Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Chín, 2020, 02:22:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước  (Đọc 14068 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #70 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:47:23 am »


        Ngày 5 tháng 6 năm 1862 (âm lịch là ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất), Bonard đại diện Pháp cùng Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp đại diện triều đình Huế, ký hoà ước giữa hai nước, thường gọi là hoà ước Nhâm Tuất 1862, gồm 12 điều. Trong hoà ước có những điều khoản chủ yếu như sau:

        1. Nước Nam phải để các giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha tự do giảng đạo và để nhân dân tự do theo đạo.

        2. Nước Nam nhường hẳn cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và Côn Đảo, để các chiến thuyền của Pháp ra vào tự do ở sông Mê Công.

        3. Nước Nam không được đem vũ khí, đạn dược đi qua những tỉnh đã nhường cho Pháp.

        4. Nước Nam giao thiệp với nước nào, phải cho chính phủ Pháp biết, muốn nhường đất cho nước nào phải được sự đồng ý của Pháp.

        5. Người Pháp và người Tây Ban Nha được ra vào buôn bán tự do ở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.

        6. Nước Nam phải trả cho Pháp tiền binh phí 4 triệu đồng, trả làm 10 năm, mỗi năm 40 vạn đồng.

        7. Pháp trả lại cho nước Nam tỉnh Vĩnh Long (nhưng quân Pháp vẫn đóng lại ở tỉnh lỵ cho đến khi chúng gọi là "dẹp yên giặc giã" ở Gia Định và Định Tường, chúng mới rút đi).

        Hoà ước này có đại diện Tây Ban Nha là đại tá Palanca cùng ký.

        Tháng 2 năm Quý Hợi 1863, Bonard và Palanca tới Huế mượn cớ đưa quà tặng của vua nước họ để đòi triều đình Huế đưa quốc thư, tức đưa giấy dâng một phần đất nước cho chúng. Tự Đức tiếp sứ trọng hậu, trả bồi thường cho Pháp số tiền 186.111 đồng, gửi quà tặng hai vua Pháp, Tây Ban Nha và tặng quà sứ bộ Pháp.

        Trong khi triều đình Tự Đức đầu hàng, dâng đất, nộp tiền cho quân cướp nước, thì nhân dân, văn thân, sĩ phu miền Nam nổi lên đánh giặc, chống triều đình ngày càng quyết liệt.

        Khi Pháp đánh chiếm Gia Định, các sĩ phu Gia Định như Phan Văn Đạt, Lê Cao Dũng chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Bị giặc bắt, hai ông tự tử.

        Nhiều sĩ phu yêu nước khác như tri huyện Toại, Thiên Hộ Dương cũng nổi lên đánh Pháp. Nguyễn Hữu Huân, người Định Tường, đỗ thủ khoa năm 1832, làm giáo thụ ở huyện Kiến Hưng, khi Pháp xâm lược Nam Bộ, đã tập hợp nghĩa sĩ, phối hợp cùng các nhóm nghĩa quân Âu Dương Lân, Võ Duy Dương (tức Thiên Hộ Dương) hoạt động suốt một dải từ Tân An đến Mỹ Tho. Một võ quan của triều đình Nguyễn ở Gia Định là Trương Định cũng dấy quân đánh Pháp.

        Ở ngoài Bắc, từ năm 1862 đã có nhiều nhóm nghĩa quân nổi lên chống triều đình bán nước. Đầu năm 1862, nghĩa quân của cai tổng Vàng (tức Nguyễn Văn Thịnh) ở Bắc Ninh tiến đánh phủ Lạng Giang, huyện Yên Dũng và vây thành Bắc Ninh. Cũng thời gian này, tay sai của Pháp là Tạ Văn Phụng đưa quân đánh chiếm phủ Hải Ninh (Quảng Ninh) và nhiều nơi khác miền duyên hải nhằm mục đích quấy rối hậu phương miền Bắc của triều Nguyễn.

        2. Sứ bộ ngoại giao Phan Thanh Giản vào Sài Gòn và đi Pháp xin chuộc lại Nam Kỳ

        Trước những phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại hành động bán nước của triều đình, vua tôi nhà Nguyễn không thể không suy nghĩ, không thể không làm một việc gì để xoa dịu lòng dân. Chúng tiến hành một chủ trương ngoại giao lép vế, van nài giặc, đem vàng, đem của đổ cho giặc để xin lại đất. Đầu năm 1863, sứ Pháp ra Huế nhận tiền bồi thường của triều đình Huế (186.111 đồng) có nói sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho triều đình Huế, nên khi sứ Pháp về Sài Gòn, triều đình Huế cho Phan Thanh Giản vào theo để nhận tỉnh Vĩnh Long.

        Tự Đức vẫn tiếc đất Vĩnh Long. Không lấy lại được bằng quân sự, Tự Đức định cố gắng hoạt động ngoại giao. Giữa năm 1863, Tự Đức cho một phái đoàn đi hẳn sang Pháp để cầu xin vua Pháp về việc này. Cầm đầu phái đoàn là Hiệp tá đại học sĩ Phan Thanh Giản, Tả tham tri Bộ Lại - Phạm Phú Thứ và án sát Quảng Nam - Ngụy Khắc Đản. Tự Đức và triều đình Huế cho phái đoàn Phan Thanh Giản đem nhiều vàng bạc, tiền của ra đi để xin chuộc lại đất, và cũng cho đem nhiều vàng bạc, quà tặng cho bọn cai trị Pháp, Tây Ban Nha ở Gia Định để chúng đưa phái đoàn ngoại giao của Huế đi Tây Âu.

        Phái đoàn xuống tàu "Echo” (Tiếng Vang) của Pháp ở Gia Định cho ra đón từ Huế. Vào tới Gia Định, phái đoàn sang tàu “Européen" (Người châu Âu) cùng bọn quan cai trị Pháp và Tây Ban Nha sang Pháp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #71 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:47:50 am »


        Khoảng tháng tám âm lịch (1863), tàu biển Européen tới đất Pháp. Phái đoàn Huế theo đường bộ lên Paris xin vào triều yết kiến vua Pháp lúc đó là Napoléon III (Na-pô-lê-ông đệ tam). Napoléon đương chuẩn bị đi nghỉ mát nên không tiếp sứ. Sứ đoàn Huế phải ở lại chờ hơn một tháng, Napoléon đi nghỉ mát về mới được vào tiếp kiến. Sứ đoàn Huế trình bày ý kiến của Tự Đức muốn thương lượng với Pháp để thu hồi ba tỉnh Nam Bộ đã nhường cho Pháp, với những điều kiện sau:

        - Pháp được quyền bảo hộ cả sáu tỉnh Nam Bộ.

        - Pháp được quyền kiểm soát toàn bộ Sài Gòn với mọi đặc quyền và buôn bán.

        - Pháp được triều đình Huế hàng năm nộp cống phẩm như một thuộc quốc đối với một thượng quốc.

        Nghe những kiến nghị này của sứ bộ Phan Thanh Giản, Napoléon không trả lời ngay và hẹn ít lâu nữa sẽ trả lời.

        Mấy ngày sau, sứ bộ Phan Thanh Giản phải rời Pháp sang Tây Ban Nha, nhưng cũng không được việc gì, như khi ở Pháp. Bấy giờ đã là cuối năm 1863, sứ bộ ta phải xuống tàu Japon (Gia-pông, nghĩa là Nhật Bản, tên tàu của Pháp), đành chịu thất bại ngoại giao.

        Khoảng tháng 3 năm 1864, sứ bộ đi Tây Âu về đến Huế.

        Sau khi sứ bộ Phan Thanh Giản rời khỏi nước Pháp, vua Pháp Napoléon III xem xét lại thái độ đối với Nam Kỳ mà Pháp đã chiếm đóng. Thấy đường trường từ Pháp tới Nam Kỳ xa xôi quá, Napoléon ái ngại, không muốn chiếm đóng, nên cho viên trung tá hải quân Aubaret sang triều đình Huế bàn việc trao trả ba tỉnh Nam Bộ cho Việt Nam Sách sử chứ Hán của nhà Nguyễn viết tên Aubaret là Hạ Bá Lý.

        Tự Đức cho thượng thư Bộ Lại - Phan Thanh Giản làm toàn quyền chánh sứ cùng hai phó sứ Trần Tiễn Thành, Phan. Huy Vịnh thay mặt triều đình, hội thương với Aubaret. Sứ Pháp Aubaret đưa ra một dự thảo hoà ước, nội dung tóm tắt như sau:

        - Pháp trả lại ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường cho triều đình Huế. Nhưng Huế phải để Pháp cầm quyền bảo hộ cả lục tỉnh, tức sáu tỉnh Nam Kỳ.

        - Pháp vẫn chiếm giữ ba nơi là Sài Gòn, Mỹ Tho và Thủ Dầu Một để Pháp đóng quân.

        - Triều đình Huế mỗi năm phải nộp cho Pháp hai triệu đồng tiền thuế.

        Hoà ước quá bất bình đẳng và triều đình Huế phải chịu thua thiệt nhiều. Phái bộ triều đình Huế chưa dám ký hoà ước, chỉ nhận trả tiền bồi thường quân phí năm trước cho Pháp là 40 vạn đồng.

        Trước thái độ ngang ngạnh, bức hiếp của Pháp, triều đình Huế không mong chuộc được ba tỉnh, mà còn lo mất nốt ba tỉnh còn lại, tức mất cả Nam Bộ. Hoà ước với Pháp tuy đã ký, nhưng sẽ chẳng có giá trị gì, vì Pháp còn lấn tới nữa, đòi hỏi nữa.

        Giữa năm 1863, Pháp đưa tàu chiến tới cửa biển Kampốt của Cao Miên, cho hội quân chiếm đóng và đặt Cao Miên dưới quyền bảo hộ của Pháp. Thấy những hành động xâm lược của Pháp ở phía Nam như vậy, Tự Đức cho Phan Thanh Giản làm Kinh lược đại thần đem quân vào giám sát ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

        Nhưng không phải vì thế mà thực dân Pháp từ bỏ tham vọng của chúng. Tháng 3 năm 1866, thực dân Pháp ở Sài Gòn cho tàu chiến tới cửa Thuận An đưa thư cho triều đình Huế, nói rằng: ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên địa thế xa cách, trộm cắp thường nổi lên; hai nhà nước, tức Pháp và triều đình Huế cùng cai trị là không tiện, xin để cho Pháp một mình cai quản mới trừ được hết giặc biển. Được như thế, Pháp sẽ xóa bỏ cho triều đình Huế mọi khoản tiền bồi thường trước đây.

        Tự Đức cho Phan Huy Vịnh và Phạm Phú Thứ tiếp đón, tặng quà sứ Pháp và tư giấy cho kinh lược Phan Thanh Giản ở Nam Bộ trực tiếp thương thuyếtvới Pháp về vấn đề này. Viên quan Pháp cầm quyền ở Sài Gòn là Vial thấy triều đình Huế không nhượng bộ, liền dọa ngay là nếu không nhượng bộ thì sẽ có chiến tranh. Phan Thanh Giản chưa kịp có ý kiến gì Pháp làm áp lực buộc Phan Thanh Giản viết thư cho quan lại triều đình ở An Giang và Hà Tiên nộp thành cho Pháp.

        Thấy mình không giữ nổi nước, Phan Thanh Giản căn dặn con cháu cày ruộng lấy mà ăn, không được làm việc với Pháp, không được nhận quan chức gì ở Nam Kỳ, rồi ông uống thuốc độc chết. Bấy giờ là giữa năm 1867 và Phan Thanh Giản đã ngoài 70 tuổi

        Pháp chiếm toàn bộ Nam Kỳ làm thuộc địa của chúng kể từ đây và cũng kể từ đây, chúng tập trung binh lực tiến quân ra Bắc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #72 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:48:16 am »


        3. Pháp xâm lược miền Bắc Việt Nam

        Bấy giờ có mấy tên lái buôn Pháp là Jean Dupuis, Millot buôn bán ở Thượng Hải, muốn đưa binh khí, súng đạn vào Bắc Kỳ theo đường sông Hồng, đem lên bán cho bọn quân phiệt nhà Thanh ở Vân Nam. Nhưng việc làm của chúng không được quan lại nhà Nguyễn ở Bắc Kỳ cho phép. Jean Dupuis (Giăng Đuy-puy sách sử chữ Hán ghi tên là Đồ Phổ Nghĩa, có sách sử của triều đình Huế, in chữ quốc ngữ, xuất bản năm 1925 lại viết là Từ Phổ Nghĩa) vào Sài Gòn yêu cầu viên thống đốc Pháp ở Nam Kỳ can thiệp, giúp hắn thông thương.

        Viên thống đốc Pháp nắm được cơ hội, cho ngay viên trung tá hải quân Sénès đem tàu Bourayne ra Bắc Kỳ, vào Quảng Yên, theo sông Hồng nghênh ngang lên Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh xem xét các nơi.

        Trong thời gian này, Jean Dupuis sang Hồng Công, cùng Millot đem ba chiếc tàu nhỏ là “Hồng Giang", “Lao Kay”, và "Sơn Tây" chở vũ khí cùng các hàng hóa khác vào Quảng Yên. Trên tàu còn có hai người ngoại quốc: một người Anh và một người Trung Quốc. Sử ta viết rằng người Anh này làm quan ở Trung Quốc, tên là Kiều Nhĩ Trì; người Trung Quốc, tên là Lý Ngọc Trì làm tri phủ. Dupuis xin được phép vào cửa Cấm theo đường Hải Dương, Đông Triều, Bắc Ninh tới Hà Nội để lên Vân Nam. Quan nhà Nguyễn ở Quảng Yên báo cáo về triều. Tự Đức cho gửi thư sang Lưỡng Quảng, nhờ Lưỡng Quảng tư tờ hỏi Vân Nam xem như thế nào. Khi có thư trả lời của Vân Nam, sẽ hay.

        Dupuis không nghe, cứ cho tàu vào Hải Dương, lên đậu ở Hà Nội. Bấy giờ là cuối năm 1872, Dupuis thuê thuyền chở hàng lên Vân Nam. Cá thuyền buôn của Dupuis và Willet có đông thủy thủ có vũ trang. Chuyến đi trót lọt. Cuối năm 1873, chúng chở hàng hóa từ Vân Nam về Hà Nội, đem theo một toán giặc Cờ vàng người Trung Quốc.

        Tới Hà Nội, Dupuis và mấy người Trung Quốc là Bành Lợi Ký, Quan Tá Đình chở gạo, muối, súng đạn lên bán ở Vân Nam.

        Quan lại nhà Nguyễn ngăn cản việc này, vì việc buôn bán, chuyên chở hàng lên bán ở Vân Nam chưa được triều đình Huế cho phép. Bọn Dupuis không nghe. Quan nhà Nguyễn ở Hà Nội cho bắt hai Hoa kiều là Bành Lợi Ký và Quan Tá Đình. Sẵn có trong tay nhiều lâu la có vũ trang, Dupuis chống lại quan nhà Nguyễn. Hắn cho người đi bắt quan lãnh binh phòng thành Hà Nội và quan huyện Thọ Xương đem xuống giam dưới thuyền của chúng. Quan nhà Nguyễn ở Hà Nội không dám phản ứng mạnh. Nhưng các sĩ phu yêu nước thì rất bất bình, tìm cách chống lại những hành động gián điệp, cướp phá của bọn Dupuis.

        Một ông nghè là Lê Đình Diên, làm đốc học Hà Nội đã về hưu, mở trường dạy học, ngày 20 tháng 6 năm 1873, ngăn cản không cho tên Dupuis vẽ cổng thành Hà Nội, bị bọn chúng hành hung.

        Các văn thân sĩ phu Hà Nội đâu chịu khoanh tay ngồi yên trước thái độ nhu nhược, yếu hèn của bọn quan lại triều đình ở Hà Nội. Cử nhân Ngô Văn Dạng dạy học ở thôn Kim Cổ (khoảng phố Hàng Bông Hà Nội bây giờ) đứng ra tổ chức một đội nghĩa quân gồm 300 người, luyện tập quân sự cấp tốc trong một tháng rồi đi trừ diệt bọn thổ phỉ do Dupuis đưa từ Vân Nam sang.

        Cùng thời gian này, cử nhân Tạ Văn Đình cũng hoạt động chống bọn gián điệp Dupuis. Cuối năm 1873, khi Pháp đem quân ra đánh Hà Nội, chúng bắt ông Tạ Văn Đình, đem giết tại bờ hồ Hoàn Kiếm.

        Trước những hành động ngang ngược, tàn sát của một nhúm mấy tên thực dân Pháp tại Hà Nội, các quan nhà Nguyễn ở ngoài Bắc và vua tôi nhà Nguyễn tại triều đình Huế cho một phái bộ gồm các ông Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn vào Sài Gòn nhờ viên thống đốc Pháp ở Nam Kỳ cho người ra giải quyết giúp. Đây là một thứ ngoại giao khờ khạo. Trước đã để thực dân Pháp cướp mất nước ở phía Nam, nay lại tự ý dẫn đường cho chúng đưa quân ra Bắc. Thế làm sao mà không mất nước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #73 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:48:43 am »


        4. Pháp đánh chiếm Hà Nội - chỉ huy quân Pháp Francis Garnies bị giết tại trận - Huế ký hàng ước 1874

        Thực dân Pháp từ sau khi chiếm được miền Nam, đã có mưu đồ đánh chiếm miền Bắc, chỉ chờ cơ hội thuận tiện để có thể tiến quân dễ dàng, thành công nhanh chóng. Viên thống đốc Pháp ở Nam Kỳ lúc ấy là Dupré, thiếu tướng hải quân có dã tâm xâm lược miền Bắc từ lâu. Hắn từng đánh điện về Paris cho chính phủ Pháp rằng: "Việc Jean Dupuis ở Bắc Kỳ đã thành công. Cần phải chiếm lấy Bắc Kỳ và giữ con đường thông sang Tàu. Không cần phải viện binh. Thành công rất chắc chắn".

        Nay Tự Đức và triều đình Huế lại cho người vào yêu cầu thống đốc Pháp ở Nam Kỳ cho người ra xử lý việc Jean Dupuis ở Hà Nội thì thật là dịp may ngoài mơ tưởng của Pháp. Tướng Dupré cho gọi ngay viên đại úy hải quân Francis Garnier đang ở Thượng Hải về Sài Gòn nhận lệnh và kế hoạch ra Hà Nội.

        Hối hả thực hiện mưu đồ xâm lược miền Bắc, Garnier chỉ đem mấy chiếc tàu nhỏ và 170 lính ra Đà Nẵng, rồi lên cửa Thuận An, nghỉ lại đây mấy hôm để chờ phái viên của triều đình Huế cùng đi. Ra tới Hải Dương, bọn Garnier nghỉ ở Kẻ Sặt, cho người cầm thư lên Hà Nội báo cho Jean Dupuis biết.

        Nhận được thư, Dupuis cho đem chiếc tàu "Mạn Hảo" đi đón Garnier lên Hà Nội. Ngày 5 tháng 11 năm 1873, Garnier tới Hà Nội. Các quan nhà Nguyễn là khâm mạng Nguyễn Tri Phương, bố chính Vũ Đường, lãnh binh Nguyễn Đăng Nghiễm đều có mặt nơi đón tiếp Garnier. Hắn ngang ngạnh, đòi đem quân vào đóng trong thành. Các quan nhà Nguyễn không đồng ý phải nói mãi hắn mới chịu đóng quân ở Trường Thi. Tại đây, Garnier cho người đi đón Puginier giám mục đạo Giê-su ở Kẻ Sặt (Cẩm Bình, Hải Hưng ngày nay) lên làm phiên dịch và viết thông cáo với nhân dân Hà Nội: "Bản chức - tức Garnier ra Hà Nội để dẹp yên giặc giã và mở mang việc buôn bán". Garnier đưa thư cho Nguyễn Tri Phương trách: các quan Nam triều làm ngăn trở việc buôn bán của Jean Dupuis, cho nên vì sự văn minh và quyền lợi của nước Pháp, quân Pháp ra khai thông việc buôn bán ở Bắc Kỳ, triều đình Huế và quan lại ở Bắc Kỳ không muốn cũng không được.

        Phía nhà Nguyễn lúng túng, không biết xử trí như thế nào. Nửa thảng sau khi tới Hà Nội, tới ngày 20 tháng 11 năm 1873 (âm lịch là 15 tháng 10 năm Quý Dậu), Garnier đột ngột nổ súng đánh thành. Chúng phá cửa đông nam. Nguyễn Tri Phương và con trai là phò mã Nguyễn Lâm vừa từ Trung Bộ ra thăm tha, cùng đem quân chống giữ cửa đông nam. Nhưng hai cha con không giữ được. Nguyễn Lâm bị giặc bắn chết. Nguyễn Tri Phương bị giặc bắn trọng thương. Giặc Pháp tiến vào chiếm thành, bắt Nguyễn Tri Phương và quan Khâm phái Phan Đình Bình đưa xuống tàu của chúng.

        Nguyễn Tri Phương lúc đó đã ngoài 70 tuổi, không chịu để cho giặc cứu chữa vết thương và nhịn ăn mà chết. Garnier một mặt tổ chức ngụy quyền tại Hà Nội, một mặt cho quân đánh chiếm thêm mấy tỉnh. Ngày 15 tháng 10 âm lịch, quân Garnier đánh lấy tỉnh Hải Dương, ngày 16 tháng 10 lấy tỉnh Ninh Bình, ngày 21 lấy tỉnh Nam Định. (Ba ngày âm lịch là theo sách Quốc triều chánh biên toát yếu của triều đình Huế.)

        Được tin quân Pháp đánh chiếm các tỉnh miền Bắc, triều đình Huế phải tính việc đối phó. Việc đầu tiên là cho Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường làm chánh và phó sứ vào Nam thương thuyết với thống đốc Pháp ở Sài Gòn về hành động của Garnier. Việc thứ hai là cho Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Gia Hội cùng hai cố đạo người phương Tây là giám mục Bình (Mgr Sohier), linh mục Đăng (Dangelzer) ra Hà Nội điều đình với Pháp. Việc thứ ba là lệnh cho ông Hoàng Kế Viêm ở Sơn Tây làm tiết chế quân vụ, phòng giữ các nơi ngoài Bắc. Lúc này, ông Hoàng Kế Viêm đã liên kết với đội quân Cờ đen do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy, hoạt động ở lưu vực sông Hồng, miền tây bắc Việt Nam. Tự Đức phong Lưu Vĩnh Phúc làm đề đốc để cùng quan quân nhà Nguyễn chống Pháp. Quân Lưu Vĩnh Phúc đã đánh tập kích quân Pháp nhiều lần. Trong khi tại Hà Nội, về mặt ngoại giao, các ông Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp đương thương thuyết với Garnier, thì quân Nguyễn và quân Cờ đen từ phía Sơn Tây xuống đánh Hà Nội. Ngày 21 tháng 12 năm 1873, tức một tháng sau khi quân Pháp chiếm đóng Hà Nội, Garnier đem quân tiến lên phía Sơn Tây để đánh quân Cờ đen, nhưng mới đi tới Cầu Giấy thì quân Pháp đã bị quân Cờ đen đặt phục binh, đánh cho tan tác. Francis Garnier bị giết chết tại trận.

        Ở Sài Gòn, khi được tin Garnier đánh chiếm Hà Nội, thống đốc Pháp Dupré cho viên đại úy hải quân Philastre (sách sử chữ Hán của triều Nguyễn viết là Hoắc Đạo Sinh) đi cùng Nguyễn Văn Tường, phó sứ của triều đình Huế, ra giải quyết các việc ở ngoài Bắc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #74 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:49:18 am »


        Hai người ra tới cửa Cấm (Hải Phòng) ngày 5 tháng 11 âm lịch thì được tin Francis Garnier cùng mấy tên trung úy, thiếu úy chỉ huy quân Pháp đã bị quân Nguyễn giết tại trận. Hai người lên ngay Hà Nội xem xét tình hình, rồi vào Sài Gòn để thương thuyết cùng viên thống đốc Pháp. Trước những sự việc đã xảy ra ở Hà Nội, Garnier và toán quân Pháp phải bỏ mạng, thống đốc Pháp ép triều đình Huế phải ký một hàng ước, đền bù những thiệt hại của Pháp. Ngày 27 tháng giêng năm Giáp Tuất (1874) hai ông Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường thay mặt triều đình Huế cùng tướng Pháp Dupré ký hoà ước mới, thường gọi là hoà ước năm Giáp Tuất gồm 22 điều khoản, trong đó có những điều khoản chính như sau (Lược theo bản ghi chép trong sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim.):

        Điều II - Tổng thống Pháp thừa nhận quyền độc lập của nước Nam, vua nước Nam không phải thần phục nước nào khác và khi vua nước Nam cần việc gì để đánh giặc, nước Pháp sẵn lòng giúp, không yêu cầu điều kiện gì.

        Điều III - Vua nước Nam phải cam đoan tuân thủ chính sách ngoại giao của nước Pháp. Chính sách ngoại giao ấy như thế nào phải theo như thế không được thay đổi .

        Tổng thống nước Pháp tặng vua nước Nam:

        - 5 chiếc tàu có vũ trang.

        - 100 khẩu súng đại bác, mỗi khẩu có 200 viên đạn .

        - 1 000 khẩu súng tay và 5.000 viên đạn.

        Điều IV - Tổng thống nước Pháp hứa cho võ quan sang giúp vua nước Nam luyện tập thủy binh, bộ binh, cho các kỹ sư sang dạy mọi việc và cho những người giỏi tài chính sang tổ chức các việc thuế má, thương chính...

        ĐiềuV - Vua nước Nam phải nhường đứt hẳn đất đai sáu tỉnh Nam Kỳ cho nước Pháp .

        Điều IX - Vua nước Nam phải để cho các giáo sĩ được tự do đi giảng đạo và để dân tự do theo đạo.

        Điều XI - Vua nước Nam phải mở cửa Thị Nại (Quy Nhơn), cửa Ninh Hải (Hải Phòng), thành Hà Nội và sông Hồng cho ngoại quốc vào buôn bán.

        Điều XIII - Nước Pháp được quyền đặt lãnh sự ở các cửa biển và các thành thị đã mở cho người ngoại quốc vào buôn bán.

        Điều XV - Người nước Pháp và các người nước ngoài có giấy thông hành của lãnh sự Pháp và có chữ phê chuẩn của quan Việt Nam thì được phép đi thăm các nơi trong nước.

        Điều XVI - Người nước Pháp và các người nước ngoài có điều gì kiện tụng tại Việt Nam, thì do lãnh sự Pháp xét xử.

        Điều XX - Sau khi hoà ước này đã ký, tổng thống nước Pháp sẽ đặt sứ thần ở Huế để chiếu theo những điều đã giao ước mà thi hành. Vua nước Nam cũng được quyền đặt sứ thần ở Pari và Sài Gòn.

        Hoà ước Giáp Tuất này buộc triều đình Huế phải công khai chấp nhận Sài Gòn và sáu tỉnh Nam Kỳ không còn là của Việt Nam mà là đất đai của Pháp, mặc dầu nước Pháp ở cánh xa Nam Kỳ hàng vạn dặm. Hoà ước còn trao cho Pháp một quyền rất quan trọng là Pháp được đặt lãnh sự ở các cửa biển, các thành thị và lãnh sự Pháp có quyền cấp giấy thông hành cho các người nước ngoài đi xem xét khắp nước Việt Nam. Với hoà ước này, triều đình Huế trao gần hết chủ quyền ở miền Bắc cho thực dân Pháp.

        Đầu năm 1874, ngay sau khi ký hoà ước, Tự Đức lệnh cho các quan cơ mật và các quan thương bạc (ngoại giao) vẽ hai bản đồ Việt Nam; một bản đưa nhà vua ngự lãm, một bản đưa cho "Pháp soái", tức viên thống đốc Pháp ở Nam Kỳ.

        Giữa năm 1874, triều đình Huế cho thượng thư Bộ Hình là Nguyễn Văn Trường và thị lang Bộ Lại là Nguyễn Tăng Doãn thảo luận và ký thương ước với Pháp. Nội dung chủ yếu của thương ước là cho Pháp đặt lãnh sự và mở phố buôn bán ở Hà Nội. Ngày 20 tháng 7 năm Giáp Tuất, tức 31 tháng 8 năm 1874, thương ước lập xong. Về sau, thương ước có bổ sung thêm là cho Pháp tiếp tục đặt lãnh sự và mở phố buôn bán ở một số địa phương khác trong nước, cho Pháp được có quân đóng ở lãnh sự quán, được lập sở thương chính tại Hải Dương năm 1875, tại Quy Nhơn năm 1876.

        Tại Hà Nội, từ giữa năm 1874, triều đình Huế lo tổ chức nơi ăn, nơi ở cho quân Pháp. Tháng tám âm lịch, Tự Đức cho Nguyễn Tăng Doãn ra xem xét địa thế các vùng ngoại thành Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng để lấy chỗ cho Pháp đóng quân. Tại Hà Nội, pháp lấy khu Đồn Thủy ở bờ sông Hồng làm khu nhượng địa để chúng xây dựng trại lính, các dinh thự và các nhà làm việc của bọn lãnh sự Pháp. Theo thương ước ngày 31 tháng 8 năm 1874, khu nhượng địa rộng 2 héc-ta, nhưng Pháp lấn dần, chỉ một năm sau, nhượng địa đã rộng tới 18 héc-ta, Pháp đặt tên là khu "Nhượng địa" (Concession).

        Trong năm 1876, lãnh sự Pháp tại Hà Nội hai lần xin phép triều đình Huế đi lên các miền núi đông bắc và tây bắc nước ta mục đích để thăm dò, thám thính, chuẩn bị thực hiện mưu đồ xâm lược lên các miền này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #75 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:50:26 am »


        5. Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai (1882), chỉ huy quân Pháp Henri Rivière bỏ mạng

        Sau khi đã có các tổ chức hành chính, giao thông liên lạc, các cơ sở thương chính, thương nghiệp, nắm được tình hình tài nguyên, tài sản miền Bắc và có sẵn một số căn cứ đóng quân, thực dân Pháp ở miền Nam khởi sự đánh ra miền Bắc.

        Tháng hai năm Nhâm Ngọ, tức tháng 3 năm 1882, thống đốc Pháp ở Nam Kỳ cho tên thiếu tá hải quân Henri Rivière đem 600 quân đi hai chiếc tàu ra Bắc. Tới Hải Phòng, quân Pháp đánh chiếm khu mỏ Hòn Gai và vùng Hải Dương. Chúng lấy cớ quân Cờ đen cản trở việc buôn bán của lái buôn Pháp ở Hà Nội, nên chúng tiến lên Hà Nội trừng trị quân Cờ đen.

        Ngày 3 tháng 4 năm 1882, Henri Rivière tới Hà Nội, đóng quân tại Đồn Thủy là nơi có lãnh sự quán và doanh trại của quân Pháp.

        5 giờ ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, tức ngày 25 tháng 4 năm 1882, Rivière gửi tối hậu thư cho Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu, đòi ông phải triệt phá các công sự phòng thủ và đến 8 giờ sáng phải hạ vũ khí đầu hàng.

        Hoàng Diệu bác bỏ yêu sách của giặc, kiên quyết chiến đấu.

        8 giờ sáng, không thấy bên ta trả lời, giặc Pháp khởi sự, bắn đại bác vào cửa Bắc thành Hà Nội mở đường tiến quân. Quân ta chống cự lại kịch liệt. Quân giặc chết nhiều. Đến 10 giờ 45 phút, giặc mở cuộc tiến công đồng loạt vào bốn cửa. Một lúc sau, kho thuốc súng trong thành bốc cháy, vì có một số tên phản bội đốt phá, làm nội ứng cho giặc. Quân ta hoang mang. Lợi dụng tình hình đó, quân Pháp bắc thang trèo lên phía cửa Tây, phá cổng, ồ ạt kéo vào thành. Hoàng Diệu thấy không thể chống cự được nữa, đi vào hành cung, viết tờ di biểu để lại cho Tự Đức, rồi đến Võ miếu trong thành, lấy khăn dài đương chít đầu buộc lên cây táo bên miếu, treo cổ tự tử.

        Quan lại trong thành đều bỏ chạy.

        Rivière đưa quân vào đóng trong thành. Triều đình Huế được tin, lệnh cho quan quân miền Bắc tổ chức chống cự. Nhưng quân Pháp xảo quyệt, dùng ngoại giao lắt léo để ngăn chặn ý đồ kháng chiến của triều đình Huế và giành thêm thắng lợi mới. Khâm sứ pháp Rheinart đưa thư cho sở Thương bạc (cơ quan ngoại giao) của triều đình Huế nói rằng: việc đánh chiếm Hà Nội không phải là chủ ý của nước Pháp nên sẽ trả lại, triều đình cho quan ra Hà Nội nhận thành.

        Nhưng khi Huế cử một tổng đốc ra Hà Nội làm việc thì Rivière vẫn đóng quân trong hành cung (tức trong nội thành) và đưa ra mấy yêu sách:

        1- Nước Nam phải đặt dưới quyền bảo hộ của nước Pháp.

        2- Nước Nam phải nhường thành phố Hà Nội làm nhượng địa của Pháp.

        3- Để người Pháp tổ chức và cai quản các cơ quan thương chính ở Bắc Kỳ.

        Triều đình Huế do dự, không muốn chấp nhận yêu sách của Pháp. Chấp nhận những yêu sách đó là đầu hàng, mà là đầu hàng vô điều kiện.

        Thấy triều đình Huế trù trừ, không trả lời, Pháp tiếp tục hành quân xâm lược. Có thêm quân tiếp viện từ Sài Gòn đưa ra, ngày 28 tháng hai năm Quý Mùi (1883) Hen ri Rivière tiến đánh thành Nam Định.

        Thấy quân Pháp ở Hà Nội nống ra cướp phá các nơi, quan quân nhà Nguyễn ở ngoài Bắc tổ chức phản công, từ hai phía tiến về Hà Nội. Từ phía đông bắc, Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản đưa quân xuống Gia Lâm. Từ phía tây bắc, Khâm sai tiết chế Hoàng Kế Viêm đưa quân về gần Hà Nội và cho Lưu Vĩnh Phúc đi tiên phong, đóng quân ở phủ Hoài Đức. Viên đại úy, phó chỉ huy quân Pháp là Berthe de Villers đem quân từ Hà Nội sang Gia Lâm, Trương Quang Đản lui quân về Bắc Ninh.

        Sáng ngày 13 tháng tư năm Quý Mùi (tức 19 tháng 5 năm 1883) Rivière đưa 500 quân lên phía Hoài Đức, nhưng tới mạn Cầu Giấy thì bị quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc đánh tan. Gần một trăm quân Pháp chết trận và bị thương. Viên thiếu tá chỉ huy Hen ri Rivière bị giết chết. Viên đại úy phó chỉ huy Berthe de Villers bị thương nặng.

        Mặc dù thất bại, Pháp không lùi bước xâm lược. Bốn ngày trước khi Rivière bị giết, tức ngày 15 tháng 5 năm 1883, Quốc hội Pháp đã bỏ phiếu chuẩn chi một khoản tiền lớn năm triệu rưởi phờ-răng làm kinh phí đánh chiếm miền Bắc nước ta và lệnh cho bọn thực dân Pháp ở Việt Nam tiếp tục hành quân xâm lược.

        Chúng điều cả lục quân và hải quân cùng tiến công lên Sơn Tây và sang Bắc Ninh. Quan quân nhà Nguyễn ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các nơi khác cố chống đỡ, nhưng đều thất bại vì quân ít, yếu kém, vũ khí thô sơ, thiếu thốn. Cuộc kháng chiến chưa đạt kết quả gì thì ngày 16 tháng sáu năm Quý Mùi 1883, Tự Đức chết. Việc nối ngôi vua rối ren.

        Tự Đức không có con. Dục Đức là con nuôi, được đưa lên làm vua, nhưng chỉ ba ngày thì bị quyền thần truất ngôi và một người em của Tự Đức, con thứ 29 .của Thiệu Trị được đưa lên thay, lấy niên hiệu là Hiệp Hòa. Triều đình Huế đương trong tình hình lộn xộn, đế quốc Pháp lợi dụng cơ hội mở rộng chiếm đóng trên cả nước ta.

        Ngày 20 tháng 8 năm 1883, một hạm đội Pháp do Courbet, thiếu tướng hải quân chỉ huy, đánh vào cửa Thuận An. Sau ba ngày cầm cự, quan quân nhàNguyễn thua trận. Các tướng lĩnh, người thì tử thương, người thì nhảy xuống sông tự tử.

        Triều đình Huế nhận thấy thế không thể chống đối được bằng quân sự, phải cho người cầm cờ trắng đề nghị hòa với quân Pháp. Người đại diện Pháp trong đạo quân xâm lược này là Harmand tới Huế để đặt các điều kiện nghị hòa của Pháp với triều đình nhà Nguyễn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #76 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:51:03 am »


       VI. NGOẠI GIAO PHONG KIẾN BẤT LỰC NGOẠI GIAO CÁCH MẠNG XUẤT HIỆN

        Harmand với tư cách toàn quyền đại diện của Pháp và Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp là chánh, phó khâm sai của triều đình Huế đã cùng ký hoà ước Việt - Pháp ngày 25 tháng 8 năm 1883 (âm lịch là 23 tháng bảy năm Quý Mùi).

        Hoà ước gồm 27 điều. Điều quan trọng đầu tiên của hoà ước là để cho Pháp nắm quyền ngoại giao của Việt Nam; triều đình nhà Nguyễn không được tự ý quan hệ với các nước ngoài. Với hoà ước này, Việt Nam mất cả độc lập và quyền ngoại giao. Những điều chủ yếu khác trong hoà ước có thể tóm tắt như sau:

        - Tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kỳ để Pháp trực tiếp cai trị.

        - Từ tỉnh Khánh Hòa, phía trên Bình Thuận ra tới Đèo Ngang, do triều đình Huế cai trị. Nhưng Pháp đóng quân tại Đèo Ngang và tại Thuận An, bên cạnh triều đình Huế. Một cơ quan hành chính của Pháp đặt tại Huế do một viên khâm sứ Pháp đứng đầu, nắm quyền giám sát triều đình Huế và công việc hành chính ở các tỉnh từ Khánh Hòa ra Đèo Ngang. Viên khâm sứ Pháp được chỉ định sẵn là Champeaux có mặt ngay lúc đó và cùng ký tên vào hoà ước.

        - Từ Đèo Ngang ra Bắc, việc cai trị ở các tỉnh, phủ, huyện, vẫn do các quan lại Việt Nam đảm nhiệm, nhưng chỉ là chính quyền bù nhìn tay sai. Mỗi tỉnh có một cơ quan của Pháp, gọi là tòa công sứ, do chánh, phó công sứ Pháp cầm đầu, kiểm soát và điều hành mọi công việc trong tỉnh.

        Ký xong hoà ước, Harmand ra Bắc chỉ huy tiếp việc đánh chiếm miền Bắc. Triều đình Huế phải cho mấy viên thượng thư, tham tri đi theo Harmand ra để hiểu dụ nhân dân và lệnh cho quan quân nhà Nguyễn ở miền Bắc rút cả về Huế.

        Nhưng lệnh của triều đình Huế không đủ sức ngăn chặn chiến tranh ở miền Bắc. Bấy giờ là giữa năm 1883, Hiệp Hòa lên ngôi vua, truyền dụ ra Bắc: "Lập tức triệt binh dõng lui, để tỏ điều tin với Đại Pháp. Còn toán quân Lưu Vĩnh Phúc và quân Tàu, không phải quyền mình sai khiến được, nên đã giao ước để mặc quân Đại Pháp làm sao thì làm, không còn thuộc gì nước mình; nên đem thực tình việt thư cho quý toàn quyền .rõ, như vậy mới hợp thời thế". Thời thế đây là thời thế của kẻ hèn nhát, chịu dể mất nước.

        Chỉ bốn tháng sau, Hiệp Hòa bị triều thần giết chết. Triều đình đưa người con nuôi thứ ba của Tự Đức là Kiến Phúc lên làm vua. Kiến Phúc mới 15 tuổi, lên ngôi được hơn sáu tháng thì chết do bệnh đậu mùa. Sau Kiến Phúc là Hàm Nghi 13 tuổi lên thay. Công việc triều đình đều trong tay hai đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Việc nước, việc dân, lúc ấy rối ren nghiêm trọng. Ở ngoài Bắc, chiến tranh tiếp diễn. Quân Trung Quốc của Lưu Vĩnh Phúc ở miền tây bắc và quân chính quy của nhà Thanh ở miền đông bắc nước ta vẫn giao chiến với quân Pháp. Lệnh rút quân của triều đình Huế không có hiệu lực gì với họ. Lưu Vĩnh Phúc đương có toàn quyền cai quản miền Tây Bắc nước ta, không dễ gì lại bó thân về với triều đình ở Huế. Quân chính quy Trung Quốc do triều đình Huế mời sang cứu nguy cho mình thì cũng không dễ gì bảo họ rút về Trung Quốc, vì họ cũng có ý đồ của họ. Khi Pháp đánh chiếm Hà Nội, triều đình nhà Nguyễn cho Phạm Thận Duật sang Thiên Tân cầu cứu nhà Thanh. Tổng đốc hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây là Trương Thụ Thanh làm một sớ tâu vua Thanh, đại ý nói: "Nước Nam và Trung Quốc tiếp giáp nhau, thế lực của nước Nam rất suy yếu, không thể tự chủ được nữa. Ta nên mượn tiếng sang đánh giặc, đem quân đóng giữ các tỉnh thượng du. Khi có biến, ta sẽ chiếm lấy các tỉnh ớ phía bắc sông Hồng". Do đấy, quân Thanh sang đóng ở các tỉnh từ Lạng Sơn tới Bắc Ninh, từ Lào Cai tới Sơn Tây. Hai kẻ thù tiến hành xâm lược miền Bắc nước ta đã đánh nhau một số trận. Quân Thanh thua. Nhưng không phải vì thế mà quân Pháp đẩy họ ra khỏi biên giới Việt Nam một cách dễ dàng, mặc dầu Pháp đã đánh vào miền duyên hải Trung Quốc. Pháp thay đổi chiến lược, dùng ngoại giao thay quân sự.

        Pháp nhờ một người Đức là Détring phụ trách thương chính của nhà Thanh ở Quảng Đông giúp việc thương lượng giữa hai nước Pháp và Trung Quốc. Détring có quan hệ thân mật với tổng đốc Trực Lệ Lý Hồng Chương là một đại thần có thế lực lớn của triều đình nhà Thanh. Lý Hồng Chương chấp nhận đứng ra hòa giải. Ngày 18 tháng 4 năm Giáp Thân, trung tá hải quân Fournier đại diện Pháp và Lý Hồng Chương đại diện Trung Quốc ký hoà ước tại Thiên Tân.

        Nội dung chủ yếu của hoà ước Thiên Tân năm 1884 là Trung Quốc cam kết rút hết quân Trung Quốc đóng tại Bắc Kỳ về nước, để mặc Pháp tự do hoành hành ở Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #77 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:51:53 am »


        Sau hoà ước Thiên Tân, quân Trung Quốc vắng bóng ở Bắc Kỳ; thực dân Pháp ra sức hoàn tất việc chiếm đóng của chúng, thẳng tay đàn áp nhân dân Việt Nam, ép buộc triều đình Huế ký giấy đầu hàng, cam chịu mất độc lập, mất ngoại giao, cúi đầu chịu sự thống trị của chúng.

        Giấy đầu hàng ký tại triều đình Huế ngày 13 tháng 5 năm Giáp Thân (tức ngày 6 tháng 6 năm 1884). Ký xong, triều đình Huế phải đem ấn phong vương của Trung Quốc khi trước ra thiêu hủy trước mặt đại điện Pháp.

        Từ đây, triều đình Huế chỉ là chính quyền bù nhìn, hoàn toàn chịu sự điều khiển, giám sát của Pháp. Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc bị Pháp xóa bỏ. Quan hệ giữa Việt Nam và các nước khác không được Pháp cho phép. Như thế là triều đình Huế mất hẳn quyền ngoại giao. Quyền ngoại giao của triều đình Huế chấm dứt đồng thời cũng chấm dứt toàn bộ nền ngoại giao phong kiến.

        Năm 1884 tuy triều đình Huế bắt buộc phải ký giấy đầu hàng Pháp, nhưng ngọn lửa đấu tranh chống Pháp vẫn âm ỉ trong lòng vua tôi nhà Nguyễn từ đây.

        Đêm mùng 4 rạng sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết cùng những người yêu nước ở Huế phát động chiến tranh, bắn súng vào nhà khâm sứ Pháp và đánh trại lính Pháp ở thành Huế. Pháp phản công, Tôn Thất Thuyết thua trận, đưa vua Hàm Nghi lên miền núi Quảng Trị, rồi sang Thượng Lào.

        Ngày 2 tháng 8 năm 1885, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi tới vùng Cửu Châu thuộc Savanakhét được nhân dân nước bạn Lào hết lòng giúp đỡ và tiếp sức cho phong trào chống Pháp của Việt Nam dâng cao.

        Cùng với cuộc chiến đấu chống Pháp của Tôn Thất Thuyết là phong trào khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, có nhiều gắn bó với nhân dân Lào. Cuối năm 1895, nhân dân Lào đã đưa nghĩa quân Phan Đình Phùng tới tạm trú ở bản Kiên trên đất Lào để chuẩn bị các trận đánh Pháp. Nghĩa quân luôn luôn được nhân dân Lào tiếp sức.

        Từ những năm đầu thế kỷ XX, hoạt động ngoại giao của Việt Nam gắn chặt với phong trào cách mạng trong nước đang chuyển từ phạm trù phong kiến sang phạm trù mới. Cách mạng càng dâng cao thì quan hệ ngoại giao càng mở rộng. Ngoại giao cách mạng xuất hiện và ngày càng hưng khởi, góp phần rất lớn vào thành công của cách mạng Việt Nam.

*

*      *

        Trải mấy nghìn năm lịch sử nền ngoại giao thời phong kiến đã góp công sức lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, mở rộng sự giao hảo với các nước, để lại nhiều kinh nghiệm quý giá về ngoại giao cho nhân dân các đời sau.

        Về đường lối ngoại giao của dân tộc ta thời phong kiến, nhà sử học Phan Huy Chú ở thế kỷ XIX đã ghi tóm tắt:

        "Trong việc trị nước, hòa hiếu với nước láng giềng là việc lớn, mà những khi ứng thù là rất quan hệ không thể xem thường... Người có quyền trị nước phải nên cẩn thận" (Bang giao chí).

        Vua Lê Thánh Tông ở thế kỷ XV chỉ thị cho những người đi sứ, tức những người làm ngoại giao với nước ngoài:

        "Một thước núi, một tấc sông của ta, không nên vất bỏ. . . Nếu người dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì phải tội tru di " (Đại Việt sử ký toàn thư) .

        Đây cũng là những lời di văn, di chúc của nền ngoại giao nước ta thời phong kiến để lại cho chúng ta thời nay suy ngẫm và có thể nói theo tới muôn đời sau.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 24800


« Trả lời #78 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2016, 12:52:42 am »

     
TÀI LIỆU THAM KHẢO

        1- Bùi Dương Lịch

        Lê quý dật sử, bản chữ Hán, viết tay, thư viện Viện Sử học.

        2- Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm

        Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973.

        3- Lê Quý Đôn

        Kiến văn tiểu lục, bản dịch của Phạm Trọng Đàm, Nxb Sử học, Hà Nội, 1962.

        Đại Việt thông sử, bản dịch của Ngô Thế Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.

        4- Lê Trọng Hàm

        Minh Đô sử, sách chữ Hán, viết tay, thư viện Viện Sử học, ký hiệu H.V.285.

        5- Lê Trắc

        An Nam chí lược, sách chữ Hán, bản in, Thượng Hải, 1884.

        6- Ngô Cao Lãng

        Lịch triều tạp kỷ, bản dịch.

        7- Ngô Gia Văn Phái

        Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch của Nxb Văn học, Hà Nội, 1984.

        8- Ngô Sĩ Liên

        Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967.

        9- Ngô Thì Nhậm

        Tuyến tớp thơ văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

        10- Nguyễn Thu

        Lê quý kỷ sử, bản dịch của Hoa Bằng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974.

        11 - Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án

        Tạng thương ngẫu lục, bản dịch của Ngô Văn Triện, Nxb Văn học, Hà Nội, 1960.

        12- Phan Huy Chú

        Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Sử học, Hà Nội, 1961 - 1962.

        13- Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn

        Khởi nghĩa Lơn Sơn và phong trào đấu tranh giải phóng đất nước vào đầu thế kỷ XV, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969.

        14- Quốc sử quán triều Nguyễn

        - Quốc triều chính biên toát yếu, nhà in Đắc Lập, Huế, 1925.

        - Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Sử học, Hà Nội , 1963 .

        - Việt sử thông giám cương mục, Nxb Sử học, Hà Nội, 1958 - 1960.

        15- Trần Trọng Kim

        Việt Nam sử lược, bản in lần thứ năm, Nxb Tân Việt Sài Gòn, 1954.

HẾT
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM