Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Hai, 2019, 06:24:37 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chặng đường chiến đấu - Vương Thừa Vũ  (Đọc 23906 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #30 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2016, 08:10:31 PM »


        Hà Nội ráo riết chuẩn bị kháng chiến. Các nhà máy, xí nghiệp chuyển máy móc, nguyên liệu ra ngoài thành phố, các cơ quan chính phủ chuyển dần lên căn cứ địa Việt Bắc. Nhân dân, chủ yếu là ông bà già và trẻ em... những người không trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu được tản cư về nông thôn. Liên tục ngày đêm những chiếc xe ô tô vận tải, xe bò, xe xích lô chở cát, chở đất từ ngoài sông vào các phố để sẵn sàng nhồi vào bao tải, bao cói đắp ụ, dựng chướng ngại chắn ngang đường. Công nhân xe hoả nhà ga Hà Nội chuẩn bị sân một đoàn toa xe chở đá để khi có lệnh sẽ đẩy ra chắn đường không cho xe tăng, xe cơ giới định cơ động từ trong thành Hà Nội qua ngã tư Cửa Nam. Các cơ sở sản xuất, các cửa hiệu và từng gia đình thu dọn đồ đạc. chuẩn bị sẵn những đồ vật cồng kềnh để sẵn sàng lao ra mặt đường đạo nên nhùng đống chướng ngại vật la liệt khắp các mặt đường phố.

        Ngày qua ngày phố xá thưa thớt người, vắng hẳn đi. Nhưng những người ra đi không phải là chạy trốn, lánh xa một cuộc chiến đấu, mà là đi kháng chiến bước vào một cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ. Ai cũng hiểu, một khi Hà Nội đã vùng đứng lên ấy là lúc cả nước chuyển sang thời chiến. Ta phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ. phải chịu đựng nhiều hy sinh, phải nỗ lực vươn lên ngày một thêm sức mạnh để buộc định phải đeo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài mà chúng không tài nào chịu đựng nổi. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi! Công tác tuyên truyền chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện mà Đảng ta tiến hành rất bền bỉ ngay từ khi quân Pháp định trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, đến lúc này đã thấm sâu vào trí óc mỗi người dân yêu nước. Tản cư là yêu nước, người Hà Nội rời thành phố thân yêu với ý nghĩ như vậy.

        Những người chưa ra đi, ít ra ngoài đường, chẳng phải chỉ vì ngoài đó thường có những chiếc xe bọc thép của quân đội Pháp phóng bạt mạng, chở những tên lính mũ xanh, mũ đỏ, mặt mày vênh váo, lơ láo sẵn sàng gây sự với bất cứ một ai, mà còn phần thu xếp việc nhà, phần tranh thủ góp công, góp sức chuẩn bị cho Hà Nội xuất trận với tư thế đàng hoàng, chững chạc của hùng khí Thăng Long, xứng đáng với vị trí trung tâm của cả nước. Hà Nội tổ chức 12 đội cảm tử chuyên dùng bom ba càng phá xe tăng, xe bọc thép địch, tổ chức 36 tổ du kích đặc biệt, mỗi tổ từ ba đến năm người, cài ở các điểm bất ngờ kiểm soát các ngã tư, ngã ba trọng yếu, chuyên làm nhiệm vụ nghi binh, quấy rối, bắn tỉa và lưu động phục kích. Uỷ ban bảo vệ thành phố và Bộ chỉ huy mặt tràn gấp rút bảo đảm vật chất cho Liên khu I chiến đấu độc lập và lâu dài trong lòng địch, lương thực dự trữ đủ ăn ba tháng cho 5.000 người, bổ sung thêm 10.000 viên đạn, 500 quả lựu đạn, 100 chai gây cháy, trang bị 2 máy thông tin vô tuyến điện (Bút ký chiến sự lục. Lưu trữ Bộ Quốc phòng).

        Trong Liên khu I công tác chuẩn bị tập trung vào những khu vực trận địa chiến đấu. Những ban công, cửa sổ, những mái nhà băng đều trở thành những vị trí bắn. Tường trong nhà, ngoài sân. trên gác đều đục thành lỗ giao thông, mở đường đi từ buồng nhà này sang buồng nhà khác, đi suốt dãy phố dọc, luồn sang dãy phố ngang, tạo thành một trận địa chiến đấu hên hoàn: có thể vừa vận động tác chiến trong khu vực vừa xuất kích đánh địch ngoài khu vực khi cần thiết.

        Sang tháng 12 năm 1946, tình hình càng căng thẳng vì những hành động khiêu khích, cướp bóc, bắn giết của quân Pháp. Để buộc địch phai dè chừng, không dám nổ súng đánh úp ta ngay, đồng thời làm cho chúng không phán đoán được lực lượng của ta, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội đã tổ chức một cuộc nghi binh lớn với sự hỗ trợ của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây. Hàng ngàn dân quân của các tỉnh này được huy động về vùng ngoại thành Hà Nội, cứ tối đến rầm rập kéo vào trong phố, nửa đêm về sáng lại lặng lẽ bí mật rút ra. Suốt một tuần 1 liền ta làm như vậy khiến cho địch tưởng rằng Hà Nội mới được tăng cường 4 vạn quân.

        Ngày 17 tháng 12, từ sáng sớm, sương mù chưa tan máy bay thám thính của Pháp đã gừ gừ bay lượn nghiêng cánh chúc đầu như thằng trộm ngày ngó nghiêng thám thính toàn bộ mặt trận Hà Nội. Lần đầu tiên bọn xâm lược giở trò khiêu khích như vậy ở Thủ đô ta. Đến 8 giờ chúng cho một đoàn xe tăng, xe bọc thép từ trong thành Hà Nôi lao xộc ra chịt các ngã ba, ngã tư đầu đường phố Yên Ninh -  Hàng Bún. Quân lê dương mũ đỏ quây bắt hơn bốn chục người. Lập tức các cánh cửa nhà quay mặt ra đường mở tung ra hết, bà con dân phố Yên Ninh -  Hàng Bún xông ra đấu tranh. Quân lê dương xả súng vào quần chúng tay không tấc sắt.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #31 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2016, 08:16:50 PM »


        Cùng lúc ấy, tại Hải Phòng bọn Pháp có một cuộc họp tướng lĩnh do Va- luy triệu tập. Không ai lạ gì bộ mặt nham hiểm của tên chủ chiến Va- luy, kẻ mới được Đác- giăng- li- ơ tin dùng, cất nhắc giữ chức tư lệnh quân viễn chinh Pháp. Cười đấy, hoà nhã, cởi mở, lịch thiệp đấy, mà lật mặt tráo trở cũng ngay đấy thồi. Người Hà Nội biết mặt hắn từ tháng 3 năm 1946, khi hắn dẫn quân Pháp từ Hải Phòng lên Hà Nội. Trước đây một tháng, Va- luy trực tiếp đạo diễn quân Pháp gây ra xung đột ở cảng Hải Phòng rồi vin cớ để đánh lan rộng ra chiếm cả thành phố và sân bay Cát Bi. Lần này Va- luy họp tướng lĩnh ngay ở Hải Phòng mới chiếm được để bàn định việc đánh chiếm Hà Nội. Với cuộc họp này, hắn còn nhằm mục đích "vặn dây cót tinh thần" cho tướng Moóc- li- e, tư lệnh Pháp ở Bắc Đông Dương. Chả là, viên tướng già này còn do dự, muốn trùng trình chờ có quân tăng viện từ Pháp sang mới hành động. Nhưng Va- luy quyết định: cứ lấn tới.

        Từ ngày 17 tháng 12, tiếp theo vụ tàn sát đốt phá ở phố Yên Ninh -  Hàng Bún, quân Pháp gây ra nhiều vụ khiêu khích nữa ở các phố Lò Đúc, Hàng Bột, Hàng Đậu, Hàng Khoai, Đồng Xuân... Nhưng quân và dân Hà Nội rất cảnh giác, rất kỷ luật, không mắc mưu địch. Đến trưa ngày 18 tháng 12, quân Pháp chiếm Nha Tài chính1 (Nay là trụ sở Bộ Ngoại giao), Bộ Giao thông2 (Phố Trần Quang Khải). Hà Nội vẫn nén lòng chiu đựng chờ lệnh Chính phủ.

        Kết thúc hai ngày gây rối loạn, đến 21 giờ 15 phút ngày 18 tháng 12 năm 1946, tướng Moóc- li- e láo xược gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí công an và tự vệ Hà Nội, đòi Chính phủ ta phải trao quyền kiểm soát trật tự an mình trong thành phố cho quân đội Pháp và ra hạn nếu đến sáng 20 tháng 12 năm 1946, những điều kiện đó không được chấp nhận thì quân đội Pháp sẽ chuyển sang hành động.

        Như vậy là, kẻ xâm lược đã công khai tuyên chiến với ta, hẹn ngày hẹn giờ đánh chiếm Hà Nội.

        Hà Nội vẫn bĩnh tĩnh tranh thủ thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi vào cuộc chiến. Những người phải ra đi nhanh chóng rời khỏi thành phố. Những người ở lại chiến đấu bảo vệ Thủ đô lao vào hoàn thành công việc chuẩn bị, sẵn sàng đánh địch bất cứ lúc nào. Những dòng người ra đi kháng chiến ngày đêm không ngớt. Những cửa nhà đóng kín như bưng. Chỉ còn lại những khẩu hiệu mọc lên chi chít trên khắp các đường phố với những nét chữ rắn rỏi viết trên tường, trên cửa, trên mặt đường nhựa:

        "Sống chết với Thủ đô"

        "Thà chết không chịu trở lại làm nô lệ".

        Tại đình làng Mọc Quan Nhân, các chiến sĩ quyết tử làm lễ tuyên thệ: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Tôi và đồng chí Trần Độ có mặt trong buổi lễ tổ chức đơn giản mà nghiêm trang này. Tiếng hát Quốc ca và lời thề hôm ấy của tuổi trẻ Thủ đô vang mãi trong trí óc chúng tôi, củng cố quyết tâm và tăng niềm tin cho chúng tôi: nhất định Thủ đô ta sẽ chiến thắng.

        Tại Bắc Bộ phủ, các chiến sĩ Vệ quốc quân cũng làm lễ tuyên thệ, nhận danh hiệu Đội Quyết tử của Thủ đô.

        Cũng hôm ấy, lực lượng chiến đấu của Hà Nội xuất hiện một số đội quân rất đặc biệt. Đó là trung đội nhà sư do sư thầy Minh làm trung đội trưởng, lấy chùa làng Tứ Kỳ làm trụ sở, cán bộ và đội viên của trung đội này vẫn mặt áo nâu dài, đầu chít khăn nâu, cổ đeo tràng hạt như mọi nhà sư, chỉ có khác là mỗi người có thêm một thắt lưng da để cài lựu đạn con dao găm hay thanh kiếm.

        Đó là đội tiếp tế -  cứu thương gồm hơn một trăm chị em trước kia kiếm sống bằng đủ mọi nghề: hát ả đào, buôn bán rau qua, v.v.

        Ngày 19 tháng 12 năm 1946, càng về trưa, Hà Nội càng ngột ngạt.

        Ở tất cả các nơi ta và địch cùng canh gác chung, quân Pháp hầm hè chĩa súng vào anh em ta. Và trên đường phố chốc chốc lại một đoàn xe bọc thép của chúng ầm ầm lướt qua. Chúng đi tuần tiễu, ngang nhiên như có quyền kiểm soát thành phố.

        14 giờ, chúng tôi lên Bộ Tổng chỉ huy nhận chỉ thị. Sau khi thông báo diễn biến chiến sự các mặt trận Hải Phòng, Lạng Sơn, đồng chí Võ Nguyên Giáp nói:

        -  Địch láo xược gửi tối hậu thư, bắt ta nộp vũ khí, trao quyền trị an ở Thủ đô cho chúng. Ta muốn tranh thủ hoà bình để xây dựng đất nước, nhưng ta nhân nhượng nữa địch càng lấn tới. Tất nhiên ta không thể để như vậy. Giờ chiến đấu đã đến. Thường vụ Trung ương Đảng vừa gửi điện cho các mặt trận và các chiến khu nói rõ Chính phủ đã bác tối hậu thư của địch. Như vậy chỉ trong 24 giờ là cùng, giặc Pháp sẽ nổ súng... Tất cả hãy sẵn sàng!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #32 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2016, 08:30:35 PM »


        Đồng chí Tổng chỉ huy chỉ thị cho chúng tôi phải tổ chức lực lượng bám sát và nắm chắc mọi diễn biến của địch; phải luôn luôn sẵn sàng tư thế chiến đấu, có hiệu lệnh nhất tề đứng lên giết giặc, cứu nước.

        Tiếp theo, đồng chí Trần Quốc Hoàn, phái viên của Trung ương Đảng, nói:

        -  Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và quyết định phát động cả nước kháng chiến. Trong cuộc họp ấy, Hồ Chủ tịch phân tích ngắn gọn nhưng rất xúc tích khoa học về tình hình Mỹ -  Pháp và khả năng của ta. Bác Hồ giải thích rõ ràng và tỉ mỉ là cuộc kháng chiến lâu dài của ta nhất định thắng lợi. Cuối cùng, Bác Hồ còn hỏi kỹ về tình hình mùa màng và sinh hoạt của nhân dân. Biết chắc năm nay được mùa, nhân dân đủ no, Bác Hồ mới an tâm...

        16 giờ, chúng tôi trở về Sở chỉ huy mặt trận, đặt ở bên cạnh sân bay Bạch Mai. Các tiểu đoàn trưởng và cán bộ các Liên khu đã tập trung đầy đủ. Chúng tôi kiểm tra một lần nứa các mặt công tác chuẩn bị. Khi tôi thay mặt Bộ chỉ huy mặt trận quy định các tín hiệu nổ súng thì tất cả mọi người trong phòng họp đứng bật dậy. Phút chốc biến mất hết những vẻ mặt trầm ngâm, căng thẳng của nhiễu ngày đêm làm việc vất vả để đối phó với các hành động khiêu khích ngang ngược của địch. Ai nấy hả lòng hả dạ vui vẻ hẳn lên, vì sắp được chiến đấu, trút hết nỗi căm hờn chồng chất, nén chặt bấy lâu nay xuống đầu quân cướp nước.

        20 giờ, bọn địch cùng gác chung với ta ở nhà máy điện Yên Phụ trở mặt gây sự. Chúng bao vây tiểu đội Vệ quốc đoàn bảo vệ nhà máy, đòi tước vũ khí. Anh em ta liền nổ súng kịp thời và lập tức tự vệ công nhân lao vào phá máy.

        20 giờ 03 phút, đèn điện toàn thành phố tắt phụt. Không đầy một phút sau đó, súng nổ ran, rồi pháo của ta từ pháo đài Láng, Xuân Canh, Thủ Khối ầm ầm nhả đạn vào các nơi địch đóng tập trung đông quân ở thành Hà Nội, trường Bưởi, sân bay Gia Lâm.

        Hà Nội đã nhất tề vùng dậy. Tiếng súng, tiếng pháo rền vang... Cả đô thành bốc lửa. Cả Hà Nội trút căm hờn lên đầu quân xâm lược...

        Chỉ sau 4 giờ chiến đấu, vào lúc nửa đêm 19 tháng 12, qua tổng hợp báo cáo của các đơn vị, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội thống nhất nhận định: Ta đã phá tan âm mưu bất ngờ đánh úp của địch. Chúng không còn cái thế có thể ngày một, ngày hai chiếm xong cả Thủ đô Hà Nội nữa rồi. Nhất định quân và dân Thủ đô sẽ thực hiện đúng mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch. Người đề ra yêu cầu phải kìm chân đích trong Hà Nội từ một đến hai tuần lễ để ta có thời gian chuyển bộ máy chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chính phủ được ổn định, nhân dân tản cư được đầy đủ và an toàn, tránh được tình trạng rối loạn. Trong không khí phấn khởi của buổi đầu ra quân thắng lợi, đồng chí Trần Độ nêu ý kiến khêu gợi:

        -  Bác Hồ ra hạn phải giữ được Hà Nội từ một đến hai tuần lễ. Nhưng chúng ta thử tính xem có thể giữ được lâu hơn không? Lúc này cả nước nhận được mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tổng chỉ huy rồi, cả nước đã đi vào kháng chiến, đâu đâu anh em ta cũng nổ súng, địch không thể tập trung sức để nhanh chóng cướp được Thủ đô ta đâu...

        Tôi bắt lời ngay:

        -  Phải cố gắng chứ. Phải giừ được Hà Nội ít nhất là nửa tháng.

        Cả Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội cùng nhất trí.

        Những trận đánh đầu tiên trong trung tâm thành phố, ngay sát Hà Nội nơi tập trung quân cơ động của địch, cho thấy rõ hiệu lực chiến thuật của chiến tranh nhân dân -  chiến thuật "cài then cửa” của ta. Cái chiến thuật nảy sinh từ thực tiễn, từ trí tuệ của quần chúng. Cái chiến thuật mà tất cả mọi người dân, mọi chiến sĩ tự vệ, vệ quốc đoàn đều có thể thực hiện được. Nó có hiệu lực ở khắp nơi. Một cái ba- ri- cát dựng lên ở đầu phố bằng cách xếp hàng trăm bao đất, hoặc đào một con hào cắt ngang đường lấy đất đắp sang một bên bờ hào, đắp cao ngọn lên, đó là một thứ "then cài". Một cây to, một cột điện đổ vật ngang đường là một thứ "then cài". Một đống bàn ghế, hòm thùng vứt lổng chổng ngổn ngang trên mặt đường, cũng là một thứ "then cài". Thậm chí, đem nồi đất, chậu sành, chậu gỗ úp rải rác la liệt trên mặt một quãng đường cũng là một thứ "then cài" khiến cho các loại xe địch không dám xông bừa vào, bởi vì biết đâu dưới một cái nồi, cái chậu nào đó có một quả mìn? Nhưng quan trọng hơn cả là các tổ tự vệ chiến đấu kết hợp đánh địch ở đó, ở các vật chướng ngại ấy. Đó là một "then cài hoàn chỉnh" -  một chiến thuật hư thật thật hư, ít tốn kém mà hiệu quả cao.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #33 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2016, 08:31:14 PM »


        Gặp "then cài” là địch phải dừng lại, bắn phá lung tung như vãi đạn rồi mới dám cho trinh sát lên phá “then cài". Nhưng phá được rồi, chúng vẫn phải lò dò từng bước, vừa đi vừa nghe ngóng, biết đâu ở quãng đường không có "then cài" lộ thiên lại có một thứ "then cài" bí mật gì đó, hay một ổ phục kích.

        Từ Cửa Bắc thành Hà Nội ra đến nhà máy điện Yên Phụ chỉ mấy trăm mét, hoả lực bắn thẳng của địch đặt từ Cửa Bắc kiểm soát suốt dọc đường này từ mấy hôm trước, thế mà đến khi ta nổ súng chiến đấu, một đoàn xe địch chỉ gặp một cây đổ và một tổ chiến đấu của tự vệ, phải đi mất một tiếng đồng hồ. Chúng đến nơi thì công nhân đã phá xong máy móc nhà máy điện Yên Phụ.

        Trận đánh đầu tiên tiêu biểu cho hiệu lực của chiến thuật "cài then cửa" diễn ra ở dọc đường phố Hàng Đậu. Nơi đây mặt đường rộng rãi, hai bên không có cây cối, là đường đi lối lại của định từ thành Hà Nội qua cầu Long Biên sang sân bay Già Lâm, ta không đào cất đường từ trước được, mà ngay những đồ vật dựng chướng ngại cũng phải giấu kín. Ta dự kiến ngay từ phút đầu tiên tỉa cuộc chiến đấu, thế nào địch cũng tung một lực lượng mạnh ra chiếm phố Hàng Đậu để kiểm soát cầu Long Biên. Và đúng như vậy, chỉ mươi phút sau khì Hà Nội nổ súng kháng chiến, địch đã phóng ra đây một đoàn xe hơn ba chục chiếc. Nhưng mặt đường Hàng Đậu không còn thênh thang nữa. Đội tự vệ Hàng Đậu, gồm những người thợ nguội, thợ hàn, thợ sửa chữa ô tô, những người lái xe vận tải... đã "cài then cửa" rất nhanh. Phố này có những xưởng sửa chữa xe máy, những xưởng gỗ, xưởng củi... nên có nhiều xe rơ- moóc, xe bò. Anh em tự vệ chuẩn bị sẵn một số xe ấy, trên chát đầy gỗ, củi, sắt gỉ, bao cát giấu sẵn ở trong các phố ngang, các ngõ hẻm gần đấy. Có lệnh chiến đấu, họ đẩy các xe chướng ngại vật ấy ra, rồi lật đổ ngổn ngang trên mặt đường Hàng Đậu.

        Đoàn xe địch từ trong thành Hà Nội theo đường Cửa Bắc lao ra định đến cầu Long Biên đón một đoàn quân cơ động của chung từ bên sân bay Gia Lâm kéo sang, nhưng đến đầu phố Hàng Đậu thì phải dừng lại. Hai chiếc xe tăng đi đầu bắn phá dọn đường mãi mới len lách bò dần đến giữa phố. Một quả mìn nổ, chiếc xe đi đầu toác bụng nằm ỳ giữa đường biến thành một vật cản đường. Chiếc xe thứ hai cũng bị đứt xích nằm xoay ngang, lại thêm một vật cản đường nữa. Thế là tắc. Đoàn xe địch phải dừng lại cho lính mũ đỏ nhảy xuống, giữa lúc ấy anh em tự vệ Hàng Đậu, cùng tự vệ các phố lân cận, chạy ùa ra đánh giáp lá cà. Kết quả địch phải tháo lui bỏ lại trên mặt đường hơn bảy chục xác chết, bốn xe vận tải và hai xe tăng, lửa cháy ngùn ngụt...

        Trong nội thành Hà Nội, trước khi quân Pháp nổ súng gây hấn, chúng đã chiếm đóng bảy vị trí lớn và gần bốn chục vị trí nhỏ, hình thành cái thế chia cắt Thủ đô ta; có thể đồng thời xuất quân bao vây các cơ quan trọng yếu và chịt giữ tất cả các cửa ngõ ra vào Hà Nội.

        Nhưng âm mưu hiểm hóc này của Bộ chỉ huy quân đội xâm lược Pháp đã bị phá sản ngay từ đầu. Cùng lúc quân và dân Hà Nội tiến hành cuộc bao vây các vị trí nhỏ của địch, và dựng vật chướng ngại "cài then cửa” trên khắp các ngả đường chặn quân cơ động của chúng. Súng nổ ran trong nội thành suốt đêm 19 rạng sáng ngày 20 tháng 12. Trong đêm đầu ra quân này, Hà Nội giành phần thắng lợi lớn là đã làm cho địch mất thế chủ động chuyển thành bị động, lúng túng, nhưng thắng lợi lớn hơn cả là từ người chỉ huy cho đến chiến sĩ qua một đêm thử thách quyết liệt, ai nấy đều tin rằng với những ổ chiến đấu cắm rải rác ở khắp các khu phố, với những hàng chướng ngại vật mới dựng lên ở khắp các ngả đường, và mỗi giờ trôi qua, những cái "then cài" này lại được củng cố vững chắc hơn, hiểm hóc hơn, nhất định ta sẽ tiêu diệt được nhiều địch, ghìm chúng lâu ngày trong Hà Nội.

        Ngày 20 tháng 12, trời vừa rạng sáng, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Hoàng Văn Thái đã đến Sở chỉ huy mặt trận Hà Nội. Chúng tôi không phải báo cáo tình hình vì suốt đêm qua các đồng chí đã theo dõi sát. Các đồng chí đến để cùng chúng tôi đi vào nội thành, đến các đơn vị, truyền đạt lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, đồng thời xem xét mặt trận. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Que Hoàn cùng tôi vào khu phố Khâm Thiên. Đến đầu phố thì địch đóng ở nhà Dầu Sen bắn súng máy, súng cối liên tục sang trận địa ta. Xen vào những tiếng đạn địch nổ ùng oang, là tiếng nhạc, tiếng hát vẫn vút lên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #34 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2016, 08:34:14 PM »


        Đồng chí liên lạc dẫn đường nói:

        -  Tự vệ Khâm Thiên đấy các đồng chí ạ, đàn hát suốt từ mờ sáng đến giờ, đêm qua đi làm ba- ri- cát ở ngoài đường, đạn địch bắn chiu chíu thế mà các ông, các bà ấy vẫn cứ đùa như đi hội, lại còn mang cả ghi ta ra đấy mà gảy phừng phừng nữa chứ.

        Cả đêm qua, tôi lo nắm tình hình và chốc chốc lại trao đổi qua điện thoại với cán bộ các liên khu, gần như trắng đêm không ngủ, người mệt bã, nhưng khi đến phố Khâm Thiên gặp anh em bộ đội, tự vệ, thấy anh em vui quá, cái mệt của tôi tiêu tan hết.

        Hôm ấy ta ghìm địch ở trong thành phố. Địch không mở được một trận địa nào ra phía các cửa ô, ngoài hai trận địch đánh thăm dò ra phía Quần Ngựa (cạnh đường Hoàng Hoa Thám) và Ngọc Hà. Những trận đánh trong nội thành diễn ra rất quyết liệt, nhất là trận đánh ở Bắc Bộ phủ, ta tiêu diệt khá nhiều địch, có nhiều gương chiến đấu rất anh dũng tiêu biểu cho tinh thần cảm tử bảo vệ Thủ đô. Nhưng về mặt chiến thuật, chúng tôi đặc biệt chú ý đến trận đánh cánh quân địch tiến ra đường Ngọc Hà.

        Ở đây sau khi quân Pháp phá được mấy lớp ba- ri- cát ngăn đường, chỉ thấy tiếng súng của tự vệ bắn lẻ tẻ, rời rạc, chúng liền dốc nhau đuổi theo, chúng tiến ào ào được độ dăm trăm mét thì bị một đơn vị Vệ quốc đoàn từ trại Ngọc Hà đánh thốc ngang lưng. Bị đòn bất ngờ, địch trở tay không kịp, hàng ngũ rối loạn, chạy tung toé. Đây là lối đánh mà hồi đó chúng tôi gọi là chiến thuật "xoáy trôn ốc", địch đánh ra, ta nhử cho địch ra xa rồi quật mạnh vào lưng, vào đuôi nó, khiến nó phải quay đầu co trở lại.

        Hôm sau, ta lại đánh một trận tương tự như thế ở phía bắc nội thành Hà Nội. Tự vệ Yên Phụ vừa đánh vừa lui nhử địch vào sâu, rồi lợi dụng chướng ngại vật chặn chúng lại. Giữa lúc đó, hai trung đội Vệ quốc đoàn xuất kích bất thần đánh vào phía đuôi đội hình địch, tiêu diệt vài chục tên, địch phải rút.

        Hôm sau, ta lại đánh một trận như thế nữa ở phía nam thành phố. Khoảng 5 giờ chiều ngày 22 tháng 12, một toán lính Pháp từ Đồn Thủy lặng lẽ tiến xuống Lò Lợn. Các chiến sĩ ta ở đây chỉ bắn lẻ tẻ rồi rút, địch chiếm Lò Lợn không gặp một ai. Chúng đánh thốc xuống Thanh Nhàn. Quân ta vẫn rút. Đồng bào thấy bộ đội không đánh mà cứ xách súng chạy, có người nghĩ rằng “ta yếu, ta lui là phải" nhưng có người phát cáu, nói thậm tệ: sợ Tây thì bỏ súng đấy mà chạy cho nhanh, để dân đánh hộ cho! Thực ra, những chiến sĩ đang xách súng chạy dọc đê Thanh Nhàn kia lại chính là những thanh niên rất gan dạ, mưu trí, đang lấy thân mình làm cái mối nhử đạn, lối chúng đi sâu vào trận địa bày sẵn ở Thanh Nhàn, kéo dài đội hình của chúng ra, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị nấp sẵn bên bờ đê xung phong đánh ngang sườn địch. Trận này có một sự hiệp đồng, tình cờ thôi mà hiệu quả lởn. Khi bộ đội xung phong, nhân dân phấn khởi reo hò. tiếng reo thôi thúc lòng người chiến sĩ, tiếng reo hò nổi lên làm cho kẻ địch đang lúng túng vì bị đòn bất ngờ, lại càng lúng túng thêm, rồi rối loạn, tháo chạy, bỏ xác 15 tên tại trận. Địch chạy, bộ đội truy kích nhân dân phấn khởi nhảy lên mặt đê reo hò, cùng bộ đội đuổi địch cho đến xẩm tối.

        Những ngày 21, 22 tháng 12 ta vẫn ghìm địch trong thành phố. Qua hết đêm 23 tháng 12, ta hoàn thành việc thu gom lực lượng, hình thành thế trận "trùng độc chiến”. Các lực lượng thuộc Liên khu II và liên khu III kéo ra giữ các cửa ô, các lực lượng thuộc Liên khu I cụm lại trong trung tâm thành phố, nằm gọn trong lòng địch.

        Lúc đầu các tướng lĩnh Pháp tưởng lầm rằng các lực lượng của ta cụm lại trong Liên khu I là do bị mắc kẹt, vì không có lối rút ra. Chúng tỏ ra chủ quan xem thường, coi đây là lực lượng đã lâm vào thế tuyệt vọng, bị vây chặt bốn phía, chẳng mấy chốc sẽ tan rã, phải đầu hàng. Nhưng chỉ vài ngày sau, chúng đã thấy khó chịu, nhức nhối. Quân Pháp mở nhiều cuộc tiến công vào Liên khu I, đánh hướng nào chúng cũng bị thiệt hại khá đau, chiếm được một dãy nhà, một góc phố nhỏ ngang dọc chỉ hơn trăm mét cũng mất cả một ngày; nhiều chỗ đã chiếm được rồi lại bị đánh bật ra, hoặc chiếm được ban ngày thì chưa tối đã phải rút lui vì không thể bám chắc được.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #35 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 09:51:02 AM »


        Kể ra, nếu lúc này quân Pháp tập trung được lực lượng đông hơn, mạnh hơn, liên tục đột phá vào Liên khu I thì chúng cũng có thể nhanh chóng đánh bật ta ra. Bởi lẽ ở trong đó ta đang phải khắc phục nhiều khó khăn. Có hàng mấy vạn dân chưa kịp tản cư, chạy dồn cả về các phố Hàng Bạc, Hàng Mắm, Hàng Buồm, Chợ Gạo... nơi tương đối xa tiếng súng, mà hàng ngày ta phải lo tiếp tế gạo nước, bảo vệ an ninh, và mỗi đêm ta chỉ tổ chức đưa được dăm trăm người bí mật men theo bờ sông Hồng, qua gầm cầu Long Biên, ngược lên Yên Phụ, ra ngoại thành. Đêm đi được nhiều nhất cũng không quá nghìn người. Khó khăn lớn nữa của ta ở Liên khu I lúc bấy giờ là anh em tự vệ tuy có tinh thần chiến đấu rất cao, sẵn sàng xả thân vì nước, nhưng lại rất yếu về sử dụng vũ khí, phải vừa đánh vừa học tập. Cán bộ chỉ huy từ cấp tiểu đội trở lên, cũng vừa đánh vừa học -  học cách chỉ huy, cách tổ chức hoả lực, bố trí trận địa...

        Các tướng lĩnh Pháp cũng có thể biết được những khó khăn đó của ta, chúng muốn dồn sức nhanh chóng chiếm lấy khu vực trung tâm này của thành phố để ổn định bên trong, lấy chỗ đứng vững chắc mà mở rộng chiến tranh ra ngoại thành. Nhưng chính chúng lại đang bị mắc kẹt trong thế trận "trùng độc chiến" của ta, nên không thể làm gì hơn được. Nhìn toàn cục thì thấy bên trong, chúng bị các lực lượng vũ trang của ta ở Liên khu I đục khoét, bên ngoài lại bị các lực lượng của Liên khu II, Liên khu III đánh ép vào, buộc chúng phải phân tán lực lượng. Hơn thế nữa, ở Liên khu III, chúng ta cũng tổ chức các đơn vị Vệ quốc đoàn, từng đại đội, trung đội đêm đêm luồn sâu vào trong thành phố phối hợp với tự vệ đánh địch trừ gian. Vì thế glặc Pháp càng thêm lúng túng.

        Với thế trận "trùng độc chiến" này, trường hợp mà sức ta tương đương hoặc chỉ kém địch chút ít, thì ta có. thể ép chặt địch lại, cắt địch ra từng mảnh để diệt gọn chúng... Từ ngoại thành, ta phái nhiều tổ du kích vào hoạt động trong khu vực địch chiếm. Mục tiêu của các tổ du kích này là những đội tuần tiễu, những xe địch chạy trong thành phố, những trạm gác địch đặt ở ngã ba ngã tư đường... đánh bất ngờ, chỉ cần nổ một vài phát súng, ném một quả lựu đạn, một chai cháy, nhưng đã đánh là phải chắc trúng, phải gây được thương vong, thiệt hại cho địch, làm cho các khu vực địch kiểm soát luôn luôn náo động, không có chỗ nào địch ổn định, dù là ngay cạnh chỗ chúng tập trung đông quân. Cách đánh này rất phù hợp với khả năng tác chiến của anh em ta hồi ấy. Hơn nữa, với điều kiện một thành phố nhiều nhà cửa san sát, nhiều đường ngõ ngang dọc, nhân dân đã tản cư hết, mà anh em ta lại thông thạo địa hình, có thể nhanh chóng ẩn hiện, làm cho địch bị điên đầu nơm nớp lo âu vì những phát đạn bắn tỉa mà chúng không thể biết được từ cửa sổ nào, hay từ nóc nhà nào, ngõ ngách nào bắn ra. Các tổ du kích đã khiến cho địch phải nghi ngờ hết thảy, phải tung nhiều cánh quân càn quét đi càn quét lại biết bao nhiêu dãy phố mà nhà nào nhà ấy cửa đóng im lìm, không một bóng người.

        Hà Nội chiến đấu được 5 ngày thì chúng tôi nhận được điện gọi vào làng Vạn Phúc (thuộc thị xã Hà Đông) nhận chỉ thị mới của Bộ Tổng chỉ huy. Sau khi nghe các đơn vị báo cáo và giao nhiệm vụ xong, đồng chí Võ Nguyên Giáp công bố quyết định của Bộ về tổ chức chỉ huy chiến đấu trong tình hình mới: Sáp nhập Khu XI vào với Khu II, mặt trận Hà Nội trở thành tiền phương của Khu II. Tôi được chỉ định làm khu phó Khu II, đồng thời chỉ huy khu vực tiền phương gồm Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây. Đồng chí Trần Độ được chỉ định làm chính trị viên phó Khu II.

        Một quyết định thật sáng suốt. Thế là từ nay mặt trận Hà Nội có một địa bàn hậu phương rộng rãi để xoay trở và có thêm lực lượng hùng hậu của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hoà Bình, Hà Nam. Các lực lượng vũ trang nhân dân của các tỉnh, các đơn vị chủ lực của khu sẽ luân phiên nhau vào tham gia chiến đấu ở các cửa ô Hà Nội. Từ nay, Hà Nội không những có đủ lực lượng trực tiếp chiến đấu mà còn có lực lượng dự bị cơ động ở bên ngoài làm cho thế trận thêm mạnh, thêm khả năng để chiến đấu hãm địch nhiều ngày trong Hà Nội.

        Tôi đang suy nghĩ về quyết định mới này thì đồng chí Hoàng Văn Thái hỏi ngay:

        -  Tổ chức lại như thế, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội thấy thế nào?

        Đồng chí Nguyễn Văn Trân, chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Khu XI, trả lời:

        -  Rất tán thành, hoàn toàn nhất trí.

        Đồng chí Trần Độ nói tiếp:

        -  Phấn khởi lắm, tôi xin biểu quyết cả hai tay!

        Còn anh Vũ cũng nhất trí chứ? -  Đồng chí Thái quay sang hỏi tôi.

        Nghe đồng chí Hoàng Văn Thái hỏi, tôi gật đầu và nói vội:

        -  Vâng, vâng, nhất trí như anh Trân, anh Độ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #36 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 09:54:46 AM »


        Hà Nội chiến đấu đến ngày thứ 10, ta vẫn ghìm chặt quân Pháp trong nội thành, không một tên nào bén mảng được đến các cửa ô. Trong khi đó, những báo cáo của lực lượng chiến đấu trong Liên khu I gửi ra đều nói lên một tình hình lạc quan: Trận địa trụ bám mỗi ngày một thêm vừng chắc, đã ba bốn ngày liền địch không mở một cuộc tiến công nào vào Liên khu I, mà chúng chỉ rải quân đóng nhiều vị trí để vừa thăm dò vừa hình thành thế bao vây ta...

        Địch lập một hệ thống vị trí bao vây Liên khu I. Điều này chúng tôi cũng có dự kiến. Một khi ỷ vào ưu thế binh hoả lực, dùng chiến thuật bất ngờ đánh úp các lực lượng của ta trụ bám ở trong đó, thấy chẳng dễ dàng gì, địch sẽ khuyển sang bao vây để dồn sức đánh nống ra ngoại thành. Tướng lĩnh Pháp tính rằng nếu họ chiếm được các cửa ô Hà Nội và đánh loang rộng ra xa nữa thì các lực lượng của ta trụ bám trong Liên khu I sẽ bị cô lập hoàn toàn, sẽ tan rã, bị tiêu diệt hoặc phải đầu hàng. Nhưng đó là cách tính của họ. Còn đồi với ta thì trái lại, chúng ta đã có phương án đối phó với tình huống này. Bộ Tổng chỉ huy đã có kế hoạch tác chiến tổng quát -  nhằm hỗ trợ cho mặt trận Hà Nội. Và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội chúng tôi cũng đã có bàn bạc nhất trí một kế hoạch tác chiến cụ thể cho các đơn vị, trước khi vào Vạn Phúc nhận nhiệm vụ như sau: địch bao vây lấn chiếm Liên khu I thì Liên khu II và III đánh thúc sau lưng địch, buộc không phải quay ra ngoài đối phó với Liên khu II và Liên khu III. Nếu chúng mở cuộc hành quân đánh ra ngoài Liên khu II và III thì lệnh cho Liên khu I hoạt động mạnh để co kéo địch lại. Cách đánh phối hợp chặt chẽ trong với ngoài như vậy khiến cho địch không rảnh tay tập trung đánh ta được về phía trong hay ngoài, tạo ra thế ta và thế địch cứ giằng co như vậy là có lợi cho ta, tạo điều kiện để ta thực hiện nhiệm vụ giam chân địch ở Thủ đô càng lâu càng tốt.

        Ngày 28 tháng 12, trong cuộc họp kiểm điểm tình hình tại Bộ Tổng chỉ huy, đồng chí Võ Nguyên Giáp căn dặn chúng tôi:

        -  Ở Hà Nội địch đang lúng túng chúng chờ quân tăng viện thì chúng mới có thể khắc phục được tình trạng hiện nay. Trước mắt để bao vây khống chế Liên khu I có hiệu quả, có nhiều khả năng địch sẽ mở những đợt tiến công lớn ra ngoại ô Hà Nội. Ta phải tiêu hao thật nhiều địch. Phải chuẩn bị kế hoạch và lực lượng để mở rộng mặt trận. Phải đánh chặn địch có hiệu quả cao nhất. Nhưng cần nhớ, phải bảo toàn lực lượng để chiến đấu lâu dài.

        Qua những tin tức trinh sát được, chúng tôi dự đoán địch sẽ đánh ta phía tây nam Hà Nội, chiếm ô Chợ Dừa. Quả nhiên, ngày 30 tháng 12 địch hành động như ta đã dự kiến. 600 lính Pháp, 50 xe cơ giới có máy bay trinh sát, máy bay khu trục yểm trợ theo hai hướng Hàng Bột và Khâm Thiên. Địch chọc thủng được các tuyến ngăn chặn của ta, chiếm được ô Chợ Dừa, nhưng đến 2 giờ chiều chúng phải rút hết. Ngay chiều hôm đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp và tôi đến Khâm Thiên -  Hàng Bột gặp tiểu đoàn 523 và anh chị em tự vệ vừa mới chiến đấu ở khu vực này để tìm hiểu rõ nguyên nhân: tại sao địch có thể nhanh chóng đánh thọc sâu đến ô Chợ Dừa? Tại sao chiếm được cửa ô này rồi mà địch phải rút ngay?

        Lần đầu tiên trong cuộc chiến đấu giam chân địch ở Hà Nội, quân ta chống cự với một trận tiến công mạnh mẽ của địch ở đường phố độc đạo, chung quanh trống trải. Hai bên phố Khâm Thiên hồi đó là những xóm, những làng xen kẽ hồ ao, chuôm. Ở Hàng Bột cũng vậy, nằm dọc một khu vực toàn những làng, những xóm và đồng ruộng. Anh em ta cho rằng xe cơ giới và bộ binh địch không dám tiến vào làng mạc vì có ao chuôm, ruộng lầy cản trở, cho nên ta chỉ chú trọng đề phòng giữ hướng đường phố. Lợi dụng sơ hở đó của ta, địch đánh vòng bên sườn và sau lưng, chọc thủng trận địa ta, bao vây đường phố. Xe tăng đi trước bắn phá, bộ binh theo sau. Địch thọc nhanh được đến ô Chợ Dừa xong không dám dừng lại ở đấy là do anh em ta chiến đấu rất kiên cường, từ hai bên dãy phố ta vận động ra đánh ngang sườn địch, các tuyến ngăn chặn tuy bị chọc thủng nhưng ta không để cho toàn trận địa bị phá vỡ, vẫn bám chặt lấy địch mà đánh, vẫn cố bịt lại những nơi bị chọc thủng. Thành ra tuy địch tiến được xa mà phía sau của chúng lại bị uy hiếp, không khác gì như một hòn đá né ru xuống nước, nước giãn ra, cồn sóng lên, sóng giãn ra tới bờ rồi lại đổ xô vào. Địch tiến được đến ô Chợ Dừa, nhưng phía sau chúng hàng cây số, trên đường Hàng Bột, đường Khâm Thiên ta vẫn giữ vững từng căn nhà, bởi thế chúng phải vội co lại ngay. Trong trận đánh ngày 30 tháng 12 này, ta diệt được một trung đội địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #37 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 09:58:06 AM »


        Những kinh nghiệm của Khâm Thiên, Hàng Bột được phổ biến kịp thời. Hôm sau, địch theo đường số 1 tiến công xuống Kim Liên. Ở đây, đường độc đạo, địa hình trống trải thuận tiện cho địch phát huy hoả lực. Ta chỉ có một trung đội Vệ quốc đoàn, nhưng anh em đã khéo dựa vào chiến hào, giao thông hào để cơ động đánh địch từ nhiều hướng, lại biết tập trung lực lượng vào hướng chính và có lực lượng dự bị nên đã đánh chặn được địch suốt cả ngày. Qua trận này, ta có thêm kinh nghiệm chỉ dùng một lực lượng nhỏ mà chọi được một lực lượng lớn của địch, tiêu hao được địch, giữ vững được trận địa mà vẫn bảo toàn được lực lượng mình.

        Những ngày đầu năm 1947, chiến sự phát triển đến các cửa ô. Quân và dân Hà Nội tiếp tục nhiệm vụ ngăn chặn địch đánh ra vùng ngoại thành trên phạm vi rộng từ Vĩnh Tuy đến ô Cầu Dền, Kim Liên, ô Chợ Dừa, Kim Mã, Ngọc Hà, Thuỵ Khuê, Yên Phụ thành một tuyến đường vòng cung dài hơn 10 ki- lô- mét...

        Làm thế nào để có thể giam chân địch một thời gian nữa. Đó là một câu hỏi, yêu cầu Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội chúng tôi phải suy nghĩ tìm cho ra đáp án. Lực lượng Vệ quốc đoàn của ta ở trên tuyến này có 5 tiểu đoàn (mới được tăng viện thêm tiểu đoàn 56). Nhưng qua các trận Khâm Thiên -  Hàng Bột (30- 12- 1946), Kim Mã (31- 12- 1946), Thuỵ Khuê -  Ngọc Hà -  Liễu Giai (3- 1- 1947), Thanh Nhàn -  Vĩnh Tuy (3- 1- 1947), Giảng Võ (6- 1- 1947), quân ta đã trưởng thành rõ rệt, từ phòng ngự đơn giản, rải quân mành mành trong các hố chiến đấu đơn độc, đã tiến tới có chiến hào, giao thông hào liên kết với nhau để cơ động. Từ chỉ biết phòng ngự phía trước mặt, tiến tới biết đề phòng bên sườn, phía sau, biết tổ chức và sử dụng lực lượng dự bị. Qua những trận chiến đấu ấy, quân ta đã biết vận dụng nhiều cách nhừ địch, nghi binh lừa địch và tìm ra một cách đánh thích hợp với nhiệm vụ ngăn chặn và thích hợp với trình độ tác chiến của ta. Địch tiến đánh ra, ta kiên quyết đánh chặn từng bước, đánh tạt sườn làm cho chúng mệt sức, tiêu hao, tiêu diệt địch ngày càng nhiều...

        Trên cơ sở những tiến bộ đã đạt được, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội đã họp bàn bố trí thế trận mới để thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy giao cho với yêu cầu: đánh tốt tiêu diệt thêm sinh lực địch; giam chân địch thêm một thời gian nữa nhưng vẫn bảo toàn và phát triển được lực lượng ta để tham gia đánh lâu dài.

        Những ngày đầu năm 1947, chiến sự diễn ra ác liệt. Trên bầu trời Hà Nội ban ngày lúc nào cũng thấy những cột khói đen đặc cuồn cuộn bốc lên, đêm đến là những vầng lửa cháy sáng rực cả vòm trời. Nhưng chính trong những ngày này khả năng ghìm địch lâu ngày ở Hà Nội lại thể hiện rõ rệt nhất. Sau khi được cấp trên chuẩn y, chúng tôi đã sắp xếp lại lực lượng, tổ chức lại chỉ huy chiến đấu cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Trước hết tại Liên khu I, chúng tôi thống nhất các lực lượng Vệ quốc đoàn, công an, tự vệ để thành lập trung đoàn Liên khu I và cử đồng chí Hoàng Siêu Hải làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Trung Toàn làm chính trị viên.

        Về việc thành lập trung đoàn Liên khu I, các đồng chí Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân và tôi bàn luận rất thận trọng, cân nhắc mọi mặt, cuối cùng chúng tôi nhất trí tán thành, vì có thống nhất lực lượng mới thống nhất chỉ huy, sức mạnh càng tăng lên, ta càng giữ Hà Nội được lâu, càng chứng minh đường lối kháng chiến lâu dài của Đảng là đúng đắn. Chúng tôi báo cáo ý kiến đề nghị này lên Bộ Tổng chỉ huy và được Bộ đồng ý ngay.

        Ngày 7 tháng 1 năm 1947, một ngày đáng ghi nhớ -  ngày trung đoàn Liên khu I, con đẻ của cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Thủ đô, chính thức thành lập trong lòng địch dưới các tầm súng đích. Quả là một sự kiện hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh.

        Một tuần sau, ngày 12 tháng 1 năm 1947, Hội nghị quân sự toàn quốc họp ở Chương Mỹ -  Hà Đông, nhận xét thành tích của trung đoàn Liên khu I và tặng danh hiệu trung đoàn Thủ đô. Về sau này, trong một bài diễn văn, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nói: Đặt tên cho trung đoàn ấy: không có tên nào xứng đáng hơn là trung đoàn Thủ Đô.

        Cả mặt trận Hà Nội phấn khởi được tin cấp trên tặng danh hiệu trung đoàn Thủ Đô cho trung đoàn Liên khu I.

        Anh em chiến đấu ở ngoại thành cũng gian khổ, quyết liệt và diệt được khá nhiều địch, nhưng ai nấy đều đánh giá rất cao vai trò của trung đoàn Thủ Đô. Vì nếu không có trung đoàn ấy chiến đấu kiên trì trong Liên khu I thì địch sẽ rảnh tay tập trung lực lượng phá vỡ vòng vây của ta bao quanh các cửa ô Hà Nội. Ai nấy đều thấy rằng để tạo điều kiện cho trung đoàn Thủ Đô có thể chiến đấu được lâu hơn nữa ở trong đó thì các đơn vị ở ngoài phải hoạt động mạnh, liên tục đánh ép địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #38 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 10:01:29 AM »


        Lúc này lực lượng Vệ quốc đoàn chiến đấu ở ngoại thành Hà Nội đã tăng lên 7 tiểu đoàn:

        -  Tiểu đoàn 145, do đồng chí Lê Quân, rồi đến đồng chí Trắc Vinh Nam chỉ huy, phụ trách mặt tây bắc, từ sông Hồng đến giáp ô Cầu Giấy.

        -  Tiểu đoàn 523, do đồng chí An Giao chỉ huy, phụ trách mặt tây nam từ Cầu Giấy đến giáp đường Kim Liên.

        -  Tiểu đoàn 64, do đồng chí Quốc Linh chỉ huy, phụ trách mặt nam, từ Kim Liên đến giáp cửa ô Đống Mác.

        -  Tiểu đoàn 212, do đồng chí Hồng Kỳ chỉ huy, phụ trách mặt đông nam, từ ô Đống Mác đến Vĩnh Tuy, sông Hồng.

        -  Tiểu đoàn 77, do đồng chí Hoàng Kiện chỉ huy, làm đội dự bị của Liên khu II, đóng ở phía đông nam thành phố.

        -  Tiểu đoàn 56, do đồng chí Anh Đệ chỉ huy, làm đội dự bị của Liên khu III, đóng ở trường bay Bạch Mai.

        -  Tiểu đoàn 13 do đồng chí Phùng Thế Tài chỉ huy, là lực lượng dự bị của Liên khu II đóng ở ô Đống Mác tới Giáp Bát, luân phiên đánh địch ở ô Cầu Dền. Lúc này toàn thành phố chỉ có một khẩu ba- dô- ca với năm viên đạn -  là loại vũ khí chống tăng hiện đại duy nhất lúc đó. Khi giao vật hiếm ấy cho đơn vị đồng chí Phùng Thế Tài, tôi nói vui nhưng có ý nhấn mạnh phải bảo vệ nó:

        Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 13 động viên nhau sau khi nhận súng: Trên giao cho đơn vị ta vật quý đó, là trên tin cậy vào khả năng chiến đấu của ta. Để đáp lại lòng tin cậy của cấp trên, chúng ta cần phải "chiều chuộng, nâng niu” nó chu đáo, và phải sử dụng nó cho thật tốt. Tiểu đoàn 13 đã nhận cử ra một số cán bộ, chiến sĩ vừa có tinh thần chiến đấu dũng cảm vừa có nhiều hiểu biết kỹ thuật sử dụng súng chuyên giữ khẩu ba- dô- ca này và liên tục ngày đêm anh em mang nó đi săn xe tăng địch trên một khu vực rất rộng từ ô Cầu Dền, Kim Liên đến cửa ô Chợ Dừa, v.v... Trận đầu, bằng hai viên đạn, anh em đã diệt một xe tăng địch, càng nhắc nhở mọi người phải chăm sóc nó chu đáo hơn nữa, như một vật báu, bất ly thân. Khi đi chiến đấu, anh em buộc dây thừng dài năm, sáu mươi mét vào súng đề phòng đồng chí bắn chẳng may bị thương hoặc hy sinh, đồng chí ngồi sau kịp thời giật súng rời khỏi nơi nguy hiểm, địch không cướp được.

        Về phía địch, lúc này đã biểu hiện rõ rệt tình trạng lúng túng. Kể từ sau trận Giảng Võ ngày 6 tháng 1 năm 1947, chúng không mở cuộc tiến công nào lớn. Chúng chờ quân tiếp viện. Mà quân đó lấy đâu ra? Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ chiến tranh du kích đã phát triển, địch không thể rút quân từ trong đó ra Hà Nội được. Từ vĩ tuyến 16 đổ ra, quân Pháp đóng ở Vinh đã phải đầu hàng, còn ở Huế, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang, Lạng Sơn... đâu đâu quân Pháp cũng đang kêu xin tăng viện. Địch ở Hà Nội ngong ngóng chờ quân tăng viện từ bên Pháp sang.

        Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy mặt trận nảy ý kiến mở một cuộc phản công tiêu diệt sinh lực địch và chiếm lại một phần phía nam nội thành Hà Nội với kế hoạch: Đánh kiềm chế địch ở các hướng ô Cầu Dền, Kim Liên, ô Chợ Dừa, Ngọc Hà, đồng thời tập trung lực lượng đánh thọc vào Phà Đen, Đồn Thủy rồi theo đường Trần Hưng Đạo đánh cắt ngang ra phía ga Hà Nội. Mục đích chính của kế hoạch này là làm giảm sức ép của địch đối với trung đoàn Thủ Đô đang chiến đấu trong Liên khu I. Nhưng rồi ý kiến này phải gác lại ngay, bởi vì không đúng với phương châm chỉ đạo tác chiến của Trung ương là “tiêu hao sính lực địch đồng thời phải bảo toàn lực lượng mình để đánh lâu dài". Hơn nữa lúc này lợi dụng tình hình địch lúng túng, Chính phủ ta đang dùng biện pháp ngoại giao để cùng với chúng thoả thuận một ngày ngừng bắn cho đồng bào ta và những ngoại kiều (Hoa, Ấn) còn lại trong vòng vây địch ở Liên khu I được công khai rút ra ngoài. Đây cũng là một chủ trương rất sáng suốt, một đòn tiến công ngoại giao của Đảng rất đúng lúc, kịp thời nhằm giảm bớt khó khăn cho trung đoàn Thủ Đô có thể chiến đấu lâu ngày trong lòng địch. Theo chỉ thị của Trung ương Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Trân, chủ tịch ủy ban kháng chiến thành phố Hà Nội, cùng cá đồng chí Hoàng Minh Giám, bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Hoàng Hữu Nam, thứ trưởng Bộ Nội vụ vào ô Chợ Dừa để cùng các viên lãnh sự Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch), lãnh sự Anh, Mỹ đàm phán về ngày giờ tạm ngừng bắn cụ thể.

        Kết quả cuộc đàm phán này là ta và địch đã thoả thuận ngừng bắn vào ngày 15 tháng 1 năm 1947.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #39 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 06:00:37 PM »


        Hôm đố, hơn 6.000 đồng bào ta và ngoại kiều tản cư công khai theo đường Hàng Đậu lên Yên Phụ. Hôm đó, hàng ngàn chiến sĩ của Liên khu I cũng cải trang đi lẫn vào nhân dân để vượt khỏi vòng vây theo kế hoạch đã được chuẩn bị.

        Theo chỉ thị của đồng chí Tổng chỉ huy, trung đoàn Thủ Đô chỉ cần để lại 500 người chiến đấu, còn tất cả theo đường tản cư công khai và bí mật rút ra hết. Nhận được chỉ thi đó, Đảng ủy Liên khu I đã có chủ trương chọn người ở lại, thành lập đội quyết tử. Và ngày 14 tháng 1 năm 1947, đội quyết tử của trung đoàn Thủ Đô làm lễ tuyên thệ tại rạp hát Tố Như (Nay là rạp Chuông Vàng), phố Hàng Bạc.

        Sở dĩ đồng chí Tổng chỉ huy phải quy định cụ thể mức quân số ở lại của trung đoàn Thủ Đô là để giải quyết khó khăn về lương thực, thuốc men và nước uống cho Liên khu I. Nhưng qua ngày 15 tháng 1 năm 1947, chúng tôi nhận được điện của ban chỉ huy trung đoàn báo cáo ra thì số quân ở lại chiến đấu trong Liên khu I không phải là một "đội quyết tử 500 người" mà trên 1.200 người, trong đó có hơn 200 phụ nữ, hơn 100 thiếu nhi. Số quân vượt quá mức quy định của trên như thế này hoàn toàn có thể thông cảm được. Bởi vì như đồng bào ở trong Liên khu I ra, đã nói với chúng tôi. Thanh niên họ không chịu ra đâu, nhiều người vừa đi vừa khóc; nhiều người đã ra đi lại quay trở lại. Tinh thần vui vẻ chấp nhận một cuộc chiến đấu đầy hiểm nghèo của anh chị em thanh mến Hà Nội thật đáng quý biết bao! Việc làm anh hùng đó đã khích lệ chúng tôi rất nhiều. Nhưng mặt khác, với số quân đông như thế lại là một mối lo ngại lớn đối với Uỷ ban kháng chiến và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội. Làm thế nào để bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội trong đó, vì đã hàng chục ngày các chiến sĩ ta ăn uống kham khổ, thiếu chất tươi. Anh em rất thèm rau xanh mà mặt trận chỉ có một tiểu đội nữ giao thông Lãng Bạc đêm đêm vượt bao nguy hiểm, thậm chí có khi đổ máu chỉ đưa vào được lượng rất ít rau xanh đủ cung cấp cho thương binh.

        Để phục vụ cuộc chiến đấu vô cùng khẩn trương, với khẩu hiệu “tất cả cho chiến thắng”, nhân dân Liên khu I đã không tiếc bất cứ một thứ gì. Trong số những ụ súng, những ba- ri- cát được huy động ra làm vật cản địch, có lẫn cả bao chứa đầy đỗ xanh, đường kính. Được tin này, chúng tôi điện vào cho trung đoàn Thủ Đô tổ chức tìm kiếm những thứ đó, nếu là đỗ, đem ngâm thành giá cho bộ đội ăn thay rau tươi; tìm những bao đường đã đem làm ba- ri- cát lấy về phân đều cho bộ đội ăn để bảo đảm sức khoẻ...

        Bấy giờ tình hình chiến sự ở ngoại thành không gay gắt lắm, tôi ngỏ ý muốn vào thăm trung đoàn Thủ Đô. Nhưng đồng chí Trần Quốc Hoàn không đồng ý:

        -  Anh Vũ phải ở ngoài này? Để tôi vào...

        Rồi đêm 20 tháng 1 năm 1947, các đồng chí Trần Quốc Hoàn, Lê Quang Đạo với tư cách là phái viên của Trung ương Đảng đi men theo sông Hồng, qua gầm cầu Long Biên vào Liên khu I. Vượt qua bao nguy hiểm, các đồng chí đem đến cho các chiến sĩ trung đoàn Thủ Đô sự chăm sóc ân cần của Đảng, của nhân dân. Và qua chuyến đi nghiên cứu thực tế đó, các đồng chí đã hiểu thêm một cách sâu sắc về tình hình sức khoẻ, tinh thần và khả năng chiến đấu của anh em ta trong đó. Đặc biệt cũng qua chuyến đi này, các đồng chí đã rút ra được những kết luận bổ ích về lãnh đạo và chỉ đạo chung cho mặt trận Hà Nội và riêng cho Liên khu I.

        Khắp nơi đổ nát, nhưng cũng ở khắp nơi đầy máu lửa -  hiểm nghèo này đã nổi bật lên những dòng chữ viết bằng mực, bằng than, bằng phấn, viết lên tường, lên cửa hay mảnh gỗ, mảnh bìa các-tông treo ở gốc cây, cắm ngang chiến luỹ, đặt trước ụ súng: "Sống chết với Hà Nội!"; “Hãy xứng đáng là thanh niên thời đại Hồ Chí Minh”; "Hà Nội, Xta-lin-gtát của Việt Nam"; "Tiêu diệt xâm lược Pháp"; "Thà chết không chịu làm nô lệ"; "Quyết tử bảo vệ Thủ đô"; "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước"... Những dòng chừ hằn nét căm thù, đọc lên là thấy dòng máu nóng trong người thêm rạo rực. Các chiến sĩ Thủ Đô tình nguyện chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng rất lạc quan yêu đời, họ đã tổ chức các tổ ca nhạc, đội kịch, làm thơ ca ngợi cuộc chiến đấu đầy khí phách anh hùng. Trước khi đi tập kích, biết là phải xông pha nguy hiểm, nhưng họ vẫn cười đùa, trêu chọc nhau rất hồn nhiên. Trở về họ lại vui chơi ca hát, lại nghịch, rồi lăn ra ngủ để lấy sức mai còn "đi săn Tây". Những đảng viên và quần chúng cảm tình vẫn còn theo học lớp chính trị ở phố Hàng Buồm. Tại phố Hàng Mắm, Hàng Thiếc, có những lớp đào tạo tiểu đội trưởng, mà bãi tập là một quãng đường nhựa giữa hai lớp ba- ri- cát.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM