Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tư, 2020, 10:32:12 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn  (Đọc 21276 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #10 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 04:21:36 PM »


Câu hỏi 6: Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi đã tạo dư luận xã hội mạnh mẽ bằng cách nào để tập hợp lực lượng?

Trả lời:


Lê Lợi - vị thủ lĩnh nghĩa quân cho rằng, nếu không nhanh chóng tạo ra được một dư luận mạnh mẽ trong xã hội thì sẽ không thể nào tập hợp và huy động lực lượng cho cuộc nổi dậy lật đổ ách đô hộ của quân Minh. Nhưng trong điều kiện nghiệt ngã lúc bấy giờ, nếu không khôn khéo thì chính dư luận sẽ trở thành đầu mối quan trọng, khiến quân Minh có thể lần mò ra mọi kế hoạch của Lê Lợi. Trên cơ sở phân tích và cân nhắc thực tế phức tạp này, Lê Lợi chủ trương phối hợp chặt chẽ với những người bạn gần gũi và tâm đầu ý hợp nhất, tạo ra sự nhất trí cao độ trong dư luận, trước hết là ở ngay trên quê hương của ông. Một trong những đặc trưng nổi bật của xã hội thế kỷ thứ XV là dễ dàng tin vào những điềm lạ, do đó, Lê Lợi đã bắt đầu tạo dư luận bằng cách tận dụng niềm tin vào những điềm lạ này. Sử cũ chép rằng:

"Bấy giờ, vua (chỉ Lê Lợi), kết bạn keo sơn với Lê Thận (tức Nguyễn Thận), người ở sách Mục Sơn, huyện Cổ Lôi. Thận làm nghề chài lưới ở đầm Ma Viện. Đêm ấy, dưới đáy nước (của đầm Ma Viện) bỗng có ánh sáng ngời lên như một bó đuốc. Thận quăng lưới cả đêm mà chẳng được con cá nào, chỉ được một thanh sắt dài hơn một thước. Thận liền đem về để trong góc nhà. Hôm đó, Thận làm giỗ gia tiên, vua sang chơi nhà, thấy trong góc tối của nhà Thận có ánh sáng thì nhận ra đó là một thanh sắt. Vua hỏi:

- Đó là thanh sắt nào vậy?

Thận đáp:

- Đêm trước tôi ra quăng lưới (ở đầm Ma Viện) rồi tình cờ mà bắt được.

Vua liền xin, Thận cho ngay. Thanh sắt ấy đem về mài ra thì thấy có hai chữ Thuận Thiên và chữ Lợi. Hôm khác, vua vừa đi ra cửa thì thấy một chiếc cán kiếm mài chuốt đã xong, liền khấn vái với trời đất rằng:

- Nếu quả là trời đã ban kiếm cho thì kính xin cho lưỡi kiếm và cán kiếm này vừa khít với nhau.

Vua khấn xong thì ghép vào, quả vừa y với nhau, thành một cây kiếm. Một đêm trời làm mưa gió, sáng sớm hôm sau, Hoàng hậu (chỉ một trong ba người vợ của Lê Lợi) ra vườn rau cải, thấy có bốn vết chân người to lớn khác thường, liền vào gọi vua, vua ra vườn thì bắt được chiếc bảo ấn, trên cũng có khắc hai chữ Thuận Thiên và chữ Lợi. Vua ngầm hiểu đó là (báu vật) trời ban, bèn giấu kín việc này (Lam Sơn thực lục).

Những "điềm lạ" kể trên cứ thế truyền đi khắp Lam Sơn và từ Lam Sơn truyền dần đến khắp bốn phương thiên hạ. Hào kiệt mọi miền lần lượt dò đường tìm đến Lam Sơn tìm đến với Lê Lợi. Là phụ đạo của đất Lam Sơn, Lê Lợi có đầy đủ điều kiện để ân cần tiếp đón họ:

"Vua tuy gặp buổi rối loạn mà vẫn bền chí ẩn náu chốn núi rừng, vừa lo cày cấy, vừa lấy kinh sử làm vui, đã thế lại còn chuyên tâm học sách lược thao. Vua hậu đãi tân khách, tiếp đón những người trốn tránh và làm phản (quân Minh), ngầm nuôi người đa mưu túc trí, bỏ của để giúp kẻ cô đơn khó nghèo, nhún nhường dùng lễ hậu để thu nạp hào kiệt" (Lam Sơn thực lục).

Tuy nhiên, thời nào và ở đâu cũng vậy, hễ có cao thượng là có thấp hèn, có anh hùng là có phản bội... Ngay trong buổi đầu của quá trình chuẩn bị đầy gian nan, Lê Lợi cũng đã vấp phải sự chống phá ác liệt của bọn phản bội, thấp hèn. Một trong những kẻ ấy là Đỗ Phú. Sử cũ chép như sau:

"Bấy giờ ở thôn Hào Lương (cùng huyện) có tên Đỗ Phú tranh kiện đất đai với vua. Hắn kiện đến tận tướng của nhà Minh. Quan xét án của giặc thấy hắn đuối lý, liền xử cho vua được thắng kiện. Đỗ Phú nhân đó mà sinh ra thù oán, liền tố cáo rồi dẫn đường cho quân Minh tới bắt vua. Vua cùng với Lê Liễu bỏ chạy. Đến sông Khả Lam thì thấy xác một người đàn bà, mình mặc áo trắng, đeo xuyến vàng và cài thoa vàng. Vua và Liễu ngửa mặt lên trời khấn rằng:

- Ta bị giặc Minh đuổi, xin giúp ta hoạn nạn. Sau, nếu ta giành được thiên hạ thì sẽ lập miếu thờ. Hễ có bò hay heo để cúng tế thì sẽ cúng tế trước.

Vua và Liễu đắp mồ vừa xong thì giặc xua chó ngao chạy đến, bèn vội lẩn trốn vào gốc cây đa. Giặc đâm mũi giáo đúng vào đùi bên trái của Liễu. Liễu liền lấy một nắm cát vuốt mũi giáo cho sạch máu. Đúng lúc đó, bỗng có con chồn trắng từ trong hốc cây chạy ra. Chó ngao liền lao theo đuổi chồn. Giặc vì thế mà hết ngờ có người trốn trong gốc cây, bèn bỏ đi. Vua nhờ vậy mà được thoát, về sau, khi đã dẹp yên thiên hạ, vua phong cho người đàn bà áo trắng, chết ở Khả Lam là Hoằng Hựu Đại Vương, và cả đến cây đa cũng được phong làm Hộ Quốc Đại Vương". (Lam Sơn thực lục).

Lê Lợi tuy bị Đỗ Phú âm mưu mượn tay quân Minh để hãm hại nhưng chí lớn vẫn không hề vì thế mà suy giảm. Hào kiệt từ tận vùng trung du xa xôi như Lưu Nhân Chú, Trần Nguyên Hãn; từ đất kinh thành Thăng Long như Phạm Văn Xảo; từ miền Nghệ An như Nguyễn Xí; từ đội ngũ Nho sĩ lỗi lạc như Nguyễn Trãi,... nườm nượp kéo về.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #11 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 04:25:51 PM »


Câu hỏi 7: Lê Lợi đã chuẩn bị về lực lượng và tổ chức như thế nào? Hội thề Lũng Nhai gồm có bao nhiêu hào kiệt?

Trả lời:


Đồng thời với quá trình chuẩn bị về dư luận, Lê Lợi đã gấp rút chuẩn bị cả về lực lượng và tổ chức. Về lực lượng, ngoài các bậc anh hùng hào kiệt, Lê Lợi chủ trương phải tập hợp và huy động cho bằng được sức mạnh cũng như trí tuệ của những người bị quân Minh bức hiếp bóc lột nặng nề nhất, những người ở dưới đáy sâu nhất của xã hội. Nói theo cách nói của Nguyễn Trãi là:

"Nêu hiệu gậy làm cờ,
Tập hợp bốn phương manh lệ"
1.

Lúc đầu, số người tìm đến với Lê Lợi chưa nhiều, nhưng sau đó, đất quê hương của Lê Lợi trở thành nơi quy tụ ngày càng đông đảo nghĩa sĩ bốn phương. Để che mắt kẻ thù, cũng là để thuận tiện trong việc quản lý, Lê Lợi chia họ thành từng nhóm nhỏ, dựng trại rải rác ở nhiều khu vực quanh Lam Sơn. Những nhóm này vừa khai khẩn đất đai và tích trữ lương thực, vừa thường xuyên luyện tập võ nghệ để sẵn sàng chờ ngày ra quân. Lê Lợi cẩn trọng chọn người giao việc, cốt để phát huy hết năng lực riêng biệt của từng cá nhân, đồng thời, cũng để thông qua đó mà phát hiện thêm người hiền tài.

Đầu tháng hai năm Bính Thân (1416), Lê Lợi đã long trọng tổ chức một cuộc hội thề tại Lũng Nhai2, sử gọi đó là Hội thề Lũng Nhai Tham dự hội thề này, ngoài Lê Lợi, còn có mười tám bậc hào kiệt thân tín khác. Đó là:

1. Lê Lai (người Dựng Tú, nay là xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá).
2. Nguyễn Thận (người Mục Sơn, nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá).
3. Lê Văn An (người cùng quê với Nguyễn Thận).
4. Lê Văn Linh (người Hải Lịch, nay thuộc xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá).
5. Trịnh Khả (người Kim Bôi, nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá).
6. Trương Lôi (người Thu Mệnh, sau, ông trở thành gia thần của Lê Lợi. Ông và Vũ Uy là hai người được Lê Lợi sai đi cày ruộng ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi).
7. Lê Liễu (người cùng quê với Lê Lợi).
8. Bùi Quốc Hưng (người Cống Khê, nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây).
9. Lê Hiểm (người dân tộc Mường, quê ở thôn Ngọc Châu, hương Lam Sơn, nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá).
10. Vũ Uy (người cùng làng với Trương Lôi).
11. Nguyễn Trãi (tổ tiên người làng Chi Ngại nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời về làng Nhị Khê, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây).
12. Đinh Liệt (người làng Thúy Cối, nay thuộc Lam Sơn, Thanh Hoá).
13. Lưu Nhân Chú (người làng Vạn Yên, nay thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).
14. Lê Bồi (người làng Nguyễn Xá, huyện Lương Giang, nay thuộc Thanh Hoá).
15. Nguyễn Lý (người làng Dao Xá, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá).
16. Đinh Lan (người làng Thúy Cối, cùng quê với Đinh Liệt).
17. Trương Chiến (người cùng làng với Trương Lôi).

Tại Hội thề Lũng nhai, Lê Lợi cùng các bậc hào kiệt thân tín kể trên đã long trọng thề cùng hồn thiêng sông núi rằng:

“Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến, cộng cả thảy 19 người, tuy họ hàng quê quán khác nhau, nhưng nguyện kết tình thân như một tổ liền cành, phận vinh hiển dẫu có khác nhau, nghĩa vẫn thắm như chung một họ".

"Quân bằng đảng xâm lấn, vượt cửa quan làm hại, cho nên, Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến, cộng cả thảy 19 người, cùng chung sức chung lòng, giữ cho đất nước được yên, khiến xóm làng được ổn, thề sống chết có nhau, không dám quên lời thề son sắt".

"Nếu như Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến ai thay lòng đổi dạ, núp bóng quân thù để cầu lợi trước mắt, không bền chí hoặc quên lời thề ước, thì kính xin trời đất và các đấng thần linh, hãy giáng trăm tai ương, khiến bản thân cho tới họ hàng và con cháu đều bị tru diệt, chịu hết mọi hình phạt của trời" (Lam Sơn sự tích).

Số người tham dự Hội thề Lũng Nhai chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số những người đã đến Lam Sơn tụ nghĩa lúc bấy giờ. Và tuyệt đại đa số những người có mặt trong cuộc Hội thề này, sau đó, đều được trao những chức vụ rất quan trọng. Nói khác hơn, Hội thề Lũng Nhai thực chất là buổi lễ ra mắt được tổ chức dưới một dạng thức đặc biệt của Bộ chỉ huy Lam Sơn. Từ đây, tất cả lực lượng của Lam Sơn được quản lý và huấn luyện ngày càng quy củ, nhiệm vụ cụ thể của từng nghĩa sĩ Lam Sơn được quy định một cách rõ ràng.

Tư tưởng chung của Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn là phát động và lãnh đạo toàn thể nhân dân vùng dậy lật nhào ách đô hộ của quân Minh, giành lại độc lập và chủ quyền cho đất nước. Để có thể huy động được sức dân, Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ cứu nước với nhiệm vụ cứu dân. Trong hai nhiệm vụ chiến lược này, cứu nước phải được đặt lên vị trí hàng đầu. Nói theo cách nói của Nguyễn Trãi là: "Quân điếu phạt trước lo trừ bạo". (Bình Ngô đại cáo).
__________________________________
1. Nguyễn Trãi: Bình Ngô đại cáo.
2. Lũng Nhai tức Lũng Mi hay làng Mé, nay thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá, cách Lam Sơn chừng 10 cây số.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #12 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 04:35:26 PM »


Câu hỏi 8: Sau Hội thề Lũng Nhai, lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn được tăng cường như thế nào? Hãy nêu tên một số địa phương và các tướng lĩnh tham gia?

Trả lời:


Trải qua một thời gian chuẩn bị, núi rừng Lam Sơn đã trở thành một căn cứ khởi nghĩa và đến cuối năm 1417, lực lượng nghĩa quân đã có đến vài nghìn người.

Sự đóng góp của nhân dân vùng Lam Sơn và các thôn, làng, huyện Lương Giang (Thường Xuân, Ngọc Lặc và một phần Thọ Xuân) và huyện Cổ Lôi (Thọ Xuân) rất quan trọng. Đó là cơ sở đầu tiên của phong trào.

Một gia đình phụ đạo thôn Dựng Tú (Kiên Thọ, Ngọc Lặc) có Lê Lai, Lê Hãn, Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm, cả 5 người cùng tham gia khởi nghĩa. Lê Lai đứng tên thứ hai sau Lê Lợi trong Hội thề Lũng Nhai. Đây là gia đình yêu nước mà hầu như cả nhà đều theo việc nghĩa. Cùng với phụ đạo Lê Lai, người Dựng Tú còn có Lê Mạnh. Lê Mạnh là chiến sĩ ngoan cường trong đội quân thiết đột của nghĩa quân Lam Sơn.

Từ Dao Xá (Xuân Lam, Thọ Xuân), Nguyễn Lý (sau được ban quốc tính là Lê Lý) đã sớm tìm đến Lam Sơn cùng Lê Lợi mưu tính đại nghĩa và có mặt trong Hội thề Lũng Nhai. Ngoài ra, ở Dao Xá còn có Lê Khảo, Lê Thế Vĩ, Lê Bính.

Ở Đoán Lương (về sau gọi là Hào Lương, Xuân Lam, Thọ Xuân) có Lê Sao, Lê BịLê Nhi.

Ở Nguyễn Xá có Phạm Vấn, Phạm LungLê Bồi. Phạm Vấn là người tài giỏi, có nhiều công lao to lớn, giữ chức thứ thủ quân thiết đột.

Ở Thúy Cối có Lê Lan và ba anh em họ Đinh là Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt.

Thu Mệnh là thôn có nhiều người tham gia: Trương Lôi, Võ Uy, Phạm Lật (về sau được ban quốc tính là Lê Lật), Trương Chiến, Lê Cẩm và hai cha con Lê Văn LễLê Vũ Bị. Trương Lôi và Võ Uy trước là gia thần của Lê Lợi, từng cày ruộng động Chiêu Nghi cho họ Lê, có tên trong Hội thề Lũng Nhai.

Ở Bỉ Ngụ có Lê Sát, Lê Tại. Đặc biệt ở thôn Cao Trị (có lẽ là xã Xuân Cao, Thường Xuân, cách Lam Sơn gần 5km) có bốn người họ Phạm gia nhập nghĩa quân là Phạm Yên, Phạm Thái, Phạm Oánh, Phạm Nội.

Bên hữu ngạn sông Chu, đối diện với Lam Sơn là các làng Đa Mĩ, Diên Hào, Quần Lai, Hải Lịch thuộc huyện Cổ Lôi cũng có nhiều người gia nhập nghĩa quân.

Đa Mĩ (sau gọi là Thịnh Mĩ, còn gọi là làng Mía, Thọ Diên, Thọ Xuân) vốn là một phường đánh cá có Nguyễn Nhữ LãmLê Khuyển là những người lao động nghèo khổ. Lãm là dân chài trên sông Chu, Khuyển có thời gian phải đi ở. Hai người sớm tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Hai lần nghĩa quân bị bao vây ở núi Chí Linh, Nguyễn Nhữ Lãm đã động viên dân chài phường Đa Mĩ tiếp tế gạo muối.

Ở Mục Sơn (Xuân Bái, Thọ Xuân), có hai cha con Lê Văn An, Lê Văn Biếm, Nguyễn Thận, Lê Thiệt, Lê Lãnh, Lê Đạt. Nguyễn Thận là phụ đạo vùng Mục Sơn, tục gọi là Đạo Mục. Ông làm nghề chài lưới, từ trước đã quen thân với Lê Lợi. Lê Văn An và Nguyễn Thận đều dự Hội thề Lũng Nhai.

Ở làng Đầm (tên chữ là Đàm Thi, xã Xuân Thiên, Thọ Xuân) có hai cha con Trần LựuTrần Lãn.

Ở Hải Lịch (Thọ Hải, Thọ Xuân) có Lê Văn Linh, Lê Xuân Thọ. Trong bộ chỉ huy, Lê Văn Linh là một văn thần.

Ở Bái Đô (Xuân Bái, Thọ Xuân) có hai cha con Lý Bá Lao, Lý TriệnLê Văn Giáo.

Và xa hơn, ở Vạn Lại (Xuân Châu, Thọ Xuân) có Lê Hối, Lê Bôn, Lê Hà Viên.

Hầu như không có làng nào thuộc hai huyện Lương Giang và Cổ Lôi dọc sông Chu không có người gia nhập nghĩa quân vào những tháng năm chuẩn bị này.

Nhân dân các dân tộc Mường, Thái cũng có nhiều đóng góp quan trọng. Hai cha con đại quan lang Lê Hiểm, Lê Hưu người Mường ở thôn Ngọc Châu, hương Lam Sơn (Kiên Thọ, Ngọc Lặc). Lê Hiểm tham dự Hội thề Lũng Nhai. Trong chiến đấu cả hai cha con đều là danh tướng. Cho đến nay, nghi thức tế lễ của dòng họ Lê Hiểm cũng phản ánh hai cha con ông đã dự nhiều chiến trận. Vào dịp tế Lê Hiểm, ngày 25 tháng Chạp âm lịch, dân làng và họ hàng làm lễ tế xuất quân và mồng sáu Tết âm lịch tổ chức ăn mừng chiến thắng, làm lễ khao quân. Buổi tế xuất quân phải có đồ mã bằng giấy cắt hình chiến sĩ có vũ khí gươm giáo cung nỏ, voi ngựa và chiến thuyền. Trong buổi lễ khao quân, chủ tế đọc văn chào mừng chiến thắng rồi chia cháo hoa, rượu thịt, xôi chè cho dân làng.

Ở Nhân Trầm, một bản người Thái (Thường Xuân), có Lê Cố. Ông đã từng tham gia nhiều chiến trận ở Thanh Hóa và Nghệ An.

Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, Lê Lợi rất chú ý đến lực lượng các dân tộc thiểu số. Văn bia thần đạo Hoàng Việt khai quốc công thần, Lê Sao ghi rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa Lê Lợi và nhiều sách ở miền núi Thanh Hóa. Văn bia có đoạn viết "Vua (Lê Lợi) biết ông (Lê Sao) là người trung thực có thể dùng làm tôi cùng với (các ông được) tặng thái phó Lê Văn Linh, thị trung Lê Lễ, tặng đô đốc Lê Văn Lang. (Bấy giờ) các ấp, các sách chưa thần phục hết như Quy, Bái, Ấn, Hướng, Cá Lô, Ma, Lại (chỉ các vùng Ngọc Lặc, Thường Xuân, Lang Chánh đến Quỳ Châu). Ông theo vua đến thảo binh được cả. Gần xa không nơi nào không theo về. Vua (Lê Lợi) triệu các quan lang tới dụ rằng: ta nay đã tạm ổn, duy còn việc tài vật, lương thực mà thôi, không biết ai là người có thể gánh vác được. Ông mạnh dạn xin đi. Từ đấy mọi việc được xong xuôi. Đầu năm Mậu Tuất (1418), sau trận Lạc Thủy, nhờ đó mà đánh thành, chiếm đất không phải đem sức nhiều".

Việc xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng vũ trang trong thời gian đầu đã nhờ vào sự đóng góp tích cực của đồng bào các dân tộc Mường, Thái. Có thể nói từ những năm chuẩn bị đến 1424, gần chục năm trời, nghĩa quân Lam Sơn hoạt động căn bản là dựa vào sự ủng hộ của các dân tộc thiểu số vùng rừng núi Thanh Hóa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #13 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 04:35:51 PM »


Truyền thuyết dân gian và thần tích địa phương cho biết ở động Sa Lung (Bá Thước) có Hà Thung và thôn Quan Da (Quan Hóa) có Lê Yên là những người có nhiều đóng góp cho nghĩa quân. Sau chống Minh thắng lợi, Hà Thung được làm thống quán, Lê Yên được phong là hải nham hầu.

Có lẽ để ghi nhớ công lao to lớn của các dân tộc thiểu số miền tây Thanh Hóa trong những ngày gian nan nhất của cuộc khởi nghĩa nên sau này triều Lê thành lập, trong lễ tế Thái miếu ở Lam Kinh (tức Lam Sơn), bao giờ cũng phải có vị sư khấn bằng tiếng Ai Lao (tiếng Thái) để chúc phúc.

Trong những năm tháng chuẩn bị khởi nghĩa, hào kiệt nhiều nơi trong Thanh Hóa và khắp đất nước tìm về Lam Sơn tụ nghĩa. Huyện Nông Cống (Thanh Hóa) có Trịnh Đồ, Đỗ Bí, Hà Mộng, Lê Khương, Hà Đệ. Lê Khương người sách Diễn Gia, Hà Đệ người thôn Chiêm và Trịnh Đồ người xã Cổ Mộc. Trịnh Đồ từ trước tránh giặc lên miền rừng núi Ai Lao. Nghe tin Lê Lợi đã chuẩn bị dấy nghiệp, ông đem voi về giúp sức, Đỗ Bí là người thôn Cung Hoàng (nay là Cung Điền).

Huyện Quảng Xương có Lê Tông Kiều, huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) có Trịnh Khả. Trịnh Khả người làng Kim Bôi (nay là xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Lộc). Tổ tiên có công trong kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII. Gia đình sa sút, lên 16 tuổi, Trịnh Khả phải cày ruộng chăn trâu. Thấy ông khỏe mạnh, khôi ngô, một viên tướng Minh ở thành Tây Đô bắt làm nô lệ. Ít lâu sau, ông tìm cách bỏ trốn để thoát khỏi kiếp làm nô lệ cho giặc. Truy lùng không được, quân Minh bắt giam cha ông là Trịnh Quyện để dụ ông về. Nhưng không kết quả, quân giặc đã giết chết và quẳng xác cha ông xuống sông Mã. Đang đêm, ông trở về vớt xác cha đem chôn cất. Xót thương cha, căm giận giặc, Trịnh Khả thiết tha tìm đường rửa hận nước báo thù cha. Ông lên Lam Sơn trước năm 1416 và cùng Lê Lợi dự Hội thề Lũng Nhai.

Ngoài Thanh Hóa, nhiều người con yêu nước của Tổ quốc từ nhiều phương trời cũng lần lượt tìm về Lam Sơn theo Lê Lợi. Từ Bắc vào có Trịnh Lỗi ở Sơn Dược (huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình), Bùi Quốc Hưng ở Cống Khê (huyện Chương Đức, nay là Chương Mỹ, Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây), Trần Trại ở Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội), Phạm Văn Xảo ở vùng kinh lộ (Hà Nội), Trần Nguyên Hãn ở Sơn Đông (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), Lưu Nhân Chú ở Vân Yên (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên). Từ Nam ra có Nguyễn Xí ở Thượng Xá (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Danh Cá ở Tuy Lộc (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình)...

Bùi Quốc Hưng và Phạm Văn Xảo là những sĩ phu yêu nước. Bùi Quốc Hưng đậu tam trường đời Trần Duệ Tông (1373-1377) và có thời gian làm quan trong triều Trần. Ông có mặt trong Hội thề Lũng Nhai năm 1416. Phạm Văn Xảo là người nổi tiếng thơ văn ở vùng kinh đô.

Trần Nguyên Hãn là một nhà quý tộc yêu nước thuộc dòng dõi nhà Trần. Ông là cháu nội tư đồ Trần Nguyên Đán và là anh em con cô con cậu với Nguyễn Trãi. Trước khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn đã từng chiêu mộ hương binh, chiếm giữ vùng Bạch Hạc. Di tích chiến đấu của ông hiện nay vẫn còn như bãi Tập quân, bãi Luyện voi ở khu rừng Thần ở hai xã Văn Quán và Sơn Đông (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc). Tương truyền rằng Trần Nguyên Hãn cùng với Nguyễn Trãi tìm vào Lam Sơn phò tá Lê Lợi.

Lưu Nhân Chú (còn có âm Thụ), người xã Thuận Thương, huyện Đại Từ (Thái Nguyên), vốn dòng dõi một gia đình đã ba đời thế tập làm quan phiên trấn vùng Thái Nguyên và được nhà Trần phong tước hầu. Lưu Nhân Chú cùng với cha là Lưu Trung và anh rể là Phạm Cuống có mặt ở Lam Sơn khá sớm. Lưu Nhân Chú là một trong những người dự Hội thề Lũng Nhai. Nguyễn Xí người làng Trương Xá huyện Chân Phúc (Nghi Lộc, Nghệ An), xuất thân trong một gia đình làm muối và buôn muối. Cha là Nguyễn Sư Hồi và anh là Nguyễn Biện thường chở muối ra Thanh Hóa bán, có qua lại vùng Lam Sơn và biết uy danh Lê Lợi. Sau khi cha chết, Nguyễn Xí xin làm gia thần của Lê Lợi. Là người thông minh, giỏi võ nghệ, Nguyễn Xí được Lê Lợi tin dùng và thương yêu như con. Lê Lợi giao cho ông nuôi dạy hơn 100 con chó săn. Ông dùng tiếng nhạc làm hiệu lệnh để điều khiển bầy chó lúc cho ăn cũng như lúc đi, lúc đến rất có quy củ. Trong nghĩa quân, ông giữ chức chỉ huy đội quân thiết đột là đội quân xung kích.

Đồng thời với việc tập hợp lực lượng, Lê Lợi rất quan tâm đến việc luyện tập nghĩa quân và tích trữ lương thực. Việc sản xuất và tích trữ lương thực do Trương Chiến, Võ Uy và hai cha con Ngô Kinh, Ngô Từ đảm nhiệm. Ngô Kinh quê ở Động Phang (xã Định Hòa, huyện Yên Định, Thanh Hóa), gia đình rất nghèo khổ, phải ở nhờ nhà chùa. Sau đó, ông tìm đến Lam Sơn làm gia nô cho Lê Khoáng. Con ông là Ngô Từ lại làm gia nô cho Lê Lợi. Tuy thân phận gia nô, nhưng hai cha con Ngô Kinh, Ngô Từ được Lê Lợi rất tin cậy, giao phó cho công việc trông nom trang trại, chăm lo sản xuất để chuẩn bị quân lương và tiếp đón nhân tài các nơi đến mưu việc đại nghĩa.

Trên đây là những người anh hùng đầu tiên của đất Lam Sơn có nhiều cống hiến to lớn vào việc tổ chức cuộc khởi nghĩa, mà sử sách còn ghi rõ tên tuổi. Ngoài ra còn biết bao nhiêu người anh hùng không lưu tên tuổi khác đã sớm gia nhập vào hàng ngũ nghĩa binh Lam Sơn, hiến dâng cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Đó là những người nông dân, những người lao động bình thường ở vùng Lam Sơn và từ nhiều nơi khác đến, bao gồm người miền xuôi và miền ngược, người Việt và người các dân tộc thiểu số khác.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #14 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 04:39:32 PM »


Câu hỏi 9: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu từ ngày tháng năm nào? Trình bày vắn tắt những năm tháng chiến đấu đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn?

Trả lời:


Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang được xúc tiến về mọi mặt thì bọn tay sai của địch đánh hơi thấy. Tên tham chính Lương Nhữ Hốt vốn quê ở Thanh Hóa, mật báo với quân Minh: "Chúa Lam Sơn chiêu vong nạp bạn, đãi ngộ quân lính rất hậu, chí nó không phải là nhỏ. Nếu giao long gặp được mây mưa thì tất không phải là con vật trong ao nữa đâu. Nên sớm trừ đi, chớ để lo về sau"1. Quân địch âm mưu bóp chết cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước. Trên cơ sở công việc chuẩn bị đã đạt kết quả và trước tình hình đó, Lê Lợi và bộ tham mưu quyết định khởi nghĩa.

Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (ngày 7-2-1418)2, vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, tại Lam Sơn, Lê Lợi cùng toàn thể nghĩa quân làm lễ tế cờ khởi nghĩa, mở đầu cuộc đấu tranh vũ trang chống quân Minh. Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân nổi dậy cứu nước.

Nghĩa quân Lam Sơn bước vào cuộc chiến đấu với quân thù trong một so sánh lực lượng hết sức chênh lệch về mặt số lượng. Toàn bộ lực lượng nghĩa quân không quá 2.000 người, trong đó lực lượng nòng cốt chỉ có 200 quân thiết đột, 200 nghĩa sĩ và 300 dũng sĩ. Lúc ấy, như Nguyễn Trãi nói: "Cơm ăn chẳng nề hai bữa, áo mặc chẳng phân đông hè, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không".

Bằng lối đánh mai phục lợi hại, nghĩa quân đã đánh thắng những trận lớn ở Lạc Thủy, ở Mường Một năm 1418 và ở Mường Chánh (Lang Chánh) năm 1419.

Tuy nhiên, trong hơn năm đầu của cuộc khởi nghĩa, những cuộc vây quét lớn của địch cũng gây cho nghĩa quân nhiều tổn thất. Trong một trận càn quét vùng Lam Sơn năm 1418, quân Minh được bọn Việt gian ở địa phương dẫn đường, đã đánh úp phía sau doanh trại nghĩa quân. Chúng quật mồ mả tổ tiên của Lê Lợi, lùng bắt những người thân thuộc của nghĩa quân trong đó có cả vợ và con gái của Lê Lợi. Cũng trong khoảng thời gian này, trước những cuộc tiến công lớn của địch, nghĩa quân phải hai lần rút lên núi Chí Linh (hay Linh Sơn) là một ngọn núi cao, hiểm yếu bậc nhất ở thượng du sông Chu (nay thuộc xã Giao An, giữa Lang Chánh và Thường Xuân).

Lần thứ nhất rút lên núi Chí Linh, nghĩa quân bị tuyệt lương đến gần hai tháng liền. Trong thời gian đầu của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ. Nhớ lại những ngày chiến đấu ác liệt đó, Nguyễn Mộng Tuân đã hết lời ngợi ca khí thế anh hùng và tinh thần đánh giặc ngoan cường, mưu trí của nghĩa quân Lam Sơn:

      "Chín phần tử, một phần sinh, tuy ở chốn hiểm nghèo, mà ngất trời khí thế.
      Bao nhiêu nghịch, bấy nhiêu thuận, khéo tùy cơ lợi dụng, thật tột bậc anh hùng".

                                                                    (Phú núi Chí Linh)

Lần thứ hai rút lên núi Chí Linh, vào tháng 5 năm 1419 quân địch đuổi theo bổ vây bốn mặt, quyết tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Trong tình thế hiểm nghèo đó, Lê Lai đã tự nguyện cải trang làm Lê Lợi, dẫn 500 quân ra phá vòng vây để đánh lừa quân địch. Lê Lai và đội quân cảm tử đã hy sinh anh dũng để cứu Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa khỏi một tai họa nguy hiểm.
_______________________________________
1. Lam Sơn thực lục - Đại Việt thông sử.
2. Về ngày khởi nghĩa, các tài liệu chép có khác nhau: Đại Việt thông sử chép "Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất, vua khởi nghĩa ở Lam Sơn". Sách khác lại chép ngày 8 hay 9 tháng Giêng như Đại Việt sử ký toàn thư.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #15 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 04:45:19 PM »


Câu hỏi 10: Tại sao có câu "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi"?

Trả lời:


Sau khi rút lên núi Chí Linh, nghĩa quân Lam Sơn định dựa vào địa thế cực kỳ hiểm trở của vùng này để tạm tránh cuộc truy đuổi của địch. Nhưng quân Minh vẫn tiếp tục đuổi theo bao vây hòng tiêu diệt cho kỳ được cuộc khởi nghĩa. Quân Minh đã tập trung một lực lượng khá lớn, chặn các ngả đường và dần dần khép chặt vòng vây. Lực lượng nghĩa quân bị hao mòn, lại cạn hết lương thực, "hơn mười ngày chỉ ăn củ nâu và mật ong, người ngựa đều khôn đốn"1. Tình trạng đó kéo dài có thể đẩy nghĩa quân vào nguy cơ bị tiêu diệt.

Lê Lợi liền họp bộ tham mưu lại để bàn kế giải nguy. Lê Lợi nói rằng: "Bây giờ ai có thể làm như Kỷ Tín ngày xưa để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau"2. Kỷ Tín là một trung thần của vua Hán Cao Tổ ở Trung Quốc. Một lần Hán Cao Tổ bị quân của Hạng Vũ bao vây ở Huỳnh Dương (Hà Nam) rất nguy ngập, Kỷ Tín đã cải trang làm Hán Cao Tổ ra đầu hàng để cho Hạng Vũ giết chết. Nhờ sự hy sinh của Kỷ Tín mà Hán Cao Tổ được thoát nạn để xây dựng lại lực lượng và về sau đã diệt được Hạng Vũ. Nhắc lại một điển tích cũ trong lịch sử Trung Quốc, ý Lê Lợi muốn có người đóng lại vai trò của Kỷ Tín để đánh lạc mục tiêu của quân thù. Trước tình thế nghiêm trọng đó, tướng Lê Lai đã khảng khái xin tình nguyện hy sinh để cứu Lê Lợi và giải vây cho nghĩa quân.

Lê Lai liền cải trang làm Lê Lợi, lĩnh 500 quân và hai con voi chiến, tự xưng là "Chúa Lam Sơn" kéo ra anh dũng tập kích địch. Quân Minh tập trung quân bao vây bắt được Lê Lai và đánh tan đội nghĩa binh dũng cảm đó. Trong trận này Lê Lai đã chiến đấu đến phút cuối cùng rồi mới chịu rơi vào tay giặc và bị quân giặc bắt giải về, xử bằng những hình phạt cực kỳ tàn ác3.

Tưởng rằng thủ lĩnh Lê Lợi đã bị giết và cuộc khởi nghĩa đã hoàn toàn bị tiêu diệt, quân Minh rút về thành Tây Đô. Nhờ đó Lê Lợi và nghĩa quân mới được giải vây và có cơ hội xây dựng lại lực lượng để tiếp tục hoạt động.

Sự hy sinh cao cả của Lê Lai và đội nghĩa quân cảm tử đã đưa cuộc khởi nghĩa thoát khỏi một tình thế hiểm nghèo tưởng chừng có thể bị tiêu diệt và đã bảo vệ cho bộ tham mưu và đội quân chủ lực của nghĩa quân được an toàn.

Lê Lai người làng Dựng Tú, huyện Lương Giang (nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc) là một trong những người cộng sự đầu tiên của Lê Lợi, có mặt trong số 19 người dự Hội thề Lũng Nhai năm 1416.

Tổ tiên của Lê Lai đời đời làm phụ đạo ở vùng Dựng Tú. Cha của Lê Lai là Lê Kiều sinh ra hai con trai là Lãn và Lai. Cả hai anh em đều tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều chiến công và đều hy sinh rất dũng cảm. Lê Lãn tử trận trong trận Khả Lưu (Nghệ An) năm 1425 sau này. Cả ba người con trai của Lê Lai là Lô, Lộ và Lâm đều là những tướng soái quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn. Lê Lô bị tử trận ở Nghệ An năm 1425 và về sau được truy tặng chức thiếu úy. Lê Lộ đã từng tham gia nhiều trận đánh ở vùng thượng du Thanh Hóa và vùng Trà Lân, bị tử trận cuối năm 1424, sau được truy tặng chức thái úy. Lê Lâm cũng có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến và sau này, năm 1428 được xếp vào hạng thứ ba trong số những công thần theo khởi nghĩa từ đất Lũng Nhai. Trong tờ sắc dụ của vua Lê Thánh Tông thăng chức tước cho Lê Niệm là con Lê Lâm, có viết: "Trước khi đức Thái Tổ ta dựng nên nghiệp lớn, cha ngươi là Lê Lâm rong ruổi khắp đông tây, vì nước bỏ mình"4. Lê Lai và cả gia đình của ông đã nêu cao một tấm gương yêu nước sáng ngời. Trong bài chế văn phong tước cho Lê Niệm năm 1460, Lê Thánh Tông cũng đã từng tuyên dương công trạng của gia đình Lê Lai: "Huống chi, một nhà trung nghĩa, thương ông ngươi, cha ngươi vì nước bỏ mình"5.

Trong ký ức của nhân dân và trong lịch sử, hình tượng Lê Lai thật là hùng tráng và đẹp đẽ. Cái chết của Lê Lai là một trong những cái chết bất tử vì đó là cái chết của người anh hùng vì nước quên mình. Cái chết đó đã mở con đường sống cho nghĩa quân Lam Sơn và đã tô thắm thêm những trang sử anh hùng của dân tộc.

Sau khi cuộc khởi nghĩa đã toàn thắng, Lê Lai được phong làm công thần hạng nhất, truy tặng chức thiếu úy. Lê Lợi còn sai Nguyễn Trãi viết hai đạo "Tiên ước thệ từ" và "Lai công thệ từ" cất giấu trong tủ vàng để mãi mãi ghi nhớ công lao của Lê Lai. Theo lời dặn của Lê Lợi, con cháu nhà Lê sau này bao giờ cũng làm giỗ Lê Lai vào ngày hôm trước ngày giỗ của Lê Lợi (22 tháng 8 âm lịch). Vì vậy trong nhân dân thường có câu ''Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi". Hiện nay ở làng Tép (Dựng Tú thuộc xã Kiên Thọ) còn có đền thờ Lê Lai. Hàng năm nhân dân địa phương tổ chức hội đền Tép vào ngày 29 tháng 4 và ngày 21 tháng 8 âm lịch.
______________________________________
1. Đại Việt thông sử (đế kỷ).
2. Cương mục, Lam Sơn thực lục và Đại Việt thông sử cũng chép tương tự.
3. Đại Việt thông sử chép Lê Lai bị bắt về thành Đông Quan. Lam Sơn thực lụcCương mục chỉ chép Lê Lai bị bắt và bị giết, không chép rõ bị giết ở đâu. Lam Sơn thực lục tục biên chép Lê Lai bị bắt đem về thành ở xã Dựng Tú.
4. Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí).
5. Đại Việt thông sử (liệt truyện), Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #16 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 04:50:25 PM »


Câu hỏi 11: Sau khi tế cờ khởi nghĩa, măc dù găp rất nhiều khó khăn gian khổ do quân địch tàn sát, khủng bố ác liệt, song nghĩa quân Lam Sơn vẫn chiến đấu anh dũng, kiên cường, tiếp tục mở rộng hoạt động khắp vùng thượng du Thanh Hóa. Cho biết những hoạt động chính của nghĩa quân Lam Sơn trong thời gian này?

Trả lời:


Trong thời gian đóng quân ở Mường Thôi (phía tây bắc Thanh Hóa, giáp Lào) nhân khi quân Minh còn phải phân tán lực lượng đối phó với các cuộc khởi nghĩa ở khắp nơi, Lê Lợi tranh thủ thời gian xây dựng và chỉnh đốn lực lượng. Sự giúp đỡ của Ai Lao (Lào) trong lúc này cũng có tác dụng tăng cường thêm lực lượng của nghĩa binh.

Tháng 9 năm 1419, nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu tiến xuống hoạt động ở miền Lỗi Giang (miền Cẩm Thủy, Bá Thước và một phần Quan Hóa). Khi quân Minh do đô chỉ huy Hoàng Thành tiến lên đàn áp. nghĩa quân lại rút lui. Minh sử chép rằng: "Mỗi khi quan quân (tức quân Minh) đến đánh thì Lợi lại lẩn trốn đi nơi khác". Như vậy là từ căn cứ Mường Thôi ở phía tây bắc Thanh Hóa, nghĩa quân Lam Sơn vẫn theo lưu vực sông Mã tỏa xuống hoạt động.

Tháng 2 năm 1420, nghĩa quân lại có mặt ở miền Lỗi Giang và đã xung đột với quân Minh do Từ Nguyện chỉ huy. Trong khoảng cuối năm 1419 đầu năm 1420, khu vực hoạt động của nghĩa quân là miền tây bắc Thanh Hóa thuộc lưu vực sông Mã.

Tháng 11 năm 1420, một đạo quân Minh tiến công lên căn cứ của nghĩa quân. Lê Lợi dò biết đường hành quân của địch nên đã dẫn nghĩa quân đi xa căn cứ, bố trí mai phục sẵn ở bến Bổng để chờ. Quả nhiên quân địch kéo đến lọt vào giữa trận địa phục kích. Bị nghĩa quân từ bốn mặt bất ngờ xông ra chặn đánh, quân Minh tan rã và bị tổn thất nặng. Trong trận này, nghĩa quân bắt được trên 100 con ngựa và thu được nhiều vũ khí. Lê Lợi biết rằng "quân địch vừa bị thất bại, tất nhiên lo phòng bị nên chưa thể đánh được". Nhưng một số tướng chủ quan, khinh địch, nhân đà thắng lợi đuổi theo tiến công vào đồn lũy quân Minh làm cho lực lượng nghĩa quân bị thiệt hại khá nhiều. Lê Lợi rút quân về Mường Nanh rồi rút về căn cứ Mường Thôi.

Ngay sau đó, Lý Bân và Phương Chính điều động một lực lượng rất lớn - theo chính sử của ta là trên 10 vạn quân - tiến lên càn quét vùng căn cứ của nghĩa quân. Viên đồng tri châu Quỳ Châu (nay là Quỳ Châu tỉnh Nghệ An, năm 1417 nhà Minh sáp nhập Quỳ Châu vào phủ Thanh Hóa) là Cầm Lãn dẫn đường cho quân Minh tiến thẳng lên Mường Thôi.

Lê Lợi phái các tướng Lý Triện, Lê Lý, Phạm Vấn đem một số quân đi mai phục sẵn ở xứ Bồ Mộng trên đường tiến quân của địch. Chờ khi quân Minh kéo đến, nghĩa quân xông ra đánh, tiêu diệt hàng trăm quân địch rồi rút lui.

Trong lúc cho một số quân nhỏ mai phục ở Bồ Mộng thì bộ tham mưu nghĩa quân đã huy động toàn bộ lực lượng, chọn địa hình hiểm yếu bố trí mai phục ở Thi Lang (hay Bồ Thi Lang) gần căn cứ của nghĩa quân. Quả nhiên quân địch cậy thế mạnh nên dù bị tổn thất ít nhiều ở Bồ Mộng, vẫn ồ ạt tiến lên. Quân địch lọt vào trận địa mai phục và bị nghĩa quân đánh bại, tiêu diệt hơn 1.000 tên.

Chiến thắng Thi Lang của nghĩa quân Lam Sơn đã đánh dấu một bước phát triển của lực lượng nghĩa quân. Sau thất bại ở Thi Lang, quân địch bị tổn thất nặng, lại mất hết tinh thần chiến đấu, nên Lý Bân, Phương Chính phải lo "chạy thoát thân". Nghĩa quân thừa thắng đuổi theo "sáu ngày đêm mới thôi”.

Tháng 12 năm 1420, Lê Lợi lại tiến xuống hoạt động ở miền Lỗi Giang, đóng quân ở sách Ba Lẫm (ở miền Quan Hóa - Bá Thước). Trước sự phát triển mạnh mẽ và sự hoạt động ráo riết của nghĩa quân, quân Minh phải lui về cố thủ các đồn để bảo vệ cho thành Tây Đô. Phương Chính sau trận thất bại ở Thi Lang rút về đóng ở Tây Đô. Phía trên Tây Đô, quân Minh thiết lập các đồn ở Khả Lam (Lam Sơn), Nga Lạc, Quan Du (thuộc Quan Hóa) vừa để ngăn chặn sự bành trướng của nghĩa quân, vừa để phòng thủ Tây Đô. Do sự hoạt động mạnh của nghĩa quân ở miền lưu vực sông Mã nên bọn tướng nhà Minh là Hoàng Thành, Tạ Phượng phải bỏ đồn Khả Lam, chia quân đóng giữ hai đồn Nga Lạc và Quan Du. Nghĩa quân nhiều lần khiêu chiến dử địch ra khỏi đồn để tiêu diệt nhưng chúng chỉ lo cố thủ trong các đồn lũy không dám đánh. Sau đó quân Minh lại bỏ cả đồn Nga Lạc để tập trung lực lượng giữ trại Quan Du nhằm cản bước tiến của nghĩa quân trên lưu vực sông Mã.

Cuối năm 1420, sau nhiều lần khiêu khích, quấy rồi làm cho quân địch mệt mỏi, Lê Lợi phái các tướng Lê Sát, Lê Hào tập kích trại Quan Du (miền Quan Hóa). Đây là một trận tập kích tương đối lớn của nghĩa quân Lam Sơn vào một đồn lũy tập trung khá đông quân địch. Trong trận này, nghĩa quân đã toàn thắng, giết được trên 1.000 tên địch và thu được rất nhiều quân trang, khí giới.

Ở vùng Thanh Hóa, quân Minh bị tổn thất khá nặng và tinh thần ngày càng sa sút, bạc nhược. Sau thất bại ở Quan Du, chúng phải rút lui về cố thủ thành Tây Đô và các đồn lũy xung quanh để chờ viện binh. Nhân đó nghĩa quân đã mở rộng hoạt động ra khắp vùng tây bắc Thanh Hóa. Nhân dân các vùng lân cận cũng nổi dậy hưởng ứng vây đánh các đồn lũy của địch.

Sau ba năm chiến đấu liên tục, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo tài tình của bộ tham mưu đứng đầu là Lê Lợi, đã bộc lộ rõ ràng một tinh thần chiến đấu dẻo dai, một sức sống mãnh liệt và đã nói lên khả năng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Trong lúc những cuộc khởi nghĩa khác bùng nổ cùng thời hay sau cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sớm muộn đều bị đàn áp và thất bại thì cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vẫn duy trì được lực lượng qua biết bao nhiêu cuộc vây quét của địch, vẫn vượt qua mọi thử thách để càng ngày càng phát triển. Đến cuối năm 1420 đầu năm 1421, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã trở thành một trung tâm kháng chiến lớn nhất có ảnh hưởng trong phạm vi cả nước, ngày càng thu hút được rộng rãi những lực lượng yêu nước ở các nơi.

Sự phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã thành mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với chính quyền đô hộ của nhà Minh. Do đó vào đầu năm 1421, bọn quan lại và tướng tá đô hộ đã ra sức chuẩn bị mọi điều kiện để mở một cuộc tiến công lớn hòng tiêu diệt nghĩa quân.

Trước hết tổng binh Lý Bân phái quân đi đàn áp những cuộc khởi nghĩa ở các nơi và những lực lượng nghĩa quân còn sống sót ở vùng đông bắc.

Mặt khác, Lý Bân tìm mọi cách dụ dỗ và uy hiếp vua Ai Lao và các tù trưởng Ai Lao ở vùng biên giới giáp vùng thượng du Thanh Hóa để phá hoại mối quan hệ liên kết và tương trợ giữa nghĩa quân Lam Sơn với Ai Lao.

Sau khi đã chuẩn bị chu đáo, ngày 14 tháng 12 năm 1421 (ngày 29 tháng 10 năm Tân Sửu), Lý Bân phái tham tướng Trần Trí điều động một lực lượng khá lớn gồm quân Minh ở các vệ Giao Châu cùng với thổ quân, ồ ạt tiến công lên căn cứ của nghĩa quân ở Ba Lẫm. Quân địch tiến lên đóng ở ải Kình Lộng để chuẩn bị tiến công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #17 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 04:51:02 PM »


Trước tình thế nguy cấp đó, Lê Lợi liền họp bộ tham mưu lại để bàn cách đối phó. Lê Lợi nhận định rằng: "Quân địch đông, quân ta ít; quân địch mệt mỏi, quân ta nhàn hạ. Quân địch tuy đông, nhưng ta đem quân nhàn hạ để đón quân mệt mỏi thì tất thế nào cũng phá được". Với tư tưởng chủ động tiến công theo lối "dĩ dật đãi lao", dù lực lượng nghĩa quân còn ít, Lê Lợi vẫn quyết định phải bất ngờ tập kích ngay vào doanh trại của quân Minh nhằm tiêu hao sinh lực địch và không cho chúng nghỉ ngơi để chuẩn bị tiến công trước.

Đang đêm, một bộ phận nghĩa quân được lệnh đánh úp vào doanh trại của địch ở ải Kình Lộng. Nghĩa quân tiến sát đến doanh trại của địch rồi đánh trống, hò reo đột nhập vào đánh phá. Quân Minh hành quân từ xa đến đang mệt mỏi, lại bị tập kích bất ngờ nên hoảng hốt và bị tổn thất khá nặng. Nghĩa quân phá được 4 trại địch, giết được trên 1.000 quân và thu được nhiều vũ khí.

Tuy bị tổn thất, nhưng lực lượng quân Minh vẫn còn mạnh và qua trận tập kích ở Kình Lộng, Trần Trí cho rằng lực lượng nghĩa quân non yếu nên hắn đã ra lệnh cho quân lính phải khai núi, mở đường tiến đánh vào căn cứ của nghĩa quân. Dò biết đường tiến quân của địch, Lê Lợi liền bố trí nghĩa quân mai phục ở Ủng Ải (đèo Ống thuộc xã Thiết Ống, huyện Bá Thước) để chờ địch. Quả nhiên, đến trưa, Trần Trí dẫn quân theo đường núi tiến quân vào Ủng Ải, lọt vào giữa trận địa mai phục của nghĩa quân. Bị đánh bất ngờ giữa một địa thế hiểm trở, có lợi cho nghĩa quân, quân Minh bị đại bại, Trần Trí phải rút lui.

Tháng 3 năm 1422, Lý Bân chết, nhà Minh cử tham tướng Trần Trí lên làm tổng binh ở Giao Chỉ. Trần Trí tiếp tục theo đuổi những chính sách và thủ đoạn của Lý Bân, một mặt chuẩn bị tập trung lực lượng để mở cuộc tiến công mới vào căn cứ của nghĩa quân, mặt khác ra sức lôi kéo các tù trưởng Ai Lao ở vùng biên giới để cùng phối hợp bao vây và tiến công nghĩa quân từ hai mặt.

Từ Ba Lẫm, Lê Lợi chuyển quân đến Quan Du (hay Quan Da). Ngày 5 tháng 2 năm 1423 (ngày 24 tháng Chạp năm Nhâm Dần), quân Minh do Mã Kỳ chỉ huy ước hẹn với vua Ai Lao từ hai mặt cùng đánh vào doanh trại của nghĩa quân ở Quan Du. Quân Ai Lao tiến sang đóng ở Mường Kiệt (thuộc Quan Hóa). Quân Minh theo lưu vực sông Mã tiến lên. Quân địch lập thành hai gọng kìm tiến công vào Quan Du. Nghĩa quân hết sức chống cự nhưng phải đồng thời đối phó cả hai mặt nên bị tổn thất khá nặng. Lê Lợi phải bỏ Quan Du rút lên sách Khôi (có lẽ là huyện Khôi ở khoảng miền huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình và một phần đông nam tỉnh Hòa Bình).

Nghĩa quân rút lên sách Khôi được 7 ngày thì quân Minh phối hợp với quân Ai Lao lại kéo đến bao vây với một lực lượng rất đông. Nghĩa quân vừa mới bị tổn thất khá nặng ở Quan Du, trong 7 ngày ở sách Khôi cũng chưa kịp củng cố lại lực lượng và xây dựng căn cứ mới. Vì vậy cuộc vây quét lớn này của địch đã dồn nghĩa quân vào một tình thế rất hiểm nghèo. Lê Lợi nhận định tình hình của nghĩa quân lúc bấy giờ như sau: "Quân giặc bao vây bốn mặt... Đây chính là nơi mà binh pháp gọi là "đất chết", đánh nhanh thì còn, không đánh nhanh thì mất"1. Lê Lợi đem tình hình nguy khốn đó nói cho các tướng sĩ biết và động viên mọi người quyết liều chết phá vòng vây để thoát khỏi "đất chết". Với tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời, toàn thể nghĩa quân quyết tâm tiến công để phá thế bao vây của địch.

Các tướng Lê Lĩnh, Phạm Vấn, Lê Hào, Lý Triện chỉ huy nghĩa quân xung phong vào phá trận tuyến của địch mở đầu cho cuộc tiến công quyết liệt của nghĩa quân. Trong trận này, nghĩa quân đã giết chết tả tham tướng Phùng Quý cùng hơn 1.000 tên địch và bắt được hơn 100 con ngựa. Trước tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân, cuộc vây quét của địch bị thất bại. Trần Trí, Mã Kỳ phải rút về thành Đông Quan, quân Ai Lao cũng phải bỏ chạy.

Với trận sách Khôi, nghĩa quân đã đánh lui được một cuộc vây quét lớn của địch, nhưng về phía mình, nghĩa quân cũng bị tổn thất nặng, trong lúc đó lực lượng của địch vẫn còn mạnh. Sau trận này, nghĩa quân ở lại hoạt động ở vùng huyện Khôi và huyện Xa Lai (miền huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình). Nhưng chưa đầy một tháng sau, vào đầu tháng 3 năm 1423, quân Minh do chính tổng binh Trần Trí chỉ huy, lại từ Đông Quan tiến lên. Nhận thấy lực lượng còn yếu và không thể dùng miền huyện Khôi, huyện Xa Lai làm căn cứ cầm cự lâu dài với địch, bộ tham mưu cuộc khởi nghĩa quyết định mở một cuộc hành quân dài theo đường núi trở về căn cứ núi Chí Linh lần thứ ba.
__________________________________
1. Toàn thư, Lam Sơn thực lục.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #18 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 10:42:13 PM »


Câu hỏi 12: Từ năm 1423 đến năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn phải tạm thời hòa hoãn với địch để củng cố lực lượng. Trình bày khái quát về hoạt động của nghĩa quân thời kỳ này?

Trả lời:


Núi Chí Linh với địa thế hiểm trở của nó là một căn cứ rút lui phòng ngự rất lợi hại của nghĩa quân. Nhưng mặt khác, núi rừng hẻo lánh, cư dân thưa thớt ở vùng này lại làm cho nghĩa quân không phát triển được lực lượng và gặp nhiều khó khăn về lương thực. Cũng như hai lần rút quân trước, lần rút lui về núi Chí Linh này, nghĩa quân phải sống qua những ngày vô cùng gian khổ. Hơn hai tháng trời thiếu lương thực, nghĩa quân phải sống bằng các loại hoa quả, rau củ và măng non của núi rừng. Lê Lợi phải cho giết cả voi, ngựa và cả con ngựa của mình cưỡi để nuôi quân. Trước những thử thách ghê gớm đó, trong hàng ngũ nghĩa quân bắt đầu có những phần tử hoang mang, dao động và thậm chí có kẻ chạy trốn. Có lần Lê Lợi đã phải xử chém một viên tướng đào ngũ tên là Khanh để đề cao kỷ luật và củng cố đội ngũ nghĩa quân.

Tình thế của nghĩa quân lúc đó như Nguyễn Trãi viết:

      Linh sơn lương cạn đến hàng tuần
      Khôi huyện quân không còn một toán

                                     (Bình Ngô đại cáo)

Trước tình hình đó, bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương tạm thời đình chiến với địch để tạo điều kiện khôi phục và phát triển lực lượng rồi giành thế chủ động tiến công, tiếp tục hoàn thành sứ mệnh của cuộc khởi nghĩa.

Vào khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1423, Lê Lợi phái tướng Lê Vận và Lê Trăn làm sứ giả mang lễ vật gồm 5 đôi ngà voi cùng với bức thư "xin hòa" đến thương lượng với các tướng Minh là Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ.

Sau hơn 5 năm (1418-1423) tiến hành đàn áp gắt gao, nhưng không thể nào tiêu diệt được cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nên quân Minh muốn lợi dụng việc giảng hòa của Lê Lợi để thi hành những thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ hòng làm tan rã hàng ngũ của nghĩa quân.

Ở Trung Quốc, tháng 8 năm 1424, Minh Thành Tổ chết, Nhân Tông (tên là Chu Cao Xí niên hiệu là Hồng Hy) lên nối ngôi. Trước những khó khăn lớn ở trong nước do hậu quả của những cuộc chiến tranh đời Thành Tổ để lại, vua Nhân Tông - nhà Minh tiếp tục theo đuổi chính sách tạm thời hòa hoãn đối với các thuộc quốc. Riêng đối với Giao Chỉ, nhà Minh chủ trương giảm nhẹ một vài khoản phú cống hòng xoa dịu lòng căm phẫn của nhân dân và mặt khác ra sức dùng chức tước, tiền tài mua chuộc các thủ lĩnh nghĩa quân. Đồng thời, Nhân Tông ra lệnh cho Trần Trí phải tìm mọi cách "chiêu dụ" Lê Lợi.

Do những khó khăn của nhà Minh nên việc thương lượng đình chiến của nghĩa quân đã có kết quả. Ngày 19 tháng 5 năm 1423 (ngày 10 tháng 4 năm Quý Mão), Lê Lợi cùng với nghĩa quân trở về Lam Sơn. Từ đó, trong khoảng hơn một năm, nghĩa quân tạm ngừng cuộc đấu tranh vũ trang để chuyển sang một hình thức đấu tranh mới không kém phần gay go và phức tạp. Thời gian đình chiến với địch là thời gian nghĩa quân triệt để tranh thủ tình trạng hòa hoãn tạm thời để xây dựng và phát triển lực lượng, đồng thời tiến hành cuộc đấu tranh chính trị nhằm đối phó với mọi âm mưu và thủ đoạn của địch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #19 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 10:43:56 PM »


Trở về Lam Sơn, nghĩa quân tiến hành khẩn hoang, sản xuất để tích trữ lương thực. Mặt khác, Lê Lợi cùng với các tướng soái ra sức chiêu tập thêm nghĩa binh, sắm sửa thêm vũ khí. Trong hơn một năm đình chiến, lực lượng nghĩa quân không những được phục hồi nhanh chóng mà còn được tăng cường về mọi mặt. Đất Lam Sơn lịch sử lại một lần nữa trở thành đất tụ nghĩa của những anh hùng hào kiệt, của những người con yêu nước từ các nơi tìm đến theo tiếng vọng của cuộc khởi nghĩa.

Trong quan hệ giao thiệp với bọn quan lại, tướng tá nhà Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi giữ một thái độ mềm mỏng, có khi nhún nhường. Bọn Trần Trí, Sơn Thọ thường sai người đem trâu, ngựa, cá, muối, nông cụ, thóc lúa... đến biếu Lê Lợi để dụ dỗ. Lê Lợi cũng phái sứ giả Lê Trăn đem vàng, bạc đến dinh Trần Trí, Sơn Thọ để "đáp lễ".

Lập trường của nghĩa quân là tạm thời hòa hoãn để tranh thủ thời cơ củng cố lực lượng. Do đó, trong sự giao thiệp với quân Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã rất khôn khéo, kiên quyết chống lại những âm mưu của địch. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi cho Trần Trí, gọi là "thư xin hàng" nhưng trong đó Nguyễn Trãi cũng không quên tố cáo những tội ác của bọn quan lại nhà Minh như nội quan Mã Kỳ, bọn Việt gian làm tay sai như Đỗ Phú, Lương Nhữ Hốt. Chính bọn này "cho quan quân đến đánh úp dân chúng của tôi, không kể trẻ già, đều bị chém giết và bắt bớ; họ hàng tôi đều tan tác, vợ con tôi đều chia lìa; lại khai quật mồ mả tổ phụ tôi mà phơi bày hài cốt"1. Vì vậy, bức thư này còn được gọi là "thư tố oan".

Quân Minh đòi hỏi Lê Lợi phải thực sự đầu hàng, giải tán nghĩa quân. Nhưng Lê Lợi vẫn bảo toàn lực lượng vũ trang của mình và chiếm giữ căn cứ Lam Sơn. Mùa thu năm 1424, Trần Trí tâu về triều rằng: "Lê Lợi tuy xin đem tất cả bản bộ về quy phụ, nhưng cứ ở Nga Lạc không chịu ra và vẫn chế tạo binh khí"2. Trần Trí xin triều đình nhà Minh cho tiến quân lên đàn áp. Lúc bấy giờ, Nhân Tông vừa mới lên ngôi còn muốn tiếp tục chính sách hòa hoãn đối với thuộc quốc để giải quyết những khó khăn trong nước. Nhân Tông ra lệnh cho Trần Trí phải tìm cách chiêu dụ Lê Lợi.

Lúc ấy Sơn Thọ vừa ở Giao Chỉ trở về triều, nhà Minh liền cử ngay Sơn Thọ đem sắc của vua nhà Minh sang "tha tội" cho Lê Lợi và phong làm tri phủ Thanh Hóa. Âm mưu của nhà Minh là định dùng chức tước hòng mua chuộc và ràng buộc Lê Lợi. Để kéo dài thêm thời gian hòa hoãn, Lê Lợi bề ngoài không từ chối chức tước đó, nhưng cứ lần lữa, tìm mọi lý do để không chịu đến "nhậm chức”. Trong một bức thư gửi cho thái giám Sơn Thọ, Nguyễn Trãi một mặt "cảm ơn" nhà Minh đã "xét rõ duyên cớ mang tội, chỉ bảo con đường tái sinh" nhưng mặt khác cũng kín đáo bộc lộ rõ ý kiên cường của nghĩa quân. Nguyễn Trãi viết: "Đạo trong thiên hạ, trọng không gì bằng trung nghĩa, quý không gì bằng danh tiết... Tôi đây nhất sinh thích danh tiết mà trọng trung nghĩa, ghét kẻ tiểu nhân mà dấn mình hoạn nạn, tuy ở trong cảnh gian nan nguy hiểm, mà không nhụt chí bình sinh”3.

Thấy rằng của cải và chức tước không thể khuất phục được Lê Lợi, mọi âm mưu và thủ đoạn chính trị không thể phá hoại được cuộc khởi nghĩa, quân Minh bắt đầu trở lại chính sách khủng bố và chuẩn bị đàn áp bằng vũ lực. Chúng bắt giam sứ giả của nghĩa quân là Lê Trăn.

Sau hơn một năm kéo dài thời gian đình chiến, lực lượng của nghĩa quân đã được phục hồi và lớn mạnh, lương thực và vũ khí đã chuẩn bị đầy đủ, nghĩa là mục đích của sách lược tạm "hòa thân" với địch đã đạt được. Do đó, trước sự khủng bố của địch, Lê Lợi và bộ tham mưu cuộc khởi nghĩa quyết định tuyệt giao với địch và chủ động tiến công để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước. Từ đó, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới.
____________________________________
1, 3. Quân trung từ mệnh tập.
2. Minh sử (An Nam truyện).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM