quân địch chốt giữ tại đây.

        Hoàn toàn bất ngờ và bị động trước các đòn tiến công dũng mãnh, quyết liệt của các sư đoàn chính quy Quân khu 5, địch co cụm về khu vực trung tâm để tổ chức chống trả, nhưng vòng vây mỗi lúc siết chặt, các cánh quân từ hai phía đánh dồn vào, đặc biệt là 2 mũi vu hồi từ phía sau lưng như 2 mũi tên bắn thủng các lớp phòng ngự, xuyên vào đầu não chỉ huy địch.

        12 giờ ngày 5 tháng 1 năm 1985, cuộc tấn công vào cứ điểm địch ở khu vực ba biên giới kết thúc thắng lợi. Phần lớn quân địch tại đây đều bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống.

        Căn cứ ở ngã ba biên giới - căn cứ lớn nhất của Pôn Pốt ở đông bắc Cam- pu- chia đã chính thức bị xóa tên trên bản đồ quân sự.

        Trong trận đánh này, các đơn vị của Quân khu 5 đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.173 tên địch, trong đó bắt 244 tên, thu 4.970 súng các loại, với 412 tấn đạn, 15 xe ô tô, gần 4 tấn thuốc chữa bệnh, hàng trăm tấn gạo, muối, quân trang, quân dụng. Xóa sổ một loạt căn cứ gồm căn cứ Núi Cụt của quân Sri-ê-ka, căn cứ hỗn hợp của sư đoàn 801 quân Pôn Pốt, căn cứ hậu phương của sư đoàn 920 quân Pôn Pốt, sở chỉ huy tiền phương của bộ tổng tham mưu Pôn Pốt ở Pẹt úm, vùng 105 của Trung ương tổ chức FULRO, căn cứ chỉ huy của phỉ Lào...

        Trận đánh này là một trong những trận đánh hay trên chiến trường Cam- pu- chia, được xếp vào loại kinh điển trong cuộc đời cầm quân của Nguyễn Chơn. Bằng sự mưu trí, sáng tạo, táo bạo, thần tốc cộng với một lối đánh hiểm hóc, ông đã dồn địch vào thế bất ngờ, bị động dẫn đến tan rã, cuối cùng bị tiêu diệt, làm nên một trong những chiến công hiển hách, vang dội trên chiến trường Đông Dương.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM