Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Tư, 2020, 01:33:40 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn  (Đọc 21125 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #60 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 06:51:20 PM »


Trước Nguyễn Trãi một trăm năm, vua Trần Minh Tông, trong bài thơ Nghệ An hành điện, đã viết như sau:

      Sinh dân tận thị ngã bào đồng,
      Tứ hải hà tâm sử khốn cùng.

      (Hết thảy sinh dân đều là anh em cùng một bọc mẹ của ta,
      Nỡ lòng nào để cho bốn biển phải khốn cùng).

Vua Trần đã coi muôn dân đều là anh em của mình. Thực là khác hẳn với ở Trung Quốc, nơi mà trật tự đẳng cấp được Nhà nước phong kiến xây dựng và củng cố từ rất lâu đời, nơi mà nhà vua tự xưng là "thiên tử", là "con trời". Đã là "con trời" thì làm sao mà lại có thể là anh em cùng một bọc mẹ với dân được kia chứ. Ở nước ta, các triều đại Lý, Trần cũng ít nhiều mô phỏng những thiết chế của Nhà nước phong kiến Trung Hoa, những thiết chế gắn với tư tưởng lễ trị của Nho giáo. Nhưng quan niệm về "con trời" không thể thống trị một cách tuyệt đối trong xã hội nước ta, trong một xã hội mà tư tưởng lễ trị không có được một cơ sở vững chắc. Và sức mạnh của tinh thần văn hóa Việt, của truyền thống cộng đồng vốn được đúc kết trong sự tích một bọc trăm trứng của cha Rồng Lạc Long và mẹ Tiên Âu Cơ đã khiến cho đến cả nhà vua mà cũng không tự đặt mình quá cao so với dân chúng. Truyền thống cộng đồng, một trong những cơ sở quan trọng của ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước, có sức mạnh mà chế độ đẳng cấp phong kiến phiền toái và khắc nghiệt từ Trung Quốc truyền sang từ hàng nghìn năm cũng không lấn át nổi là như thế đó. Về sau này, giai cấp phong kiến cố gắng xây dựng và củng cố chế độ đẳng cấp, thì nó bèn thất bại thảm hại. Và trước sau, việc coi tất cả mọi người trong nước như anh em vẫn là tập quán xã hội ở nước ta:

      Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
      Người trong một nước phải thương nhau cùng.


Câu ca dao này chắc đã xuất hiện sau thời đại Nguyễn Trãi. Tuy nhiên, có thể nói rằng nó phản ánh tinh thần của mọi thời đại ở nước ta, nơi mà trật tự đẳng cấp không dễ dàng xác lập được. Lòng tương thân tương ái, lòng "thương người như thể thương thân", tình cảm cao đẹp ấy từ lâu đã là một trong những truyền thống của nhân dân ta. Tinh thần cộng đồng, lòng tương thân tương ái vốn có tính chất truyền thống ấy đã được nâng cao trong cuộc đấu tranh để cứu nước, cứu nhà của toàn thể nhân dân Đại Việt hồi đầu thế kỷ XV. Giặc Minh đã tàn sát nhân dân ta theo một mưu đồ thâm độc, đã phá hoại nền văn hóa nước ta theo một kế hoạch tỉ mỉ. Chúng bóc lột đến cùng kiệt nhân dân ta, giết hại bất cứ ai không phục tòng. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã viết về quân giặc: "Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội; dơ bẩn thay, nước Đông Hải khó rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất dung tha, ai bảo thần người chịu được?". Lịch sử còn ghi rành rành tội ác của chúng. Theo lệnh của vua Minh, ngày 21 tháng 5 năm Đinh Hợi (năm 1407), thì: "... một mảnh giấy, một nửa chữ, cho đến cả những bia khắc của nước ấy, hễ gặp thấy thì lập tức phá hủy hết". Năm 1419, giặc đem về Kim Lăng tất cả các văn vật và sách vở mà chúng vơ vét được ở nước ta. Hàng năm, chúng đề ra định mức bắt người tài giỏi bách nghệ nước ta đem về Trung Quốc. Chúng lại tìm cách buộc người Việt phải theo phong tục người Minh. Bản Tuyên Minh giáo hóa của chúng quy định rằng mọi tầng lớp người Việt phải ăn mặc theo kiểu người Trung Quốc. Rõ ràng là giặc Minh đã có chủ trương xóa bỏ đất nước Đại Việt. Chủ trương ấy rút cục đã thất bại trước cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Cuộc đấu tranh này đã kết thúc với thắng lợi vĩ đại của nghĩa quân Lam Sơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #61 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 06:52:13 PM »


Chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn không phải chỉ có cơ sở ở sức mạnh quân sự. Chiến thắng ấy còn có cơ sở ở sức mạnh văn hóa. Để có thể bảo vệ cuộc sống của mình, để có thể đẩy lùi sự tàn bạo dã man của giặc, nhân dân ta đã phát huy đến cao độ sức mạnh của lòng tương thân tương ái truyền thống, của tinh thần cộng đồng truyền thống. Nguyễn Trãi chiến đấu trong phong trào Lam Sơn đã hiểu thế nào là những sức mạnh ấy. Và ông có ý thức huy động những sức mạnh ấy vào cuộc chiến đấu. Khi viết rằng: "Như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến”, khi đem gắn văn minh với nhân nghĩa, ông đã thể hiện niềm tự hào về những giá trị tinh thần của dân tộc ta. Những khái niệm nhânnghĩa trong tác phẩm của ông phản ánh những quan hệ tốt đẹp, văn minh giữa người và người, những quan hệ xã hội, trong đó vị trí người dân được khẳng định, giá trị con người được đề cao. Nói một cách khác, tư tưởng nhân nghĩa của ông đã phản ánh tinh thần của văn hóa Đại Việt.

Như ở trên đã phân tích, chữ nhân vốn biểu hiện mối quan hệ giữa người và người, và chữ nghĩa vốn biểu hiện mối quan hệ giữa cá thể và cộng đồng.

Dân tộc ta, nhân dân ta hồi thế kỷ XV mà Nguyễn Trãi là một trong những người tiêu biểu xuất sắc nhất đã hiểu hai chữ nhân nghĩa theo nội dung rất tích cực. Nhân nghĩa đối với Nguyễn Trãi cũng bao hàm nội dung bình giá, nhưng bình giá theo quan điểm của dân tộc ta, của nhân dân ta. Cho nên nhân nghĩa là thương yêu đồng bào, thương yêu nhân dân. Hơn nữa, nhân nghĩa còn bao hàm mối quan tâm đến đồng loại, đến con người ở khắp nơi, ở các nước khác. Nhân theo quan niệm của nhân dân ta là thương yêu đồng bào và rộng ra là thương yêu đồng loại. Tinh thần cộng đồng truyền thống của nhân dân ta chính là nền tảng rộng rãi và vững chắc cho một quan niệm như thế. Nghĩa theo quan niệm của nhân dân ta là để lẽ công lên trên lẽ tư, hết lòng phục vụ cộng đồng và nếu cần thì hy sinh cho cộng đồng. Và tinh thần cộng đồng truyền thống của nhân dân ta chính là nền tảng rộng rãi và vững chắc của một quan niệm như thế. Tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau, hay nói một cách khác, tinh thần đoàn kết keo sơn, ý thức phục vụ và biết hy sinh cho cộng đồng là những sức mạnh vô địch của nhân dân ta trong trường kỳ lịch sử. Vì vậy mà nhân là một sức mạnh và nghĩa cũng lại là một sức mạnh. Và thực hành đạo nhân nghĩa, nhân dân ta từ bao đời đã đủ sức chiến đấu chống hung tàn, chống cường bạo. Đạo nhân nghĩa vì vậy mà gắn được một cách chặt chẽ với sự nghiệp vì nước, vì dân.

Cũng chính vì thế mà, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo. Trong quá trình tham gia vào cuộc đấu tranh cứu nước, Nguyễn Trãi đã tiếp thu được sinh lực của nhân dân, của văn hóa dân tộc. Chính vì thế mà về cơ bản, Nguyễn Trãi đã khắc phục được ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo, tuy rằng ông được đào tạo trong nhà trường Nho học cuối đời Trần. Nhiều tác phẩm của ông đã phản ánh cuộc sống sôi động khí phách hào hùng của dân tộc ta hồi đầu thế kỷ XV.

Khi nêu cao nhân nghĩa, tin tưởng ở sức mạnh chiến thắng của chí nhân, đại nghĩa, Nguyễn Trãi đã khẳng định tính hơn hẳn của văn hóa Đại Việt so với văn hóa của đế quốc phong kiến xâm lược. Khi viết những lời lẽ rất hào hùng mà lại rất nhân hậu:

      Lấy đại nghĩa mà chiến thắng hung tàn,
      Đem chí nhân mà đổi thay cường bạo.


Nguyễn Trãi không những chỉ ca ngợi chiến thắng của dân tộc ta hồi đầu thế kỷ XV mà ông còn khẳng định một quy luật lịch sử ở nước ta. Quy luật ấy đã thể hiện trong quá trình lịch sử trước thế kỷ XV đến nay. Quy luật ấy là: dân tộc ta với một nền văn hóa mà tinh thần là đại nghĩa, là chí nhân tất yếu chiến thắng mọi kẻ xâm lược hung tàn và cường bạo.

Và có thể nói rằng, nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, chí nhân, đại nghĩa, không những Nguyễn Trãi đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa nhân đạo, mà ông còn giương cao ngọn cờ của văn hóa dân tộc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #62 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 05:01:11 PM »


Câu hỏi 23: "Bài cáo bình Ngô” được đánh giá là "thiên cổ hùng văn", được các nhà sử học trân trọng gọi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai, hàm ý rằng bài "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt được xem là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất; "Tuyên ngôn độc lập" do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Ba Đình, Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 1945 là bản cuối cùng. Trình bày ý nghĩa của "Bài cáo bình Ngô - bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta?

Trả lời:


Một là, kháng chiến chống Minh thắng lợi, đất nước ca khúc khải hoàn:

Ngày 19 tháng 11 năm 1406, hai mươi vạn quân chủ lực và bốn mươi vạn quân hậu cần của nhà Minh do Trương Phụ và Mộc Thạnh, cầm đầu, vượt biên giới, hùng hổ tiến vào nước ta, giả danh nghĩa "phạt Hồ phục Trần" để biến nước ta thành quận, huyện Trung Quốc.

Nhân dân ta liên tục nổi lên chống xâm lược suốt hai mươi năm cho đến ngày toàn thắng.

Tháng 6 năm 1407, cuộc kháng chiến của quân đội nhà Hồ thất bại, thì tháng 11 năm ấy, cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần bắt đầu và mãi đến 1414 mới chấm dứt, cũng thất bại mà rất anh hùng. Tiếp theo là những cuộc khởi nghĩa nhỏ hơn. Chính quyền thực dân nhà Minh chỉ được ổn định tương đối và tạm thời trong khoảng ba năm thôi. Năm 1416 thì ngọn lửa Lam Sơn bắt đầu nhóm rồi biến thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô rộng cả nước. Trước sau, nhà Minh ba lần gửi viện binh mà không bao giờ đàn áp nổi. Đến ngày 29 tháng 12 năm 1427, sau khi các đạo viên binh cuối cùng của Liễu Thăng, Mộc Thạnh bị tiêu diêt thì Vương Thông được Lê Lợi cho phép rút mười vạn quân còn sống sót, bị bao vây ở Đông Đô, Tây Đô và Cổ Lộng, chia hai đường thủy, bộ lặng lẽ về nước:

Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
                                                                           ra đến bể mà còn hồn bay phách lạc
Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Ánh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
                                                                           về đến nước mà vẫn ngực đập chân run.


Cuộc kháng chiến chống Minh của nhân dân ta dài hai mươi năm, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dài mười năm, đến đây kết thúc thắng lợi; thắng lợi hoàn toàn, thắng lợi triệt để. Nước Đại Việt sạch bóng quân xâm lăng.

Đầu năm 1428, thay mặt vua Lê, Nguyễn Trãi viết bản Bài cáo bình Ngô. Dân tộc ta ca khúc khải hoàn.

Bài cáo bình Ngô trước hết là lịch sử tóm tắt mười năm kháng chiến để toàn dân ghi nhớ những chặng đường và những thành tích của khởi nghĩa Lam Sơn, hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc chiến thắng, thấm nhuần công đức và tư tưởng chính trị của vua Lê.

Bài cáo bình Ngô thực sự là bản tổng kết kinh nghiệm cuộc chiến tranh chống Minh, rút từ đó một số bài học về đường lối đánh giặc cứu nước có giá trị lâu dài cho sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Từ khi lập quốc, dân tộc ta đã nhiều lần chiến thắng oanh liệt, đánh bại ngoại xâm. Nếu chỉ kể từ năm 938 thì lịch sử nước ta có Ngô Quyền diệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Lê Hoàn diệt quân Tống ở Chi Lăng, Lý Thường Kiệt chặn đứng và đẩy lùi quân Tống trên sông Cầu, Trần Quốc Tuấn ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông. Chiến công đều hiển hách. Nhưng phải đến khi nhân dân ta tiêu diệt quân Minh rồi thì mới nảy sinh cái ý thức phải có một Bài cáo bình Ngô để nhà vua báo cáo lại cho nhân dân cả nước những thành công của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại. Vì sao mà có được ý thức ấy? - Có lẽ vì lần này, hơn tất cả các lần trước, nhân dân cả nước đã tích cực và bền bỉ tham gia kháng chiến đông đảo nhất, rộng lớn nhất, đem lại cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tính nhân dân sâu sắc; nhân dân tự nhiên mang theo trên mũi giáo của mình một số yêu sách về chính trị và xã hội. Cũng có lẽ, phần khác, vì một số nhà lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn, trước hết là Nguyễn Trãi, đã nhận thức được khá rõ sức mạnh của nhân dân trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, nhận thức được khá rõ mục đích an dân của đường lối chính trị nhân nghĩa. Cuối cùng, không phải không có khả năng là Bài cáo bình Ngô cũng gián tiếp nhằm để vua tôi nhà Minh nghiền ngẫm mà hiểu đất nước và con người Việt Nam một cách đúng đắn hơn, để họ bớt cái kiêu căng đại tộc, cái háo thắng "thiên triều". Đòn đánh Lam Sơn và Bài cáo bình Ngô chắc đã thấm sâu, cho nên 360 năm sau đó, mới thấy quân "thiên triều'’ trở lại Việt Nam để nhận bài học Đống Đa.

Giá trị đặc biệt của Bài cáo bình Ngô, ngoài việc phản ánh vắn tắt mà đầy đủ lịch sử mười năm kháng chiến oai hùng, thì văn chương tuyệt tác chứa đựng một đường lối chiến tranh giải phóng độc đáo, một hệ thống tư tưởng chính trị về những nguyên lý vĩnh cửu của sự nghiệp xây dựng nước nhà. Các thế hệ đều đồng thanh gọi Bài cáo bình Ngô là "thiên cổ hùng văn".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #63 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 05:02:45 PM »


Hai là, ý thức dân tộc và tự hào dân tộc phát triển đến mức cao.

Một đặc điểm lớn, có thể xem như lớn hơn hết trong nội dung của Bài cáo bình Ngô là quốc gia dân tộc và ý thức tự hào dân tộc được khẳng định rõ ràng nhất, đầy đủ nhất, hơn bất cứ lúc nào trước đó:

      Như nước Đại Việt ta từ trước,
      Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
      Cõi bờ sông núi đã riêng,
      Phong tục Bắc Nam cũng khác.
      Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời dựng nước,
      Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
      Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
      Mà hào kiệt không bao giờ thiếu.


Người đời sau muốn xem đoạn văn này của Bài cáo bình Ngô như là tiêu biểu cho học thuyết của Nguyễn Trãi về quốc gia dân tộc, về ý thức dân tộc. Điều chắc chắn nhất là, vào đầu Bài cáo bình Ngô, viết cho nhân dân ta mà cũng cho vua tôi nhà Minh, Nguyễn Trãi như muốn đánh đổ ngay hai định kiến hết sức sai lầm, hết sức láo xược của các triều đại Bắc phương rằng: nhân dân nước Nam là mọi rợ, là "Nam man", họ kia mới là văn minh, ''Hoa hạ". Cho nên Bài cáo bình Ngô nói: nước Đại Việt vốn từ lâu là "nước văn hiến". Nước văn hiến là nước trọng văn hóa, có văn hóa, có nhân tài, có quy củ. Và Đại Việt đã là nước văn hiến từ lâu, từ trước Hán, Đường nên mới đối lập với Hán, Đường. Khẳng định sự thật lịch sử này là điều rất quan trọng, không phải ai cũng nhận thức được, nhất là những người xuất thân từ Nho giáo, chuyên học Bắc sử, thường hay tự ti đối với nước láng giềng to lớn. Bằng một câu ngắn gọn, Nguyễn Trãi đánh đổ cái tự ti ấy trong một số tầng lớp dân ta và trước hết là đánh đổ óc khinh miệt kiêu ngạo của người Minh.

Nguyễn Trãi cũng đánh đổ định kiến thứ hai của các triều đại Bắc phương rằng xứ ta, nước ta vốn là bộ phận của Trung Quốc. Bài cáo bình Ngô nói: "Nước Đại Việt ta bờ cõi núi sông riêng biệt với Trung Quốc". Trong nhiều bức thư gửi tướng địch, trong thư gửi Vương Thông bị vây ở Đông Quan, Nguyễn Trãi cũng lặp lại ý đó: ngày xưa các đế vương Trung Quốc cai trị chín châu, mà trong chín châu thì không hề có đất Giao Chỉ, nay ông rút quân về thì đâu phải là đem đất triều đình cho người khác, chẳng qua nước của người ta thì trả lại cho người ta đó thôi!

Lãnh thổ riêng, văn hóa riêng, phong tục riêng, rõ ràng nước Đại Việt không phải là thuộc nước Trung Quốc, dân Đại Việt không phải là thuộc dân Trung Quốc.

Huống chi, ngoài những yếu tố cơ bản đó, còn có một yếu tố rất cơ bản nữa làm cho không thể mơ hồ chút nào về quốc gia dân tộc, đó là yếu tố lịch sử, yêu tố chủ quyền. Đại Việt đã từng đối đầu với Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên làm đế một phương, hàng trăm hàng ngàn năm như vậy thì Trung Quốc liệu có thể nào phủ nhận sự tồn tại lịch sử của Đại Việt? Liệu người dân nước Đại Việt có thể nào để cho triều đình Bắc phương xem Tổ quốc ta như quận, huyện của họ?

"Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, mà hào kiệt không bao giờ thiếu", câu ấy có nghĩa là chẳng những dân tộc đất nước chúng ta có quyền độc lập, mà còn có sức sống độc lập. Ta có điều kiện chủ quan để tự cường, ta có người tài đức để cai trị lấy mình; ta có anh hùng hữu danh và vô danh để lãnh đạo nhân dân bảo vệ quyền tự chủ.

Từ thời Lê sơ cho đến khi chủ nghĩa Mác - Lênin du nhập Việt Nam, không có văn kiện nào khẳng định sự hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam một cách rõ ràng, đầy đủ hơn là bằng đoạn kể trên trong Bài cáo bình Ngô. Trước khởi nghĩa Lam Sơn trở về thời Ngô Quyền khôi phục độc lập nước nhà, dân ta có trên bốn thế kỷ tự chủ liên tục, nước ta có sáu lần đánh bại quân xâm lược Bắc phương, đó là cả một thời kỳ hình thành dân tộc, củng cố quốc gia, ý thức quốc gia dân tộc như còn chờ đợi một điều kiện nữa để hoàn chỉnh, điều kiện đó chính là sự tham gia tích cực, đông đảo và bền bỉ của hết sức đông đảo quần chúng nhân dân vào việc cứu nước và dựng nước được thể hiện trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mười năm chống quân Minh xâm lược. Tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi là chung kết của cả một thời kỳ lịch sử dài ngót 500 năm. Ở một số nước phương Đông, trong đó có nước ta, quốc gia dân tộc không chờ đợi đến lúc quan hệ tư bản chủ nghĩa phát triển mới hình thành; lãnh thổ chung, văn hóa chung, phong tục tập quán chung, nhất là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đủ làm một thứ keo sơn để tạo thành một quốc gia dân tộc bền vững ngay trong thời kỳ phong kiến tập quyền thịnh vượng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #64 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 05:04:54 PM »


Trong Bài cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi cũng chú ý đề cao lòng tự hào dân tộc chính đáng, lòng tự hào dân tộc đó là một nguồn sức mạnh không bao giờ thừa, nhất    là trong lúc chiến đấu chống ngoại xâm. Đứng trước nước lớn dù là Tống, Nguyên, Minh, đất rất rộng, người rất đông, văn hóa thường rực rỡ, người mình dễ tự ti, mà óc tự ti tác hại lớn, làm nhụt biết bao nhuệ khí. Tự ti thì còn kháng chiến làm sao? Nguyễn Trãi nhấn mạnh rằng ra không có gì phải tự ti cả, họ lớn, họ đông, nhưng mà không phải lúc nào họ cũng mạnh, bằng cớ là ta đã nhiều lần đánh bại họ:

      Lưu Cung tham công mà thất bại,
      Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.
      Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,
      Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.
      Việc xưa xem xét,
      Chứng cớ còn ghi.


Xam Hán thua ta; Tống thua ta; Nguyên thua ta, thua không phải chỉ một lần mà đến ba lượt, một nước nhỏ như ta mà thắng luôn những đạo quân xâm lược to lớn hơn hàng chục, hàng mấy chục lần, có bọn như Nguyên Mông đã từng chinh phục cả Á, Âu, như thế chẳng đáng tự hào lắm sao?

Khi ca ngợi núi Chí Linh, Nguyễn Trãi so sánh núi Chí Linh với núi Cối Kê của Việt vương Câu Tiễn, với núi Mang Đãng của Hán Lưu Bang. Mang Đãng, Cối Kê, Chí Linh đều là nơi ẩn tích của anh hùng, nơi anh hùng đợi thời chờ dịp để rồi thực hiện chí lớn. Nguyên Trãi so sánh việc Bình Định Vương vây Đông Đô với việc Hán Bái Công vây Cai Hạ, Việt vương Câu Tiễn vây Cô Tô. Bên kia có kỳ tích nào thì bên này cũng có kỳ tích ấy, nào có kém gì? Mà xét cho cùng thì sự nghiệp của Câu Tiễn không thể nào sánh được với sự nghiệp của Lê Lợi:

      Tuy nhiên, quy mô to lớn của Hán Cao cũng giống như đức thịnh của vua ta ngày nay;
      Còn Câu Tiễn chỉ lo thỏa cái chí phục thù há lại có thể muôn một sánh tày.


Và, nếu xét về nhiều mặt cơ bản khác, thì ngay cả sự nghiệp của Hán Cao Tổ cũng không thể sánh được với sự nghiệp của Lê Thái Tổ, bởi vì:

      Đến như thần vũ không giết;
      Đức lớn hiếu sinh.
      Nghĩ vì kế lâu dài của Nhà nước;
      Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh.
      Sửa hòa hiếu cho hai nước;
      Tắt muôn đời chiến tranh.
      Chỉ cần vẹn đất;
      Cốt sao an ninh.
      Như thế thịnh đức của vua ta, há Hán Cao có thể sánh được, mà phải khen cùng Nhị đế Tam hoàng kia.

                                        (Chí Linh sơn phú)

Đẹp thay và lớn thay tư tưởng tự hào dân tộc của Nguyễn Trãi! Các nhà nghiên cứu lịch sử hoàn toàn không thấy gì là quá đáng trong sự tự hào này; sự tự hào này, trái lại, rất là chính đáng. Người đời khen Câu Tiễn ở chỗ bền chí rửa xong cái nhục riêng, nhục gì thì mọi người đều rõ; nhưng làm sao có thể đem cái việc "thỏa chí phục thù" riêng đó mà sánh với thành công của Lê Lợi trong việc rửa xong nhục nước, giải phóng nhân dân khỏi ách nước ngoài? Còn như Lưu Bang tranh hùng với Hạng Võ, mỗi bên dàn trên hàng trăm vạn quân, đó là cuộc chiến tranh giữa hai phe phong kiến, "được vua thua giặc", chính nghĩa chưa chắc đã về ai. Hán đế thắng mà diệt quân Sở hàng chục vạn ngay cả lúc không còn cần phải giết nữa, đến khi đắc chí rồi thì phát binh đi xâm lấn các nước nhỏ; như vậy sự nghiệp của vua Hán làm sao có thể sánh bằng sự nghiệp của vua Lê, một bên là bạo ngược, một bên là thịnh đức, mà ở đây thịnh đức nghĩa là yêu nước và nhân đạo.

Tự hào dân tộc chính đáng là một nguồn sức mạnh để cứu nước và dựng nước, là một tư tưởng lớn toát ra từ toàn bộ tác phẩm Bài cáo bình Ngô.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #65 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 05:07:56 PM »


Ba là, ngọn cờ "nhân nghĩa" cứu nước, cứu dân, dựa vào dân mà cứu nước.

Ý thức dân tộc như thế. Tự hào dân tộc như thế. Cho nên, đánh chiếm nước ta, quân Minh liền vấp phải sức kháng chiến mà chúng không thể nào tính toán trước được; kháng chiến của nhà Hồ, kháng chiến của nhà Hậu Trần và khởi nghĩa Lam Sơn, ba giai đoạn lớn của cuộc chiến tranh chống Minh dài hai mươi năm và cuối cùng thắng lợi triệt để.

Nhà Hồ kháng Minh, đó là một cuộc chiến tranh tự vệ chính nghĩa. Nhưng, nếu chỉ có chính nghĩa không thôi mà không có chiến lược chiến thuật đúng thì không thắng nổi. Chính nghĩa mà thất bại, phi nghĩa mà thắng dù tạm thời, điều đó vẫn thường thấy xảy ra trong lịch sử. Nói về nguyên nhân thất bại của nhà Hồ trước sức tiến công xâm lược của quân Minh, Bài cáo bình Ngô có đoạn viết:

      Vừa đây,
      Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
      Để trong nước lòng dàn oán phản.
      Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,
      Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.


Như vậy, nhà Hồ bị cuồng Minh đánh bại là vì nhà Hồ cầm quyền mà không được lòng dân, lòng dân lại oán phản. Bọn xâm lược là phi nghĩa, song lực lượng nhân dân ta rời rạc, kháng chiến vì vậy mà không mạnh, quân Minh vì vậy mà chiến thắng dễ dàng trong thời gian không đầy 8 tháng. (Nhà Hậu Trần dựng cờ nghĩa, chiến đấu oanh liệt lâu dài hơn, nhưng cũng không cố kết được sức dân). Trong nhiều dịp Nguyễn Trãi nói rằng rào lim không ngăn được sóng biển, xích sắt không khóa được nước sông, ý muốn phê phán phương lược nhà Hồ chỉ biết xây công sự phòng thủ, tập luyện quân mà không có phương lược để được lòng dân, được nhân dân tham gia đánh giặc cứu nước. Vấn đề được đặt ra trước những người yêu nước bấy giờ là phải:

      Ngẫm nay suy trước;
      Xét cho cùng mọi lẽ hưng vong.


Rút bài học lịch sử vừa đây của họ Hồ và nhà Hậu Trần để có thể vạch ra một phương lược mới. Phải giương cao một ngọn cờ khả dĩ cố kết được lòng dân làm sức mạnh của nước; phải chủ trương cứu nước bằng sức mạnh của dân và cứu nước cũng là cứu dân khỏi ách cường bạo. Bình Ngô sách chính là đường lối cố kết lòng dân, tập hợp sức dân để tiêu diệt quân Minh xâm lược. Cờ nghĩa Lam Sơn được phất lên trên cơ sở của đường lối ấy. Bài cáo bình Ngô bắt đầu bằng hai câu có thể xem như tóm tắt phương lược cứu nước được Nguyễn Trãi trình bày cho Lê Lợi:
   
      Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
      Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.


Cũng có đoạn nói:
      Lấy đại nghĩa chiến thắng hung tàn,
      Đem chí nhân đổi thay cường bạo.


Và:
      Cứu dân để dạ, chí háo hức chỉ muốn về đông.

Có thể hiểu rằng, ở Bài cáo bình Ngô nói riêng và các tác phẩm yêu nước của Nguyễn Trãi nói chung, khái niệm nhân nghĩa trước hết là một đường lối chính trị cứu nước cứu dân. Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: "Yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa vào dân, và cứu nước là để cứu dân, đem lại thái bình cho dân, cho mọi người"1.
__________________________________
1. Bài Nguyễn Trãi - người anh hùng của dân tộc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #66 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 05:10:42 PM »


Bài học thất bại của nhà Hồ là đã làm mất lòng dân nên mất nước. Bây giờ, muốn lấy lại nước thì phải biết lấy sức dân mà kháng chiến.

Dân là ai? Dân chủ yếu là ai? Có thể tìm giải đáp ở câu:

      Sào dựng lên làm cờ, tụ hợp bốn phương dân cày phu tráng,
      Rượu hòa suối cùng uống, trên dưới sĩ binh một dạ cha con.


"Dân cày phu tráng" là dịch từ chữ manh lệ. Vậy manh lệ là gì? Manh người dân cày, còn lệ là người tôi tớ, những điền nô, gia nô còn nhiều trong một chế độ thái ấp điền trang tuy suy sụp mà vẫn còn sống và được nhà Minh duy trì. Manh lệ là tất cả những người lao khổ lúc bấy giờ, họ là số đông đảo nhất. Tụ hợp họ lại dưới cờ nghĩa, làm thành sức mạnh lớn của kháng chiến, đó là điều mới của Bình Ngô sách được tóm lại trong Bình Ngô đại cáo. Nếu nhà làm sử không lầm thì đây là lần đầu tiên mà "manh lệ bốn phương" được công khai thừa nhận là lực lượng kháng chiến cơ bản, đặc biệt là trong những năm tháng gian nguy nhất của cuộc kháng chiến. (Và từ độ ấy mãi cho đến Nguyễn Đình Chiểu thì "dân xóm dân lân" mới được ca tụng trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc như những người anh hùng vô danh mà tuyệt diệu; "dân xóm dân lân" của Nguyễn Đình Chiểu, cũng như "manh lệ" bốn phương của Nguyễn Trãi, đều là những lớp người khốn khổ nhất của xã hội đương thời). Phát hiện sức mạnh của dân "manh lệ" như là sức mạnh kháng chiến cơ bản, đó là một điểm rất lớn trong tư tưởng chính trị của những người cầm đầu khởi nghĩa Lam Sơn, của Nguyễn Trãi, đó cũng là nguồn gốc sâu xa nhất của cuộc chiến thắng vĩ đại sau đó. Tất nhiên không phải chỉ có "manh lệ" là lực lượng kháng chiến. Lực lượng kháng chiến bao gồm toàn dân, không sót một ai, giàu lòng yêu nước, có mưu lược:

      Xe đãi hiền vẫn luôn luôn chừa phía tả.

Đoàn kết rộng rãi là một truyền thống tốt ở nước nhỏ phải đương đầu với nước lớn. Nhưng cũng phải nói rằng, Hội nghị bô lão Diên Hồng trước hết là hội nghị của thân hào, thân sĩ, quý tộc; lời hịch của Trần Hưng Đạo nhằm động viên tinh thần của tướng sĩ; còn bây giờ thì "manh lệ" tức đa số nhân dân đã được chú ý đề cao trong chiến đấu lại được nhắc nhở sau chiến thắng, đó là một tiến bộ dài về tư tưởng chính trị mà nguồn gốc là sự tan rã của chế độ thái ấp điền trang, là sự tham gia rộng lớn của chính những người "manh lệ" của cuộc kháng Minh.

Phải khẳng định rằng các nhà lãnh đạo khởi nghĩa như Nguyễn Trãi chẳng những biết nhục vì nước mất mà còn đau lòng vì dân mình bị cuồng Minh bóc lột áp bức bằng nhiều thủ đoạn hết sức dã man. Tấm lòng ưu ái đối với nhân dân, đối với "dân đen", đối với "manh lệ" bốn phương được diễn đạt trong Bình Ngô đại cáo bằng một ngọn bút thần lên án quân xâm lược:

      Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
      Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
      Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
      Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
      Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
      Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
      Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng,
      Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
      Vét sản vật bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng,
      Nhiễu nhân dân bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
      Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
      Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
      Thằng há miệng đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
      Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
      Nặng nề những nỗi phu phen,
      Tan tác cả nghề canh cửi.


Bản án chế độ thực dân Minh tuy chưa phải đã toàn diện - mà làm sao có thể toàn diện được với một số chữ hạn chế - nhưng đủ sâu sắc, đủ rõ ràng, lột trần được sự dã tâm tàn bạo của quân Minh, mô tả được cảnh khốn cùng tột bậc của dân ta, khiến người đọc hơn 500 năm sau vẫn còn thấy sôi sục căm hờn. Thật quả là:

      Đẵn hết trúc Nam Sơn không ghi đầy tội ác,
      Tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch tanh hôi.
      Lẽ nào trời đất dung tha,
      Ai bảo thần dân chịu được?


Chắc là trong quá trình phát động khởi nghĩa Lam Sơn, nhiều bài hịch loại này đã từng được lưu hành khắp chốn để kêu gọi toàn dân, để khơi lòng căm thù và để biến căm thù thành sức mạnh kháng chiến. Điều rất quý là sau khi kháng chiến thành công, các nhà lãnh đạo chính của khởi nghĩa Lam Sơn - Lê Lợi và Nguyễn Trãi - qua Bài cáo bình Ngô vẫn còn nhắc nhở vai trò của "manh lệ tứ phương", của nhân dân cả nước đã từng chiến đấu kiên trì, hy sinh anh dũng, đem lại toàn thắng. Thói thường trong một bài cáo loại này, sau khi nghiệp đế đã dựng lên rồi, thì người ta chỉ tưởng lệ công thần, tri ân Thượng đế, chớ còn nhắc nhở đến dân đen mà làm gì nữa! Nhưng Nguyễn Trãi đã làm khác với "đạo thường" phong kiến mà hợp với lòng người, hợp với nhân nghĩa, hợp với tính chất nhân dân rộng lớn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vừa kết thúc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #67 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 05:12:28 PM »


Bốn là, đánh vào quân địch, đánh vào lòng người.

Chúng ta ngày nay không biết được nguyên bản nội dung của hai bộ sách Binh thư yếu lượcVạn Kiếp tông bí truyền thư của Trần Quốc Tuấn. Nhằm mục đích thủ tiêu văn hóa Đại Việt, Minh Thành Tổ đã ra lệnh cho đạo quân ba mươi vạn của Trương Phụ, Mộc Thạnh phải gom và đốt tất cả các sách, một chữ không để sót, gom và đập nát các bia, các chuông không chừa một cái nào. Chắc hai tác phẩm của Trần Quốc Tuấn đã bị quân xâm lược thủ tiêu trước tiên hòng chôn sâu cái nhục nhà Nguyên ba lần bị thất bại. Như vậy, khó mà biết cho rõ vậy Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã lấy được những gì ở binh pháp của Trần Quốc Tuấn. Điều chắc chắn là trong Bình Ngô đại cáo, Chí Linh sơn phú, Bia Vĩnh Lăng người đời sau có thể tìm thấy cả một hệ thống những tư tưởng về chiến lược chiến thuật quân sự đặc sắc, có giá trị lâu dài cho những cuộc chiến tranh giải phóng của nước nhỏ chống sự xâm lăng của nước lớn, tư tưởng đó được Nguyễn Trãi cô đúc thành như những thành ngữ châm ngôn: "... nghĩa binh đóng trên sông Lạc Thủy trước sau đánh hơn hai mươi trận, đều đặt mai phục, dùng kỳ binh, tránh mũi nhọn, thừa chỗ hư, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh" (Bia Vĩnh Lăng).

Bài cáo bình Ngô cũng nói:

      Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ,
      Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục.


Hoặc:
      Giữ hiểm để lập công, dùng mưu để lừa địch.
      Đêm thì đốt lửa, ngày thì kéo cờ,
      Chiếm Đỗ Gia để tranh chỗ lợi.

                                         (Chí Linh sơn phú)

Khi khác thì:
      Tuyển quân chọn hiểm để bẻ gãy mũi dùi,
      Điều kỳ binh đón đường cắt lương thực.


Khi khác nữa thì vây thành diệt viện mà mẫu mực là việc vây Vương Thông ở Đông Đô, diệt viện binh mười vạn của Liễu Thăng ở Chi Lăng, Xương Giang, khi ấy ta tập trung nhiều binh lực, đánh rất mạnh, đánh liên tục, vây chặt, diệt gọn: trong 10 ngày đánh bốn trận lớn diệt 4 vạn quân Minh ở khoảng Chi Lăng, trong một trận Xương Giang diệt 6 vạn địch, chỉ để chạy thoát có 1 tên! Thật là thần tốc, thật như sét đánh!

Một bài cáo, một bài phú, một tấm bia, tất nhiên không phải là một quyển binh thư, nhưng ở đó Nguyễn Trãi đã tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và để lại cho đời sau những bài học bất hủ về nghệ thuật tiêu diệt địch. Ở đó, Nguyễn Trãi, Lê Lợi tỏ ra là những nhà chiến lược chiến thuật rất lớn. Nguyễn Trãi càng lớn hơn nữa với chiến lược "đánh vào lòng người”:

      Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.

Bài cáo bình Ngô chỉ có một câu gọn như thế, song "mưu phạt tâm công" (đánh vào lòng người) là cả một chiến lược cơ bản trong Bình Ngô sách mà Nguyễn Trãi đã đệ trình Lê Lợi ngay từ lúc khởi nghĩa Lam Sơn còn ở trong thời trứng nước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #68 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 05:13:00 PM »


"Đánh vào lòng" là đứng trên miếng đất chính nghĩa, một mặt để tập hợp nhân dân ta thành sức mạnh lớn đương đầu nổi với quân xâm lược; ngày nay gọi là giác ngộ quần chúng, là phát động nhân dân. Đánh vào lòng cũng là đưa trở lại đường ngay những kẻ lầm, làm tan rã những "đảng ngụy gian ác mưu mô bán nước", cô lập bọn nhà Minh đang ra sức dùng "thổ quan", "thổ quân" để kìm kẹp nhân dân. Đối với bọn "thổ quân" này, Nguyễn Trãi kêu gọi họ hoặc kéo ra kháng chiến, hoặc ở lại tại chỗ mà làm nội ứng, nhược bằng ngoan cố làm tay sai cho giặc thì tội sẽ còn nặng hơn tội giặc Minh.

"Đánh vào lòng", mặt khác, mặt rất xung yếu, là giải thích cho quan và quân Minh nhận thấy được cái phi nghĩa và cái thất bại của cuộc xâm lược. Ở chỗ này Nguyễn Trãi tỏ ra là một người nắm vững Bắc sử và đạo lý phổ biến để làm vũ khí tuyên truyền cho mình, nắm vững tình hình chính trị ở nước Minh để vạch trần những chỗ yếu của kẻ xâm lược, nắm vững cả tư tưởng và tính tình của các tướng địch để có cách đối phó hiệu quả với mỗi tên khi cương, khi nhu, bao giờ lý lẽ cũng sắc bén, đầy đủ. Cho nên Liễu Thăng háo thắng được thư của Nguyễn Trãi mà đem nộp mạng một vạn quân tiên phong ở núi Mã Yên; cho nên Mộc Thạnh thận trọng được thư của Nguyễn Trãi mà án binh bất động chờ đến ngày bị đánh bại chỉ trong một trận ở ngay trên biên giới; cho nên Vương Thông dù sợ mang tiếng thượng tướng đầu hàng, dù sợ sấm sét trừng trị của vua Minh, rốt cùng đành chịu dẫn mười vạn quân về nước, bỏ Đông Quan, bỏ Cổ Lộng, bỏ Tây Đô mà không chờ lệnh "thiên triều".

Trường hợp Thái Phúc, Đô đốc trấn thủ thành Nghệ, là một trường hợp điển hình cảm động về tài thuyết phục của Nguyễn Trãi và ý thức "nhân nghĩa" đúng đắn của một người Trung Quốc chân chính. Thái Phúc được Nguyễn Trãi giải thích rằng triều đình nhà Minh miệng thì nói "phục lại nước bị diệt, nối lại dòng bị tuyệt" mà ý thì quyết xâm lược nước Đại Việt; nếu nhằm phục Trần thì còn nói là "nhân nghĩa", song vua Minh bảo rằng sở dĩ sáp nhập Đại Việt vào nước Minh bởi vì họ Trần không còn ai, trong khi ấy thì Trần Cảo sờ sờ đó làm minh chủ cho cuộc kháng chiến; như vậy, việc biến Đại Việt thành quận, huyện nước Minh rõ ràng là phi nghĩa. Làm tướng, làm người, không nên theo phi nghĩa, mà chỉ theo chính nghĩa. Thái Phúc sớm nghe lọt tai; nên Thái phúc sớm phản chiến; ông hạ vũ khí, vận động cho nhiều căn cứ quân sự Minh khác cũng phản chiến như ông. Đến ngày Vương Thông đầu hàng, kéo binh về nước, Lê Lợi và Nguyễn Trãi khuyên Thái Phúc không nên về, tính rằng nếu về thì tất bị giết. Nhưng Thái Phúc tự xác định rằng việc ông phản đối xâm lược nước Đại Việt là việc chính nghĩa, triều đình Minh giết ông, ông chẳng sợ gì. Thái Phúc bình tĩnh về nước, vua Minh giết Thái Phúc. Vua Lê và nhân dân Đại Việt lập ngay đền (đền Tuyên Nghĩa) thờ Thái Phúc ở Rú Thành, Nghệ An, nơi Thái Phúc đã quyết định đứng về phía nhân dân Đại Việt chống lại triều đình nhà Minh xâm lược. Trải nhiều trăm năm, mỗi lúc xuân về, một đám rước đi từ đền thờ Thái Phúc sang đền thờ Lê Lợi, một đám rước khác đi từ đền thờ Lê Lợi ra đón ở cửa, rồi cả hai nhập lại tổ chức lễ đưa thuyền trên sông Lam. Quý hóa thay thái độ của nhân dân Việt Nam! Quý hóa thay thái độ dũng cảm của Thái Phúc!

Mưu lược "đánh vào lòng" quả thật là một mưu lược sâu sắc, thành công. Lý do thành công có hai: đó là chính nghĩa sáng ngời của cả một dân tộc hiên ngang, bất khuất; đó cũng là tài ba xuất chúng và văn chương "thoái lỗ" của Nguyễn Trãi. Không biết trong văn học các dân tộc có mấy tác phẩm được các thế hệ đồng thanh công nhận là "mạnh bằng mươi vạn quân" như Quân trung từ mệnh tập? Thực ra, ở trong thế phải "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh", các vị anh hùng của khởi nghĩa Lam Sơn đã tận dụng khả năng của ngòi bút như là một binh khí cực kỳ sắc bén và họ có đủ tài năng để làm việc khó làm ấy. "Đánh vào lòng", phương lược quý báu mà Nguyễn Trãi nhắc lại vắn tắt một câu trong Bài cáo bình Ngô sẽ được phát huy đến cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh, lần này chẳng những là nhằm vào quân địch trên đất nước ta mà còn nhằm cả vào nhân dân tại nước đi xâm lược, vào nhân dân toàn thế giới, tạo nên phong trào phản chiến rất lớn, góp phần quan trọng làm sụp đổ ý chí xâm lược của bọn thực dân, đế quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #69 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2016, 05:15:29 PM »


Năm là, kiên trì chiến đấu, vượt mọi gian khổ, cuối cùng thắng lợi triệt để.

Như ở trên đã nói, Bài cáo bình Ngô tóm tắt lịch sử mười năm Lam Sơn khởi nghĩa, và Nguyễn Trãi đã làm nhiệm vụ tóm tắt đó một cách đầy đủ, cung cấp cho các thế hệ một nguồn xúc cảm và phấn khởi, có thể xem là vô tận. Nói về người đứng đầu cuộc khởi nghĩa:

      Ta đây phát tích Lam Sơn, nương thân hoang dã.

Phải chăng là nói lên điều này để phân biệt nguồn gốc xã hội của nhà lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn với nguồn gốc xã hội của các nhà lãnh đạo kháng Minh trước đó, nhà Hồ hay nhà Hậu Trần đều thuộc quý tộc?1 Phải chăng là nói lên điều này để gắn bó Lê Lợi với nhân dân ứng nghĩa? Các nhà sử học đời sau nhận định rằng vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV ở nước ta, giai cấp quý tộc tàn tạ, vai trò lịch sử của họ đã hết. Chí kiên trì kháng Minh của nhà Hậu Trần thật đáng biểu dương, nhưng sức tập hợp nhân dân của họ thì không còn nữa.

Bài cáo bình Ngô mô tả vị thủ lĩnh Lam Sơn khởi nghĩa không phải chủ yếu như một vị cứu tinh "thay trời hành đạo", mà chủ yếu như một người dân chỉ phân biệt với những người dân khác ở chỗ biết căm thù giặc xâm lăng một cách sâu sắc nhất, biết thương yêu nhân dân một cách thiết tha nhất; đọc đoạn văn lên án chế độ thực dân Minh, chúng ta đã thấy rất rõ Lê Lợi cũng là người nuôi hoài bão độc lập dân tộc một cách mãnh liệt nhất:

      Đau lòng nhức óc kể đã mười năm;
      Nếm mật nằm gai phải đâu một buổi.


Và:
      Chí phục thù, thức ngủ chẳng quên.

Giống như Trần Quốc Tuấn khi thảo bài Hịch tướng sĩ: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù".

Như vậy ở chân núi Lam Sơn, Lê Lợi nuôi chí lớn phục thù cũng như Nguyễn Trãi ở góc thành Đông Quan ngay từ khi quân Minh xâm lấn nước ta. Trong khoảng thời gian mười năm, anh hùng "nín hơi lặng tiếng", “lao tâm khổ tứ", quan sát kẻ thù, "lấy xưa nghiệm nay, nghiền ngẫm sách thao lược", tìm vạch một con đường có khả năng nhiều nhất đưa đến giải phóng. Bình Ngô sách không phải một buổi mà có thể thảo ra được, lãnh tụ Lam Sơn khởi nghĩa không phải một ngày mà xuất hiện như vị anh hùng; cả hai đều là kết quả của những tâm hồn yêu nước mãnh liệt, của những suy tư táo bạo dựa trên kinh nghiệm được các thế hệ tích lũy trên thực tế trước mắt và kỳ vọng tha thiết của nhân dân.
_________________________________
1. Lê Lợi "xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp địa chủ là một tầng lớp đang phát triển, và đang có vai trò tích cực lúc bấy giờ" (Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn: Khởi nghĩa Lam Sơn).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM