Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Mười Một, 2020, 08:10:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ  (Đọc 32542 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #70 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:33:31 am »


        Một người pháp là Gờ-ra đờ Pơ-rê-vin (Gras de Préville), thuyền trưởng tàu Păng-đua (Pandour) tới khảo sát miền Gia Định khoảng tháng 9 năm 1788, đã viết về Nguyễn Huệ và quân đội của ông lúc ấy như sau:

        "Tây Sơn1 rất mạnh; quân đội của Nguyễn Huệ, nếu không thiện chiến thì cũng rất đông, Nguyễn Huệ có voi để kéo pháo, và hơn nữa, Nguyễn Huệ có rất nhiều thuyền chiến, chiến hạm và tàu thuyền để chuyên chở quân đội. Nguyễn Huệ có nghị lực, có tài năng; đó là một vài nét về hình ảnh Nguyễn Huệ, theo dư luận quần chúng"2.

        Nguyễn Huệ đã có một quân đội mạnh và sẵn sàng chiến đấu như vậy, mà tình hình Gia Định thì ngày càng khẩn trương. Tháng Tám năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Ánh đánh chiếm được thành Gia Định, chủ tướng quân Tây Sơn ở Gia Định là Phạm Văn Tham phải chạy vào Ba Xắc. Đất Gia Định có nguy cơ mất hết vào tay Nguyễn Ánh. Nhưng Nguyễn Huệ vẫn không thể quyết định tiến quân vào Nam đánh cứu Gia Định, vì ngoài Bắc lúc ấy lại đang bị nạn ngoại xâm đe dọa.

        Khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc giết chết Vũ Văn Nhậm, bọn phản động Lê Chiêu Thống vẫn tiếp tục chống đối phong trào Tây Sơn. Chúng chia ra làm nhiều toán để mưu đồ đánh lại quân Tây Sơn của Ngô Văn Sở. Lê Chiêu Thống và một số tướng chân tay đóng quân ở Lạng Giang, Kinh Bắc. Mẹ Lê Chiêu Thống cùng một số chân tay đóng quân ở Cao Bằng. Em Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chi cùng một số tù trưởng chiếm giữ Định Châu (Thái Nguyên).

        Tháng Năm âm lịch (1788)3 quân Tây Sơn cùng phiên mục Cao Bằng là Bế Nguyễn Trù và người thổ dân Lạng Sơn là Quyển Trâm tiến lên đánh úp trấn doanh Cao Bằng. Mẹ Lê Chiêu Thống và bọn chân tay theo đường Thủy Khẩu chạy sang Long Châu cầu cứu nhà Thanh. Tháng Bảy âm lịch năm ấy4 Lê Chiêu Thống từ Kinh Bắc cũng cho chân tay sang Quảng Tây van xin quân Thanh cứu viện.

        Bọn vua tôi nhà Thanh, nhân cơ hội đó, gấp rút chuẩn bị lực lượng để tiến sang xâm lược Việt Nam.

        Tin bọn phản động Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh và quân Thanh mưu đồ xâm lược Việt Nam đã đưa về Phú Xuân từ tháng Bảy năm Mậu Thân (1788)5. Trước nạn ngoại xâm đe dọa Bắc Hà như vậy, Nguyễn Huệ không thể tiến quân vào Gia Định để đánh Nguyễn Ánh. Nguyễn Huệ phải chờ tình hình thật chín muồi mới quyết định phương hướng tiến quân: vào Nam hay ra Bắc. Nếu quân Thanh sang xâm lược thì trước nguy cơ mất nước, Nguyễn Huệ phải đem quân ra Bắc Hà đánh tan quân Thanh rồi sau sẽ tính việc đánh bọn phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định. Đó là tất cả phương hướng chiến lược của Nguyễn Huệ ở cuối năm 1788. Phương hướng ấy rất đúng.

        Tháng Một âm lịch (1788), 20 vạn quân Thanh sang xâm lược, Nguyễn Huệ đã chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng tiến quân ra Bắc chiến đấu một sống một còn với quân cướp nước. Và Nguyễn Huệ đã chiến thắng, giữ vững nền độc lập của Tổ quốc.

-----------------
        1. Chỉ Nguyễn Huệ.

        2. Alexis Faure, tài liệu đã dẫn, tr. 199.

        3. Hoàng Lê nhất thống chí nói là tháng 5, Việt sử thông giám cương mục nói là tháng 7.

        4. Hoàng Lê nhất thống chí nói là tháng 9, Việt sử thông giám cương mục nói là tháng 7.

        5. Lê sử bổ, tờ 263.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #71 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:35:35 am »


QUÂN THANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM

        Được bọn vua tôi nhà Lê sang cầu viện, bọn vua tôi nhà Thanh vội vàng nắm lấy cơ hội để mưu đồ xâm lược Việt Nam. Chúng chuẩn bị hết sức khẩn trương kế hoạch đưa quân sang chiếm đóng nước ta. Sau khi nhận lời và mượn tiếng "cứu giúp" bọn vua tôi bán nước Lê Chiêu Thống, Càn Long đã lập tức cùng Tôn Sĩ Nghị tiến hành một số biện pháp chuẩn bị như sau:

        1. Tăng cường quân số canh giữ các đồn dọc biên giới Việt Trung đề phòng quân Tây Sơn tràn sang lùng bắt bọn vong thần nhà Lê. Việc này trao cho viên đề đốc Tam Đức đảm nhiệm1.

        2. Làm hịch trao cho bọn quan lại nhà Lê đem về truyền bá ở trong nước, xúi giục nhân dân nổi lên chống lại Tây Sơn và động viên bọn quan lại cũ của Lê Chiêu Thống mộ quân cần vương, hưởng ửng và hiệp lực với quân Thanh xâm lược.

        3. Hạ lệnh cho viên tù trưởng Sầm Nghi Đống, tri phủ phủ Điền Châu là một vùng thiểu số ở gần Long Châu đứng ra cùng với bọn chúa tôi nhà Lê là Lê Duy Chi, Nguyễn Đình Mai, chiêu mộ những quân tình nguyện2 mà chúng gọi là quân "nghĩa dũng" ở Điền Châu và vùng biên giới Cao Bằng, Long Châu để làm đội quân dẫn đường cho các đạo quân chính quy của nhà Thanh tiến vào chiếm đóng Việt Nam.

        4. Điều động một lực lượng quân đội chính quy rất lớn để sang xâm lược Việt nam, gồm có lục quân của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quí Châu và thủy quân của hai tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến.

        Những công việc chuẩn bị này đã đạt một số kết quả theo ý muốn của chúng. Hịch của bọn xâm lược đưa sang Việt Nam đã khuyến khích bọn phản động nhà Lê ở trong nước tích cực chiêu mộ "quân cần vương" để đón quân xâm lược vào giày xéo Tổ quốc. Những tờ hịch huênh hoang ấy còn lôi kéo được bọn chủ thầu khai mỏ ở Thái Nguyên là họ Trương và họ Cát, người Triều Châu (Quảng Tây), hưởng ứng bọn xâm lược, đứng ra tụ tập được hơn một vạn người Triều Châu trú ngụ ở miền núi phía bắc nước ta, lập thành một đạo quân tình nguyện chia làm mười đoàn, mỗi đoàn một nghìn người, xin gia nhập đạo quân "nghĩa dũng" Điền Châu của Sầm Nghi Đống và tình nguyện làm những đội quân dẫn đường cho các đạo quân xâm lược tiến vào Việt Nam3. Bọn Càn Long, Tôn Sĩ Nghị cũng đã nhanh chóng tập trung được một đạo quân lớn mà Tôn Sĩ Nghị trong tờ hịch của hắn đã khoa đại quân số tới 50 vạn người4. Đạo quân Thanh xâm lược này, tuy không lớn đến như thế, nhưng, trong thực tế, riêng lục quân, chúng cũng đã tập trung được tới 20 vạn người, không kể thủy quân và các đạo quân tình nguyện "nghĩa dũng"5 ở Điền Châu, Thái Nguyên cùng các đạo quân "cần vương" của bọn vua tôi Lê Chiêu Thống ở Bắc Hà.

---------------
        1. Ngô gia văn phái, Hoàn Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 326.

        2. Ngụy Nguyên, Thánh vũ ký, Sách Trung Quốc, xuất bản năm 1812, gồm 14 quyển, Bản in của Trung Hoa thư cục, Thượng Hải, q. 6, mục "Càn Long chinh phủ An-nam ký", tờ 34.

        3. 5. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 328 - 329.

        4. Ngô gia văn phái, Tài  liệu đã dẫn, tr. 336.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #72 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:37:21 am »


        Công tác chuẩn bị hoàn thành, Càn Long lại chiếu cho Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc lưỡng Quảng làm Chinh Man đại tướng quân1 thống lĩnh 20 vạn lục quân của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quí Châu, chờ ngày lên đường tiến đánh Việt Nam. Càn Long lại đặc cử tổng đốc Vân Nam, Quí Châu là Phúc Khang An chuyên trách việc trù tính quân lương2 cho đoàn quân xâm lược. Trong cuộc xâm lược này, Càn Long đã đặt vấn đề quân lương lên một tầm quan trọng đặc biệt, ngang hàng với việc chiến đấu ngoài mặt trận. Thực hiện nhiệm vụ đó, khi đoàn quân xâm lược tiến sang Việt Nam thì từ hai địa điểm xuất quân ở Quảng Tây và Vân Nam tới kinh thành Thăng Long, Phúc Khang An đã lập được trên bảy mươi đồn quân lương3 to lớn và kiên cố. Riêng trên một chặng trường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, trong khi Tôn Sĩ Nghị hành quân thì Phúc Khang An cũng đã lập được mười tám kho quân lương4.

        Những sự chuẩn bị như trên cho thấy rất rõ dã tâm của bọn Càn Long, Tôn Sĩ Nghị muốn đánh chiếm nước Việt Nam cho bằng được, để làm quận huyện của chúng.

         Sau khi cử Tôn Sĩ Nghị thống lĩnh lục quân, Càn Long gửi cho Tôn Sĩ Nghị một bản chỉ dụ, vạch ra những phương hướng chiến lược, đại ý như sau:

        "... Cứ từ từ, không gấp vội. Trước hãy truyền hịch để gây thanh thế, sau cho bọn cựu thần nhà Lê về nước tìm tự quân nhà Lê đưa ra đương đầu đối địch với Nguyễn Huệ. Nếu Huệ bỏ chạy thì cho Lê tự quân đuổi theo, mà đại quân của ta thì đi tiếp sau.Như thế, không khó nhọc mà thành công, đó là thượng sách.

        Nếu như người trong nước, một nửa theo về Huệ mà Huệ không chịu rút quân, thì phải chờ thủy quân Mân Quảng5 vượt biển, đánh vào Thuận, Quảng6 trước, sau đó lục quân 7 mới tiến công cả hai mặt, đằng trước, đằng sau, Nguyễn Huệ đều bị đánh, tất phải quy phục. Ta nhân đó giữ cả hai. Từ Thuận, Quảng vào Nam thì cắt chia cho Nguyễn Huệ. Từ Hoan Ái8 trở ra Bắc thì phong cho họ Lê.  Mà ta thì đóng đại quân ở nước ấy để kiềm chế. Về sau sẽ có cách xử trí khác"9/b].

        Chiến lược của Càn Long thật quỷ quyệt. Hắn muốn dùng một chiến lược mà tất cả những kẻ đi cướp nước vẫn thường dùng là "lấy người Việt Nam đánh người Việt Nam". Hắn muốn dùng binh không vất vả mà chiếm đóng được toàn bộ nước ta.

        Chiến lược xâm lăng của Càn Long chia làm hai bước rất rõ rệt.

        - Bước thứ nhất: lấy quân "cần vương" của Lê Chiêu Thống làm lực lượng chủ yếu để đánh quân Tây Sơn, quân Thanh xâm lược chỉ đóng vai trò trợ lực. Nếu quân Lê Chiêu Thống chiến thắng quân đội Tây Sơn thì bước thứ nhất của kế hoạch hoàn thành. Quân Thanh sẽ khống chế bọn vua tôi nhà Lê, biến Lê Chiêu Thống thành tên vua bù nhìn. Như thế là chiến lược xâm chiếm Việt Nam hoàn thành. không cần phải thực hiện bước thứ hai. Và ngay từ trong bước thứ nhất, quân dội nhà Thanh cũng chỉ đóng ở biên giới để phô trương thanh thế, còn mặc cho quân Lê Chiêu Thống chiến đấu. Khi quân Lê Chiêu Thống đã chiến thắng thì quân đội nhà Thanh sẽ ung dung kéo sang chiếm đóng.

-----------------
        1 Ngô gia văn phái, Tài liệu đã dẫn, tr. 336.

        2, 3. Ngụy Nguyên, Thánh vũ ký, q. 6, tờ 35.

        4. Trần Nguyên Nhiếp, Quân doanh kỷ lược, dẫn trong cách mạng Tây Sơn của Văn Tân, Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội. 1958, tr. t35.

        5. Mân Quảng, tức Phúc Kiến, Quảng Đông (Trung Quốc).

        6. Thuận, Quảng, tức Thuận Hóa, Quảng Nam (Việt Nam).

        7. Lục quân do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy.

        8. Hoan ái, tức Nghệ An, Thanh Hóa.

        9. Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, q. 30, tờ 3.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #73 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:39:32 am »


        - Bước thứ hai của chiến lược mà quân Thanh phải thực hiện là khi nào quân "cần vương" của lên vua bán nước Lê Chiêu Thống không thể chiến thắng được quân đội Tây Sơn, thì quân Thanh sẽ là lực lượng chủ yếu để chiến đấu với quân đội Tây Sơn. Nhưng khi phải thực hiện bước thứ hai thì đạo bộ binh 20 vạn người do Tôn Sĩ Nghị thống lĩnh cũng không được phép tiến sang Việt Nam ngay, mà phải đợi khi nào thủy quân ở Mân Quảng đã tiến xuống đánh Thuận, Quảng thì lục quân của Tôn Sĩ Nghị mới được tiến vào Bắc Hà.

        Với chiến lược ấy, rõ ràng là Càn Long vẫn tỏ ra chủ quan và chưa đánh giá đúng lực lượng hùng mạnh của quân đội Tây Sơn dưới sự lãnh đạo thiên tài của Nguyên Huệ.

        Nếu chiến lược của Càn Long được thực hiện nghiêm túc thì nó sẽ dẫn tới hai trường hợp. Một là thực hiện bước thứ nhất không thành công, quân Lê Chiêu Thống không thể chiến thắng được quân Tây Sơn hoặc bị quân Tây Sơn tiêu diệt, bọn vua tôi nhà Thanh đành lìa bỏ cái mộng xâm chiếm Việt Nam và rút quân đội xâm lược về. Như thế thì chúng không tổn thất gì. Hai là nếu như chúng cứ liều lĩnh thực hiện bước thứ hai của chiến lược, cho quân thủy bộ tiến đánh Việt Nam, thì dù chúng không chiến thắng được quân đội Tây Sơn, dù phải tổn thất nhiều chăng nữa, nhưng có lẽ cũng không đến nỗi bị tiêu diệt hoàn toàn và nhanh chóng. Đó là điểm đáng kể trong chiến lược của Càn Long.

        Tôn Sĩ Nghị còn chủ quan hơn Càn Long. Chính vì thế mà đã thất bại, có lẽ là một sự thất bại thảm hại nhục nhã nhất trong lịch sử xâm lược của phong kiến phương Bắc vào Việt Nam, một sự thất bại đã vĩnh viễn chấm dứt lịch sử xâm lược của chúng vào Việt Nam.

        Tôn Sĩ Nghị biết quân đội Nguyễn Huệ là một quân đội lợi hại, tuy hắn chưa biết được đầy đủ. Cho nên hắn không tin quân đội cần vương ô hợp của Lê Chiêu Thông có thể thắng được quân đội Nguyễn Huệ. Về điểm này, Tôn Sĩ Nghị hơn Càn Long. Nhưng Tôn Sĩ Nghị lại chủ quan cho rằng hắn sẽ chiến thắng quân đội Nguyễn Huệ một cách dễ dàng.

        Đã có 20 vạn lục quân trong tay, Tôn Sĩ Nghị nóng lòng muốn lập tức chiếm đóng Việt Nam. Tôn Sĩ Nghị không muốn ngồi chờ ở biên giới để thực hiện từng bước chỉ dụ của Càn Long. Tôn Sĩ Nghi dâng sở về triều nói rõ cái lẽ cần phải đưa quân sang Việt Nam, không thể trông cậy ở khả năng chiến đấu của bọn vua tôi nhà Lê:

        "Thần nghe họ Lê ở nước An Nam hèn yếu, sau này không chắc đã giữ được nước. Nay họ sang cầu cứu, bản triều theo nghĩa phải cứu giúp. Vả chăng An Nam vốn là đất cũ của Trung Quốc1, nếu sau khi khôi phục họ Lê rồi, nhân đó lại cho quân đóng giữ thì như thế là bảo tồn họ Lê mà đồng thời lại chiếm được nước An Nam, một công mà hai việc vậy"2.

        Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh, người được cử cùng Tôn Sĩ Nghị mưu tính việc xâm lược Việt Nam, cũng thấy rõ bọn vua tôi nhà Lê nhất định sẽ bị quân đội Tây Sơn tiêu diệt, như nhận định của Tôn Sĩ Nghị. Nhưng Tôn Vĩnh Thanh vẫn tán thành chiến lược của Càn Long và dâng sớ phản đối Tôn Sĩ Nghị:

        "Hiện nay họ Lê họ Nguyễn3 đang đánh nhau, họ Lê thế nào cũng bị họ Nguyễn thôn tính. Chi bằng cứ đóng quân yên lặng rồi sau đó nhân lúc cả hai bên đều kiệt quệ, bấy giờ ta sẽ đánh lấy cũng chưa muộn gì"4.

        Kiên quyết thực hiện mưu đồ của mình, Tôn Sĩ Nghị lại dâng sớ tâu dối Càn Long, nêu lên những điều kiện thuận lợi và cần thiết phải tiến quân ngay vào Thăng Long:

        "Vâng lời thượng dụ: chỉ nên làm thanh viện cho họ, để họ tự lo lấy không cần phải dấy quân làm to chuyện. Kính tuân theo thánh chỉ ấy thần đã tra xét kỹ càng các nơi đường sá qua lại, từ đài Chiêu đức đến đô thành nước họ, quân đi chẳng qua chỉ mất sáu ngày. ở Lạng Sơn hơi có lam chướng. Qua khỏi đó thủy thổ đều tốt lành. Đại quân tiến lên đóng ở La Thành5 vừa không nóng nực lại không có lam chướng. Vả lại cũng cần diễu võ gương oai, phô trương thanh thế quân ta ở đấy để cho giặc biết là không thể địch nổi. Rồi sau đó mới sai phái các quân ứng nghĩa của nước họ tự đi đánh dẹp lấy. Quân ta sẽ không đến nỗi phải vấy máu mũi gươm, mà quân giặc đều bị bắt giết. Như vậy công trạng hẳn chóng thành ..."6.

------------------
        1. Có nghĩa là thuộc địa cũ, đất đô hộ cũ của giai cấp phong kiến Trung Quốc.

        2. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 332.

        3. Họ Nguyễn đây là chỉ Nguyễn Huệ.

        4. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 332.

        5. La Thành tức kinh thành Thăng Long.

        6 . Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch, tr. 330 - 331.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #74 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:41:51 am »


        Cũng nóng lòng muốn sớm chiếm đóng Việt Nam như Tôn Sĩ Nghị, Càn Long tự hủy bỏ chiến lược của mình đã đề ra, tán thành đề nghị của Tôn Sĩ Nghị và hạ lệnh cho Sĩ Nghị xuất quân

        Như thế là sang xâm lược Việt Nam lần này, quân Thanh chỉ có lục quân, không có thủy quân. Lục quân Thanh gồm có các đạo bộ binh của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quí Châu và đạo quân "nghĩa dũng" ở Điền Châu, tất cả là 20 vạn người, đặt dưới quyền tiết chế của Tôn Sĩ Nghị.

        Quân Thanh theo ba đường tiến sang Việt Nam:

        -   Các đạo quân Vân Nam, Quí Châu, do đề đốc Vân Quí Ô Đại Kinh, từ Vân Nam qua cửa ải Mã bạch quan1, theo đường Tuyên Hóa, Tuyên Quang, xuống Sơn Tây, vào Thăng Long2.

        -   Đạo quân tình nguyện Điền Châu, do Sầm Nghi Đống quản lĩnh, theo đường Long Châu sang Cao Bằng3 xuống Thái Nguyên tiếp nhận các đoàn quân tình nguyện Triều Châu của hai họ Trương, họ Cát, rồi cùng tiến vào Thăng Long.

        -   Các đạo lục quân Quảng Đông, Quảng Tây, do Tôn Sĩ Nghị trực tiếp chỉ huy, có đề đốc Hứa Thế Hanh làm phó tướng, tiến xuống cửa ải Nam Quan đánh vào Lạng Sơn.

        -   Đạo quân này là đạo quân chủ lực. Tổng binh Thượng Duy Thăng, phó tướng Khánh Thành quản lĩnh lục quân Quảng Tây. Các tổng binh Trương Triều Long và Lý Hóa Long quản lĩnh lục quân Quảng Đông4.

        Ngày âm lịch 28 tháng Mười năm Mậu Thân tức 25 tháng 11 năm 1788, tất cả các đạo quân đều cùng xuất phát.

        Trước khi quân Thanh lên đường, Tôn Sĩ Nghị ban bố cho toàn quân của hắn tám điều quân luật như sau:

        "Điều thứ 1. Đại binh ra ải, vốn để dẹp giặc an dân. Hễ qua các nơi đều phảí nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi, không được quấy nhiễu nhân dân, cướp bóc chợ búa.

        Điều thứ 2. Ngoài ải, non cao rừng hiển, miền ấy rất dễ mai phục, trước hết phải san bằng đá tảng, phát hết bụi rậm, để cho trước mắt quang đãng có thể vững lòng mà tiến lên. Nếu gặp chỗ nào đất mới xốp bở, càng nên để ý xem xét, để đề phòng mưu gian của giặc.

        Điều thứ 3. Hễ nơi nào đại binh địch đóng thì trước hết phải xem xét địa phương, chọn lấy hình thế, tìm nơi dễ lấy nước, lấy cỏ, chớ có đóng gần rừng rậm, bốn mặt phải đào hào đắp lũy và đốc xuất binh lính đêm ngày tuần phòng, ngày đêm phải cho quân đi dò xét ở ngoài mười dặm, không được ồn ào, dễ gây ra kinh sợ rối loạn.

        Điều thứ 4. Người Nam đánh trận, hay dùng sức voi. Voi không phải là vật nội địa từng tập quen, nên hễ gặp phải, trước tiên quân ta thế nào cũng tránh chạy. Không biết rằng sức voi tuy khoẻ, chung qui cũng là thân máu thịt, không thể đương được với súng ống của ta. Nếu thấy voi ra trận, xa thì bắn súng, gần thì dùng cung và đao, làm cho nó bị đau mà chạy trở lại, giày xéo lẫn nhau, quân ta nhân cơ hội ấy mà tiến lên chém giết, thế nào cũng thắng trận, không còn nghi ngờ gì nữa. Cần phải chỉ bảo cho nhau cùng được biết.

        Điều thứ 5. Quân Nam không có sở trường gì khác, toàn dùng thứ ống phun lửa làm lợi khí, gọi là "hỏa hổ". Khi hai quân giáp nhau, trước hết họ dùng thứ đó đốt chạy quần áo người ta, buộc người ta phải lui. Nhưng tài nghệ của họ cũng chỉ có thế mà thôi, so với súng ống của ta thì còn kém rất xa. Hiện ta đã chế sẵn vài trăm lá chắn bằng da trâu sống. Nếu gặp "hỏa hổ" của người Nam phun lửa, thì quân ta một tay cầm lá chắn đỡ lửa, một tay cầm dao chem. bừa, chắc rằng chúng sẽ phải bỏ chạy tan tác.

-----------------
        1 . Ngụy Nguyên, Tài liệu đã dẫn. tờ 35.

        2. Tuyên Hóa tức huyện Đinh Hóa thuộc Thái Nguyên.

        3. Nguyễn Thu, Lê quí kỷ sử, Bản chép tay của Viện Sử học, ký hiệu H.V. 498. tờ 41. Gần đây, một vài tài liệu thường viết Sầm Nghi Đống đem quân từ Khâm Châu sang Cao Bằng, là không đúng, lẫn lộn Long Châu với Khâm Châu. Nếu quả thật Sầm Nghi Đống ở Khâm Châu, miền biển tỉnh Quảng Đông thì không có lý gì lại đem quân đi vòng qua Quảng Tây để xuống Cao Bằng, trong khi quân Quảng Tây chỉ việc đi thẳng xuống Nam quan vào Lạng Sơn.

        4. Ngụy Nguyên, Tài liệu đã dẫn, tờ 35.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #75 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:42:53 am »


        Điều thứ 6. Đại binh đi đường, nếu gặp khe suối, dòng sông, chỗ nào nước sâu thì phải lấy tre, gỗ bắc !àm cầu phao, để binh mã vượt qua cho tiện, chỗ nào sông hẹp nước nông, thì viên quan coi quân phải dò thử đích xác, rồi cho quân lính nối tiếp nhau như xâu cá mà kéo đi. Lúc xuống nước không được đem bùi nhùi, thuốc súng bạ đâu vứt đấy để bị ẩm ướt.

        Điều thứ 7. Rau củi của đại binh dùng hàng ngày, đã có tiền công cấp phát, chỉ được đổi chác với người Nam bằng cách thuận tình, kkông được tự tiện chặt cây cối ở các làng xóm, dễ sinh ra tranh giành. Nếu ở chỗ nào cách rừng núi độ một hai dặm, cần sai quân lính bảo vệ cho kẻ đi kiếm củi, không đượcc tự ý đi xa để xảy ra biến cố khác. Đến như việc lấy nước nấu cơm, cũng phải do viên quan coi quân xét nghiệm rõ ràng, quả thật trong sạch không có độc mới cho múc uống.

        Điều thứ 8. Những quân lính bị thương hoặc bị ốm, viên quan coi quân phải tra xét tường tận, làm giấy bẩm rõ rồi cho đưa về doanh điều trị, để tỏ sự giúp đỡ thương xót. Nếu có bọn quân lính không tốt, giả làm bị thương hay đau ốm, hòng được về nhà, một khi tra ra sẽ trị tội ngay tức khắc. Vả lại, lần này hành quân xa xôi qua biên ải, triều đình thương đến binh lính, đã chu cấp rộng ra ngoài thể lệ, mỗi người lính được cấp một tên phu. Các viên coi quân cần hiểu dụ trước cho mọi người biết. Lính và phu cũng cần phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, không được tùy tiện sai khiến một cách tàn ngược. Đến như lúc hành quân, lính đề phải mang lấy khí giói, không được tự mình buông tay đi không, việc gì cũng giao cho phu dịch mang đội, để đến nỗi họ không thể chịu nổi, phải giữa đườ bỏ trốn. Ngoài ra, số phu quá nhiều, tra cứu rất khó, thậm chí có người ở doanh trước lẫn vào doanh sau, người này, người kia không quen biết nhau, dễ sinh ra lộn xộn. Do đó phải cấp cho mỗi tên phu một mảnh thẻ bài đeo ở lưng, kê rõ tên họ, doanh hiệu, để tiện nhận xét phân biệt.

        Các điều quân luật trên đây, quân lính đều phải tuân theo một cách nghiêm túc. Kẻ nào làm trái, nhất thiết xử theo quân pháp, không tha"1.

        Những điều quân luật trên đây chứng tỏ Tôn Sĩ Nghị là một viên tướng xâm lược xảo quyệt. Trong những điều quân luật hắn cố ý nêu lên danh nghĩa "dẹp giặc, an dân", đề ra những kỷ luật "cấm nhũng nhiễu, cướp bóc" để lừa dối nhân dân ta. Nhưng Tôn Sĩ Nghị vẫn lo sợ sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân ta, nên bên cạnh những điều quân luật lừa phỉnh ấy, hắn phải đề ra những biện pháp đề phòng: hành quân, đi đứng, qua rừng qua núi, trèo đèo lội suối như thế nào để không sa hầm mắc bẫy, không bị nhân dân ta phục kích; đóng quân, bố phòng như thế nào để khỏi bị nhân dân ta tập kích bất ngờ, v.v.

        Tuy nhiên, những điều quân luật của Tôn Sĩ Nghị không thể có giá trị, bởi vì bản chất quân đội của hắn là quân đội xâm lược; làm nhiệm vụ cướp nước, giết người lấy của thì một khi đặt chân lên đất nước Việt Nam, làm sao chúng lại có thể giữ kỷ luật nghiêm minh để không giết người cướp của, nhất là khi chúng thấy xâm lược dễ dàng, không đánh cũng thắng, không gặp một sức kháng cự đáng kể nào suốt từ biên giới đến Thăng Long. Cho nên, một khi tới Thăng Long, quân Thanh, từ chủ tướng Tôn Sĩ Nghị cho tới sĩ tốt, đều tự ý hủy bỏ mọi quân lệnh,  mọi kỷ luật mà chúng đã đề ra khi mới xuất phát, và chúng đã trở thành chủ quan khinh địch đến cao độ, chểnh mảng với nhiệm vụ tiến công liên tục để hoàn thành mưu đồ của chúng là xâm lược toàn bộ nước Việt Nam.

        Trong 8 diều quân luật nói trên, Tôn Sĩ Nghị đã tính toán cả đến những phương pháp đối phó với những phương tiện chiến đấu rất quen thuộc của quân đội Tây Sơn là các đoàn quân voi và hỏa hổ, và cũng là hai thứ phương tiện chiến đấu mà quân Thanh không có. Nhưng mặc dầu tính toán, Tôn Sĩ Nghị vẫn chưa thấy hết được sức mạnh của quân đội Tây Sơn, chưa lường được tính lợi hại của những phương tiện chiến đấu của quân đội Tây Sơn.

        Trong quân đội Tây Sơn, pháo binh là voi mang pháo trên lưng hoặc kéo theo sau. Trong tay các chiến sĩ dũng cảm và mưu trí của quân đội Tây Sơn sự kết hợp đó đã phát huy tác dụng vô cùng to lớn mà Tôn Sĩ Nghị đã không lường thấy được.

        Tôn Sĩ Nghị có tính toán đến cách đối phó với hỏa hổ, một phương tiện chiến đấu sở trường của quân đội Tây Sơn. Nhưng hỏa lực của quân đội Tây Sơn không phải là chỉ có hỏa hổ mà hỏa lực chủ yếu lúc ấy là súng trường, đại bác. Tôn Sĩ Nghị đã không biết những điều đó, cho nên những tính toán trước của Tôn Sĩ Nghị đều không có giá trị.

------------------
        1. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch .... tr. 333 - 335.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #76 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:44:38 am »


        Về phía nghĩa quân Tây Sơn, ngay từ tháng Bảy năm Mậu Thân (1788), tức là hai tháng sau khi Nguyễn Huệ rời khỏi Thăng Long về Phú Xuân, Ngô Văn Sở đã cho người vào Phú Xuân báo cáo với Nguyễn Huệ tình hình chuẩn bị của quân Thanh xâm lược1. Nhưng Nguyễn Huệ vẫn bình tĩnh trước tình hình, vững tin ở sức mạnh của mình. Một mặt Nguyễn Huệ trao cho các tướng lĩnh ở Bắc Hà trách nhiệm tự liệu đối phó với địch lúc ban đầu, một mặt Nguyễn Huệ tích cực chuẩn bị lực lượng sẵn sàng tiêu diệt địch, một khi chúng dám tiến sâu vào đất nước Việt Nam. Cho nên việc quân Thanh tiến sang xâm lược Việt Nam không phải là một điều bất ngờ và các tướng lĩnh Tây Sơn ở Bắc Hà đã chủ động đối phó trước mọi tình hình xảy ra.

        Với một lực lượng hết sức hạn chế, khoảng một vạn quân chủ lực, các tướng lĩnh Tây Sơn ở Bắc Hà vẫn bố trí phòng thủ, trong phạm vị có thể được của mình để tùy tình hình sau này sẽ xử trí. Riêng Lạng Sơn là nơi giáp biên ải với Trung Quốc, hai tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Diễm và Phan Khải Đức2 đều tới cầm quân phòng giữ.
       
        Nhưng dù bố trí phòng thủ như vậy, các tướng lĩnh Tây Sơn ở Bắc Hà cũng tự biết rằng trên dưới một vạn quân chủ lực của mình không phải là lực lượng có đủ sức ngăn chặn được bước tiến của 20 vạn quân xâm lược. Cho nên khi được tin cấp báo quân Thanh đã xuất phát và tiến gần đến biên ải, các tướng lĩnh Tây Sơn một mặt cử một phái đoàn gồm một số quan lại cũ của nhà Lê là Nguyễn Quý Nha, Trần Bá Lãm, Võ Huy Tấn, Nguyễn Đình Khoan, Lê Duy Chử, Nguyễn Đăng Đàn đem một bức thư ký tên giám quốc Lê Duy Cận và một tờ bẩm văn ký tên các hào mục Bắc Hà tới biên ải trao cho quân Thanh, nghị hòa làm kế hoãn binh, một mặt các tướng lĩnh Tây Sơn họp bàn kế hoạch đối phó với địch. Trong cuộc họp bàn, cũng có những tướng lĩnh khẳng khái muốn đánh địch ngay, không kể lực lượng địch lớn mạnh như thế nào. Muốn noi gương Lê Lợi, vận dụng yếu tố bất ngờ đánh địch, như đã giết chết Liễu Thăng ở núi Mã Yên, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng chủ trương:

        "Nay người Thanh ở xa đến đây, phải trèo đèo vượt suối, ta lấy quân nghỉ ngơi mà đón đánh quân nhọc mệt, nhằm trước các nơi xung yếu, cho quân nấp sẵn để chờ, cứ làm theo kế ấy, lo gì mà không thắng"3.

        Cùng một lòng kiên quyết đánh địch như Nguyễn Văn Dụng, nhưng nhận định tình hình sâu sắc hơn, Ngô Thời Nhiệm đưa ra một chủ trương khác. Ông đã phân tích rõ tình hình trước mắt giữa ta và địch và đề nghị một kế hoạch cụ thể như sau với các tướng lĩnh:

        "Phép dụng binh chỉ có một đánh, một giữ mà thôi. Nay quân Thanh sang đây, tiếng tăm rất lớn. Những vẻ trong nước làm nội ứng cho chúng phần nhiều lại phao tin đồn nhảm, làm cho thanh thế của chúng to thêm, để cho lòng người sợ hãi lay động. Quân ta có ai được sai phái đi đâu, vừa ra khỏi thành là đã bị bắt giết. Số người Bắc Hà thuộc vào số quân của ta, hễ gặp dịp sơ hở là bỏ trốn liền. Đem đội quân ấy mà đánh, không khác gì xua bày dê đi chọi cọp dữ, không thua sao được? Đến như việc đóng cửa thành mà có thủ, thì lòng người đã không vững, ắt thế nào cũng sinh ra mối lo ở bên trong. Dầu cho Tôn, Ngô4 sống lại, cũng phải bó tay, không thể làm gì được. Thật chẳng khác gì đem một con chạch bỏ nào giỏ cua. Xin nghĩ kỹ mà xem! Đánh đã chẳng được, giữ cũng kkông vững. Vậy thì cả hai chước đánh và giữ đều không phải là kế hay.

----------------------
        1 . Lê sử bổ, tờ 263.

        2. Phan Khải Đức, người Nghệ An, học trò La sơn phu tử Nguyễn Thiếp.

        3. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 319.

        4. Tôn là Tôn Vũ thời Xuân Thu, Ngô là Ngô Khởi thời Chiến Quốc, cả hai đều là nhà quân sự có tài của Trung Quốc, thời kỳ trước công nguyên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #77 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:45:59 am »


        Nghĩ cho cùng thì chỉ còn một kế này: sớm truyền cho thủy quân chở đầy các thuyền lương, thuận gió gương buồm, ra thẳng cửa biển đến vùng Biện Sơn1 mà đóng. Quân bộ thì sửa soạn khí giới, giong trống lên đường, lui về giữ núi Tam Điệp2. Hai mặt thủy bộ liên lạc với nhau, giữ lấy chỗ hiểm yếu, rồi cho ngườl chạy giấy về bẩm với chúa công. Thử xem quân Thanh đến thành, khu sử việc nhà Lê ra sao? Vua Chiêu Thống sau khi phục quốc, xếp đặt việc quân việc nước như thế nào? Chờ chúa công ra, bấy giờ sẽ quyết chiến một phen, cũng chưa muộn gì"3.

        Và Ngô Thời Nhiệm khẳng định:

        "Tướng giỏi đời xưa, lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo  tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ. Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi4, cũng như ngọc bích của nước Tấn đời xưa vẫn nguyên lành chứ có mất gì ..."5.
       
        Trong tình hình địch mạnh gấp mười lần quân ta, chủ trương của Ngô Thời Nhiệm tạm thời rút lui để tạo thế có lợi thật là thích đáng, toàn thể tướng lĩnh đều tán thành và chuẩn bị kế hoạch rút quân. Trong khi đó sứ bộ nghị hòa của các tướng lĩnh Tây Sơn tới cửa ải Nam Quan nhưng bị quân Thanh chặn lại không cho sang gặp Tôn Sĩ Nghị, phải quay trở lại.

        Khi quân Thanh tiến tới ải Nam Quan, thanh thế lừng lẫy, một tướng giữ thành Lạng Sơn là Phan Khải Đức hoảng sợ, lẻn trốn tới cửa ải đầu hàng giặc. Còn một mình tướng Nguyễn Văn Diễm, phải lui quân về phía Kinh Bắc.

        Tin đó đưa về tới Thăng Long, kế hoạch rút quân của Ngô Thời Nhiệm được thi hành cấp tốc. Người thay mặt Nguyễn Huệ, cầm quyền ở Bắc Hà lúc ấy là đại tư mã Ngô Văn Sở, liền hạ lệnh cho các tướng trấn thủ ở Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, lấy cớ đem quân đi đắp lũy chống địch ở sông Như Nguyệt, để bí mật rút quân về Thăng Long. Mỗi nơi chỉ để lại một toán quân nhỏ để nghi binh, làm công tác phá hoại cầu đường, phục kích, gây khó khăn cho việc hành quân của địch, bám sát tiêu hao địch, khiến chúng không thể tiến mau được xuống Thăng Long, bảo đảm cho toàn quân Tây Sơn rút an loàn về phía núi Tam Điệp.

        Ngô Văn Sở cũng thông tư cho các tướng trấn thủ Hải Dương và Sơn Tây đem toàn quân về Thăng Long hội quân. Riêng quân Tây Sơn ở trấn Sơn Nam thì không phải trở lên Thăng tong, mà được lệnh ở lại đấy, chuẩn bị thuyền bè, chờ thủy quân tới sẽ cùng xuất phát về phía Biện Sơn. Chỉ trong vòng năm ngày, các đạo quân ở các nơi đều kéo về tới Thăng Long cùng dự một cuộc duyệt binh lớn ở bãi sông. Sau đó, Ngô Văn Sở cho tướng Đặng Văn Chân đốc xuất toàn bộ thủy quân đi xuống phía đông cùng quân Sơn Nam rút về Biện Sơn đóng đồn phòng thủ.

-----------------
        1. Biện Sơn là một vùng bờ biển ở giữa Thanh Hóa và Nghệ An, tại đây có một cửa biển, thường gọi là cửa Bạng.

        2. Núi Tam Điệp, thường gọi đèo Ba Dội, là một dãy núi chạy dài ra biển theo đường ranh giới giữa hai tỉnh Ninh Binh và Thanh Hóa.

        3. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí. Bản địch đã dẫn, tr. 340 - 341.

        4. Thời Xuân Thu (Trung Quốc), nước Tấn đem ngựa tốt và ngọc bích dụ nước Ngu cho mượn đường để đánh nước Quắc. Khi Tấn đã mượn được đường, diệt được nước Quắc, liền quay lại diệt nước Ngu, lấy lại cả ngựa và ngọc bích.

        5. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch..., tr. 341 - 342.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #78 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2016, 05:52:45 am »


        Còn luc quân và các tướng lĩnh khác đều tạm lưu lại Thăng Long, chuẩn bị lương thực, chờ đợi tìm hiểu thêm tình hình địch rồi sẽ rút sau. Vừa khi đó, sứ bộ Nguyễn Quí Nha, Nguyễn Đình Khoan cũng từ Nam Quan về tới nơi báo tin quân Thanh đã qua ải Nam Quan vào Lạng Sơn, bộ binh và kỵ binh tiền phong của giặc đã tiến tới vùng Phượng Nhãn1, cách Thăng Long khoảng trên dưới 50 ki-lô-mét.

        Được tin đó, Phan Văn Lân, một tướng Tây Sơn cầm quân ở Thăng Long quyết xin đem một nghìn tinh binh đi giao chiến với giặc. Một nghìn quân nhất định không thể chống chọi được với mấy chục vạn quân xâm lược. Nhưng Ngô Văn Sở đồng ý để Phan Văn Lân xuất trận, nhằm mục đích vừa nắm lấy tình hình quân lực cụ thể của địch, vừa làm chậm bước tiến của địch, khiến lục quân Tây Sơn ở Thăng Long có đủ thì giờ rút lui về Tam Điệp.

        Trong khi quân đội Tây Sơn ở Bắc Hà đang gấp rút chuẩn bị đối phó với quân xâm lược như vậy, thì bọn vua tôi Lê Chiêu Thống, vẫn lẻn lút ở vùng Lạng Sơn, Kinh Bắc, cũng vội vàng tập hợp các lực lượng phản động ở xung quanh, chuẩn bị đi đón và dẫn đường cho quân xâm lược vào đánh chiếm Bắc Hà. Lê Chiêu Thống sai Lê Duy Đản lên tận cửa ải Nam Quan để báo cáo với tướng Thanh Tôn Sĩ Nghị về tình hình trong nước.

        Khi được tin các tướng Tây Sơn đã rút quân khỏi các trấn Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây và Sơn Nam, Lê Chiêu Thống vội sai các tướng của mình đem quân tới đóng ở các trấn ấy. Nguyễn Đạo lĩnh trấn Hải Dương, Hoàng Phùng Tứ lĩnh trấn Sơn Tây, Hoàng Tố Nghĩa lĩnh trấn Sơn Nam và Trần Quang Châu lĩnh trấn Kinh Bắc2. Lê Chiêu Thống giữ riêng một nghìn quân làm túc vệ, cùng đi với Trần Quang Châu về trấn Kinh Bắc.

        Sau khi phân phối người đi đóng giữ bốn trấn, Lê Chiêu Thống lại cho bọn Phạm Đình Dữ, Vũ Trinh lên Hòa Lạc3, báo cáo tình hình với Tôn Sĩ Nghị và mang theo mười con trâu, một trăm vò rượu để làm lễ khao quân xâm lược. Đồng thời Lê Chiêu Thống sức cho dân các xã mấy huyện ở Kinh Bắc, ven đường quân Thanh sắp đi tới, phải sửa soạn nghi lễ đón rước quân xâm lược4.

        Nhưng không phải vì quân Tây Sơn đã rút khỏi miền Lạng Sơn, Kinh Bắc, mà quân Thanh có thể hành quân được dễ dàng nhanh chóng, tuyệt nhiên không gặp một trở ngại nào.

        Lên đường ở Quảng Tây từ ngày 28 tháng Mười năm Mậu Thân mà tới sáng sớm ngày 13 tháng Một năm ấy tức ngày 10 tháng 12 năm 1788, quân Thanh mới tới bờ bắc sông Thương5. Khi ấy toán quân Tây Sơn còn lại đã rút sang bờ nam sông Thương, phá hết cầu và đưa hết thuyền bè đi nơi khác. Một đạo quân Thanh do tổng binh Thượng Duy Thăng và phó tướng Khánh Thành chỉ huy, đã phải tổn thất nặng nề mới bắc được cầu phao qua sông6 dưới làn mưa đạn của quân Tây Sơn, trước khi rút đi hẳn.

        Vượt qua sông Thương, Tôn Sĩ Nghị tới đóng đại bản doanh ở núi Tam Tằng7 và ngày 15  tháng Một Mậu Thân tức ngày 12 tháng 12 năm 1788, một đội tiên phong của quân Thanh do tổng binh Trương Triều Long chỉ huy kéo đến bờ bắc sông Thị Cầu8. Trước đấy Phan Văn Lân cũng đã từ Thăng Long tới Thị Cầu. ở đây, quân Tây Sơn đã chặt hết cầu và đưa hết thuyền bè đi khỏi dòng sông. Đồn Thị Cầu ở bờ nam sông Thị Cầu và bờ nam cao hơn bờ bắc, thuận tiện cho việc dùng hỏa lực khống chế địch sang sông. Phan Văn Lân cho đặt đại bác ở bờ sông, hàng ngày bắn sang phía quân địch. Trong suốt ba ngày 15, 16, 17 âm lịch, quân Thanh không thế nào bắc được cầu phao qua sông, vì đại bác của quân Tây Sơn bắn phá dữ dội9. Nắm chắc tình hình địch không thể sang sông đánh vào đồn Thị Cầu, Phan Văn Lân đem một cánh quân đi ngược lên khúc song Như Nguyệt10 là nơi sông hẹp nước nông, nửa đêm vượt  sông tập kích đại bản doanh Tôn Sĩ Nghị ở núi Tam Tằng. Quân Tây Sơn đã mở nhiều đợt xung phong, nhưng bị hỏa lực rất mạnh của địch từ trong bắn ra chặn lại, không tiến lên được11.

--------------------
       1. Phượng Nhãn là một huyện của tỉnh Hà Bắc ngày nay, ở phía bắc sông Thương.

        2. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch đã dẫn, tr. 341.

        3. Hòa Lạc, thuộc huyện Hữu Lũng, phía nam tỉnh Lạng Sơn ngày nay, phía dưới Chi Lăng.

        4. Ngô gia văn phái, Tài liệu đã dẫn, tr. 344.

        5. Sông Như Nguyệt là một khúc sông Cầu, thuộc địa phận huyện Yên Phong, phía tây Thị Cầu.

        6. Nguyễn Thu, Tài liệu đã dẫn, tờ 42. Việt sử thông giám cương mục, Bản dịch dã dẫn, t. XX, tr. 56.

        7. Núi Tam Tằng ở huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, phía bờ bắc sông Cầu.

        8, 9. Ngụy Nguyên. Thánh vũ ký, q. 6. tờ 35.

        10. Sông Như Nguyệt là một khúc sông Cầu, thuộc địa phận huyện Yên Phong, phía tây Thị Cầu.

        11. Nguyễn Thu, Tài liệu đã dẫn, tờ 42. Việt sử thông giám cương mục, Bản dịch dã dẫn, t. XX, tr. 56.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Chín, 2016, 06:12:07 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #79 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2016, 12:58:31 am »


        Trong khi đó, ở mặt trận Thị Cầu, tình hình vẫn không thuận lợi cho quân Thanh. Ngày 17 âm lịch, Trương Triều Long cũng phải bí mật đem một cánh quân đi ngược dòng sông, bên phía bờ bắc, để tìm một lối sang sông đánh vào đồn Thị Cầu1. Tại bờ bắc sông Thị Cầu, Trương Triều Long chỉ để lại một cánh quân để đối phó với quân Tây Sơn. Khi tới gần khúc sông Như Nguyệt, đêm đã khuya2 quân Trương Triều Long gặp quân Phan Văn Lân đang tiến công vào đại bản doanh Tôn Sĩ Nghị. Trương Triều Long liền cho quân chia làm hai cánh bao vây quân Phan Văn Lân và cho một cánh quân thứ ba vượt sông Như Nguyệt tiến về đánh úp quân Tây Sơn ở đồn Thị Cầu. Như thế là cả hai cánh quân Tây Sơn, ở bờ bắc sông Như Nguyệt cũng như ở bờ nam sông Thị Cầu đều lâm vào thế bị động, đều bị đánh bất ngờ. Quân Trương Triệu Long tuy chia ra làm hai cánh đánh vào cạnh sườn quân Phan Văn Lân, nhưng cũng không bao vây được Phan Văn Lân, không dám cùng quân Phan Văn Lân giáp chiến, phải từ đứng xa tập trung cung tên bắn vào quân Tây Sơn3 ở phía Thị Cầu, quân Tây Sơn bị quân Thanh tập kích đã rút ra khỏi đồn. Bị hỏa lực quân Thanh bắn phá, đồn Thị Cầu bốc cháy. Phan Văn Lân trông thấy doanh trại Thị Cầu bốc lửa, biết không thể giao chiến lâu được nữa, liền thu quân, vượt sông Như Nguyệt, rút về xuôi4.

        Trong khi Phan Văn Lân đánh nhau với quân Thanh ở núi Tam Tằng, thì ở Thăng Long, Ngô Văn Sở cho toàn thể bộ binh, là những đơn vị rút lui sau cùng, lên đường về Tam Điệp. Toàn quân xuất phát vào lúc nửa đêm. Giữa trưa hôm sau5 (có thể là ngày 18 tháng Một Mậu Thân - tác giả chú thích) quân Ngô Văn Sở đi tới Phú Xuyên6, mọi người mới biết quân Tây Sơn đã rút khỏi Thăng Long7. Ngày hôm sau nữa8 (có thể là ngày 19 âm lịch - tác giả chú thích), quân Ngô Văn Sở tới huyện Yên Mô9. Ngày 20 tháng Một Mậu Thân10 tức ngày 17 tháng 12 năm 1788 Ngô Văn Sở đã cho quân đóng thành một chiến tuyến chạy dài suốt từ ven núi Tam Điệp thẳng trên bờ biển Biện Sơn.

        Cả hai đạo quân thủy bộ cùng phối hợp đóng đồn phòng thủ. Cũng ngày hôm ấy, Ngô Văn Sở cho đô đốc Nguyễn Văn Tuyết cấp tốc lên đường vào Phú Xuân báo cáo tình hình11.

        Quân đội Tây Sơn ở Bắc Hà rút lui về Tam Điệp và Biện Sơn không những bảo toàn được lực lượng của mình mà còn có tác dụng khá sâu sắc đến tinh thần chiến đấu, và chiến lược chiến thuật của địch, góp phần quyết định không nhỏ vào chiến thắng sau này.

        Khi Ngô Văn Sở rút quân khỏi Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị vẫn còn đóng quân ở núi Tam Tằng. Được tin ấy, Tôn Sĩ Nghị hống hách quở trách bọn quan nhà Lê dẫn đường:

        "... Sao cứ một mực nhu nhược, để chúng được chạy trốn một cách rảnh rang? Bây giờ đại binh đã đến địa giới nước mình mà các người vẫn tuyệt nhiên không làm nên công trạng gì. Như thế còn gọi là nước có người được chăng?"12.

        Mấy lời xỉ vả bọn quan lại nhà Lê đã cho thấy rất rõ là từ sau mấy thắng lợi nhỏ ở sông Thương, ở Thị Cầu, ở sông Như Nguyệt và sau khi thấy quân đội Tây Sơn rút khỏi Thăng tong, Tôn Sĩ Nghị đã bắt đầu chủ quan khinh địch.

        Khác với Tôn Sĩ Nghị, bọn quan lại nhà Lê biết rõ sức mạnh của quân đội Tây Sơn là như thế nào. Vũ Trinh, một người trong bọn quan lại nhà Lê, đã phải nói thẳng với Tôn Sĩ Nghi rằng:

---------------
        1. Ngụy Nguyên, Tài liệu đã dẫn, tờ 35.

        2. Nguyễn Thu, Tài liệu đã dẫn, tờ 42.

        3, 4. Nguyễn Thu. Tài liệu đã dẫn, tờ 42. Việt sử thông giám cương mục, Bản dịch đã dẫn, t. XX, tr. 56.

        5, 7, 8, 9. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch ..., tr. 343, 358.

        6. Phú Xuyên, một huyện phía nam tỉnh Hà Tây ngày nay.

        10. Yên Mô, một huyện phía nam tỉnh Ninh Bình, giáp giới địa phận tỉnh Thanh Hóa.

        11. Ngô gia văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch ..., tr. 343, 358.

        12. Ngô gia văn phái, Tài liệu đã dẫn, tr. 345.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM