Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Sáu, 2020, 04:23:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chặng đường mười nghìn ngày  (Đọc 34559 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #20 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2016, 03:57:05 am »


        Ngày 5 tháng 5, trung đoàn lệnh các đồng chí Nguyễn Cẩm, Trần Quải tiểu đoàn trưởng và chính trị viên tiểu đoàn 130, Đinh Đình Sành, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 166, Nguyễn Măng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 154 và một số cán bộ đại đội, trong đó có Tạ Quốc Luật, đại đội trưởng, Công Bình chính trị viên đại đội 360 lên thực địa bàn kế hoạch tiến công tiếp tục. Vì đây là trận đánh then chết nên cũng có mặt đầy đủ các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn. Ngay trên trận địa vẫn còn cay nồng mù mịt khói bom, đạn pháo, đạn súng bắn thẳng của địch từ mọi phía vẫn nổ dữ dội trên nắp hầm, trên miệng hào giao thông, chúng tôi hạ quyết tâm:

        - Bằng bất cứ giá nào cũng phải tiến công, tranh thủ mọi điều kiện để thực hiện liên tục tiến công.

        - Mục tiêu chủ yếu cuối cùng là sở chỉ huy địch ở trung tâm Mường Thanh.

        - Mang cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Bác cắm lên nóc hầm sở chỉ huy trung tâm, bắt sống tướng giặc Đờ Cát-xtơ-ri và toàn ban tham mưu của y, lập thành tích mừng thọ Bác.

        - Nghiêm chỉnh chấp hành chính sách tù hàng binh.

        Đúng là sở chỉ huy trung tâm địch đã ở trong tầm với, đứng trên điểm cao 505 vừa mới đánh chiếm, nhiều anh em phấn khởi reo lên: chúng ta sắp sửa "cắt tiết" Mường Thanh đến nơi rồi!

        Nhưng chúng tôi thì vẫn lo, vì từ đây đến đó tuy ngắn nhưng không đơn giản, chỉ một sơ suất trong nắm địch, trong tổ chức chỉ huy, hợp đồng chiến đấu và tinh thần quyết tâm không được giữ vững, phát huy, rất có thể gây nhiều chuyện rắc rối.

        Thời gian như chậm lại, ai cũng mong trời chóng tối, vì kế hoạch chiến đấu được quán trìệt đến từng chiến sĩ. Chúng tôi hồi hộp theo dõi mặt trời lặn dần để đến giờ khởi sự.

        Đêm nay 6 tháng 5, là một đêm đáng ghi nhớ đối với Trung đoàn 209, như cái đêm đánh Bản Vây (Nà Sản) trong chiến dịch Tây Bắc hồi tháng 12 năm 1952 vậy. Nhiệm vụ của trung đoàn là đánh chiếm điểm cao 507, để phối hợp với các đơn vị bạn nhổ nốt những cái đinh A1, C2. Tiểu đoàn 130 được giao trọng trách này nhưng đã không hoàn thành do tổ chức hoả ìực tiến công rời rạc, không kiềm chế được hoả lực địch, nên bộ đội không xung phong lên được. Một nguyên nhân không kém phần quan trọng thuộc về tinh thần trách nhiệm, tác phong của người chỉ huy chúng tôi: Đó là việc tổ chức theo dõi địch không chặt chẽ. Khi giao nhiệm vụ lúc chiều, là đánh địch trong tình huống không có rào kẽm gai, nhưng tối đến địch cho rải hàng rào kẽm gai bùng nhùng. Tuy chỉ là loại rào dã chiến, tạm thời, nhưng khi bộ đội ta đánh vào, bị bất ngờ, phải dừng lại khắc phục bằng cách bộc phá, đội hình bị ùn tắc. Đó chính là lúc địch có điều kiện tập trung hoả lực sát thương ta.

        Thế là nhiệm vụ tiến công đêm 6 không thành.

        Không ngờ hận Bản Vây lại đến với chúng tôi!

        Ngay đêm hôm đó, Đảng uỷ trung đoàn họp, đề ra biện pháp củng cố trận địa dã chiến đề phòng địch phản kích khi trời sáng, ổn định tư tưởng bộ đội, giải quyết đưa nhanh thương binh về tuyến sau và bàn kế hoạch tiếp tục chiến đấu trong tình huống ban ngày.

        Nếu chiều hôm trước chúng tôi mong trời chóng tối, thì đêm nay chúng tôi mong trời mau sáng để trả hận.

        Ngày 7 tháng 5, mặt trời vừa ló rạng, tôi gọi điện lên anh Lê Trọng Tấn, đại đoàn trưởng đề nghị cho tiến công tiếp.

        Từ đầu dây bên kia có tiếng anh Tấn:

        - Còn đủ sức không?

        - Báo cáo, đủ!

        Vẫn có tiếng điện sôi qua ống nghe nhưng không có tiếng nói. Hay là có sự cố. Tôi vẫn áp chặt tai vào ống nghe hồi hộp chờ đợi. Khoảng 5 giây sau lại có tiếng anh Tấn:

        - Hoàng Cầm đâu?

        - Báo cáo tôi vẫn nghe?

        - Cậu gọi thẳng lên Sở chỉ huy chiến dịch, xin ý kiến anh Văn (tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp) vì việc này đại đoàn không đủ thẩm quyền.

        Tôi liền quay điện thoại lên Sở chỉ huy chiến dịch, thì anh Văn nói là chờ lệnh Tổng công kích, cũng ở hướng ấy, tiến công một thể.

        Tôi bỏ máy xuống. Biết bao giờ mới có lệnh Tổng công kích, trong khi ở hướng chúng tôi đã có thời cơ?

        Cả tập thể ban chỉ huy ngồi quanh máy điện thoại theo dõi.

        Các anh thúc tôi tiếp tục trình bày, kiên nhẫn nhất định thành công.

        Tôi lại gọi điện lên Sở chỉ huy đại đoàn.

        - Các cậu có cay cú không đấy? - Anh Tấn hỏi.

        - Báo cáo anh không - Ngừng lại để lấy hơi, tôi nói tiếp- Trận đánh đêm qua không thành do khuyết điểm vì có sơ suất trong tổ chức hoả lực, hiện chúng tôi đã có kế hoạch khắc phục.

        - Mình đồng ý, nhưng đây là nguyên tắc, phải xin ý kiến anh Văn, cậu cầm máy chờ nhé.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #21 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2016, 03:57:55 am »


        Giây phút đợi lệnh lúc này sao mà hồi hộp và căng thẳng đến thế. Vẫn bình tĩnh áp ống nghe vào tai mà tôi thấy toàn thân nóng ran, bứt rứt như kiến đốt. Dưới khuyết điểm là trên có phần trách nhiệm. Việc kiểm tra đôn đốc không đến nơi đến chốn, tư tưởng nôn nóng chủ quan, coi thường phản ứng của địch nên mới đến nông nỗi này.

        Tôi cứ triền miên suy nghĩ, tự trách mình như thế, thì bỗng đầu dây bên kia có tiếng động nhắc máy.

        - Hoàng Cầm đấy phải không - Vẫn giọng nói quen thuộc của anh Tấn.

        - Dạ, tôi vẫn đang chờ lệnh.

        - Bộ chỉ huy Mặt trận chuẩn y giờ nổ súng của trung đoàn, nhưng nhấn mạnh - cần phải chuẩn bị cho tốt, không được bỏ qua một công việc nhỏ nào có liên quan đến bảo đảm chắc thắng.

        Tôi chưa kịp báo cáo tiếp công việc chuẩn bị, thì anh Tấn lại tiếp:

        - Trên sẽ có kế hoạch phối hợp và sẽ chi viện hoả lực cho trung đoàn - Giọng bỗng to lên, anh nhấn mạnh - Chỉ cần chúng ta không được chủ quan, gắng chút nữa là mọi việc ổn thoả. Chúc trung đoàn thắng lợi.

        Phấn khởi và cảm động. Cấp trên không những chuẩn y kế hoạch tác chiến của trung đoàn mà còn dành năm khẩu pháo chi viện. Tôi hứa với anh Tấn:

        - Báo cáo anh có điều kiện chúng tôi phát triển qua sông Nậm Rốm, áp sát sở chỉ huy trung tâm Mường Thanh.

        - Còn đủ sức không? - Anh Tấn hỏi.

        - Dạ, đủ sức - Tôi hứa.

        - Nhớ đảm bảo chắc thắng - Anh Tấn ra lệnh.

        Bỏ máy nghe xuống tôi thấy mình xúc động, đầu óc nhẹ nhõm, lâng lâng. Tôi lệnh cho các tiểu đoàn 130, 154, 166 và các đơn vị hoả lực gấp rút chuẩn bị nổ súng theo đúng giờ G.

        Trận đánh được bắt đầu vào lúc 14 giờ, mặt trời ngả về tây, cảnh vật trước mặt hiện lên rõ nét.

        Trong lúc hoả lực ta tập trung dồn dập vào trận địa địch, trung đội trường Chu Bá Thi vắt chăn lên hàng rào bùng nhùng, dẫn bộ binh xung phong, địch bắn cản, ta phải lùi lại. Lần thứ hai, ta vượt rào vọt tiến, ném thủ pháo vào các ụ súng địch.

        Điểm cao 507 bị diệt, số địch còn lại rút về 508.

        Thừa thắng tôi lệnh cho trung đoàn phó Thăng Bình trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 136 và chính trị viên tiểu đoàn Trần Quân phát triển đánh chiếm 508, 509 cho đại đội Tạ Quốc Luật nhanh chóng vượt cầu phao chặn địch không cho chúng rút qua và tiếp viện từ Mường Thanh ra.

        Thế là tất cả các cứ điểm bên này sông Nậm Rốm đã lọt vào tay quân ta. Lúc này khoảng 16 giờ 30 phút. Trời nắng nóng, tôi phải xoay trần, mặc độc áo lót để chỉ huy đơn vị phát triển vào khu Mường Thanh.

        Đang trong thế thuận lợi bỗng gặp phải hoả lực trọng liên của địch từ bên kia cầu bắn sang rất dữ, không phải một khẩu mà là nhiều khẩu.

        Đây lại là một bất ngờ, do việc nắm địch của chúng tôi chưa chắc. Đã đến lúc này không để tái diễn như đêm qua (6-5). Dù có hy sinh cũng phải quyết tâm vượt qua, phải diệt ngay cái ổ đề kháng quái ác này.

        Nghĩ như vậy, tôi lệnh cho Tạ Quốc Luật nhanh chóng diệt trận địa đại liên địch, tạo thuận lợi cho các đơn vị tiếp tục phát triển vào khu trung tâm. Mười lăm phút sau tiếng súng đại liên của địch tắt hẳn, cùng lúc tôi nhận được báo cáo qua máy điện thoại, ta đã diệt được khẩu đại liên bốn nòng do một tên lính nguỵ trạc hơn 40 tuổi điều khiển.

        Tôi cắt ngang báo cáo:

        - Tên lính này còn sống không?

        - Báo cáo còn, đơn vị đã giải thích chính sánh khoan hồng cho y.

        - Khai thác chưa?

        - Báo cáo đã.

        - Cái gì, nó đã khai những gì?

        - Báo cáo? Nó chỉ hầm Đờ Cát cách đây khoảng trên 200 mét.

        - Đúng không?

        - Dạ, đúng, phía ấy thấp thoáng có cờ trắng vẫy.

        Tim tôi đập nhanh vì sung sướng. Tôi muốn reo lên chia vui với mọi người: Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã tới gần!

        Tôi lệnh cho Tạ Quốc Luật phải phát triển tới đó ngay, tìm mọi cách bắt sống tướng Đờ Cát.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #22 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2016, 03:58:31 am »


        17 giờ, trời còn sáng, tên lính điều khiển khẩu đại liên bốn nòng khai đúng, sở chỉ huy trung tâm của địch hiện rõ trước mắt các chiến sĩ đại đội 360, Tạ Quốc Luật dẫn một tiểu đội bứt lên trước đang trên nóc hầm và kêu gọi tướng Đờ Cát đầu hàng (Tạ Quốc Luật biết tiếng Pháp).

        Vài phút sau tướng Đờ Cát và toàn ban tham mưu của ông ta thành hàng dọc hai tay giơ khỏi đầu từ cửa hầm lần lượt đi ra.

        Nhận được tin do Tạ Quốc Luật báo cáo về, tôi vui sướng quá tim như muốn bung khỏi lồng ngực. Tay run run cầm máy điện thoại báo cáo tin vui này về bộ chỉ huy đại đoàn, đồng thời tôi lệnh cho chính trị viên tiểu đoàn 130 Trần Quân giải ngay Đờ Cát về sở chỉ huy trung đoàn.

        Toàn thể ban chỉ huy Trung đoàn 209 có mặt đầy đủ để tiếp nhận sự đầu hàng của tướng Đờ Cát và toàn bộ ban tham mưu của tập đoàn cứ điểm.

        Tại đây tôi có hỏi cung tướng Đờ Cát qua đồng chí Nho Khôi đội trưởng trinh sát của trung đoàn dịch (Nho Khôi có bằng tú tài, nói tiếng Pháp rất khá).

        Mở đầu tôi hỏi:

        - Tại sao các ông thua?

        - Vì chỉ huy các phân khu ngoại vi để mất - Đờ Cát trả lời.

        - Khu trung tâm Mường Thanh do ông trực tiếp chỉ huy sao cũng để mất?

        Đờ Cát đầu hơi cúi, ngượng ngùng, vài giây sau mới trả lời:

        - Ngày 6 và sáng 7 tháng 5 chúng tôi trù liệu tổ chức hai lực lượng rút chạy sang Lào.

        - Sao không thực hiện.

        - Không có một binh lính và sĩ quan nào tin là kế hoạch của chúng tôi thực hiện được.

        - Tại sao ông lại cho máy bay thả truyền đơn thách thức tướng Giáp?

        - Tôi không làm việc này!

        - Sao lại có truyền đơn? - Vừa hỏi, tôi vừa chuyển cho Nho Khôi tờ truyền đơn đưa cho Đờ Cát xem dưới có ký tên ông ta.

        Đờ Cát nhún vai, tỏ vẻ khinh bỉ:

        - Thưa ông, đây là Hà Nội tự làm.

        Trước khi rời khỏi hầm chỉ huy ông có báo tin này cho Hà Nội không?

        - Tôi có báo cho Hà Nội: "Thế là hết!".

        - Hà Nội trả lời thế nào?

        - Na-va thoả thuận cho đầu hàng nhưng "không phất cờ trắng" (!)

        - Các ông thực hiện sự đầu hàng thế nào?

        - Thưa ông nếu không có dấu hiệu cờ trắng thì chúng tôi đâu còn tồn tại đến giờ này. - Ông ta lại cúi đầu kèm theo là tiếng thở dài với vẻ mặt buồn chán, định nói tiếp, nhưng thấy khó.

        Hiểu được tâm trạng của viên tướng mang dòng họ quý tộc Pháp, chúng tôi không hỏi nữa.

        Trước mặt chúng tôi là toàn ban tham mưu của Đờ Cát với đủ lứa tuổi và hình hài khác nhau, nhưng có chung một dáng vẻ tiều tuỵ nét mặt hốc hác chán chường, quần áo xộc xệch bẩn thỉu mặc dù tên nào cũng tề chỉnh mang cấp hiệu trên ve áo.

        Phút yên lặng trôi nhanh, tôi ra lệnh cho Đờ Cát báo cáo họ tên, cấp bậc, chức vụ từng người trong ban tham mưu của y.

        Tất cả có hơn 10 tên, mỗi tên phụ trách một phần việc, hậu cần, chỉ huy bộ binh, xe tăng, lực lượng phản kích, chỉ thiếu có Pi-rốt chỉ huy pháo binh đã tự sát sau khi cụm cứ điểm Him Lam bị mất. Tất cả đều học quân sự cơ bản qua trường võ bị Xanh-xia nổi tiếng của nước Pháp, đều trong quân ngũ lâu năm qua nhiều chiến trận. Đờ Cát-xtơ-ri được xếp loại tá có hạng, ttước khi điều lên Điện Biên Phủ đã chỉ huy một trong bảy binh đoàn cơ động chiến lược của quân Pháp ở chiến trường Bắc Bộ, từng chạm trán với chúng tôi ở Vĩnh Yên, Phúc Yên trong chiến dịch Trung Du hồi cuối năm 1950 đầu năm 1951.

        Đại tá La-gơ-le bạn thân của Đờ Cát, cũng dòng dõi quý tộc, tham gia chiến tranh thế giới thứ hai, từng chết hụt ở sa mạc Sahara, cưỡi một con lạc đà với khẩu súng trong tay, đâu phải sinh ra để thành con người chiến bại, sang Đông Dương ba lần và bây giờ bị bắt ở Điện Biên Phủ.

        Còn Bi-gia đã chỉ huy 800 quân nhảy dù xuống Điện Biên Phu vào sáng ngày 20-11-1954, khi vừa mới tan sương mù. Bi-gia cũng được xem là thành viên của ban tham mưu mặc dầu eấp bậc thấp nhất, nhưng được Đờ Cát tin cậy, phong cho cái chức "tổng chỉ huy các lực lượng phản kích".

        Con "người hùng" này có cái may mắn, chục năm sau được nhận chức Bộ trường Quốc phòng Pháp. Tuy nhiên những gì là thảm kịch ở Điện Biên Phủ, Bi-gia vẫn không quên, vẫn kể rất đầy đủ khi nhà báo Mai-kơn Mắc-lia đến ngỏ ý định viết thiên ký sự "Cuộc chiến tranh mười ngàn ngày". Từ sau đợt hai của chiến dịch bắt đầu, quân sĩ hoang mang, những trận phản kích giảm dần, thì tổng chỉ huy các lực lượng phản kích Bi-gia thường ngày chi còn làm một việc chỉ huy trấn an tư tưởng: "Tôi vẫn nói cho binh sĩ tôi, chúng ta cố giữ lâu được một ngày nữa. Rồi người Mỹ sẽ đến!".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #23 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2016, 03:59:11 am »


        Và Bi-gia kể tiếp cái ý định cố gắng tuyệt vọng cuối cùng rút sang Lào định thực thi vào sáng 7 tháng 5 như sau: "Chúng tôi nhặt nhạnh vài vị chỉ huy tiểu đoàn và bàn đến việc tháo chạy. Họ nói: không, không còn cái giá nào lúc này nữa đâu. Chúng tôi có thể chết xứng đáng. Chúng tôi làm sao mà có thể ra khỏi đây nổi 100 mét thôi! Đờ Cát-xtơ-ri báo cho Hà Nội: "Thế là hết!". Na-va trả lời qua máy vô tuyến điện thanh: "Đừng giơ cờ trắng, chỉ ngừng chiến đấu thôi!".

        Như vậy, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi vào lúc 17 giờ ngày 7-5-1954, khi Trung đoàn 209 chúng tôi tiến vào sở chỉ huy trung tâm Mường Thanh, bắt sống tướng giặc Đờ Cát-xtơ ri cùng toàn ban tham mưu của ông ta.

        Lòng chảo Điện Biên Phủ bị hun nóng suốt 55 ngày đêm nay bắt đầu nguội vào lúc thời điểm đã chuyển vào hoàng hôn, mặt trời ngả dần sang phía tây - sắp khuất sau những dãy núi và chuyển sang bóng đêm quen thuộc. Nhưng đêm nay là đêm hội chiến thắng. Từ khắp nơi, các đơn vị đổ về Mường Thanh, đủ thứ thắp sáng để mừng chiến thắng.

        Mường Thanh tấp nập, chật ních những người. Hàng binh kéo ra, quân ta đổ vào, cả sở chỉ huy của tướng Đờ Cát đầy ắp người cũng như ngoài cánh đồng Điện Biên còn nguyên những khẩu pháo đang nằm rải rác.

        Nhưng mắt tôi vẫn dán mãi vào lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" do chiến sĩ Nguyễn Văn Minh dưới sự chỉ huy của Tạ Quốc Luật đại đội trưởng đại đội 360 vừa cắm lên nóc hầm Đờ Cát đang bay phần phật bởi một cơn giông bất chợt.

        Sau ngày 7-5-1954 lịch sử, tôi vinh dự được Bộ chỉ huy Mặt trận cử làm trưởng đoàn chiến sĩ thi đua của Mặt trận về báo cáo thắng lợi vĩ đại này với Đảng, Chính phủ và Bác Hồ kính yêu.

        Chúng tôi mang theo về các thứ huân chương, lon thiếu tướng của Đờ Cát, một lá cờ Pháp đã rách, một cái máy thu thanh nhỏ Đờ Cát đã dùng. Khi ra trận thì đi bộ, mang vác nặng nề, trèo đèo lội suối, luồn rừng vất vả, khi về thì dong ruổi "ngựa xe" - một chiếc xe tải quân sự do đồng chí Thông lái, cũng đã sướng lắm rồi. Tuy vậy cũng phải mất ngót tuần lễ chúng tôi mới về tới hậu phương Việt Bắc.

        Dọc đường, lúc nào tôi cũng nghĩ về gặp Bác thì báo cáo với Bác điều gì. Hình ảnh Bác gọi lên báo cáo kế hoạch tiến công Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới lại hiện về.

        Vừa đến cơ quan Tổng cục Chính trị, anh Nguyễn Chí Thanh tổ chức đón đoàn chúng tôi rất trọng thể, có dựng cổng chào, kết hoa trên đường vào cơ quan. và anh bố trí cho chúng tôi được nói chuyện ngay với Bác qua điện thoại.

        Tôi vui sướng và thực sự hồi hộp:

        - Báo cáo Bác, cháu phụ trách đoàn chiến sĩ thi đua từ mặt trận Điện Biên Phủ về mừng sinh nhật Bác.

        - Ai bảo các chú bày vẽ việc này? - Bác nghiêm nghị hỏi.

        Tôi đang ấp úng không biết trả lời thế nào thì đầu dây bên kia Bác đã gỡ bí:

        - Chú Hoàng Cầm đấy phải không?

        - Vâng ạ! Thưa Bác, cháu là Hoàng Cầm đây ạ!

        - Các chú ở trên đó có đói không?

        - Báo cáo Bác, không đói nhưng thiếu ạ!

        Bác hỏi tiếp:

        - Có khổ không?

        Anh Nguyễn Chí Thanh đứng gần, vui vẻ nhắc tôi "cứ nói thật với Bác là khổ lắm".

        - Báo cáo Bác, có khổ ạ!

        Bác xen vào:

        - Các chú có thuốc lào hút không?

        - Báo cáo, có ạ!

        Xin lưu ý bạn đọc về chuyện thuốc lào ở Điện Biên Phủ, tuy không phải là vấn đề cơ bản trong chiến đấu, nhưng lại là một nhu cầu thực tế không thể thiếu. Bộ đội ta lúc ấy đa số nông dân, nhiều người nghiện thuốc rất nặng, mà nghiện thì "đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên". Không có thuốc hút, người cứ bần thần, chẳng muốn làm gì.

        Hiểu nhu cầu tuy nhỏ nhưng không thiếu ấy, Chính phủ và Bác đã chỉ thị cho cơ quan cung cấp ở hậu phương chú ý lo cho bộ đội khoản thuốc lào gửi lên mặt trận, cùng với súng đạn, gạo muối và thuốc men, nhưng do chiến đấu kéo dài, cảnh thiếu thuốc hút vẫn là vấn đề "thời sự" được nhắc đến hàng ngày.

        Từ đầu dây bên kia, giọng Bác chậm rãi, thân mật, ân cần:

        - Bác được tin các chú về thăm Bác, nhưng hôm nay Bác bận họp Hội đồng Chính phủ, chưa gặp được; các chú cứ nghỉ ngơi cho khỏe, chờ họp xong Bác cháu ta sẽ gặp mặt càng vui.

        Những điều Bác nói sao mà gần gũi, cảm động đến thế.

        Do yêu cầu nhiệm vụ, tôi phải về trước, nên không được gặp Bác. Nhưng sau đó tôi có nhận được huy hiệu của Người gửi tặng.

        Sau này, vào dịp Tết dương lịch năm 1964, Bác về thăm Sư đoàn 312, tôi có báo cáo với Bác rằng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi được Bộ chỉ huy Mặt trận giao nhiệm vụ dẫn đầu đoàn chiến sĩ thi đua về chúc thọ Bác. Bác gật đầu:

        - Hôm đó Bác đang bận họp, nên chỉ nói chuyện với chú qua điện thoại.

        Tôi thật không ngờ! Một câu chuyện nhỏ đã qua mừơi năm, mặc dầu bận trăm công nghìn việc mà Bác vẫn nhớ rành rọt như vậy.

        Còn tôi vẫn tâm niệm những lời dạy bảo ân cần của Bác qua các chiến dịch, trong chiến công bắt tướng Đờ Cát, đã có lời Bác dạy - Quyết tâm không bao giờ thừa đối với bất cứ một trận chiến đấu, một chiến dịch nào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #24 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2016, 07:31:28 am »

       
Chương 6

Ở ĐIỂM NÚT HAI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH

        Lòng chảo Điện Biên Phủ nơi mà tướng Na-va tin là sẽ buộc đối phương bị dồn vào cái nơi ta (tức Pháp) sẽ vừa đánh họ được, lại vừa nói chuyện đàm phán trên thế mạnh với họ cũng được, nay đã đảo ngược. Chiến thắng Điện Biên Phủ và hàng vạn tù binh bị bắt sống là cái thế mạnh khi phái đoàn ta đến bàn hội nghị. Sau hơn hai tháng đàm phán, ngày 21 tháng 7 năm 1954 Chính phủ Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ.

        Hoà bình đã được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở chính phủ Pháp tôn trọng chủ quyền, độc lập thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia.

        Thế là sau chín năm chiến đấu gian khổ và anh dũng, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam lần lượt vào tiếp quản những vùng quân Pháp rút đi theo đúng các điều khoản đã được thoả thuận giữa hai bên Việt - Pháp.

        Tháng 9 năm ấy, Sư đoàn 312 chúng tôi nhận lệnh từ Phú Thọ tiến về tiếp quản khu vực Bắc Ninh - Bắc Giang, cùng các đơn vị bạn buộc đối phương phải nghiêm chình thi hành hiệp định, nhanh chóng rút khỏi khu vực cuối cùng miền duyên hải Đông Bắc - Hồng Gai - Quảng Yên - Hải Phòng.

        Các đơn vị trong sư đoàn lần lượt hành quân qua Vĩnh Yên, Phúc Yên sang bên kia sông Cầu, sông Đuống. Trước mắt chúng tôi một dải trung du đâu đâu cũng còn đầy vết tích tàn phá của bọn xâm lược. Vệ Linh, Thanh Lại, Đan Tảo, Mễ Thôn. và những làng lân cận trong "vành đai trắng" suốt mấy năm liền hoang vắng, hầu như không một bóng người. Giặc Pháp vừa cấm ngăn không cho dân trong vùng đi lại làm ăn, vừa dùng bom đạn cày xới, xua hết dân đi nơi khác. Chúng cố tạo ra ở đây một "ranh giới chết" giữa vùng chúng tạm kiểm soát với vùng tự do của ta nhằm ngăn chặn quân chủ lực ta thâm nhập đồng bằng. âm mưu thâm dộc ấy đã biến hàng vạn héc ta ruộng màu mỡ thành đồng hoang lạnh ngắt.

        Nhưng chỉ sau ngày ngừng bắn mấy hôm, "vành đai trắng" đã mất hẳn cái không khí vắng lạnh ghê người. Trong các thôn xóm, còn người nào ở lại bám đất đều đổ ra đồng khai hoang phục hoá. Dọc đường số 2, số 3 từ Tuyên Quang, Thái Nguyên đổ về xuôi, từng đoàn người gồng gánh kĩu kịt, lũ lượt hồi cư sau những tháng năm xa quê. Chiều đến, trên những cách đồng rậm rì đùn lên từng cột khói trắng - khói đốt cỏ làm tro bón ruộng. Cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên nóc những nếp nhà tranh vừa dựng lấy chỗ ở tạm. Đây đó đã thấy cất lên tiếng hát rộn ràng, trong trẻo của các cô gái, các cháu nhỏ, hoà lẫn tiếng cuốc đất phát cỏ nhộn nhịp ngoài đồng.

        Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đã đưa cách mạng nước ta sang giai đoạn mới.

        Miền Bắc giải phóng đang bước vào thời kỳ hoà bình khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục.

        Từ nhận thức chức năng của quân đội là chiến đấu, công tác và sản xuất, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn họp xác định ngoài nhiệm vụ xây dựng huấn luyện quân sự, các lực lượng của sư đoàn còn có trách nhiệm cùng nhân dân tham gia khôi phục kinh tế ở những nơi khó khăn, cần có lực lượng lao động tập trung trẻ khỏe. Tại nơi đóng quân, các chiến sĩ sư đoàn cùng đồng bào gỡ mìn, dọn dây thép gai trên "vành đai trắng", quanh các đồn bót địch, khai hoang, phục hoá mở rộng diện tích, tát nước chống hạn, đào mương dẫn nước, cải tạo đồng ruộng. Các chiến sĩ của sư đoàn góp sức tham gia khôi phục tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, công trình thuỷ nông Bắc Hưng Hải.

        Hàng nghìn cán bộ chiến sĩ cửa sư đoàn đã chuyển ngành đi tham gia xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo (Hà Nội), sứ Hải Dương, khu công nghiệp Việt Trì, mỏ A pa-tít Lao Cai, cho đến các nông trường Mộc Châu, Sơn La, Điện Biên Phủ. và tham gia xây dựng sân bay Nội Bài.

        Từ năm 1958, các đơn vị trong sư đoàn lần lượt bỏ công sức, trí tuệ tự xây dựng doanh trại của mình. Dọc đường quốc lộ số 2 từ Đa Phúc đến Phổ Yên, Lương Sơn, Lưu Xá, Phú Bình (Bắc Thái) trên những quả đồi hoang lúp xúp những cây sim mua cằn cỗi trước đây nay mỗi ngày lại có thêm khu nhà mới, mái ngói đỏ tươi tường vôi trắng xoá. Cuộc sống quân ngũ cũng có những thay đổi mới. Đã có sự thanh bình êm ả, có tối thứ bảy và ngày chủ nhật thư nhàn, thoải mái, có nơi tiếp đón gia đình lên thăm, có phòng riêng nhỏ xinh cho đôi vợ chồng trẻ hưởng tuần trăng mật. Đã có chế độ nghỉ phép và sĩ quan hết giờ làm việc được về ăn nghỉ tại nhà riêng gần khu doanh trại. Niềm vui lâng lâng mà sâu đậm ấy, rõ nét ấy, vây quanh và thâm nhập vào mình mà vẫn cứ ngỡ ngàng, vì cách đó ít lâu, những người lính chúng tôi phải vượt qua bao gian khổ, chịu đói, chịu rét vượt qua sông Thao đánh vào tuyến phòng thủ sông Đà của địch, vượt qua đèo Pha Đin tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, mấy ai nghĩ có ngày hôm nay.

        Riêng tôi đã lập gia đình và sinh được năm cháu. Ngoài bận rộn công việc của một sư đoàn trường kiêm bí thư Đảng uỷ sư đoàn, cũng đã có điều kiện hoà nhập vào cuộc sống đời thường với đủ thứ ước mơ khát vọng rất xa mà cũng rất gần. Có lúc thư nhàn nói chuyện thật riêng của hai người, có phút giây âu yếm cưng nựng con, thủ thỉ bao hy vọng khi con khôn lớn. Có giờ thanh thản nghe ca nhạc và sân khấu truyền thanh, cùng vợ con đến nhà hát xem biểu diễn văn nghệ, xem phim tình yêu.

        Và có những chuyến nghỉ phép về thăm quê nội, quê ngoại, gặp mặt làng xóm, người thân hàn huyên kỷ niệm xưa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #25 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2016, 07:35:51 am »


        Những ngày thanh bình như thế đến với chúng tôi thật ngắn ngủi. Có một suy nghĩ khác, cuộc sống khác bắt đầu hình thành từ năm 1960, đan xen vào các công việc thường ngày, cứ tăng dần theo thời gian. Trong sình hoạt chính trị đã có vấn đề nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu; trong xây dựng thao trường huấn luyện, kết cấu tưởng định diễn tập tham mưu và diễn tập thực binh đều đưa xen thực tế chiến trường miền Nam để cán bộ, chiến sĩ tập xử lý.

        Mùa xuân 1963 chúng tôi được sống lại với không khí chuẩn bị chiến đấu năm xưa. Ngoài kia thị trấn Phổ Yên vẫn êm ả, con đường xe hoả Hà Nội - Quán Triều song song với đường số 3 là cảnh "ngựa xe như nước", thì trong doanh trại sư đoàn bộ đang tính toán kế hoạch hành quân, đưa một tiểu đoàn mạnh gồm 600 cán bộ, chiến sĩ bí mật vượt sông Bến Hải vào tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên. Mùa xuân 1964, tiểu đoàn thứ hai của sư đoàn nhận nhiệm vụ vào chiến đấu tại chiến trường Khu 5.

        Ngày 1-1-1964 Bác Hồ về thăm sư đoàn. Trước lúc ra về Bác ghi vào sổ vàng truyền thống của đơn vị:

        "Toàn sư đoàn có nhiều tiến bộ. Chúc năm mới, Bác dặn mấy điểm:

        1 Ra sức làm tròn nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và tham gia đấu tranh thống nhất nước nhà.

        2. Thi đua thực hiện cuộc vận động xây dựng quân đội năm 1964.

        Chúng tôi đặc biệt chú ý đến điều Bác dặn "luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàn nhận nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho".


        Ngày 27-3-1964, Bác Hồ triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt, động viên toàn dân đoàn kết một lòng kiên quyết chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Cùng ngày Đảng bộ sư đoàn chúng tôi họp đại hội lần thứ tư, tất cả đều nhất trí xác định toàn sư đoàn chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, sẵn sàng lên đường chiến đấu.

        Đến lúc này cuộc sống hoà bình chỉ còn giữ lại ở cái dáng vẻ bề ngoài, chúng tôi thực sự đã bước vào trạng thái thời chiến.

        Với cán bộ cao cấp chúng tôi, thì ngay từ năm 1955 đã được chuẩn bị tư tưởng về một cuộc chiến đấu mới đang được bắt đầu.

        Trong các cuộc hội nghị quân chính, các đợt tập huấn và diễn tập tham mưu, được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến thăm hỏi động viên, nói chuyện, giao nhiệm vụ. Sau những lần như thế, trong nếp nghĩ của chúng tôi hình thành ngày một sáng rõ: về chức năng nhiệm vụ của quân đội là ở chiến trường, mà chiến trường lúc ấy là miền Nam thân yêu đang bị bọn xâm lược Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm thống trị.

        Riêng tôi đầu năm 1963 được trên đưa vào danh sách đi B1 đợt đầu nhưng vì bị viêm dạ dày cấp nên tạm ở lại đi đợt sau.

        Từ đây tôi đã thực hiện một kế hoạch do mình đặt ra, là theo dõi sát sao tình hình chiến sự ở miền Nam, qua đó có thể rút ra bài học bổ ích. Đọc báo, nghe đài, qua các bản tin lưu hành nội bộ tôi thấy lực lượng của ta ở trong đó đánh cấp tiểu đoàn, trung đoàn còn ít, càng chưa thấy đánh địch nhiều trong công sự vững chắc. Hẳn là phải có nguyên nhân, nhưng làm sao mà biết được.

        Qua hiện trạng này tôi tự nhủ, mình cần tìm đọc nhập tâm các tài liệu giáo khoa quân sự, tổng kết quân sự, hình thành hệ thống trong đầu óc các vấn đề, khi được vào phổ biến lại cho anh em trong đó vận dụng, may ra có ích.

        Tháng 10 năm 1964, sau lần được dự buổi Bác Hồ gặp mặt thân mật số cán bộ cao cấp trước khi lên đường vào Nam chiến đấu ở nhà khách Bộ Quốc phòng 33 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội, ý thức sống thời chiến trong tôi càng trỗi dậy mạnh mẽ.

        Hôm đó anh Tố Hữu được Bác giới thiệu đọc bài thơ "Hãy nhớ lấy lời tôi" mà anh vừa sáng tác. Mọi người như được tiếp thêm lửa qua các vần thơ mà đến nay tôi vẫn nhớ:

                                            Anh đã chết, Anh Trỗi ơi có biết,
                                            Máu kêu máu, ở trên đời tha thiết!
                                            Du kích quân Ca-ra-cát đã vì Anh.
                                            Bắt một tên giặc Mỹ giữa đô thành.
                                            Anh đã chết, Anh chẳng còn thấy nữa.
                                            Lửa kêu lửa, giữa miền Nam rực lửa.


        Từ buổỉ được gặp Bác, trở về sư đoàn tôi vẫn tiếp tục chuẩn bị một cách âm thầm nhưng cụ thể hơn, tích cực hơn.

        Ngày nào tôi cũng dậy trước 4 giờ sáng tập đeo gạch đi từ Phổ Yên lên Đồng Quang và ngược lại, cứ thế kéo dài suốt hai tháng, thành quy luật, khiến công an huyện Phổ Yên sinh nghi, vào sư đoàn hỏi:

        - Hình như trong đơn vị các anh có người mang hàng lậu?

        - Không có - Đồng chí trực ban trả lời.

        - Nhưng sáng nào cũng có người từ sư đoàn đi ra, đeo vật gì rất nặng.

        - À đúng rồi, đấy là đại tá tư lệnh Hoàng Cầm tập hành quân mang nặng để chuẩn bị đi B đấy.

        - Sao các anh không cho địa phương biết. Đồng chí công an hỏi tiếp.

       -Nếu thế thì còn gì là bí mật quân sự nữa.

        Đoạn đối thoại trên do đồng chí trực ban thuật lại khi tôi vừa kết thúc buổi tập trở về.

        Cuối tháng 12 là mùa chuyển quân lý tưởng, nhưng với tôi vẫn không thấy động tĩnh gì.

        Không nản, tôi van tiếp tục tập luyện theo chương trình đã định.

        Một hôm thấy tôi trở về, mồ hôi đẫm áo, vợ tôi vừa cừơi vừa trêu:

        - Ế rồi! Hàng kém phẩm chất, không ai dùng đâu!

------------
        1. Đi vào miền Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #26 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2016, 07:53:04 am »

       
Chương 7

VÀO TRẬN

        Ấy là vào lúc quá nửa đêm ngày 10-1-1965, có tiếng gõ cửa và tiếng gọi quen thuộc của đồng chí cảnh vệ.

        Tôi dậy mở cửa thì có cả người thứ hai cùng đồng chí cảnh vệ bước vào. Đồng chí thiếu tá trang phục gọn gàng mang theo cả súng ngắn K59, dáng vẻ khẩn trương vừa giới thiệu mình là người của Cục Cán bộ vừa đưa cho tôi phong thư của anh Vịnh gửi và nói rất gọn với giọng nhấn mạnh:

        - Anh Vịnh1 cho tôi đưa xe lên đón anh về Hà Nội trước 4 giờ sáng.

        Đọc thư anh Vịnh được biết các anh trong Thường trực Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ định tôi đi B. Giờ giấc có mặt ở Hà Nội như đồng chí thiếu tá đã báo.

        - Không phải chuẩn bị gì? - Tôi hỏi đồng chí thiếu tá.

        Báo cáo anh, mọi thứ Bộ Tổng Tham mưu đã chuẩn bị đầy đủ Nhìn đồng hồ lúc này chứa đến hai giờ, tôi gọi vợ dậy báo tin, thì nhận được phản ứng, tưởng tôi nói đùa.

        - Bao nhiêu ngày chuẩn bị đều không đến lần, nay nửa đêm lại đi có mà hâm - rồi vợ tôi như đắc thắng hỏi dồn - Ai gọi anh?

        Tôi ôn tồn nói:

        - Đi thật mà, có lệnh đây - Thư anh Vịnh cho người mang lên.

        Đọc xong thư, đột ngột và xúc động vợ tôi khóc hơi to, phá cái yên tĩnh trong căn nhà, khiến chị gái tôi từ quê vừa lên thăm cháu khi chiều ngủ ở phòng bên thức giấc hỏi:

        - Có gì mà cậu mợ to tiếng thế?

        Cả cháu gái Hà cũng thức dậy chạy đến bên tôi, hỏi:

        - Bố mẹ đánh nhau hay sao mà khóc.

        Rồi cháu tung tăng chạy ra ngoài xem, vội vào ngay, ngây thơ reo lên:

        - Không phải xe của đơn vị bố đâu. Xe này đẹp lắm, bố đi công tác nước ngoài hả bố?

        Yên tĩnh đã trở lại, tôi nói với vợ:

        - Gấp rồi, em có gì chuẩn bị cho anh lên đường không?

        Vợ tôi bối rối và lúng túng, rồi chợt nghĩ nhanh:

        - À, có cái này – vợ tôi vừa nói vừa đến bàn mở lồng bàn reo lên - Có chân giò luộc sẵn, anh mang đi ăn đường.

        Vừa nói vợ tôi vừa lấy giấy gói chân giò bỏ vào túi xách của tôi (Khi vào Nam thuật lại chuyện này, anh em tặng cho cái tên Năm Giò heo sau đổi thành Năm Thạch - Thạch là tên con trai đầu của tôi).

        - Ăn sao được, mà có đói đâu!

        Vợ tôi buồn, thất vọng lại càng lúng túng, bất lực.

        - Có tiền cho vài đồng xuống Hà Nội ăn quà sáng vậy - Tôi gỡ bí cho vợ.

        Rút ngăn kéo, vợ tôi reo lên, như đáp ứng đúng yêu cầu của tôi:

        - Còn 5 đồng anh ạ!

        Tôi nhận cho vợ vui, xuống đến Hà Nội tặng luôn cho đồng chí lái xe.

        Đã chuẩn bị trước một tổ tâm giao gồm có Chú, trinh sát, Đắc thư ký cùng đi với nhau khi có lệnh, nhưng lệnh đi gấp thế này sao mà chuẩn bị kịp. Vả lại lúc này Đắc sắp cưới vợ, Chú ốm đi viện. Trước khi đi tôi tranh thủ ghi vài dòng để lại động viên, chuẩn bị sẵn sàng, khi có điện của tôi từ trong đó ra yêu cầu là lên đường được ngay.

        Xem đồng hồ còn 5 phút, tôi tranh thủ nhắn nhủ vợ con:

        - Vào trong đó thư từ liên lạc ra khó, ở nhà mọi việc đã có tổ chức lo, nhưng mình tự lực vẫn là hơn. Em nên thu xếp về thị xã Vĩnh Yên, có điều kiện gần ông bà ngoại lúc sớm tối, vì chị đã già yếu không ở lâu giúp đỡ vợ chồng mình được.

        Vợ tôi khóc, không nói cứ ấn cái chân giò vào túi xách của tôi (chân giò mua hồi chiều, luộc sẵn chuẩn bị bữa ăn trưa ngày mai, chủ nhật). Tôi cũng thực sự xúc động về tình cảm dồn nén của vợ đã dành cho tôi bằng sự im lặng, không muốn tôi phải bận tâm một điều gì trong giờ phút cần phải thanh thản và cứng rắn này. Phút yên lặng tiếp tục trôi nhanh, vợ tôi cố nén tiếng sụt sùi nhưng nước mắt cứ trào ra, chỉ hỏi: "Đã đến giờ chưa anh?".

        Tôi trả lời "chưa" - đúng là thời gian còn cho phép tôi ngồi lại với vợ chỉ còn 5 phút, để nói với nhau những điều cần nói.

        Nhưng chẳng ai nói được điều gì. Lần đầu tiên được nghe vợ khóc không phải vì xô xát, đổ vỡ mà là tiếng khóc thương cảm, lưu luyến của đạo vợ chồng, của lo toan và trách nhiệm, vì một mình với năm con nhỏ sẽ chống đỡ thế nào với cuộc sống, công tác (vợ tôi lúc này là nhân viên của phòng tài chính huyện Phổ Yên), với cả tình hình đất nước đang rất căng thẳng: không quân Mỹ đã bắt đầu đánh phá miền Bắc, cuộc sống thời chiến đang đến gõ cửa từng nhà, ở bất cứ đâu. (Sau này được biết những ngày vất vả lo toan ấy vợ tôi đã sút 8 cân).

-------------
        1. Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Trưởng ban Thống nhất Trung ương Đảng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #27 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2016, 07:53:55 am »


        Giờ lên đường đã đến. Thế là chưa đầy một tiếng, mọi chuyện chung riêng đã xong.

        Tạm biệt vợ con, tạm biệt các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn.

        Tạm biệt phố Phổ Yên còn nghèo về vật chất mà gịàu tình nghĩa, đã để lại trong tôi những kỷ niệm không quên về những ngày hoà bình ngắn ngủi, đã giúp đỡ gia đình tôi thật nhiều trong những ngày tôi đi xa.

        Đường vắng, xe chạy nhanh đến Hà Nội trước 4 giờ sáng.

        Thực hiện quy ước, tôi tranh thủ ghé thăm anh Tô Ký - như đã hứa đi hay không cũng đến báo tin.

        Được biết tôi lên đường ngay sáng nay, anh rất vui, lúc chia tay anh rơm rớm nước mắt. Lấy khăn tay lau vội, anh nói:

        - Lời hứa hai nay được một. Đến nơi nhớ kêu tôi cùng vô nghe!

        Tôi bắt tay tạm biệt. Anh bước theo giúi vào tay tôi chiếc đồng hồ:

        - Kỷ niệm, vào trong đó làm phương tiện tính toán hiệp đồng.

        Tôi xúc động muốn khóc:

        - Cám ơn anh!

        Năm 1960 - 1961 tôi và anh Tô Ký cùng học một lớp quân sự cao cấp ở nước ngoài. Anh đinh ninh nếu cuộc chiến đấu ở miền Nam nổ ra, anh sẽ là người lên đường trước, vì quê anh ở vùng Hóc Môn, Gò Vấp. Trong kháng chiến chín năm anh chiến đấu nhiều ngày ở quanh vùng Sài Gòn và Đông Nam Bộ. Hai chúng tôi hiểu nhau, thân nhau, hẹn khi lớp học bế giảng, anh vào trước thế nào cũng điện ra xin tôi vào cùng nhau cộng tác.

        Nhưng khi khoá học chuyển sang khoa nghệ thuật chiến dịch thì anh bị đau dạ dày nặng, thuộc loại vĩnh viễn không đi được.

        Tạm biệt anh Tô Ký, xe đưa tôi về nhà anh Vịnh.

        Như đã chờ sẵn, thấy tôi vừa ra khỏi xe, anh Vịnh đến, cầm tay lắc mạnh và biểu dương:

        - Rất đúng giờ.

        Anh Vịnh mời tôi ăn sáng và tranh thủ phổ biến công việc.

        Theo yêu cầu đích danh của anh Nguyễn Chí Thanh điện ra, trên quyết định anh vào chiến trường Đông Nam Bộ. Cụ thể thế nào vào trong đó sẽ rõ. Cùng vào với anh còn có một người nữa cũng tập trung ở đây sau đó đi luôn. Thời gian không còn nhiều.

        Chờ đến 6 giờ thì có tiếng còi ô tô ở ngoài cổng. Nhìn ra đã thấy anh Trần Độ từ xe bước xuống với tư thế gọn gàng, không có hành lý mang theo. Tôi ngầm phán đoán - người cùng đi chắc là anh Trần Độ.

        Tôi ra cửa đón anh với tình cảm ấm áp:

        - A! Thế ra chúng ta cùng đi?

        Anh Trần Độ nét mặt rạng rỡ, nắm chặt tay tôi:

        - Mình chỉ được báo cùng đi với một đồng chí quan trọng, té ra là ông! Đúng là quả đất tròn.

        - Anh Tấn đã vào trước - Tôi đế vào.

        - Đúng, cả Bộ chỉ huy Sư đoàn 312 cũ lại có mặt đầy đủ!

        Hai chúng tôi sang gặp anh Văn. Thời gian còn lại rất ít, anh chỉ dặn, cần giữ gìn sức khỏe, đoàn kết, khiêm tốn. Làm nhiệm vụ gì, làm như thế nào, đã có anh Nguyễn Chí Thanh.

        Sau cùng anh nắm chặt tay chúng tôi, chúc lên đường thắng lợi.

        Xe đưa chúng tôi ra sân bay Gia Lâm. Chiếc máy bay AN-26 trực sẵn, khi chúng tôi ngồi vào hàng ghế, thắt đai bảo hiểm xong thì cũng là lúc máy bay cất cánh, hơn một giờ sau hạ cánh xuống sân bay Quảng Châu. Tại đây cái hăm hở đi tiếp phải tạm hoãn vì có trục trặc "kỹ thuật". Sang đến ngày thứ năm vẫn im ắng, chúng tôi định điện về báo cáo cụ thể, sau nghĩ lại như vậy sẽ lộ bí mật. Đốt thời gian, chúng tôi đi tham quan thành phố. Đi mãi cũng chán, tiền không có càng chán, đành nằm khàn, kiên nhẫn chờ.

        Sang đêm thứ chín mới có lệnh chuẩn bị. Sáng sớm hôm sau, chưa rõ mặt người hai chúng tôi được phổ biến kế hoạch hành quân chính thức: đường đi sẽ qua Hoàng Sa, Trường Sa, cần phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Anh Trần Độ đóng vai công nhân thợ máy, tôi công nhân đốt lò trên chiếc tàu buôn Trung Quốc chở thiết bị đường sắt xuất khẩu sang Campuchia.

        Gần một tuần lễ lênh đênh trên biển cả, cảnh vật đơn điệu chỉ có nước và mây, không khí căng thẳng nhiều hơn là thanh bình, vì tàu của hạm đội 7 Mỹ giăng ra sục sạo nhiều, chúng tự đặt cho mình cái quyền tự do khám xét, bắt giữ các tàu lạ, kể cả tàu của các hãng vận tải biển quốc tế. Trước khi về đích, tàu của chúng tôi phải vòng sát Singapore rồi mới quặt lại hướng đông-bắc, chắc là đề phòng địch theo dõi.

        Sang ngày thứ tám, tàu cập cảng Công-pông-xom (trước gọi là Xi-ha-núc-vin).

        Mọi thứ nhất nhất chúng tôi đều làm theo sự chỉ đạo vô hình nào đó nhưng rất chặt chẽ, cụ thể và khoa học.

        Như thường lệ chúng tôi ăn sáng, nhưng bữa nay ngon hơn, ăn được nhiều hơn, có lẽ vì đã được hưởng không khí của đất liền, quan trọng hơn là sắp được gặp bạn bè đồng chí, được gặp cấp trên giao nhiệm vụ cụ thể.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #28 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2016, 07:54:29 am »


        Khoảng 9 giờ sáng, Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia, đúng hẹn đi chiếc xe du lịch màu lam xuống cảng, đã chờ sẵn ngay lối lên xuống cầu tàu. Theo sự chỉ dẫn của bạn, hai chúng tôi khẩn trương lên bờ vào xe ngay, chưa kịp đóng cửa, xe đã lăn bánh, tư trang hành lý đành bỏ lại dưới tàu.

        Xe đi bốn người, để lại hai người, thay bằng hai chúng tôi để khi hải quan bến cảng kiểm soát lúc xe vào bốn, khi trở ra vẫn đủ bốn, thế là được.

        Qua khỏi bến cảng xe phóng với tốc độ nhanh, chủ khách đều im lặng không chuyện trò, vì vẫn phải cảnh giác. Vả lại chúng tôi không biết nói gì lúc này. Bình cảnh vật trên đường ư, đây là lần đầu mới qua. Hỏi chuyện chủ ư, biết thế nào mà hỏi vì ngôn ngữ bất đồng.

        Không khí yên lặng. Chỉ còn tiếng động cơ và tiếng bánh xe lăn. Tất cả đều nhìn về phía trước một cách chăm chú và cảnh giác. Ai nấy đều thầm mong tới đích an toàn càng sớm càng tốt.

        Cảnh vật cứ xuất hiện, lùi nhanh về phía sau. Độ khoảng 200 ki-lô-mét có một lối rẽ theo mũi tên chỉ dẫn - đường đi Phnôm Pênh, chợt thấy có một xe ô tô chờ sẵn. Trong xe có hai người lớn và hai cháu nhỏ.

        Chúng tôi được lệnh chuyển xe. Vừa ra khỏi xe này thì có tiếng từ xe chờ sẵn:

        - Mời hai bác lên xe.

        Để chúng tôi yên tâm và khẩn trương thực hiện, người đàn ông ghé sát tai tôi nói nhỏ:

        - Tôi là cơ sở được lệnh đến đón các anh, mời hai anh lên xe ta đi ngay.

        Người đón chúng tôi là vợ chồng đồng chí Ba Dâu và hai con nhỏ, làm như gia đình thương gia giầu có đi vãn cảnh đẹp.

        Tôi bế một cháu nhỏ vào lòng. Từ đây chủ khách hiểu nhau, chuyện trò thoải mái. Ba Dâu cho biết trên đường đi phải cảnh giác, khi về đến Phnôm Pênh là các anh được sống tự do thoải mái nhưng không được ra ngoài.

        - Đã tự do thoải mái lại không được ra ngoài, sao mâu thuẫn vậy? - Anh Trần Độ hỏi.

        - Sợ các anh lạc, khi có lệnh chuyển chỗ biết đâu mà tìm.

        - Các anh đã đón đoàn nào từ miền Bắc vào chưa? - Tôi hỏi tiếp.

        - Nhiều rồi - tỏ vẻ tự hào, Ba Dâu kể tiếp - Có cả đoàn anh Sáu Di.

        - Sáu Di nào?

        - Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đó.

        Đúng là về đến đây cuộc sống có dễ chịu hơn. Chúng tôi mở đài nghe tin tức phát đi từ Hà Nội vì đã gần tháng xa miền Bắc, xa Thủ đô.

        Ba Dâu đến can:

        - Đề nghị các anh không nên mở ra-đi-ô, vì đây là cái kho chứa hàng của chủ một hãng buôn người Hoa ngay trung tâm thủ đô, tụi tôi đang danh nghĩa là người làm thuê, sợ tụi chúng ở trên lầu để ý.

        Chúng tôi nghiêm chỉnh thực hiện ngay, chỉ trách nhẹ Ba Dâu:

        - Sao anh không nhắc trước.

        - Xin lỗi tôi có sơ suất mong hai anh thông cảm - Ba Dâu nói.

        Nghỉ hôm trước, hôm sau chủ nhật hai xe ô tô du lịch sang trọng màu sữa đến đón chúng tôi xuôi theo đường 7 về Công Pông Chàm. Đến điểm hẹn quá sớm, mặt trời mới xế chiều. Nhưng đồng chí lái xe hình như đã quen với tình huống này, liền tự động cởi quần áo ngoài, xoay trần người chui vào gầm xe hết vặn lại gõ như người chăm chú, cần mẫn chữa xe hỏng thật. Còn hai chúng tôi trong bộ áo quần thương gia trong khi chờ đợi xe đi ngoạn cảnh đẹp đồng quê, không phải giả mà thích thú thật vì lần đầu được tận mắt nhìn thấy rừng cao su, thấy cây tiêu và cây thốt nốt.

        Rồi xem cả thanh niên địa phương đấu bóng.

        Nhưng màn kịch đóng quá lâu mà vẫn không thấy tín hiệu gì trời lại sắp tối. Đã nghĩ đến chuyện quay lại nơi xuất phát, song đêm tối thế này sao đảm bảo được an toàn. Đang lúc tính tính tới lui như thế thì nhận được tín hiệu người của ta đang từ xa tới. Tất cả còn trẻ, nhưng lanh lợi, hoạt bát, rất tinh thông với nhiệm vụ dẫn đường.

        Đến gần chúng tôi, ngay từ phút đầu các đồng chí không tỏ ra cởi mở, không cả thăm hỏi xã giao, chỉ cộc lốc một câu: "Đi thôi các chú". Nói xong các đồng chí khoác tay hai chúng tôi lôi đi rất nhanh. Tất cả đều trong im lặng (chạy thì đúng hơn) khoảng 500 mét, bỗng các đồng chí reo lên:

        - Đất ta, an toàn rồi các chú!

        Nói xong, các đồng chí rời tay chúng tôi, tất cả đi bình thường.

        Chúng tôi được đưa vào trạm đón tiếp đầu tiên của Trung ương Cục đặt ở khu vực Cà Tum - Tân Biên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #29 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2016, 07:55:31 am »


        Người đón chúng tôi ở đây là anh Huỳnh Khánh Minh, thư ký của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

        Ngay từ phút đầu đã tay bắt mặt mừng, chuyện trò rôm rả, cười nói hết cỡ, chẳng còn phải đắn đo như những ngày đi đường. Các anh ở trong này muốn biết đủ thứ chuyện miền Bắc, chúng tôi cứ thay nhau trả lời như là trả lời phỏng vấn, mệt nhưng vui.

        Đến lượt chúng tôi, câu đầu tiên hỏi:

        - Đời sống trong này thế nào - Ý muốn hỏi đời sống nhân dân nói chung.

        Các đồng chí trong này lại muốn đi vào cụ thể, ngay ở cái trạm đón khách này. Các đồng chí giới thiệu tình hình đơn vị mình không đến nỗi nào.

        Anh Huỳnh Khánh Minh trả lời:

        - Khác xa ngoài đó, nhưng không sao - Anh Minh nói tiếp - Cứ yên tâm đi, chút xíu nữa sẽ biết khác.

        - Khác cụ thể là thế nào? - Tôi hỏi lại.

        Một đồng chí giao liên chen vào:

        - Khác xa là khác - rồi anh ngâm:

Tối buồn làm bát cháo gà
Sáng dậy được uống chén trà Thái Nguyên.

        Anh Minh tiếp lời:

        - Bây giờ trời đã tối, xin mời các anh làm bát cháo gà để lấy lại sức khỏe khi đi đường.

        Ngay tối hôm đó chúng tôi được cấp phát quần áo bà ba đen thay cho bộ âu phục thương gia, dép râu thay cho giày da. Và mỗi người còn được trang bị một xe đạp cải tiến, không phanh, không gác-đờ-bu là phương tiện hành quân ngày mai.

        Hôm sau ăn sáng và được chiêu đãi chè Thái Nguyên xong, chúng tôi tiếp tục lên đường về hướng trụ sở Trung ương Cục.

        Mới qua 10 ki-lô-mét chúng tôi đành quay ra cuốc bộ, giã từ xe đạp vì không quen điều khiển, nếu đi nữa càng xe đập vào mắt cá chân gây đau thêm.

        Lần đầu tiên đi trên đất Đông Nam Bộ, cảnh quan lạ nhiều hơn là quen. Rừng rậm mà bằng tưởng như vườn rậm ngoài Bắc, khi qua trảng tưởng như sân vận động bỏ hoang, qua bàu (hồ nhỏ) tưởng như đang ra cửa rừng, không khí bỗng thoáng mát dễ chịu. Những cây gỗ to, cao, thẳng, tán rộng, lạ cả về hình thù và tên gọi, như sao, dầu, săng lẻ, dền dền (như xà cừ), gõ (như gụ), bõ, bằng lăng, cầy. Qua các làng mang tên chữ số như làng Tám, làng Mười chưa nghe qua bao giờ (sau mới biết đó là nơi ở của đồng bào miền Bắc vào làm phu cao su cho bọn chủ đồn điền người Pháp, bị chúng dồn đẩy vào từng khu vực, có đánh số thứ tự để tiện theo dõi, đốc thúc, đàn áp nếu ai có hành động phản kháng).

        Xế chiều chúng tôi tới Trung ương Cục. Tại đây được gặp đông đủ các anh Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà, Phan Văn Đáng, Lê Trọng Tấn, Văn Phác.

        Hai chúng tôi lại gặp may, được các anh trong Trung ương Cục chiêu đãi một bữa thật đã, thịt bò tái.

        Vào bữa anh Thanh hỏi vui:

        - Các cậu có thích thưởng thức món thịt tái không?

        - Dạ, có - Tôi trả lời.

        - Nhưng trong này chỉ có tái nhúng.

        - Tái nhúng là gì, xin anh giải thích.

        - Là bò nhúng nước sôi.

        - Sao ở đây giữa rừng hoang lại có bò.

        - Bò rừng.

        Tôi cứ đinh ninh đây là thịt bò chính hiệu, nhưng sau các anh giải thích "bò rừng" tức là chú "nai vàng ngơ ngác" khi chiều không biết từ đâu tới lọt đúng vào đường ngắm của tổ cảnh vệ.

        Anh Thanh còn nói vui: số các cậu may đấy. Tại Sài Gòn có tiền cũng không được đã đời như thế này.

        Những năm tháng chiến đấu ở mặt trận Tây Bắc năm xưa, chúng tôi thường hay được cải thiện bằng các loại đặc sản hươu, nai, hoẵng, lợn rừng, có khi cả hổ, gấu. Nhưng thời gian đã lùi xa, không còn cảm giác. Vả lại lần đầu ăn theo kiểu tái nhúng1 khó mà phân biệt được bò rừng hay bò nhà.

        Người ăn gắp thịt bỏ vào canh chua được nấu sôi bằng bếp lò, sau 3 đến 5 phút gắp ra dùng bánh tráng kèm theo rau thơm cuốn tròn như chả nem chưa rán. chấm với mắm nêm.

        Đây là một kỷ niệm nhỏ khó quên khi lần đầu tôi đặt chân lên mảnh đất miền Đông Nam Bộ.

------------
        1. Thịt bò loại ngon được thái miếng mông dài khoảng 4 đến 5 xăng-ti-mét bày lên đĩa.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM