Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Tư, 2020, 04:40:22 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc  (Đọc 22474 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #130 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:14:30 AM »


        Kế hoạch tác chiến của Quang Trung đã được quân đội Tây Sơn thực hiện một cách hoàn hảo, giành thắng lợi rực rỡ. Giữa các hướng và trong từng trận đánh, các đạo quân và binh chủng Tây Sơn đã phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng và hiệp đồng chiến đấu đến mức độ chuẩn xác. Trong điều kiện giao thông và thông tin liên lạc thô sơ thời bấy giờ, đó cũng là một thành tựu xuất sắc không những do sự cố gắng lớn lao của quân đội mà còn chứng tỏ trình độ tính toán khoa học của người chỉ huy.

        Trong những trận quyết chiến trên, quân đội Tây Sơn còn vận dụng linh hoạt nhiều hình thức và thủ đoạn chiến thuật phong phú từ công đồn, tập kích đến truy kích, nghi binh chặn địch, bao vây vu hồi. Cả hai hình thức tác chiến: tiến công trận địa và tiến công vân động đều được Quang Trung sử dụng rất thành công, và hơn thế nữa, còn được kết hợp với nhau rất tài tình.

        Qua chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa, thấy nổi bật lên trong nghệ thuật tổ chức và chỉ huy chiến đấu của Quang Trung, quyết tâm triệt để tiêu diệt địch, tinh thần tiến công chủ động, liên tục, nhanh chóng, mãnh liệt, “Ưu điểm trội nhất của cuộc kháng chiến đời Nguyễn Quang Trung là tiến công nhanh chóng và mãnh liệt” (Trường Chinh, Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1955, tr.6). Đó là nhận xét tổng quát của đồng chí Trường Chinh về nghệ thuật quân sự của Quang Trung.

        Khác với những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trước đây, kháng chiến chống Thanh cuối thế kỷ XVIII là một cuộc “chiến tranh nhân dân phát triển từ phong trào cách mạng nông dân Tây Sơn chống bọn phong kiến thối nát trong nước và chống ngoại xâm” (Võ Nguyên Giáp, Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr.26). Tinh thần chiến đấu của quân đội và vai trò của nhân dân vì thế có những bước phát triển mới và cũng thể hiện tập trung nhất trong những giờ phút thử thách gay go nhất của cuộc kháng chiến: những trận quyết chiến chiến lược.

        Trong năm ngày đêm liền, quân đội Tây Sơn gần như hành quân, chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu liên tục. Nghĩa quân đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu ngoan cường, không biết mệt mỏi. Đặc biệt trong trận Ngọc Hồi, Đống Đa, quân Tây Sơn đã chiến đấu với tác phong dũng mãnh vô song, với khí thế áp đảo quân thù. Chính kẻ thù cũng phải công nhận sức tiến công của quân Tây Sơn “như nước thủy triều dâng lên”. Tinh thần và khí thế đó là kết quả rèn luyện, cổ vũ của phong trào cách mạng nông dân Tây Sơn và sự động viên, bồi dưỡng không ngừng của vị lãnh tụ của họ là Quang Trung. Nó được đúc kết bằng tinh thần quật cường bất khuất của quần chúng nông dân kết hợp với lòng yêu nước tha thiết và ý thức dân tộc sâu sắc. Đó là nguồn sức mạnh tinh thần vô địch của quân đội Tây Sơn.

        Vốn là quân đội của nông dân phát triển lên thành quân đội của dân tộc, quân Tây Sơn luôn luôn chiến đấu trong sự tham gia ủng hộ mạnh mẽ, nhiệt tình của nhân dân. Vai trò của nhân dân ở đây là vai trò tự giác, chủ động định đoạt.

        Trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh, ngọn cờ cứu nước của Tây Sơn trở thành ngọn cờ đại nghĩa của dân tộc. Mọi tầng lớp yêu nước dã thực sự đoàn kết lại dưới lá cờ đó và đóng góp công sức, xương máu tạo nên thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến. ở đây ngoài nông dân là lực lượng dông đảo, giữ vai trò định đoạt, còn có sự tham gia tích cực của những thành phần xã hội khác, trong dó có cả bộ phận yêu nước trong giai cấp phong kiến. Trong bộ chỉ huy quân đội Tây Sơn có một số sĩ phu, quan lại cao cấp của chính quyền Lê - Trịnh trước đây như tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, võ tướng Đặng Tiến Đông... Có người mang ý thức “trung quân” nặng nề như Nguyễn Thiếp, cuối cùng với lòng yêu nước cũng đã tham gia cuộc kháng chiến cứu nước. Nhân dân không những đã tự nguyện cho con em trai tráng gia nhập dội ngũ nghĩa quân mà còn tiếp tế lương thực, phục vụ chiến đấu và có khi trực tiếp tham gia chiến đấu.

        Quân Tây Sơn thực hành quyết chiến vào những ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Nhân dân đã mang lương thực, nhất là các thứ quà Tết như bánh chưng, rượu thịt... tiếp tế cho quân đội. Ngoài những kho lương được chuẩn bị trước, lực lượng hậu cần tại chỗ của nhân nhân giữ vai trò quan trọng bảo đảm cho quân đội Tây Sơn. Có thể vận động nhanh chóng và chiến đấu liên tục. Riêng vùng Ngọc Hồi, nhân dân đã đón tiếp những người anh hùng vừa giải phóng quê hương mình một cách rất nồng nhiệt. Nhân dân bày quà bánh bên đường để khao thưởng quân sĩ và hoan nghênh Quang Trung với tấm biển mang bốn chữ lớn “Hậu lai kỳ tô” (vua đến dân được sống lại). Quang Trung cảm động nhận lấy quà tặng của nhân dân và tặng lại bốn chữ “Hiếu nghĩa khả phong” (tấm lòng chuộng nghĩa đáng khen).

        Nhân dân vùng Hà Hồi, Ngọc Hồi còn đem cả rơm rạ, những tấm ván cửa, ván nằm và tự lấy những tấm ván cửa đình, cửa chùa trong làng ủng hộ nghĩa quân đánh giặc.

        Nhân dân địa phương còn bằng cách này hay cách khác trực tiếp tham gia vào những trận quyết chiến. Khi đạo quân của đại đô đốc Bảo tiến ra tập kết ở Đại Áng, lập tức nhân dân địa phương bao gồm cả thanh niên và cụ già, đã hăng hái xin gia nhập đội ngũ. Dân làng đến nay vẫn ghi nhớ và tự hào về “đội quân đầu bạc” của các cụ già có mặt trong trận Đầm Mực và trong đội ngũ quân Tây Sơn tiến về giải phóng Thăng Long. Đặc biệt, nhân dân 9 xã chung quanh Khương Thượng còn tự chế ra những “con rồng lửa” để lập nên trận hỏa công bao vây đồn trại giặc.

        Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Thanh mà tiêu biểu và quyết định là chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa là một trong những vũ công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, mãi mãi là niềm tự hào của người Việt Nam. Tự hào về sức sống kỳ diệu của một dân tộc anh hùng sáng người lý tưởng Độc lập Tự do. Tự hào về vai trò chủ động và định đoạt của nhân dân ta trong giờ phút hiểm nghèo của lịch sử dù cho chế độ phong kiến suy tàn, giai cấp phong kiến phản bội dân tộc. Tự hào về nghệ thuật quân sự Việt Nam giàu tính độc đáo, sáng tạo, về người anh hùng bách chiến bách thắng, nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ .
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #131 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:15:37 AM »


CHƯƠNG VII

KẾT LUẬN

        Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã liên tục đứng dậy cầm vũ khí đánh giặc ngoại xâm với một tinh thần tự vệ rất mạnh. “Chính là trên cơ sở của tinh thần tự vệ mạnh mẽ đó đã nảy sinh ra cách đánh giặc của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà trong lịch sử nước ta, mỗi khi dân tộc ta đứng dậy chống ngoại xâm là chỉ tiến công chứ không phòng ngự, tiến công để bảo vệ độc lập dân tộc của mình” (Lê Duẩn - Võ Nguyên Giáp - Song Hào, Hãy xứng đáng là thanh niên anh hùng của dân tộc anh hùng,  quân đội anh hùng. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966, tr. 30).

        Đứng trước mọi kẻ xâm lăng, dù đó là những đế quốc khét tiếng hung bạo và có đất rộng người đông hơn ta gấp bội, trước sau chiến lược đánh giặc của tổ tiên ta đều là chiến lược tiến công. Nếu như có lúc nào đó tổ tiên ta chủ trương phòng ngự do so sánh lực lượng ban đầu quá chênh lệch thì cũng chỉ là tạm thời, với mục đích xoay chuyển thế trận và tìm một thế trận có lợi nhằm chuẩn bị điều kiện cho phản công chiến lược. Có thể khẳng định, bắt nguồn từ truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc ta, tư tưởng tiến công đã là tư tưởng chỉ đạo mọi hành động chiến lược, chiến thuật quân sự của tổ tiên ta qua hàng ngàn năm lịch sử.

        Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, tố tiên ta thường thực hành tiến công địch bằng nhiều cách đánh khác nhau, song tựu trung có thể quy thành hai phương thức tác chiến cơ bản: đánh nhỏ, đánh phân tán và đánh lớn, đánh tập trung.

        Điều cần đặc biệt chú ý là, thời nào cũng vậy, tổ tiên ta đều biết kết hợp cả hai phương thức tác chiến nói trên một cách tài tình, cả về chiến lược lẫn chiến thuật, do đó thường đạt được hiệu quả rất cao, dẫn tới thắng lợi oanh liệt. Kết hợp đánh nhỏ, đánh phân tán với đánh lớn, đánh tập trung là nội dung rất cơ bản của nghệ thuật phát động cả nước đánh giặc ở nước ta, nhằm đánh thắng những kẻ địch có đạo quân xâm lược mạnh hơn lực lượng vũ trang tập trung của ta.

        Đánh nhỏ, đánh phân tán du kích là lối đánh rộng rãi của đông đảo nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương như các đội nghĩa binh, dân binh, hương binh, thổ binh... Có thời, nó còn được một bộ phận quân đội chủ lực của triều đình sử dụng trong một số trường hợp nhất định. Và hơn thế, có thời nó lại được đưa lên thành lối đánh chủ yếu có ý nghĩa chiến lược hàng đầu, chẳng hạn như trong cuộc kháng chiến do Triệu Quang Phục lãnh đạo chống quân Lương xâm lược.

        Với hình thức đánh nhỏ, đánh phân tán, dân tộc ta đã phát huy được sức mạnh to lớn của thế trận “cả nước đánh giặc, trăm họ ai cũng là binh”, thực hiện được tiến công địch ở khắp mọi nơi và trong mọi lúc, khiến chúng luôn luôn bị tiêu hao về lực lượng, căng thẳng về tinh thần và khốn đốn về lương thực, tạo nên thế chiến lược có lợi cho ta và làm cho thế chiến lược của địch bị rối loạn. Từ chỗ tập trận lực lượng, địch buộc phải phân tán lực lượng để đối phó với ta một cách bị động, do dó chúng vốn mạnh mà hóa yếu, vốn nhiều mà hóa ít, dễ bộc lộ những nhược điểm và sơ hở, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung lực lượng tổ chức những đòn tiến công quyết định. Bởi vậy, càng mở rộng được hình thức tác chiến phân tán du kích trong đông đảo nhân dân thì ta càng giữ vững được thế tiến công và đánh bại được mọi cuộc phản công của địch. Những trận đánh nhỏ, đánh phân tán tuy ít được sử sách ghi chép, song qua những tài liệu thư tịch hiếm hoi và nhất là qua những sự tích còn lưu truyền trong dân gian, ta vẫn có thế thấy được vị trí chiến lược vô cùng quan trọng của chúng trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta, kể từ cuộc kháng chiến chống quân Tần trước công nguyên cho đến ngày nay.

        Thế nhưng, lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng lại cho thấy: nếu chỉ hạn chế hành động tiến công trong khuôn khổ của hình thức đánh nhỏ, đánh phân tán thì không thể giành được thắng lợi quyết định trong chiến tranh.

        “Vấn đề cơ bản của mọi cuộc chiến tranh là tiêu diệt lực lượng vũ trang của quân địch” (Võ Nguyên Giáp, Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta, Nhà xuất bảo Quân đội nhân đân, Hà Nội, 1973, tr. 80). Để đạt được mục đích cao nhất của chiến tranh tức là giành thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh, cả hai bên đối chiến đều phải tìm mọi cách tiêu diệt các lực lượng vũ trang của đối phương, đè bẹp sức kháng cự của chúng, đặt chúng vào tình thế không thể chiến đấu được nữa và cuối cùng phải từ bỏ ý chí chiến đấu Đó là yêu cầu cao nhất của chiến tranh.

        Tùy theo điều kiện cụ thể và so sánh lực lượng hai bên đối chiến trong từng thời gian và không gian nhất định, có thể có những đòn tiêu diệt ở mức khác nhau: có tiêu diệt nhỏ, tiêu diệt vừa và tiêu diệt lớn; có tiêu diệt chiến thuật, tiêu diệt chiến dịch và tiêu diệt chiến lược. Mỗi mức độ tiêu diệt đều có tầm quan trọng của nó. Nếu biết khéo léo kết hợp các đòn tiêu diệt ở các mức độ khác nhau thì chúng sẽ bổ sung và tạo diều kiện cho nhau phát triển, hình thành một sức tiêu diệt tổng hợp rất lớn.

        Tuy nhiên, nói về ý nghĩa quyết định chiến tranh thì tiêu diệt chiến lược vẫn là quan trọng nhất trong các mức tiêu diệt.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #132 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:15:59 AM »


        Nhiều đòn tiêu diệt chiến thuật được tiến hành liên tục và có hiệu quả vào các mục tiêu, đối tượng quan trọng của địch, lại kết hợp chặt chẽ với mọi hình thức đánh giặc của đông đảo nhân dân (kế “thanh dã” - vườn không nhà trống, phá hoại, đốt lương thảo của địch...) dĩ nhiên có tác động lớn, thậm chí có thời đã tạo nên sự chuyển biến về chất, buộc kẻ địch phải thay đổi chiến lược chiến tranh. Nhưng, rõ ràng nhiều đòn tiêu diệt chiến thuật, dù có hiệu quả lớn đến như thế nào cũng vẫn có mặt hạn chế mặt không triệt để và không thể thay thế được vai trò quyết định chiến tranh của những đòn tiêu diệt chiến lược. Muốn nhanh chóng thay đổi so sánh lực lượng, tạo ra thế chiến lược mới để xoay chuyển cục diện chiến tranh hoặc kết thúc thắng lợi chiến tranh thì phải có sự thay đổi, phát triển nhảy vọt về mức độ đánh tiêu diệt, tức là phải có tiêu diệt chiến lược.

        Đánh nhỏ, đánh phân tán có chỗ mạnh căn bản, vô cùng lợi hại. Đó là lợi thế triển khai lực lượng tại chỗ: ở đâu có địch là ở đấy có người trực tiếp hoặc gián tiếp tham chiến, tạo thành một “thiên la địa võng” đối với địch. Nhưng, lực nào thì thế ấy? Cái lợi thế của đánh nhỏ, đánh phân tán chỉ có thể phát huy mạnh mẽ trong phạm vi cái lực hạn chế của các đơn vị vũ trang nhỏ bé ở từng dịa phương, không thể vượt quá được giới hạn của những trận tiêu hao hoặc tiêu diệt chiến thuật. Vì vậy, đi đôi với việc phát triển rộng khắp hình thức đánh nhỏ, đánh phân tán du kích, tổ tiên ta cũng ngày càng nâng cao nghệ thuật đánh lớn, đánh tập trung bằng các lực lượng vũ trang cơ động tập trung để thực hành những đòn tiêu diệt chiến lược có ý nghĩa quyết định chiến tranh.

        Trong thời kỳ phong kiến độc lập trước đây, nhưng kẻ đến xâm lược nước ta vốn đều là những đế chế phồn thịnh có đất rộng người đông hơn ta gấp bội và đế chế nào cũng từng nhiều lần đem quân thôn tính các nước xung quanh. Với tham vọng vô độ, chúng xâm lược nước ta chẳng những nhằm bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, khai thác tài nguyên... mà còn muốn biến nước ta thành một đầu cầu chiến lược để bành trướng ra khắp vùng Đông Nam á, từ biển cả tiến sâu vào đại lục hoặc từ đất liền tỏa ra các vùng hải đảo. Về tiềm lực kinh tế và quân sự, chúng có khả năng huy động những đạo quân xâm lược lớn hàng chục vạn. Tiếp viện một lần không đủ, chúng có thể tiếp viện tới năm - bảy lần (nhà Minh); xâm lược một lần thất bại, chúng có thể tiếp tục xâm lược tới hai - ba lần (nhà Tống, nhà Nguyên). Về nghệ thuật quân sự, chúng phần lớn đều có kinh nghiệm tác chiến trong chiến tranh xâm lược. Đặc biệt, quân Mông - Nguyên thì nổi tiếng thiện chiến, giỏi dùng kỵ binh, có sức cơ động mãnh liệt và rất giỏi đánh vu hồi lớn ngoài đồng nội; quân Minh thì thông thạo công thành, giữ thành...Và, bất cứ đạo quân nào sang xâm lược nước ta cũng đều được chuẩn bị rất kỹ về mọi mặt.

        Với tất cả những tham vọng và khả năng như thế, các tập đoàn phong kiến xâm lược nước ta tất nhiên không dễ dàng từ bỏ quyết tâm xâm lược của chúng, nếu không bị đối phương giáng cho những đòn chí tử.

        Đó là một đặc điểm nổi bật về kẻ thù trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Nó giúp ta hiểu thêm được vì sao trong một số cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, do điều kiện cụ thể phải bắt đầu từ đánh nhỏ, tổ tiên ta đã không dừng lại mà vẫn tích cực phát triển lên thành đánh vừa, đánh lớn, dù gặp rất nhiều khó khăn trở ngại.

        Trong cuộc kháng chiến chống quân Lương, sau “ba, bốn năm không hề đối diện chiến đấu, chỉ đột xuất ra đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày, làm cho quân giặc mệt mỏi”, các nghĩa quân cho Triệu Quang Phục lãnh đạo đã lợi dụng thời cơ nội bộ địch có loạn, quyết tâm tập trung lực lượng kéo về giáng đòn quyết định ở vùng Long Tiên (Bắc Ninh ngày nay), nhờ đó đã giải phóng được đất nước khỏi ách đô hộ của nhà Lương.

        Trong cuộc chiến tranh giải phóng chống quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn khởi đầu chỉ là một đội quân nhỏ bé, hoạt động theo lối đánh nhỏ, đánh phân tán, nhưng rồi dần dần cũng tiến lên thành một đạo quân đông mạnh, có cả bộ binh, kỵ binh, Tượng binh, thủy binh, đánh theo lối tập trung, tiêu diệt hàng vạn địch. Cuối cùng, vào năm cuối của cuộc chiến tranh đã phát triển thành một lực lượng hùng hậu đủ sức đánh tập trung quy mô lớn, diệt hàng chục vạn địch. Rõ ràng, phải không ngừng đẩy quy mô tác chiến ngày càng phát triển lên thì nghĩa quân Lam Sơn mới thúc đẩy được cuộc kháng chiến phát triển từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, và cuối cùng giành được thắng lợi hoàn toàn.

        Đưa đánh phân tán, du kích lên đánh tập trung và kết hợp đánh tập trung với đánh phân tán, du kích là một truyền thống đánh giặc vô cùng sáng tạo, một nội dung quan trọng trong nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta. Vì thế, đi đôi với vô vàn trận đánh nhỏ lẻ phân tán, rỉ rả như “kiến soi đê”, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta thời nào cũng xuất hiện những trận đánh tập trung, những trận đánh lớn nhanh - mạnh như “sấm ran chớp giật”, những trận “sạch sanh kình ngạc, tan tác chim muông”, những trận quyết chiến lừng danh như Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chương Dương, Vạn Kiếp, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang, Rạch Gầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi - Đống Đa... mà ngày nay mỗi lần nhắc đến chúng ta đều xiết bao tự hào, phấn chấn.

        Nếu như những trận đánh phân tán du kích, những đòn tiêu hao tiêu diệt nhỏ là những miếng võ “thiên biến vạn hóa” làm cho địch phân tán, tiêu hao, sa lầy, mệt mỏi và ngày càng suy yếu thì những trận quyết chiến chiến lược chính là những quả đấm “thôi sơn” giáng vào chỗ hiểm khiến địch không sao chịu nổi, đi đến tan rã hoàn toàn hoặc ít nhất cũng bị sa sút nghiêm trọng về ý chí xâm lược.

        Rõ ràng, quyết chiến chiến lược là yêu cầu tất yếu của phản công và tiến công chiến lược, vì có tiến hành quyết chiến chiến lược mới tiêu diệt được những lực lượng nòng cốt của địch và giành được thắng lợi quyết định, triệt để trong chiến tranh. Sự xuất hiện những trận quyết chiến chiến lược nổi tiếng trong lịch sử nước ta vừa phản ánh quy luật tiến hành chiến tranh nói chung đồng thời lại vừa nói lên đặc điểm của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nói riêng trên đất nước ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #133 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:16:45 AM »


*

*        *

        Tiến hành quyết chiến chiến lược là để thực hiện tiêu diệt chiến lược. Muốn có tiêu diệt chiến lược thì phải tổ chức các trận đánh lớn có tính chất quyết chiến.

        Qua một số binh thư cổ hoặc tài liệu hiện còn, chúng ta chưa tìm thấy những điều quy định và giải thích rõ ràng về khái niệm trận. Trận có thể là cuộc giao chiến nhỏ dăm bảy chục người, vài ba trăm người và cũng có thể là cuộc giao chiến lớn mà mỗi bên tham chiến huy động tới hàng vạn hoặc hàng chục vạn người. Những trận giao chiến lớn như Bạch Đằng, Chi Lăng - Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa thường bao gồm nhiều trận giao chiến nhỏ, hoặc cùng lúc diễn ra trong một vài ngày hoặc liên  tục diễn ra trong hàng tháng. Thời Lý, trận phòng ngự trên tuyến sông Cầu thực tế đã diễn ra suốt từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến bao gồm nhiều trận mà kết thúc là trận phản công Như Nguyệt vào cuối mùa xuân 1077.

        Như vậy, những trận lớn trong lịch sử dân tộc ta trước đây thường có dáng dấp của hiện tượng mà ngày nay ta gọi là chiến dịch, mặc dầu tổ tiên ta hẳn không có những quan niệm giống như chúng ta ngày nay.

        Về mục tiêu của những trận đánh lớn, chúng ta cũng chưa được sử sách hiện còn giải đáp một cách cụ thể. Tuy nhiên, thông qua những sử liệu ít ỏi và nhất là kết quả của các chiến thắng lịch sử, chúng ta cũng có thể rút ra được một vài nhận xét:

        Trước hết, điểm nổi bật ai cũng có thể thấy là: những chiến thắng lịch sử của dân tộc ta đều đánh quỵ hoặc tiêu diệt được từng mảng lực lượng địch, thường từ hàng vạn trở lên, trong một thời gian ngắn hoặc tương đối ngắn.

        Trận phản công Như Nguyệt đã giáng đòn nặng vào hai tập đoàn chiến lược dưới quyền chánh tướng và phó tướng Tống. Riêng trận tập kích lớn ban đêm do Lý Thường Kiệt đích thân chỉ huy đã đánh rã đạo quân của phó tướng Triệu Tiết và “giết tới năm - sáu phần mười”.

        Trận Chương Dương - Thăng Long đã đánh thẳng vào tập đoàn chiến lược chủ yếu của Thoát Hoan và làm cho nó bị thiệt hại nặng. Trận Tây Kết tiêu diệt 8 vạn quân của Toa Đô, trận Vạn Kiếp tiêu diệt và đánh tan tác đại quân của Thoát Hoan trên đường rút chạy. Còn trận Bạch Đằng thì lại cho xuống thủy cung toàn bộ đạo quân thủy 6 vạn tên của Ô Mã Nhi.

        Trong cuộc chiến tranh giải phóng chống quân Minh, nếu như trận Tốt Động - Chúc Động tiêu diệt được 6 vạn trong đạo quân 10 vạn của Vương Thông thì sau đó trận Chi Lăng - Xương Giang lại tiêu diệt được toàn bộ đạo quân viện hàng chục vạn tên của Liễu Thăng.

        Đặc biệt, trận Rạch Gầm - Xoài Mút của Nguyễn Huệ đã tiêu diệt toàn bộ đạo quân Xiêm xâm lược gồm 5 vạn tên, và trận Ngọc Hồi - Đống Đa lại tiêu diệt gần như toàn bộ đạo quân chủ yếu của Tôn Sĩ Nghị, đông tới hàng chục vạn tên.

        Các lực lượng địch bị tiêu diệt đều là những tập đoàn chiến lược lớn, những đạo quân “chủ bài” mà kẻ địch xâm lược thường sử dụng để thực hiện các ý đồ chiến lược lớn, các đòn quyết định trong chiến tranh. Mỗi trận tiêu diệt thường chỉ diễn ra gọn ghẽ trong vài ngày đêm (Như Nguyệt, Bạch Đằng, Tốt Động - Chúc Động, Rạch Gầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi - Đống Đa), hoặc nhiều lắm cũng chỉ kéo dài trong vòng chưa đầy một tháng (Chi Lăng – Xương Giang).

        Từ nhận xét trên, chúng ta có thể đi tới nhận xét thứ hai: do đánh quỵ hoặc tiêu diệt được các tập đoàn chiến lược, tức là các công cụ chủ yếu để thực hiện ý đồ chiến lược, nên các chiến thắng lớn của tổ tiên ta cũng đồng thời đạt được mục tiêu là đánh bại các ý đồ chiến lược của địch cùng với mọi thủ đoạn tác chiến phục vụ cho các ý đồ chiến lược đó.

        Bị nếm đòn phản công Như Nguyệt sau hơn hai tháng bị tiêu hao, mệt mỏi và “tiến thoái đều khó”, chánh tướng Quách Quỳ nhà Tống dù có vô cùng cay cú cũng chẳng còn đủ khả năng thực hiện nổi ý đồ tiến công xuống Thăng Long mà y vẫn hằng mong muốn.

        Trong cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai, chủ tướng quân Mông - Nguyên là Thoát Hoan sở dĩ phải cay đắng từ bỏ âm mưu chiếm đóng lâu dài kinh thành Thăng Long và hốt hoảng thu quân chạy sang Kinh Bắc chính là vì tập đoàn chiến lược chủ yếu của hắn đã bị cô lập và bị quật một đòn chí mạng ở Chương Dương - Thăng Long, nguy cơ tan rã toàn bộ đã hiện ra trước mắt. Còn trong cuộc xâm lược trước ta lần thứ ba, sau khi đã buộc phải tính kế bỏ chạy về nước, thì niềm hy vọng cuối cùng của Thoát Hoan là “bảo toàn lực lượng chờ thời cơ lại sang trả thù” cũng bị tiêu tan bởi trận mai phục lớn trên sông Bạch Đằng và những trận phục kích trên hướng Nội Bàng.

        Trận Tốt Động - Chúc Động đã bóp bẹp cả một kế hoạch phản công chiến lược đại quy mô của tổng binh Vương Thông. Sau đó, trận Chi Lăng - Xương Giang lại hoàn toàn đập tan kế hoạch tăng viện để phản công của nhà Minh. Đạo cô quân của Vương Thông ở Đông Quan, Cổ Lộng, Tây Đô... đành tuyệt vọng xin “giảng hòa” và lủi thủi kéo nhau về nước vì hắn có chờ đến mỏi mắt cũng chẳng hội sư được với hai đạo quân cứu viện của Liễu Thăng và Mộc Thạnh đã bị ta tiêu diệt và đánh cho tan tác.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #134 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:17:05 AM »


        Khi đem đại quân tiến công lên Mỹ Tho, bọn tướng soái quân Xiêm và quân Nguyễn Ánh dự tính sẽ đánh tan quân Tây Sơn và hoàn thành xâm chiếm toàn bộ đất Gia Định. Thế nhưng, Nguyễn Huệ chỉ mở một trận Rạch Gầm – Xoài Mút là mọi dự tính của chúng đều biến thành mây khói.

        Tạm thời chiếm được kinh thành Thăng Long, tổng đốc nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị cũng mưu đồ cho quân nghỉ ngơi ăn Tết và chuẩn bị lực lượng để tới mồng 6 tháng giêng sẽ tiếp tục mở đợt tiến công chiến lược mới, thu phục nốt Thanh - Nghệ và đất Đàng Trong. Thế nhưng, cũng chỉ một trận Ngọc Hồi - Đống Đa của vị tướng thiên tài Nguyễn Huệ là đủ chôn vùi mọi mưu đồ của Tôn Sĩ Nghị xuống tận đất đen.

        Chúng ta đều biết, các lực lượng vũ trang, ý đồ và kế hoạch chiến lược cũng như thủ đoạn tác chiến... là phương tiện tiến hành chiến tranh. Khi các tập đoàn chiến lược, các đạo quân lớn đã bị đánh quỵ hoặc bị tiêu diệt, các ý đồ và kế hoạch chiến lược, các thủ đoạn tác chiến đã bị đánh bại - nghĩa là nói chung các phương tiện chủ yếu để tiến hành chiến tranh xâm lược đã bị thủ tiêu - thì ý chí và quyết tâm xâm lược cũng không còn cơ sở để tồn tại. Cho nên, trong khi tiến hành thắng lợi các đòn tiêu diệt chiến lược thực hiện được các mục tiêu đã nói ở trên thì tổ tiên ta cũng đạt được mục tiêu cơ bản của chiến tranh chống ngoại xâm là đánh bại ý chí xâm lược của địch, làm cho ý chí xâm lược của chúng bị sa sút nghiêm trọng hoặc buộc chúng phải từ bỏ hoàn toàn quyết tâm xâm lược nước ta.

        Tùy theo mức độ mục tiêu đã đạt, những trận quyết chiến có thể đưa lại những hiệu quả khác nhau. Nhưng nhìn chung đó đều là những hiệu quả chiến lược lớn, thực sự làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, đưa đến những bước phát triển nhảy vọt, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh.

        Có trận thì tạo ra được bước ngoặt quyết định để từ đó tiến lên giành những thắng lợi mới, dẫn đến kết thúc chiến tranh. Đây là trường hợp của trận Tốt Động – Chúc Động. Giá trị quyết định của trận đánh này là ở chỗ nó đã dồn đạo quân xâm lược của Vương Thông vào thế phòng ngự chiến lược, phải hoàn toàn co về cố thủ trong một số thành lũy chơ vơ, còn nghĩa quân Lam Sơn thì giành được cả một vùng giải phóng rộng lớn bao la, do đó có đủ điều kiện tăng cường lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt để đánh trận tiêu diệt Chi Lăng - Xương Giang, đem lại “nền thái bình muôn thuở” cho đất nước.

        Có trận thì làm cho địch bị thua thiệt nặng đến mức cân cân lực lượng nghiêng hẳn về phía quân ta, khiến địch dù có ngoan cố cũng chẳng còn đủ khả năng vật chất và tinh thần để tiếp tục chiến tranh, do đó buộc phải từ bỏ quyết tâm xâm lược. Đây là trường hợp của các trận Như Nguyệt, Chi Lăng - Xương Giang, Rạch Gầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi - Đống Đa, v.v. - Những trận lớn có giá trị kết thúc thắng lợi chiến tranh.

        Đặc biệt, có trường hợp tuy chiến tranh về căn bản đã được giải quyết, cụ thể là kẻ địch đã cho quân rút chạy về biên giới, nhưng tổ tiên ta vẫn lợi dụng thời cơ địch đang bối rối, tiếp tục mở trận quyết chiến để đánh tan rã hoàn toàn đạo quân thất trận. Trong lịch sử trường hợp này đã từng xảy ra trong hai cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên, một kẻ địch rất mạnh do đó cũng rất ngoan cố. Phải có những trận như Vạn Kiếp (kháng chiến lần thứ hai) và Bạch Đằng (kháng chiến lần thứ ba) mới đập tan được ý chí xâm lược của chúng, khiến chúng không còn nghĩ đến chuyện trở lại xâm lược nước ta được nữa.

        Tất cả những điều nói về mục tiêu và hiệu quả của những trận đánh lớn kể trên đã toát lên ý nghĩa quyết định của chúng đối với toàn cuộc chiến tranh. Và, một khi mục tiêu giao chiến đã có ý nghĩa quyết định - nghĩa là đã đặt ra khả năng thắng hay bại, được hay mất trong chiến tranh - thì dù muốn hay không muốn, dù chủ động hay bị động, cả hai bên dối chiến đều phải dốc sức và tìm mọi cách để hạ bằng được đối phương, nhằm giành phần thắng cho mình. Đó là lý do của những trận quyết chiến chiến lược.

        Quy mô trận quyết chiến càng lớn, mục tiêu quyết chiến càng có ý nghĩa chiến lược sâu xa thì những vấn đề cần được giải quyết càng nhiều và càng gay go phức tạp. Nó đòi hỏi ở người chỉ huy trận đánh phải có nhãn quan chiến lược sâu rộng, nghệ thuật thực hành quyết chiến tài giỏi, đồng thời lại có quyền lực điều động, sử dụng lực lượng ở mức cao nhất. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà các vị tướng thiên tài trong lịch sử dân tộc ta thường kiên quyết tập trung tâm sức và giành bộ phận lực lượng quan trọng nhất cho trận quyết chiến chiến lược. Và, cũng không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các vị tổng chỉ huy nổi tiếng như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trân Hưng Đạo, Quang Trung... đều thân chiến trực tiếp chỉ huy các trận quyết chiến chiến lược - kể từ khi chuẩn bị kế hoạch đến khi kết thúc thắng lợi.

        Với ý nghĩa quyết định chiến tranh của nó, quyết chiến chiến lược của cuộc đấu tranh một mất một còn trên chiến trường, là sự thử thách lớn lao nhất về mọi mặt - cả về quyết tâm lẫn tài thao lược, cả về tinh thần lẫn vật chất - giữa hai bên đối chiến. Cũng với ý nghĩa đó, có thể xem quyết chiến chiến lược như một điểm hội tụ mà mọi tinh lực chủ yếu cũng như mọi tình huống chủ yếu của chiến tranh đều tập trung ở đấy và tạo nên một ảnh hưởng cô đọng nhất, một tác động mạnh nhất đối với toàn cuộc. Chiến tranh có thể nhanh chóng kết thúc bằng một trận quyết chiến và cũng có thể phải giành thắng lợi từng bước bằng nhiều trận rồi mới di tới một trận quyết chiến quyết định. Chỉ cần mở một trận hay phải đánh nhiều trận, đó là do so sánh lực lượng cụ thể giữa hai bên đối chiến.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #135 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:18:11 AM »


*

*       *

        Mỗi trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc ta đều diễn ra trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định nên có những đặc điểm riêng biệt, không trận nào giống với trận nào. Dù vậy chúng vẫn có những biểu hiện tập trung nhất của một nền nghệ thuật quân sự được sáng tạo nên bởi một dân tộc đất không rộng, người không đông, quân không nhiều mà lại phải thường xuyên đương đầu với những kẻ thù xâm lược có đất rộng, người đông, quân nhiều hơn mình gấp bội.

        Như các tướng lĩnh thiên tài của dân tộc ta đã tổng kết, đó là một nền nghệ thuật quân sự có nội dung vô cùng phong phú và độc đáo, đặc biệt nổi bật lên hai điểm cơ bản:

        - Một là phát động “cả nước chung sức đánh giặc, toàn dân ai cũng là binh”,

        - Hai là “lấy đoản chế trường, lấy yếu trị mạnh, lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn”.

        Hai điểm cơ bản nói trên là điều kiện đồng thời cũng là quy luật tiến hành chiến tranh chống xâm lược của tổ tiên ta, được quán triệt sâu sắc trong các vấn đề chỉ đạo chiến tranh, trong nghệ thuật chiến lược cũng nh¬ trong nghệ thuật chiến dịch, chiến đấu. Những trận quyết chiến chiến lược nổi tiếng dù diễn biến nhiều hình nhiều vẻ cũng không ra ngoài những quy luật dó.

        Tìm hiểu nghệ thuật quyết chiến chiến lược của tổ tiên ta trước hết không thể không tìm hiểu nghệ thuật chọn hướng quyết chiến, nghĩa là chọn hướng công kích chủ yếu của tiến công hoặc phản công chiến lược. Vì quy định hướng tiến công chủ yếu tức là quyết định trước tính chất các cuộc hành binh trong suốt thời gian chiến tranh, do đó là quyết định tới 9 phần 10 vận mệnh của toàn cuộc chiến tranh (Xta-lin, Chiến lược và sách lược chính trị của những người cộng sản Nga, trong cuốn Trích luận văn quân sự của Mác - Ăng-ghen - Lê-nin - Xta-lin, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964. tr. 127). Trong thế trận chiến lược chung, hướng quyết chiến chiến lược là nơi quan trọng nhất. Bởi vậy, chọn hướng quyết chiến dúng chẳng những có khả năng tạo ra được so sánh lực lượng có lợi để giành chiến thắng  quyết định ở khu vực quyết chiến mà còn tạo ra sức chấn động lớn, làm rung chuyển toàn bộ và thay đổi cục diện chiến tranh.

        Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trước đây, mỗi vị tướng đều có cách chọn hướng quyết chiến và đối tượng quyết chiến khác nhau, tùy theo tình hình so sánh lực lượng hai bên đối chiến. Lý Thường Kiệt và Nguyễn Huệ công kích ngay vào hướng tiến công chủ yếu của địch, vào đạo quân chủ yếu và bộ thống soái của địch. Trần Hưng Đạo và Lê Lợi - Nguyễn Trãi thì lại công kích vào hướng địch yếu trước, đạo quân yếu trước rồi mới đến đạo quân mạnh nhất của địch. Tuy nhiên, với tư tưởng chỉ đạo tác chiến “lấy ít đánh nhau, lấy yếu trị mạnh, lấy nhỏ thắng lớn”, nhìn chung các nhà chiến lược thiên tài của ta đều lợi dụng chỗ yếu, chỗ sơ hở và nhằm chỗ hiểm yếu của các lực lượng vũ trang xâm lược để tiến công, và từ đó làm cho cái mạnh của chúng nhanh chóng yếu đi để tiêu diệt toàn bộ.

        Nguyễn Trãi từng nói: “Tránh chỗ mạnh, lợi dụng chỗ yếu”; “tránh chỗ thực, đánh chỗ hư (sơ hở)”; “Đi (tiến công) ngàn dặm mà không mệt, ấy là đi vào chỗ không người”. Sách Binh thư yếu lược cũng ghi: “Bỏ chỗ thực, đánh chỗ hư, đó là các diện của việc binh. Thực là nơi nhóm họp binh lương, đánh vào chỗ thực thì việc càng khó. Người giỏi dùng binh bỏ chỗ thực mà đánh chỗ hư. Chỗ hư ấy là chỗ  thực của ta, trên dưới chấn động, dầu có bậc trí giả cũng không mưu tính gì được”. Đó là những kết luận có tính chất nguyên tắc được tổ tiên ta rút ra từ thực tiễn đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.

        Xuất phát từ nguyên tắc nói trên, hướng quyết chiến được tổ tiên ta chọn lựa thường là nơi có diều kiện tạo ra thế mạnh áp đảo, để nếu xảy ra giao chiến thì địch chỉ có  thua. Đó là nơi ta có thể triệt dể phát huy chỗ mạnh của ta, đồng thời kiềm chế và phá được chỗ mạnh của địch, làm cho cái lực có hạn của ta có thể đánh thắng cái lực lớn hơn của địch. Tổ tiên ta thường tránh tiến công vào các thành lũy, nơi địch phòng thủ kiên cố, mà thường “đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận” (Binh thư yếu lược), ở những nơi ta có điều kiện dựa được vào dân và lợi dụng được địa hình, thời tiết thuận lợi để dễ dàng triển khai lực lượng và phát huy được mọi cách đánh sở trường của ta, còn địch thì bị hạn chế về mọi mặt và không thi thố được các cách đánh sở trường của chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #136 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:18:31 AM »


        Trong cả hai cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên, Trần Hưng Đạo đều đánh vào hai đạo quân địch rút chạy về nước. Nếu như trong cuộc kháng chiến thứ hai, ông bố trí đánh địch ở Vạn Kiếp nơi đạo quân chính của Thoát Hoan rút qua, thì trong cuộc kháng chiến thứ ba, ông lại đánh vào cánh quân thủy của địch ở Bạch Đằng rồi mới đánh vào cánh quân chính rút qua Nội Bàng. Đó là vì thế và lực địch trong mỗi cuộc rút chạy có chỗ khác nhau. Trong cuộc xâm lược thứ hai, trước khi rút chạy, kẻ địch đã bị suy yếu, kiệt quệ sau một loạt đòn nặng ở Hàm Tứ, Chương Dương, Tây Kết. Đến cuộc xâm lược thứ ba, ngoài trận Vân Đồn, chúng vẫn chưa bị trận đánh nào lớn nên lực lượng căn bản chưa bị hao tổn nhiều, chúng phải rút chạy chủ yếu là do bị triệt hết nguồn lương và sợ bị tiêu diệt toàn bộ. Bởi vậy, chọn nơi địa hình hiểm yếu để tập trung đánh vào cánh quân thuỷ, bộ phận yếu hơn và không thiện chiến bằng cánh quân kỵ và quân bộ, là một chủ trương hoàn toàn chính xác của Trần Hưng Đạo.

        Một trong những nguyên nhân thành công của trận Tốt Động - Chúc Động là nghĩa quân Lam Sơn đã chọn dúng hướng tiến công chiến lược ra miền Bắc, nơi có vị trí trọng yếu và cũng là nơi địch đã bị suy yếu phải co về phòng ngự chiến lược sau các trận Tân Bình, Thuận Hóa, Nghệ An. ở đây, nghĩa quân đã có cơ sở vô cùng thuận lợi là khí thế nổi dậy mạnh mẽ của nhân dân miền Bắc. Hành động tiến công của nghĩa quân về hướng này buộc quân Minh phải có phản ứng quy mô lớn và rốt cuộc đã sa vào thế trận hiểm hóc mà ta đã bố trí sẵn với đủ mọi yếu tố nhân hòa, địa lợi, thiên thời.

        Tránh chỗ mạnh mà đánh chỗ yếu, tránh chỗ thực mà đánh chỗ hư, tránh đánh thành mà đánh quân viện, dùng ít sức mà giành thắng lợi lớn là khuynh hướng cơ bản trong cách dùng binh của tổ tiên ta. Tuy nhiên, khi cần thiết và có điều kiện, tổ tiên ta cũng kiên quyết đánh vào chỗ mạnh, chỗ “thực” của địch, trực tiếp công hạ thành của chúng, kết hợp việc đánh vào chỗ yếu của địch một cách phổ biến với việc đánh vào chỗ mạnh, chỗ thực một cách có trọng điểm.

        Trận quyết chiến Ngọc Hồi - Đống Đa được Nguyễn Huệ thực hiện trên hướng tiến công chủ yếu, đánh vào ngay đạo quân mạnh nhất của địch. Trong khi 4 đạo quân của các đô đốc Bảo, Đông, Tuyết, Lộc đi vòng theo bai hướng đông- tây vào cạnh sườn và sau lưng đội hình chiến lược của quân Thanh, bất ngờ tiến công vào nơi sơ hở và hiểm yếu của địch thì đạo quân do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy đánh thẳng vào đồn Ngọc Hồi, khu vực phòng thủ vừng chắc của địch, thu hút sự chú ý của Tôn Sĩ Nghị vào hướng đó, tạo điều kiện cho đạo quân của đô dốc Đông nhanh chóng thọc sâu vào đại bản doanh của địch ở Đống Đa và thành Thăng Long, đánh đòn quyết định. Đó là do quân Tây Sơn tuy kém đối phương về số lượng song lại hơn chúng về nhiều mặt cả về tinh thần - quyết tâm lẫn chiến thuật - kỹ thuật, đặc biệt là có trình độ tác chiến công thành cao và nghệ thuật chỉ huy tuyệt diệu. Với hướng tấn công chính xác, Nguyễn Huệ dã tận dụng được mọi yếu tố thuận lợi của mình, khoét sâu những chỗ yếu, chỗ sơ hở và hạn chế được những chỗ mạnh của địch để tạo nên một thế trận chiến lược có sức tiến công mãnh liệt, kết hợp chặt chẽ giữa đột phá chính diện với bao vây vu hồi lớn một thế trận áp đảo đối phương rõ rệt, khiến chúng không sao chịu đựng nổi và đi đến nhanh chóng tan vỡ.

        Từ đó, chúng ta có thể thấy thêm một điều: hướng quyết chiến đúng không những là nơi ta có điều kiện tạo thế mạnh áp đảo đối phương mà còn là nơi dễ gây ra nao núng và rối loạn cho đối phương trên toàn cuộc, là cái huyệt hiểm mà mỗi đòn của ta giáng xuống đều có khả năng làm cho toàn thân đối phương tê hệt và ngã quỵ.

        Theo quan niệm của tổ tiên ta, huyệt hiểm thường là những đạo quân tinh nhuệ và quan trọng của địch - những đội “tiên phong” mà ta cần “đập gãy tiên phong”, để từ đó gây ra sự kinh hoàng, khiếp sợ trong toàn quân dịch và dẫn chúng đến thất bại toàn bộ. Lý Thường Kiệt đánh bại đạo quân Quách Quỳ trên phòng tuyến sông Cầu nên cánh quân thủy của giặc chưa kéo vào đất nước ta đã phải rút chạy. Lê Lợi - Nguyễn Trãi “đập gãy tiên phong” địch ở Chi Lăng rồi tiêu diệt cánh quân viện chủ yếu của địch ở Xương Giang nên đã buộc địch phải chấp nhận thất bại, tuy chúng vẫn còn trong tay hàng chục vạn quân. Và chỉ bằng một trận quyết chiến Ngọc Hồi - Đống Đa, Nguyễn Huệ đã kết thúc toàn bộ cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược một cách giòn giã, gọn gàng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #137 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:18:52 AM »


        Đó là nói về huyệt hiểm của địch trong thế trận chiến lược nói chung. Còn trong phạm vi chiến dịch, huyệt hiểm thường là các bộ thống soái, các đầu não chỉ huy của địch mà ta cần bất ngờ công kích và tiêu diệt. Lý Thường Kiệt mở trận tập kích lớn ban đêm vào trại quân Triệu Tiết ở Như Nguyệt, Trần Hưng Đạo cho quân tinh nhuệ đánh thẳng vào đại bản doanh của Thoát Hoan trong trận Chương Dương - Thăng Long, nghĩa quân Lam Sơn phục kích tiêu diệt trúng viên tổng binh Liễu Thăng, Nguyễn Huệ cho một cánh quân bí mật vu hồi, thọc sâu vào Đống Đa và đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị..., tất cả những đòn bất ngờ sấm sét đó dã làm cho kẻ địch dù đông song như rắn dã giập đầu, không thể không lâm vào thế rối loạn, không thể không mất khả năng ứng phó một cách có tổ chức, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho ta tiêu diệt đại quân của chúng và nhanh chóng giành được thắng lợi trên toàn cuộc.

        Nếu vấn đề chọn hướng quyết chiến có quan hệ đến thắng bại của chiến tranh thì vấn đề chọn thời cơ quyết chiến cũng có ý nghĩa quan trọng không kém.

        Trong chiến tranh, thời và thế có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Như Hồ Chủ tịch từng nói trong bài thơ “Đánh cờ”: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công”, mở trận đúng thời cơ có thể tạo nên thế mạnh gấp nhiều lần so với số lượng ta có, còn mở trận quá sớm hoặc quá muộn thì cục diện có thể trở nên khác hẳn. Hai Bà Trưng bị thất bại vì đã dốc lực lượng còn non trẻ của mình ra quyết chiến ngay từ đầu với một kẻ địch thiện chiến. Nguyễn Huệ thành công lớn trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa là do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân quan trọng là đánh đúng thời cơ, vì nếu để chậm lại một vài tuần sau lễ khai hạ thì chưa chắc đã đánh thắng nhanh, có khi phải kéo dài và gây ra thiệt hại. Cho nên Nguyễn Trãi mới nói: “được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế thì mạnh hóa ra yếu yếu lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay mà thôi”.

        Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trước đây, những trận quyết chiến chiến lược thắng lợi rực rỡ thường xuất hiện vào thời điểm nào?

        Có thể sớm hoặc muộn so với lúc bắt dầu chiến tranh, song đều xuất hiện vào thời kỳ tiến công và phản công chiến lược, nghĩa là vào lúc so sánh lực lượng đã có chiều hướng nghiêng về phía ta hoặc đã ngả hẳn về phía ta. Có thể đó là lúc địch còn mạnh như bộc lộ nhiều chủ quan, sơ hở. Cũng có thể đó là lúc địch đang lúng túng khó khăn, trên đà suy yếu hoặc đã suy yếu rõ rệt, thậm chí đã mưu toan tháo chạy, còn ta thì cả thế lẫn lực đều đang ở thế đi lên. Chẳng hạn, Lý Thường Kiệt kết thúc được chiến tranh trong vòng hai tháng bằng trận phản công Như Nguyệt là do so sánh lực lượng giữa hai bên đối chiến không cliên h lệch nhau lắm: quân dân thời Lý “có thế lực mạnh” (Lời di chúc của Trần Hưng Đạo) còn nhà Tống thì vừa đánh nước ta vừa phải lo đối phó với các nước Liêu, Hạ, Kim ở phương bắc, hơn nữa nội bộ triều đình Tống lại đang có nhiều mâu thuẫn gay gắt. Trần Hưng Đạo thường phải thực hành quyết chiến chậm hơn Lý Thường Kiệt vì đối tượng chiến tranh là quân Mông - Nguyên mạnh hơn quân Tống về nhiều mặt, đến thời Tây Sơn, Nguyễn Huệ lại mở trận Ngọc Hồi - Đống Đa sau khi quân Thanh mới vào xâm lược nước ta hai tháng. Đó là do nhiều yếu tố, đặc biệt nổi bật lên yếu tố tinh thần chiến đấu và nghệ thuật tác chiến cao của quân Tây Sơn cũng như yếu tố chủ quan, sơ hở của quân Thanh xâm lược.

        Nhìn chung, trong các cuộc chiến tranh giữ nước, các nhà chiến lược quân sự của ta đều thường tránh thế mạnh ào ạt ban đầu của những đạo quân xâm lược, tránh quyết chiến sớm, tìm cách nhử chúng vào sâu để xoay chuyển thế trận nhằm dần dần thay đổi so sánh lực lượng, tạo ra thế lợi thế mạnh cho ta và dồn địch vào thế bất lợi, thế yếu rồi mới chớp thời cơ tung chủ lực ra đánh đòn quyết định.

        Trong các cuộc chiến tranh giải phóng, những trận quyết chiến thường xuất hiện muộn hơn. Đó là vì dân tộc ta đã mất chủ quyền trên đất nước mình và không còn lực lượng vũ trang, ngược lại đối tượng chiến tranh thì đã là kẻ thống trị đất nước ta trong nhiều năm, thường có cả một hệ thống chính quyền từ trên xuống dưới; và một đạo quân lớn chiếm đóng trên khắp nước ta, đồng thời lại có khả năng tiếp viện nhiều lần từ chính quốc sang. Cho nên các đội nghĩa quân của ta, sau khi nổ ra khởi nghĩa ở địa phương phải đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ chỗ so sánh lực lượng tuyệt đối cliên h lệch ban đầu dần dần đã lên thế cân bằng và trội hơn đối phương rồi mới có thời cơ quyết chiến. Chẳng hạn, nghĩa quân Lam Sơn phải đánh nhiều trận tiêu hao, tiêu diệt nhỏ trong nhiều năm rồi mới tiến lên mở một số trận quyết chiến lớn và trận quyết định cuối cùng ở Chi Lăng - Xương Giang.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #138 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:19:19 AM »


        Đó là nói về thời cơ chiến lược để mở trận quyết chiến. Còn về thời cơ chiến dịch, tức là thời cơ mở trận cụ thể, thì tổ tiên ta thường lựa chọn vào lúc nào?

        Diễn biến của nhiều trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử cho ta thấy: tổ tiên ta thường đánh địch vào lúc chúng đang ở thế bất ngờ, trễ nải, vì bất ngờ là điều kiện rất quyết định để thực hiện lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh, như Nguyễn Trãi đã tổng kết “yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ”. Bị bất ngờ thì dù nhiều quân, dù tinh nhuệ cũng thành ít quân và không tinh nhuệ. Ngược lại, lợi dụng được thế bất ngờ để đánh địch thì dù ít quân cũng trở thành nhiều và có khả năng giáng cho địch những đòn sấm sét, đánh cho chúng không kịp trở tay khiến chúng bị tiêu diệt ngay từ lúc chưa kịp tập trung và triển khai lực lượng để đối phó với ta. Bởi vậy, để giành bất ngờ, các nhà chiến lược của ta thường hành động ngoài dự kiến của địch, khiến chúng không phán đoán kịp phương hướng đánh, mục tiêu đánh, cách đánh cũng như thời gian đánh của ta. Sau trận phản công ban ngày không thành công của Hoằng Chân - Chiêu Văn, chỗ giỏi của Lý Thường Kiệt là đã nắm chắc tư tưởng chủ quan trễ nải cũng như tình hình lực lượng đã bị tiêu hao của quân Tống dể kịp thời mở cuộc vượt sông tập kích lớn vào trại quân Triệu Tiết, khiến chúng bị tiêu diệt đến năm - sáu phần mười. Hai trận Vạn Kiếp, Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo đều đánh quân Mông - Nguyên vào lúc chúng đang rút chạy, tinh thần hoảng hốt không yên. Trận Chi Lãng, nghĩa quân Lam Sơn đã gây chủ quan nặng cho Liễu Thăng để hắn khinh suất đi trước cùng một bộ phận binh lực nhỏ và rơi vào ổ phục kích; cái chết bất ngờ của tên chủ tướng rõ ràng đã gây ra sự hỗn loạn lớn trong cả đạo quân tiếp viện, tạo điều kiện thuận lợi cho nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục tiêu diệt toàn bộ. Trận Ngọc Hồi - Đống Đa, Nguyễn Huệ cũng khéo léo tạo ra thế bất ngờ, sơ hở trong quân tướng của Tôn Sĩ Nghị, rồi nhanh chóng tiến công vào dịp Tết nguyên đán nên đã giành được thắng lợi lớn.

        Tất cả những chiến công rực rỡ của tổ tiên ta chứng tỏ: các nhà chiến lược thiên tài của ta chẳng những đã phát hiện rất nhạy bén và không bỏ qua thời cơ thuận lợi khi địch phạm sai lầm, mà còn có cả một nghệ thuật chủ động sáng tạo ra thời cơ có lợi để tiêu diệt địch, dựa trên cơ sở triệt để phát huy những nhân tố thuận lợi của mình như sự ủng hộ và tham gia chiến đấu tích cực của nhân dân, sự thông thạo địa hình và khả năng cơ động nhanh chóng, bí mật của quân đội, v.v.

        Vấn đề thứ ba trong nghệ thuật thực hành quyết chiến của tổ tiên mà chúng ta có thể tìm hiểu là vấn đề lực lượng và sử dụng lực lượng tham chiến.

        Như trên đã nói, “cả nước chung sức” là nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự truyền thống, là quy luật tiên hành các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trong lịch sử đánh giặc giữ nước, đông đảo nhân dân ta - từ người cày ruộng, lấy củi, đánh cá, chở đò, bà hàng nước bình thường cho đến các dội hương binh, thổ binh, dân binh... địa phương - trên thực tế chẳng những đã đóng vai trò chủ yếu trong các hoạt động chiến đấu du kích nhỏ lẻ, phân tán ở khắp mọi nơi mà còn giữ một vị trí quan trọng, không sao thiếu được trong các trận đánh lớn. Khác với nhiều nước, các trận quyết chiến chiến lược ở nước ta thường không chỉ đơn thuần do các lực lượng vũ trang tập trung đảm nhiệm, mà bao giờ cũng có đông đảo nhân dân tham gia chiến đấu với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.

        Có khi đó là những hoạt động phục vụ chiến đấu như tiếp tế lương thực, thông tin, dẫn đường, trinh sát, xây dựng trận địa, chuẩn bị và cung cấp phương tiện chiến đấu (thuyền bè, cọc gỗ, ván chắn công thành, vật liệu hỏa công), v.v.

        Có khi dó là những hoạt động trực tiếp chiến đấu phối hợp với các lực lượng vũ trang tập trung, những hoạt động phù hợp với khả năng của các lực lượng quần chúng có vũ trang ở địa phương như: nghi binh kiềm chế, đánh úp các bộ phận lẻ, đốt phá doanh trại, kho lương của địch, v.v.

        Có khi đó là những hoạt động nổi dậy của nhân dân các thôn xã vùng tạm bị dịch chiếm phối hợp với các đòn tiến công của lực lượng vũ trang, như “nhân dân các lộ Đông Đô, các nơi phiên trấn tranh nhau đem trâu, dê, rượu, lương thực đến khao quân và hưởng ứng vây bức các thành”, làm chỗ dựa vững chắc cho nghĩa quân Lam Sơn danh thắng oanh liệt ở Ninh Kiều, Tốt Động - Chúc Động.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #139 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2016, 04:19:52 AM »


        Và cũng có khi đó là những hoạt động chiến tranh du kích: quấy rối, tiêu hao, chặn đánh xe lương ở vùng sau lưng địch, như các dân binh Tày - Nùng do phò mã Thân Cảnh Phúc chỉ huy, “núp trong bụi cỏ, thấy quân Tống đi lẻ thì xông ra giết hoặc bắt về” gây không ít khó khăn cho đạo quân Quách Quỳ đang tiến thoái Lưỡng nan trước tuyến phòng ngự sông Cầu vững chắc của quân dân thời Lý.

        Tất cả những hoạt động đó đã nói lên truyền thống yêu nước sâu sắc, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc ta. Dĩ nhiên, dó hoàn toàn không phải chỉ là những hoạt động tự phát, lẻ tẻ mà là những hoạt động có chuẩn bị, có tổ chức. Trần Hưng Đạo trực tiếp đi chuẩn bị chiến trường ở vùng Bạch Đằng, Lê Lợi cử người ra liên lạc với các hào kiệt Đông Đô trước khi mở cuộc tiến công chiến lược ra Bắc, Nguyễn Huệ giao cho Đặng Tiến Đông chỉ huy mũi kỳ binh vượt qua vùng Hà Tây - quê hương viên đô đốc - để đánh vào Đống Đa: những truyện còn lưu lại trong sử sách và truyền thuyết đó phải chăng là những chứng minh nói lên sự chỉ đạo của các nhà chiến lược nhìn xa thấy rộng, nhằm phát huy sức mạnh to lớn của đông đảo nhân dân ta trong những trận chiến đấu quyết định vận mệnh của đất nước?

        Tuy nhiên, vai trò nòng cốt trong các trận quyết chiến chiến lược vẫn là các lực lượng vũ trang tập trung, bao gồm:

        - Quân chủ lực của triều đình (du quân) tức là những đơn vị chiến lược cơ động tác chiến trên cả nước, những quả đấm mạnh được bố trí thành từng khối trên từng địa bàn chiến lược dể khi cần thiết có thể sẵn sàng di chuyên về hướng quyết chiến để thực hiện các đòn phản công hoặc tiến công chiến lược. Đây là những đơn vị tinh nhuệ nhất, có quân bộ và quân thủy, có kỵ binh, pháo binh, Tượng binh (tùy theo sự phát triển của binh khí kỹ thuật qua các thời).

        - Quân các đạo, các lộ (tỉnh) do chính quyền địa phương quản lý, hoặc quân của các Vương hầu chịu sự chỉ huy thống nhất của triều đình (phong quân) có trách nhiệm trấn giữ và cơ động tác chiến trong phạm vi các đạo, các lộ song khi cần thiết cũng được bộ chỉ huy tối cao điều động đi phối hợp tác chiến với các đơn vị quân trung ương tại các chiến trường gần với khu vực trấn giữ.

        Mặc dầu đã được tập trung đến mức cao trong điều kiện có thê, số lượng quân đội tham chiến của ta phần lớn vẫn thua kém đối phương, thậm chí có trận thua kém rất xa. Thế nhưng, dựa trên cơ sở nhân hòa, địa lợi, thiên thời, với tư tưởng chỉ đạo “lấy ít đánh nhiều” và nghệ thuật dùng binh có hiệu quả cao, tổ tiên tả đã từng đánh thắng oanh liệt những kẻ địch đông hơn gấp bội. Tư tưởng lấy ít đánh nhiều không những là tư tưởng chỉ đạo chung cho toàn cuộc chiến tranh mà còn quán triệt rất sâu sắc trong từng trận đánh cụ thể, không phải chỉ quán triệt trong các trận nhỏ mà còn cả trong các trận quyết chiến lớn, thậm chí rất lớn. Trên tuyến sông Cầu, Lý Thường Kiệt dùng khoảng 6 vạn quân đánh bại khoảng 10 vạn quân của Quách Quỳ. Trận Bạch Đằng, khoảng 3-4 vạn quân Trần đã tiêu diệt cả đạo quân thủy khoảng 5-6 vạn tên dưới sự chỉ huy của Ô Mã Nhi. Nguyễn Huệ với 10 vạn quân tinh nhuệ đã đại phá gần 20 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị. Đặc biệt điễn hình là trận Tốt Động - Chúc Động: nghĩa quân Lam Sơn chỉ có chừng 6-7 nghìn người mà đã tiêu diệt gần 6 vạn quân Minh - một số quân lớn hơn mình hàng chục lần.

        Lấy nhỏ đánh lớn là nói về so sánh tiềm lực của ta và nước đối phương, lấy ít đánh nhiều là nói về so sánh số quân hai bên trong toàn cuộc chiến tranh hay trong một trận đánh. Còn bước vào giao chiến, sau khi đã quyết định đánh dịch thì dù số quân hai bên như thế nào, tồ tiên ta cũng đều có nghệ thuật “lấy sức nặng ngàn cân đè bên trứng chim”, dồn uy lực tiến công vào nơi hiểm yếu hoặc vào chỗ yếu của địch để giáng những đòn tiêu diệt rất mạnh. Trong khi thực hiện lấy ít đánh nhiều một cách rộng rãi, lúc cần thiết và có điều kiện, tổ tiên ta cũng vẫn kiên quyết dùng lực lượng đông hơn, vây đánh những bộ phận ít hơn nhưng quan trọng của địch để giành bằng được phần thắng về mình. Đó là trường hợp của trận Lê Lợi lấy thành Xương Giang và Nguyễn Huệ đánh đồn Ngọc Hồi. Tất nhiên, trong khi dùng số quân nhiều hơn dể đánh địch ít hơn ở một số bộ phận quan trọng, tổ tiên ta đều có sự cân nhắc kỹ Lưỡng, “không vì con chuột nhắt mà nẩy máy cái nỏ nghìn cân”, nhằm tiết kiệm lực lượng, thực hiện “sức dùng một nửa mà công được gấp đôi” trong mọi trường hợp.

        Ai cũng biết là các nhà quân sự của ta thời xưa đều rất chú trọng học tập tác phẩm của Tôn Tử, nhà lý luận quân sự có ảnh hưởng rất lớn ở phương Đông. Tôn Tử nói: “Phép dùng binh là: có binh lực gấp mười lần thì bao vây, gấp năm lần thì đánh thắng, gấp đôi thì bắt địch phân tán, bằng ngang thì cũng có thể đánh được, nhưng nếu binh lực ít hơn thì rút lui, yếu hơn thì tránh. Lấy binh lực nhỏ yếu mà đánh liều thì sẽ thành tù binh của kẻ địch mạnh”. Thế nhưng, chẳng những tổ tiên ta đã dám lấy ít đánh nhiều mà còn đánh thắng nhiều trận oanh liệt. Điều đó chứng tỏ: trong khi nghiên cứu Tôn Tử, tổ tiên ta đã không lệ thuộc vào lập luận của Tôn Tử mà xuất phát từ thực tiễn để xây dựng nên những luận điểm quân sự rất mạnh bạo và sáng tạo, phù hợp với diều kiện đánh giặc của đất nước mình.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM