Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Năm, 2020, 07:19:14 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)  (Đọc 18393 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #40 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:30:39 am »


        d. Về đối ngoại

        Mỹ là nước có sức mạnh kinh tế và quân sự lớn hơn ta nhiều lần. Trong điều kiện đó, việc xây dựng hậu phương cho cuộc kháng chiến không thể chỉ giới hạn trên địa bàn miền Bắc Việt Nam mà còn phải ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, qua đó, mở rộng hậu phương chiến lược của ta và thu hẹp hậu phương của địch. Chỉ có như thế, chúng ta mới làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập cách mạng Việt Nam của đế quốc Mỹ; mới đảm bảo cho hậu phương miền Bắc có đầy đủ điều kiện để đương đầu và đánh bại mọi hành động chiến tranh của Mỹ cũng như mới đảm bảo cho miền Bắc phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam.

        Trong bối cảnh quốc tế vừa thuận lợi nhưng lại vừa phức tạp, khó khăn, Đảng, Nhà nước ta ngay từ đầu và suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, đã đề ra và kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại nhằm tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt với Liên Xô, Trung Quốc và hai nước láng giềng là Lào và Cam-pu-chia. Nội dung cơ bản của đường lối đó là: trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế để đẩy mạnh cuộc kháng chiến.

        Đối với Cách mạng Lào và Cam-pu-chia, Đảng, Nhà nước ta chủ trương giúp đỡ trên tinh thần quốc tế trong sáng. Trong thực tế, Đảng và Nhà nước thường xuyên giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hiểu rõ tầm quan trọng của liên minh chiến đấu với Lào và Cam-pu-chia, đề phòng tư tưởng hẹp hòi hoặc chủ nghĩa sô-vanh, nước lớn. Suốt những năm chống Mỹ, nhất là từ năm 1960 trở đi, miền Bắc không chỉ là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam mà còn là hậu phương của cách mạng Lào, Cam-pu-chia. Những người lính tình nguyện và cán bộ dân, chính, đảng chiến đấu, công tác ở vùng giải phóng Lào hay ở Cam-pu-chia đều thấu suốt đường lối quan điểm trên đây của Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, cán bộ, chiến sĩ ta được nhân dân Lào, nhân dân Cam-pu-chia tận tình ủng hộ, giúp đỡ.

        Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản, Đảng và Nhà nước ta kiên trì giải thích, thuyết phục, làm cho bạn hiểu rõ và hiểu đúng chủ trương chiến lược, khả năng chiến thắng và sách lược của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, qua đó, tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ của bạn.

        Trước những thủ đoạn, ngoại giao và những luận điệu tuyên truyền hòng đánh lạc hướng dư luận, biện hộ cho hành động xâm lược của Mỹ, chúng ta đã đẩy mạnh tuyên truyền đối ngoại, vạch rõ âm mưu và những tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam, làm cho nhân dân và chính phủ nhiều nước - trước hết là các dân tộc Á, Phi, Mỹ La-tinh đồng tình, ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta, phản đối chính sách hiếu chiến và xâm lược của đế quốc Mỹ.

        Đối với nhân dân tiến bộ Mỹ, Đảng và Nhà nước chủ trương làm cho họ ngày càng hiểu rõ lập trường và thiện chí của ta, thấy được tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược mà các đời tổng thống Mỹ theo đuổi ở Việt Nam.

        Tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những thắng lợi ở hai miền Nam - Bắc, sự vững chắc của hậu phương chiến lược trước thử thách ác liệt của chiến tranh cùng đường lối đối ngoại trên đây của Đảng và Nhà nước ta đã làm thất bại âm mưu và nhiều thủ đoạn ngoại giao của Mỹ, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế ngày càng rộng rãi, to lớn. Trên thực tế, trong kháng chiến chống Mỹ, mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam đã hình thành, Tòa án quốc tế Béc-tơ-răng Rút-xen được thành lập và tiến hành các phiên họp xét xử tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Chính phủ, các nhà hoạt động chính trị, xã hội và dư luận nhiều nước, kể cả một số đồng minh chiến lược của Mỹ đã lên tiếng phê phán cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương...

        Về mặt đó, hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ không chỉ là miền Bắc. Hậu phương đó còn là sự đồng tình, cổ vũ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của dư luận tiến bộ và chính phủ nhiều nước trên thế giới.

        Trong khi hậu phương của cuộc kháng chiến chống Mỹ được củng cố, tăng cường, ảnh hưởng của nó ngày càng mở rộng ra ngoài phạm vi miền Bắc Việt Nam thì hậu phương của địch lại ngày càng bị thu hẹp. Trên thế giới, nhiều nước đồng minh của Mỹ, kể cả các nước Tây Âu và Nhật Bản, nhân lúc Mỹ bị sa lầy ở Việt Nam, đã mạnh mẽ vươn lên, trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ về kinh tế và quân sự. Bên trong nước Mỹ, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền không ngừng tăng lên, biến thành sự bất đồng về chính trị ngày càng gay gắt trong nội bộ giới lãnh đạo Mỹ và giữa các tầng lớp nhân dân Mỹ với chính quyền liên bang. Vào những năm 1967 - 1968, 1971, 1972, phong trào chống chiến tranh đã biến thành các cuộc bạo động dữ dội ở nhiều thành phố lớn của Mỹ. Tất cả những điều đó trở thành nhân tố ngày càng quan trọng, tác động mạnh tới sự ổn định trong lòng nước Mỹ, chi phối quá trình điều hành chiến tranh của chính quyền Hoa Kỳ. Và cuối cùng nó là một trong những nhân tố quan trọng buộc Mỹ phải chấm dứt sự dính líu về quân sự ở Việt Nam để ưu tiên cho các vấn đề trong nước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #41 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:32:01 am »


        2. Bảo vệ và phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc

        a. Âm mưu và hành động chống phá miền Bắc của địch

        Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc luôn luôn phải đối phó với âm mưu và thủ đoạn phung phá của Mỹ - ngụy trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, tư tưởng, quân sự và ngoại giao. Mỹ - ngụy chống phá miền Bắc nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực của chúng ở miền Nam; ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc, đè bẹp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Vì vậy, hành động chống phá miền Bắc của địch chủ yếu là bằng biện pháp quân sự và ngày càng trở nên ác liệt theo mức độ gia tăng của chiến tranh ở chiến trường chính miền Nam.

        Từ sau năm 1954 đến năm 1964, địch sử dụng các thủ đoạn, biện pháp như chiến tranh tâm lý, tung biệt kích, thám báo vào miền Bắc; móc nối với các phần tử phản động nằm vùng hoạt động gián điệp, kích động sự chống đối của một bộ phận quần chúng, tiến hành các hoạt động phá hoại hòng gây mất ổn định từ bên trong. Qua đó phá hoại công cuộc xây dựng miền Bắc, ngăn cản sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Điển hình của các hoạt động này là hoạt động của tổ chức CIA đối với miền Bắc từ sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Dưới cái tên “phái đoàn quân sự Sài Gòn” (S.M.M) do E.G.Lên-xđên cầm đầu, CIA đã ráo riết hoạt động như phá hoại máy móc ở các thành thị miền Bắc trước ngày ta tiếp quản, tung tin, xuyên tạc, kích động quần chúng di cư vào Nam, bí mật cài người và tuồn vũ khí vào miền Bắc, tung tin xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta, lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để gây bạo loạn (đặc biệt ở các vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa).

        Từ 1961, tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi chỉ thị cho Bộ trưởng Quốc phòng, Cục trưởng Cục Tình báo Trung ương (CIA), xây dựng các chương trình ngắn hạn và dài hạn bí mật chống miền Bắc. Tháng 10 năm 1961, Ken-nơ-đi ra lệnh tiến hành các hoạt động biệt kích, kể cả việc dùng cố vấn Mỹ để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc. Tháng 12 năm 1961, chương trình tuyển mộ người Việt Nam để thành lập các đội đánh mìn hoạt động ở các vùng biển chiến lược miền Bắc do CIA đỡ đầu, đã được tổng thống Mỹ phê chuẩn.

        Các hoạt động chống phá miền Bắc tiếp tục gia tăng cả về mức độ, cường độ suốt các năm 1962 -1963; tung biệt kích thám báo vào sâu nội địa miền Bắc, thực hiện các cuộc tuần tiễu DESOTO dọc bờ biển miền Bắc, vạch kế hoạch 34A nhằm chuẩn bị cho các âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ đối với miền Bắc.

        Sau một loạt các hoạt động chống phá và khiêu khích (dùng tàu biệt kích nã pháo vào các đảo và một số vùng bờ biển miền Bắc, bắt các ngư dân, dựng nên sự kiện ngày 5 tháng 8 năm 1964 để cho 64 máy bay ném bom miền Bắc…) từ đầu năm 1965, Mỹ sử dụng không quân, hải quân, mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn, với mức độ ngày càng ác liệt. Âm mưu của Mỹ là bẻ gãy ý chí kháng chiến của nhân dân miền Bắc, phá hoại tiềm lực về mọi mặt của miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam, nâng đỡ tỉnh thần của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn.

        Thực hiện mục tiêu đó, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968) và lần thứ hai (1972), Mỹ sử dụng một số lượng lớn máy bay, tàu chiến ném xuống miền Bắc một khối lượng bom đạn khổng lồ các loại. Bom đạn Mỹ đã tàn hại nặng nề 4.000/5.708 xã, 28/30 tỉnh lỵ, 350 bệnh viện, 1.300 trường học và các hệ thống giao thông, công trình thủy lợi, các cơ sở kinh tế chủ chốt của miền Bắc, gây bao đau thương tang tóc cho nhiều gia đình, sát hại và để lại thương tích cho hàng trăm nghìn dân thường miền Bắc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #42 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:33:52 am »


        b. Bảo vệ hậu phương miền Bắc

        Trước tình hình Mỹ - ngụy tăng cường hoạt động chống phá miền Bắc, ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện các biện pháp nhằm làm cho miền Bắc vững mạnh về chính trị, trong sạch về tổ chức.

        Xuất phát từ quan điểm xây dựng và bảo vệ miền Bắc là sự nghiệp của toàn dân, đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố nền quốc phòng toàn dân, Đảng và Nhà nước thường xuyên chú trọng giáo dục chính trị cho nhân dân, làm cho mọi người dân hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, thấy rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù. Qua đó, nâng cao ý thức chính trị, củng cố sự đoàn kết nhất trí trong mọi tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân giữ vững ý chí, quyết tâm kháng chiến chống Mỹ.

        Từ những ngày đầu hòa bình lập lại và suốt những năm chống chiến tránh phá hoại của Mỹ, miền Bắc đã trải qua nhiều cuộc vận động chính trị (cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa, phong trào hợp tác hóa, phong trào cải tiến quản lý xí nghiệp, phong trào thi đua đạt 5 tấn thóc trên 1 ha gieo trồng...). Thông qua các cuộc vận động này, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân; phù hợp với nguyện vọng và ý chí của nhân dân, được nhân dân đón nhận và thực hiện tự nguyện tự giác.

        Mặt khác, Đảng luôn chăm lo giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng, kịp thời phát hiện để uốn nắn hoặc xử lý nghiêm khắc mọi biểu hiện xa rời lập trường, quan điểm của Đảng, xa rời quần chúng nhân dân của một số cán bộ, đảng viên. Do vậy mà trong gian khổ, khó khăn, đội ngũ cán bộ, đảng viên càng gắn bó với nhân dân, gương mẫu và tiên phong trong lối sống, công tác và chiến đấu, được nhân dân tin cậy, mến phục.

        Một thành công của công tác chính trị thời kỳ chống Mỹ là Đảng và Nhà nước đã giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân tinh thần đoàn kết quốc tế, làm cho mọi người hiểu rõ nhiệm vụ đối với cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Nhờ đó, tình đoàn kết giữa quân đội và nhân dân ba nước qua thử thách trong kháng chiến chống thực dân Pháp được tiếp tục phát huy mạnh mẽ trong kháng chiến chống Mỹ. Con em ở miền Bắc chẳng những đánh giặc ở miền Nam, mà còn chiến đấu ở Lào và Cam-pu-chia. Miền Bắc là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam và cũng là hậu phương của cách mạng hai nước láng giềng.

        Như vậy, những năm chống Mỹ, nhờ tiến hành có hiệu quả công tác giáo dục chính trị cho nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã giữ vững được sự nhất trí về chính trị, tinh thần trong xã hội miền Bắc. Dựa trên cơ sở đó, Đảng đã động viên toàn dân, tổ chức toàn dân tham gia giữ gìn và bảo vệ an ninh chính trị trật tự và an toàn xã hội. Nòng cốt trong nhiệm vụ này là lực lượng công an và dân quân tự vệ. Trong các thôn xã, công nông trường, xí nghiệp, hầm mỏ, cơ quan nhà nước, lực lượng dân quân tự vệ phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nếu năm 1965, lực lượng này có 1.670.785 thì đến năm 1969, con số đó tăng đến 2.202.216 và năm 1975 là 2.501.865. Bên cạnh lực lượng công an, dân quân tự vệ, miền Bắc còn chú trọng tăng cường lực lượng biên phòng. Tại các vùng biên giới hải đảo, giới tuyến quân sự và những vị trí có tầm quan trọng về an ninh, hệ thống đồn canh, trạm kiểm soát, các công trình phòng thủ được thiết lập, củng cố.

        Công cuộc xây dựng miền Bắc càng tiến triển, Mỹ - ngụy càng đẩy mạnh hoạt động chống phá. Trước tình hình đó, để phục vụ cho yêu cầu xây dựng miền Bắc, củng cố quốc phòng, giũ vững an ninh, miền Bắc tiến hành thống kê dân số, thực hiện chế độ hộ khẩu. Phòng ngừa sự lợi dụng của các phần tử phản động, các địa phương miền Bắc kết hợp cuộc vận động bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu với việc xây dựng nếp sống văn minh, đảm bảo trật tự công cộng.

        Tháng 6 năm 1961, ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua nghị quyết về việc tập trung cải tạo những phần tử có hoạt động nguy hại cho trật tự trị an. Tháng 6 năm 1962, Hội đồng Chính phủ ra nghị định quy định rõ những vấn đề thuộc về an ninh bí mật quốc gia và trách nhiệm của mọi công dân trong việc giữ gìn, bảo vệ bí mật nhà nước. Những văn bản mang tính pháp luật đó góp phần trấn áp kịp thời và có hiệu quả các lực lượng phản động tay sai của Mỹ - ngụy, giữ vững an ninh chính tri, trật tự an toàn xã hội.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #43 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:35:51 am »


        Theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình, phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn mới của địch đối với miền Bắc, Đảng và Nhà nước sớm có kế hoạch và biện pháp chuẩn bị. Vì vậy, khi Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo tổ chức nhân dân kịp thời chuyển nhanh toàn bộ hoạt động từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục xây dựng hậu phương trong điều kiện chiến tranh.

        Từ đầu năm 1964, trước âm mưu tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược của Mỹ, Hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc được triệu tập. Hội nghị bàn biện pháp triển khai và tăng cường hệ thống phòng không nhân dân ba thứ quân, kế hoạch sơ tán nhân dân khỏi những vùng trọng điểm. Nhằm động viên chính trị toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, giữ vững ý chí, quyết tâm hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà Nội (27-3-1964). Phát biểu tại hội nghị, Người nêu rõ “trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới”. Người kêu gọi nhân dân miền Bắc, mỗi người “phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”.

        Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại hội nghị được phổ biến sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân miền Bắc. Tháng 4 năm 1964, Ban Bí thư Trung ương ra chỉ thị phát động phong trào thi đua “mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam”.

        Tháng 6 năm 1964, Bộ Chính trị ra chỉ thị về tăng cường công tác phòng không, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Chỉ thị nêu rõ: phương châm đối phó cơ bản của ta là “kết hợp mọi biện pháp đánh địch và biện pháp phòng tránh; lấy bộ đội phòng không làm nòng cốt, kết hợp với việc phát động một phong trào rộng rãi bắn máy bay địch bằng mọi thứ súng của bộ binh và các lực lượng dân quân tự vệ”1.

        Thực hiện chủ trương trên, quân và dân miền Bắc tích cực chuẩn bị mọi mặt, đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới.

        Lực lượng vũ trang gấp rút chấn chỉnh biên chế, tổ chức, tăng cường về số lượng. Các đơn vị được lệnh tổ chức báo động, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Quân chủng Phòng không - Không quân hoàn chỉnh phương án chiến đấu, triển khai lực lượng theo hướng tập trung hỏa lực bảo vệ các mục tiêu chủ yếu, đồng thời hình thành lực lượng chiến đấu tại chỗ, rộng khắp. Quân chủng Hải quân từ tháng 7 năm 1964 chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường tuần tiễu dọc bờ biển, tổ chức Bộ tư lệnh tiền phương ở vùng biển Quân khu 4. Các quân binh chủng khác cũng gấp rút hình thành phương án chiến đấu, đảm bảo giao thông trong điều kiện địch đánh rộng ra miền Bắc. Các địa phương tập dượt huấn luyện chiến đấu, phục vụ chiến đấu, sơ tán, phán tán tài sản và nhân dân...

        Vùng ven biển, vùng giới tuyến quân sự, vùng biên giới phía Tây, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương được phổ biến kế hoạch phòng chống bộ binh, máy bay, tàu chiến và pháo binh địch. Tại các vùng này, lực lượng vũ trang địa phương tăng cường tuần tiễu, bố phòng nhằm chống sự đột nhập, phá hoại của địch. Các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với công an vũ trang, dân quân tự vệ triển khai chuẩn bị theo kế hoạch phòng thủ. Trong nội địa, các binh đoàn chủ lực tập kết tại những khu vực quy định, sẵn sàng cơ động chiến đấu ở các hướng cần thiết.

        Nhờ công tác chuẩn bị trên đây, quân và dân miền Bắc đã làm thất bại các âm mưu phá hoại, khiêu khích của địch, trừng trị kịp thời máy bay Mỹ trong ngày 5 tháng 8 năm 1964. Trong trận đầu đọ sức trực tiếp với không quân Mỹ, lực lượng phòng không miền Bắc đã bắn rơi 8 máy bay, bắt sống giặc lái.

        Từ thực tiễn chiến đấu ngày 5 tháng 8, lực lượng phòng không các ngành, các cấp, các địa phương kịp tổ chức rút kinh nghiệm, gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị.

        Tháng 1 năm 1965 Hội đồng Quốc phòng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ và phương hướng công tác quốc phòng trước mắt của miền Bắc là tăng cường công tác phòng thủ, trị an, sẵn sàng chiến đấu; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; tích cực xây dựng và củng cố miền Bắc về mọi mặt.

----------------
1. Dẫn theo Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, Tập 4, tr.209,210.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #44 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:37:06 am »


        Như vậy, cuối năm 1964, đầu năm 1965, miền Bắc được chuẩn bị một bước căn bản; đã ở trong tư thế sẵn sàng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ.

        Tháng 3 và tiếp đó, tháng 12 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 11 và 12 đã quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến nhằm đảm bảo cho miền Bắc tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, đảm bảo cho miền Bắc có đủ sức mạnh đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ và làm tròn vai trò, nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tuyền tuyến lớn.
       
        Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng, miền Bắc chuyển nhanh mọi mặt vào thời chiến; tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh toàn diện trong điều kiện trực tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt của không quân, hải quân Mỹ.

        Về công tác tư tưởng và tổ chức: trong điều kiện chiến tranh ác liệt, để đảm bảo lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng, chiến đấu bảo vệ miền Bắc, tăng sức chi viện chiến trường, các cơ quan Đảng, Nhà nước gấp rút chấn chỉnh, sắp xếp, kiện toàn về tổ chức và lề lối làm việc; thực hiện đúng chức năng, giản tiện hóa các thủ tục hành chính, kịp thời giải quyết những vấn đề cấp thiết đặt ra.

        Tháng 7 năm 1965, Hội nghị cán bộ nghiên cứu về nhiệm vụ chuyển hướng chỉ đạo hai nhiệm vụ chiến lược do Ban Bí thư Trung ương Đảng triệu tập đã bàn bạc thống nhất: Trong tình hình mới, các cấp ủy Đảng phải thực hiện sự chuyển biến mạnh mẽ cách suy nghĩ, lề lối làm việc, phong cách lãnh đạo. Huyện ủy phải lãnh đạo và chỉ đạo sâu sát nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp ở cơ sở. Tỉnh ủy phải nắm chắc tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp địa phương và đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từng tỉnh.

        Tiếp đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra các chỉ thị thúc đẩy mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng chi bộ cơ sở “4 tốt”, tăng cường sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, làm cho Đảng thực sự sâu sát và gắn bó mật thiết với quần chúng, với nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu và đảm bảo giao thông vận tải.

        Phù hợp với nhiệm vụ chuyển hướng nền kinh tế, cơ cấu cán bộ, công nhân viên trong các cơ quan nhà nước, trong các ngành sản xuất được tổ chức, sắp xếp lại. Một số cán bộ được động viên vào lực lượng vũ trang hoặc chuyển sang công tác trên mặt trận giao thông vận tải. Các vùng trung du, miền núi cũng được tăng cường thêm cán bộ.

        Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ban Bí thư Trung ương thường xuyên bám sát thực tiễn, phân tích đúng tình hình, nhận định đúng âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Do vậy, sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng trên các lĩnh vực công tác đối nội, đối ngoại, sản xuất, chiến đấu, chi viện chiến trường của hậu phương miền Bắc kịp thời có hiệu quả.

        Các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền cải tiến hoạt động chỉ đạo thực tiễn, đáp ứng nhiệm vụ tổ chức, quản lý sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, huy động lực lượng phục vụ chiến đấu đảm bảo giao thông vận tải, chi viện chiến trường, giữ vững trật tự, trị an. Do chiến tranh ác liệt, ở nhiều địa phương và trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, hoạt động của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp chuyển sang lối hành chính, cung cấp để huy động kịp thời và có hiệu quả sức người, sức của cho nhiệm vụ hàng đầu là chống Mỹ, cứu nước.

        Mặt trận Tổ quốc tiếp tục được củng cố, mở rộng trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc. Các tổ chức quần chúng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội tham gia. Hoạt động của tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, hội phụ nữ, hội phụ lão, hội mẹ chiến sĩ... có tác dụng thiết thực trong việc tập hợp và động viên quần chúng thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua chiến đấu và công tác, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày, góp phần ổn định tình hình hậu phương, động viên những người ra trận.

        Thành công của sự chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức và phương hướng lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp là đảm bảo quan trọng cho việc chuyển hướng và tiếp tục xây dựng kinh tế miền Bắe trong những năm chiến tranh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #45 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:38:56 am »


        Về kinh tế: tiếp tục duy trì và giữ vững sản xuất trong điều kiện địch đánh phá, miền Bắc tập trung sức đẩy mạnh nông nghiệp với hai ngành sản xuất chính là trồng trọt, chăn nuôi, đặc biệt là ở vùng trung du và miền núi nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, ổn định đời sống của nhân dân. Nhà nước chỉ đạo các địa phương thực hiện kế hoạch phân bố lại lực lượng lao động, dành số vốn thích đáng để phát triển sản xuất, chăn nuôi. Đồng thời, để tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp, Nhà nước ban hành Điều lệ tóm tắt hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (4-1969), trong đó quy định rõ tính chất, nhiệm vụ của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; những nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của xã viên. Điều lệ còn coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho xã viên, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh tế cho hợp tác xã. Trong lời nói đầu ghi trên bản điều lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải thực hiện tốt điều lệ để hợp tác xã càng thêm vững mạnh, nông thôn ngày càng đoàn kết, sản xuất ngày càng phát triển và nông dân ta càng thêm no ấm và tiến bộ”1.

        Bên cạnh nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng được chú trọng theo phương châm: “tích cực bảo vệ, duy trì và phát triển sản xuất”. Sau khi sơ tán, phân tán các nhà máy, xí nghiệp, kho tàng... đến những địa điểm tương đối an toàn, các ngành công nghiệp nhanh chóng ổn định mọi mặt, tiếp tục duy trì và đẩy mạnh sản xuất. Nhà nước chủ trương đầu tư phát triển công nghiệp địa phương, chú trọng xây dựng các xí nghiệp vừa và nhỏ. Tổng số vốn đầu tư vào khu vực này trong 3 năm từ 1965 - 1967 tăng gấp 38 lần so với tổng số vốn đầu tư 3 năm trước đó. Bên cạnh các xí nghiệp sản xuất trung ương, một mạng lưới công nghiệp địa phương với hàng nghìn xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ hình thành.

        Nhìn chung, kinh tế những năm chiến tranh phá hoại phát triển theo điều kiện từng vùng. Điều đó tạo thuận lợi để từng địa phương đảm bảo được một phần quan trọng những nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Ngoài ra, việc chú trọng phát triển kinh tế địa phương, thúc đẩy khu vực này phát triển nhanh hơn tốc độ bình thường còn nhằm làm cho từng vùng phát huy đầy đủ tiềm năng của mình, đáp ứng hậu cần tại chỗ: vừa đảm bảo sản xuất, vừa đảm bảo chiến đấu và phục vụ chiến đấu theo đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân của Đảng.

        Trong xây dựng cơ bản: Nhà nước điều chỉnh một số chỉ tiêu phù hợp với yêu cầu trước mắt và đảm bảo cho phương hướng phát triển lâu dài.

        Cơ chế quản lý kinh tế thời bình cũng chuyển nhanh sang cơ chế quản lý thời chiến. Hội đồng Chính phủ đề ra các nội dung cụ thể nhằm làm cho cơ chế mới này thực sự nhạy bén, kịp thời, hiệu quả, vừa đáp ứng yêu cầu tập trung cao độ việc quản lý, huy động và sử dụng tốt nhân lực, vật lực, tài lực phục vụ nhu cầu thời chiến; vừa phát huy được tính năng động, chủ động của các ngành, các cấp trong hoạt động sản xuất, đảm bảo đời sống, đảm bảo giao thông và đòi hỏi của chiến tranh.

        Công tác kế hoạch tập trung xây dựng các kế hoạch kinh tế ngắn hạn. Điều đó đảm bảo cho việc điều hành chỉ đạo sản xuất thích đáng với tình hình luôn biến động do chiến tranh phá hoại gây nên; phù hợp với những khoảng thời gian ngắn khôi phục kinh tế sau mỗi lần địch ngừng các hoạt động đánh phá...

        Đi đôi với việc chuyển hướng nền kinh tế để giữ vững và đẩy mạnh sản xuất, Đảng, Nhà nước còn ban hành các chính sách có tác dụng động viên mãnh mẽ khí thế lao động, chiến đấu và phục vụ chiến đấu của hậu phương. Trong những năm tháng chiến tranh, khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, phong trào thi đua sản xuất thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãnh phí đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, thu hút đông đảo mọi người tham gia. Nhờ đó mặc dù chiến tranh tàn phá nặng nhiều khu vực kinh tế, nhiều hệ thống đê điều và công trình thủy lợi, và mặc dù số lao động trẻ, khỏe rời ruộng đồng nhà máy vào lực lượng vũ trang ngày càng nhiều nhưng sản xuất không những vẫn tiếp tục được duy trì mà còn có bước phát triển trên một số mặt cụ thể.

        Về nông nghiệp, vượt qua bao thử thách ác liệt của chiến tranh và thiên tai, nền nông nghiệp hợp tác hóa vẫn không ngừng được củng cố và phát triển. Tính đến cuối năm 1968, 94,9% hộ nông dân vào hợp tác xã. Hàng chục nghìn cán bộ, công nhân kỹ thuật được đào tạo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, hàng nghìn hợp tác xã và hàng chục huyện, tỉnh đạt năng suất 5 tấn thóc trên một héc-ta đất gieo trồng. Nếu so với những năm 1954 - 1957 thì trong các năm từ 1966 - 1971, sản xuất nông nghiệp đạt 141,9% và tiếp đó, những năm 1972 - 1975 đạt 158,9%. Trong hoàn cảnh một khối lượng bom đạn khổng lồ giội xuống ruộng đồng, làng mạc, giết hại hàng chục nghìn dân thường, tàn phá nhiều công trình thủy lợi… hàng triệu lao động trẻ khỏe gia nhập lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong và đi dân công hỏa tuyến thì kết quả trên đây là thành tựu đáng tự hào của miền Bắc trong những năm chiến tranh.

---------------
1. Dẫn theo Những sự kiện lịch sử Đảng, Tập 4, Tài liệu đã dẫn, tr.313.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #46 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:39:51 am »


        Trong công nghiệp, sản xuất căn bản được giữ vững. Các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn kịp thời sơ tán, phân tán và đi dần vào sản xuất, đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu nhất của nền kinh tế quốc dân, của đời sống nhân dân và của quốc phòng. Đặc biệt, sản lượng công nghiệp địa phương trong toàn bộ nền công nghiệp ngày càng tăng. Nếu năm 1965, tỉ lệ đó là 46,7% thì đến 1971 là 54,1%. Cùng với nông nghiệp hợp tác hóa, công nghiệp địa phương đã góp phần đảm bảo hậu cần tại chỗ cho cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.

        Bên cạnh đó, tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại thương đều hướng nỗ lực phục vụ yêu cầu duy trì và đảm bảo sản xuất, ổn định đời sống, chiến đấu và chi viện chiến trường. Các ngành tài chính, ngân hàng tăng cường động viên nguồn thu trong nước, sử dụng tốt nguồn chi viện từ bên ngoài, cải tiến chế độ quản lý, giữ vững chế độ hạch toán kinh tế đối với các cơ sở sản xuất quốc doanh. Cùng với ngành thương nghiệp, hoạt động của các ngành tài chính, ngân hàng, ngoại thương đã góp phần củng cố quan hệ sản xuất mới, chống đầu cơ tích trữ, ổn định giá cả về đời sống của nhân dân, cán bộ công nhân viên và lực lượng vũ trang.

        Bom đạn Mỹ không làm cho sự nghiệp văn hóa giáo dục bị ngừng trệ. Hàng vạn lớp học với hàng chục vạn học sinh sơ tán khỏi vùng trọng điểm bị địch đánh phá, tiếp tục học tập. Chương trình giảng dạy cũng được cải tiến cho phù hợp với tình hình mới. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa trong các trường học được đẩy mạnh nhằm chuẩn bị đày đủ tri thức và nhân cách cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống chiến đấu và lao động. Nếu năm đầu khi miền Bắc bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, số học sinh phổ thông là 2.674.000 thì những năm học tiếp theo số học sinh không ngừng tăng. Đến năm 1969, số học sinh đến lớp là 4 triệu.

        Cùng với giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp cũng tiếp tục phát triển. Số lượng trường, các ngành học, giáo viên giảng dạy và học sinh không ngừng tăng lên. Từ 60.000 học sinh các trường trung học và 24.000 học sinh đại học năm 1965, đến năm 1975, có số tương ứng là 69.000 và 55.000. Nếu 1939, bình quân 1 vạn người dân Việt Nam có 184 người đi học, trong đó có 0,9 người là học sinh trung học và đại học thì đến năm 1975, con số tương ứng là 2.780, trong đó 60 người là học sinh trung học và đại học. Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu chiến tranh, trên miền Bắc đã hình thành Phân khoa đại học Kỹ thuật quân sự - cơ sở ban đầu của Trường đại học Kỹ thuật quân sự.

        Công tác bổ túc văn hóa trong những năm chiến tranh được đặt ra cấp thiết nhằm nâng cao tri thức cho cán bộ, công nhân viên, thanh niên xung phong. Năm 1968, toàn miền Bắc có trên 1 triệu người theo học các lớp bổ túc văn hóa.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ cần những con người có giác ngộ về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có tri thức khoa học kỹ thuật để làm chủ vũ khí, đánh thắng kẻ thù. Nền giáo dục miền Bắc những năm chống Mỹ đã góp phần quan trọng đáp ứng đòi hỏi đó. Thế hệ những nam nữ thanh niên chiến đấu và công tác trên mọi miền đất nước những năm đánh Mỹ với tất cả sự hiểu biết và niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng đã trưởng thành dưới chế độ xã hội mới, trong các nhà trường xã hội chủ nghĩa miền Bắc.

        Hoạt động của các ngành văn hóa thời kỳ này sôi nổi, phục vụ đắc lực sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của quân và dân ta. Nhiều tác phẩm văn học đã thể hiện, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, lao động, phản ánh nét đẹp của con người Việt Nam những năm đánh Mỹ: dũng cảm, sáng tạo trong chiến đấu lao động; thủy chung, trong sáng trong tình yêu, tình bạn, tình đồng chí... Những vốn quý trong di sản văn hóa các dân tộc trên mọi miền Tổ quốc được trân trọng bảo vệ, sưu tầm. Nhiều tác phẩm văn học nước ngoài có giá trị được chọn dịch và giới thiệu với người đọc trong nước. Một số tác phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu với bầu bạn quốc tế, giúp cho các nước càng hiểu rõ và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

        Chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh nhưng cuộc sống văn hóa, tinh thần của miền Bắc không bi lụy, bi quan. Trên mọi miền đất nước, phong trào “tiếng hát át tiếng bom” phát triển mạnh mẽ, biểu hiện niềm tin và khí thế của người hậu phương trong chiến đấu và xây dựng...

        Đồng thời với sự chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức và xây dựng kinh tế nền quốc phòng miền Bắc cũng được tăng cường nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại, bao vây, phong tỏa của không quân, hải quân Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #47 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:41:06 am »

        Ngày 25 tháng 5 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh sửa đổi Luật nghĩa vụ quân sự, kéo dài thời hạn phục vụ trong các lực lượng vũ trang.

        Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Người ký Lệnh động viên cục bộ. Theo đó, một số sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị và một bộ phận lực lượng thuộc ngạch dự bị được động viên vào các đơn vị vũ trang. Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm đặt kế hoạch động viên cục bộ và chỉ đạo quá trình thực hiện theo phương hướng vừa đảm bảo tăng cường khả năng quốc phòng của miền Bắc đến mức cần thiết; vừa đảm bảo sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế miền Bắc trong điều kiện chiến tranh.

        Từ đây, khắp nơi trên miền Bắc, phong trào “cử người đi đánh Mỹ”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” ... trở thành phổ biến và sôi nổi. Chỉ một thời gian ngắn, 68.874 thanh niên và quân nhân chuyển ngành, phục viên được tuyển vào quân đội. So với đầu năm, đến cuối 1965, khối chủ lực miền Bắc tăng gấp 2 lần, từ 195.000 quân lên tới 400.000 quân. Các quân binh chủng cũng được tăng cường về lực lượng và trang bị. Đến cuối năm 1965, lực lượng các quân binh chủng tăng gấp 3 lần so với năm 1964. Riêng Quân chủng Phòng không - Không quân, nhiều đơn vị được gấp rút xây dựng, trong đó có các đơn vị tên lửa phòng không, pháo phòng không.

        Bên cạnh bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ về số lượng, chất lượng. Nếu năm 1964, dân quân tự vệ chiếm 8% so với dân số miền Bắc thì đến cuối 1965, tỉ lệ đó tới 10%. Đây là lực lượng nòng cất để xây dựng và phát triển phong trào toàn dân bắn máy bay, toàn dân làm công tác phòng không, toàn dân tham gia bảo đảm giao thông vận tải, bảo vệ trị an. Ở các địa bàn cơ sở, dân quân tự vệ còn là lực lượng xung kích trong sản xuất, xây dựng, đặc biệt ở những địa bàn thường xuyên bị địch đánh phá.

        Dựa trên cơ sở đó, lực lượng ba thứ quân trong phòng không, phòng thủ bờ biển nhanh chóng phát triển về số lượng và chất lượng. Nếu năm 1964, lực lượng phòng không miền Bắc chỉ có 15 trung đoàn và 14 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn không quân tiêm kích, 2 trung đoàn ra-đa... thì đến những năm 1966 đến 1968, hệ thống phòng không miền Bắc có bước phát triển mạnh mẽ. Trong khoảng thời gian này, với 33 trung đoàn và 66 tiểu đoàn pháo phòng không, 10 trung đoàn tên lửa, 2 trung đoàn không quân tiêm kích, 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn ra-đa, lực lượng phòng không miền Bắc được xây dựng thành hệ thống đất đối không hoàn chỉnh, khá mạnh. Hệ thống đó bao gồm hỏa lực tầm cao, tầm trung, tầm thấp. Năm 1972, số trung đoàn, tiểu đoàn pháo phòng không của bộ đội chủ lực tăng gấp 5 lần đến 7 lần so với năm 1965.

        Bên cạnh lực lượng phòng không của bộ đội chủ lực, lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ cũng có bước phát triển. Lực lượng đó bao gồm hàng chục nghìn tiểu đoàn và đại đội pháo phòng không của bộ đội địa phương; hơn 2.000 đơn vị trực chiến của dân quân tự vệ. Năm 1972 vũ khí phòng không trang bị cho dân quân tự vệ tăng gấp 32 lần so với năm 1964, trong đó có nhiều loại vũ khí, khí tài tương đối hiện đại.

        Cùng với lực lượng phòng không, lực lượng phòng thủ bờ biển cũng có bước phát triển mạnh mẽ, bao gồm các đơn vị pháo binh bờ biển của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Đến năm 1972, pháo binh của bộ đội chủ lực có 12 trung đoàn, 1 tiểu đoàn và 4 đại đội. Lực lượng pháo binh của bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ đến năm 1972 lên tới 500 đơn vị và được trang bị các loại pháo bắn biển nhiều gấp 17 lần so với năm 1964.

        Toàn bộ lực lượng phòng không, phòng thủ biển trên miền Bắc được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân, vừa đánh địch rộng khắp vừa tập trung hỏa lực bảo vệ các khu vực mục tiêu trọng điểm. Thế trận đó cho phép quân dân miền Bắc thực hành phương châm tác chiến tiến công địch liên tục ở mọi nơi, mọi lúc và sáng tạo nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo, hiệu quả cao, vô hiệu hóa được nhiều thủ đoạn đánh phá cũng như nhiều loại vũ khí, khí tài của máy bay, tàu chiến Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc.

        Các lực lượng vận tải và đảm bảo giao thông như công binh, vận tải quân sự, vận tải nhà nước, vận tải nhân dân... theo nhịp độ gia tăng của chiến tranh cũng ngày càng lớn mạnh. So với năm 1965, đến năm 1968 số trung đoàn công binh tăng gấp 1,2 lần, số tiểu đoàn công binh tăng gấp 2 lần, số đại đội công binh tăng gấp 16 lần. Bên cạnh lực lượng tập trung, các tổ đội công binh của dân quân tự vệ cũng phát triển rộng khắp, đặc biệt ở những khu vực ven các tuyến giao thông huyết mạch. Các loại phương tiện bắc cầu, đảm bảo vượt sông năm 1968 tăng 2,6 lần so với năm 1965. Lực lượng vận tải quân sự của Bộ Quốc phòng, của các quân khu tăng từ 4 đến 5 lần. Vào những thời kỳ miền Nam tổng tiến công (1968, 1972; 1975), đại bộ phận lực lượng giao thông vận tải của nhà nước được huy động chở hàng quân sự. Ngoài ra, các đội thuyền nan, bè, mảng, xe thồ... của nhân dân với phương thức vận tải thô sơ nhưng phù hợp cũng được động viên chuyển tải hàng hóa qua những vùng trọng điểm, nơi địch thường xuyên lùng sục, đánh phá, phong tỏa bằng nhiều loại vũ khí, bằng các thủ đoạn đánh phá hòng ngăn chặn, cắt đứt mạch máu giao thông vận tải trên miền Bắc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #48 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:42:09 am »


        Với quyết tâm cao, cơ cấu, tổ chức và bố trí lực lượng hợp lý; với vũ khí, phương tiện đảm bảo ngày càng được cải tiến và tăng cường, lực lượng phòng không, phòng thủ biển và lực lượng đảm bảo giao thông vận tải ba thứ quân của hậu phương miền Bắc thực sự là lực lượng nòng cốt phát động toàn dân tham gia chống chiến tranh phá hoại. Vì vậy, suốt những năm chiến tranh, phong trào toàn dân bắn máy bay, bắn tàu chiến Mỹ bằng mọi thứ vũ khí phát triển khắp nơi trên miền Bắc. Tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, công trường; dân quân các làng bản, xóm thôn đều thành lập các tổ đội bắn máy bay để vừa sản xuất vừa chiến đấu. Nhiều địa phương, các cụ phụ lão cũng tổ chức lực lượng bắn máy bay. Khắp nơi, khẩu hiệu “Chắc tay cày, tay súng”, “Chắc tay búa, tay súng” trở thành hành động thực tế của giai cấp nông dân, công nhân trong những năm chống Mỹ. Kết thúc hai lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, lực lượng phòng không dân quân, tự vệ đã bắn rơi 424 máy bay các loại của Mỹ (chiến tỉ lệ 10% trong tổng số máy bay Mỹ bị bắn hạ trên miền Bắc). Vùng ven biển, pháo binh bộ đội địa phương và dân quân tự vệ bắn cháy, bắn chìm 164 tàu chiến Mỹ (chiếm tỉ lệ 55,4% trong tổng số tàu chiến Mỹ bị bắn trúng ở vùng biển miền Bắc).

        Bên cạnh phong trào toàn dân bắn máy bay, tàu chiến, các địa phương còn phát động và tổ chức phong trào toàn dân giúp đỡ bộ đội, phục vụ chiến đấu, toàn dân làm công tác phòng không; toàn dân tham gia bảo đảm giao thông vận tải... Chỉ riêng phục vụ chiến đấu (tiếp đạn, kéo pháo, đào đắp công sự, cứu chữa và chăm sóc thương binh...), nhân dân miền Bắc đã đóng góp 267 triệu ngày công. Tính ra, trung bình mỗi ngày, trên miền Bắc có 92.000 lao động theo nghĩa vụ thời chiến, chiếm tới 10,5% tổng số nhân khẩu đang ở độ tuổi lao động của toàn miền Bắc (8.692.100). Trong điều kiện miền Bắc phải liên tục động viên thanh niên vào lực lượng vũ trang, vào thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến, trên đồng ruộng, trong nhà máy, lao động nữ là chủ yếu thì con số trên đây là nỗ lực lớn của miền Bắc. Nó chứng tỏ sự tham gia tích cực rộng rãi và hiệu quả của quần chúng nhân dân vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Nó tạo ra lực lượng vật chất và tinh thần to lớn, góp phần quan trọng đảm bảo cho miền Bắc có đủ sức mạnh liên tục đương đầu và đánh trả có hiệu quả nhiều thủ đoạn đánh phá, vô hiệu hóa nhiều loại vũ khí hiện đại, làm thất bại các mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1964 - 1968) và lần thứ hai (1972) của không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc Việt Nam.

        Vượt qua bao thử thách nguy nan, khắc phục vô vàn gian khổ, ác liệt, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân miền Bắc nêu cao quyết tâm, bền lòng đánh Mỹ. Nhờ thế, cho dù chiến tranh ngày càng khốc liệt, tổn thất về người và của ngày càng nặng nề... nhưng suốt những năm chiến tranh, miền Bắc vẫn vững vàng và ổn định; sản xuất về cơ bản không bị ngừng trệ mà tiếp tục được duy trì, hơn nữa, trên một số mặt như năng suất lúa, kinh tế địa phương... còn có bước phát triển so với những năm trước đó. Ngoài ra, đời sống của nhân dân miền Bắc, kể cả vùng tuyến lửa Khu 4 không bị xáo trộn lớn. Những nhu cầu thiết yếu trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần vẫn được đảm bảo. Giao thông, vận tải không bị ngừng trệ, ùn tắc. Mặc dù toàn bộ hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, cầu cống, bến cảng, bến đậu thường xuyên bị uy hiếp hoặc bị đánh phá nặng nề nhưng nhịp độ và khối lượng vận chuyển không ngừng tăng lên, góp phần quan trọng đáp ứng kịp thời, ngày càng đầy đủ mọi yêu cầu của cuộc chiến trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam cũng như của chiến trường Lào và Cam-pu-chia.


        Leo thang đánh phá miền Bắc, mục tiêu hàng đầu của phía Mỹ là uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta. Thế nhưng, trải qua hai lần chống chiến tranh phá hoại, quân và dân hậu phương miền Bắc đã giáng trả đích đáng không quân, hải quân Mỹ, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về người lái, về máy bay, về tàu chiến, làm suy giảm ý chí xâm lược của giới lãnh đạo cao cấp Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, làm thất bại âm mưu đàm phán trên thế mạnh của họ ở Hội nghị Pa-ri...

        Cuộc chiến đấu để bảo vệ hậu phương miền Bắc là một bộ phận rất quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân của cả nước chống chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Đánh bại các bước leo thang của không quân và hải quân Mỹ, hậu phương miền Bắc chẳng những làm suy giảm nặng nề uy tín và sức mạnh hai lực lượng chiến lược này của Mỹ mà còn góp phần rất quan trọng cùng quân và dân ta trên chiến trường miền Nam làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

        Với thắng lợi qua hai lần đọ sức trực tiếp với không quân, hải quân Mỹ, hậu phương miền Bắc chứng tỏ trên thực tế sức mạnh, tính bền vững của mình. Đó là sức mạnh và tính bền vững của một hậu phương được tổ chức chặt chẽ do chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt được thiết lập và củng cố vững chắc, nhờ khối đại đoàn kết toàn dân không ngừng mở rộng và tăng cường. Chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa không những là nền tảng tạo nên sức mạnh bảo vệ miền Bắc mà còn là nền tảng để miền Bắc phát huy đầy đủ thường xuyên vai trò quyết định của mình đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #49 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 12:45:15 am »


        c. Phát huy vai trò, tác dụng của hậu phương miền Bắc

        Dựa trên nền tảng chế độ xã hội mới được xây dựng trong 10 năm hòa bình (1954 - 1964), được củng cố và bảo vệ vững chắc trong 10 năm chiến tranh (1965 - 1975), Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực hiện các biện pháp nhằm làm cho miền Bắc phát huy đầy đủ, liên tục vai trò, tác dụng có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đảng thường xuyên chăm lo công tác giáo dục chính trị, làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nhận rõ tính chất chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, mức độ quyết liệt, lâu dài của cuộc đọ sức giữa nhân dân ta với tên đế quốc hàng đầu, nhiệm vụ nặng nề, vẻ vang của hậu phương miền Bắc, sức mạnh tổng hợp to lớn của quân và dân ta... Qua đó, củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, giữ vững quyết tâm kháng chiến; phát huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, yêu chế độ trong mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc, biến chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước thành hành động cách mạng, thành phong trào thi đua sôi nổi của quần chúng. Mặt khác, Đảng, Nhà nước đặc biệt chú trọng công tác rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong gian khổ, hy sinh, đội ngũ này càng thể hiện tính tiên phong trên các mặt trận chiến đấu, giao thông, sản xuất; gắn bó chặt chẽ với nhân dân; thực sự là tấm gương cho quần chúng noi theo, được mọi người tin yêu, mến phục.

        Trên nền tảng của chế độ xã hội mới, giải quyết mối quan hệ giữa chiến đấu và sản xuất, giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài, giữa yêu cầu trung ương và yêu cầu địa phương, giữa vùng trọng điểm bị địch đánh phá... Đảng, Nhà nước đã đề ra và thực hiện có hiệu quả chính sách động viên sức người, sức của phù hợp với điều kiện thực tế của từng thời kỳ, từng địa phương.

        Đồng thời với công tác động viên, Đảng, Nhà nước thường xuyên quan tâm và đề ra những biện pháp bồi dưỡng sức dân. Trong những năm chiến tranh, Đảng, Nhà nước chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương không những củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, đặc biệt là củng cố các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cũng vì lẽ đó hợp tác xã sản xuất nông nghiệp được củng cố đã cho phép hậu phương miền Bắc động viên cao độ sức người, sức của phục vụ kháng chiến đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về quân số của chiến trường. Tại hậu phương, dựa vào tính ưu việt của chế độ xã hội mới, Đảng, Nhà nước ban hành và tổ chức các chính sách kinh tế văn hóa - xã hội, chính sách phân phối thu nhập, chế độ tiền lương, chính sách thuế... theo định hướng đảm bảo duy trì và ổn định đời sống nhân dân trongchiến tranh. Đối với công nhân viên, cán bộ trong biên chế, bên cạnh tăng tiền lương, Nhà nước thi hành chính sách cung cấp theo định lượng, bán theo tem phiếu các nhu yếu phẩm với giá tương đối ổn định thống nhất. Đối với nông dân, Nhà nước chỉ đạo các địa phương, các hợp tác xã thực hiện chính sách phân phối theo phương thức kết hợp, trong đó một phần lương thực được phân phối theo nhu cầu thiết yếu căn cứ theo định suất (mức ăn đã xác định cho từng nhân khẩu) và phần này được bán theo giá cả ổn định do Nhà nước quy định, thấp hơn giá thị trường tự do. Đối với bộ phận dân cư thành thị không nằm trong biên chế, Nhà nước đảm bảo các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu theo tem phiếu theo giá thấp hơn giá thị trường tự do... Ngoài ra, việc học hành, chữa bệnh cũng được Nhà nước bao cấp phần lớn. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, chi viện cho chiến trường ngày càng tăng, việc thực hiện chính sách phân phối thu nhập quốc dân, đảm bảo định lượng cho mọi người dân, ổn định được đời sống nhân dân là cố gắng to lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đó là một chính sách cần thiết và đúng đắn, thể hiện sự chăm lo cho đời sống nhân dân của Đảng, Nhà nước.

        Trong khi đó, các cấp bộ đảng, cấp chính quyền, mặt trận và các tổ chức quần chúng đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân và giữa những vùng ít bị địch đánh phá với những trọng điểm đánh phá của địch. Chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội neo đơn trong thời kỳ chiến tranh trở thành lương tâm và trách nhiệm của mọi người, mọi nhà. Chính quyền các địa phương, các tổ chức quần chúng, các trường học đã có nhiều hình thức giúp đỡ, tương trợ kịp thời hiệu quả với những người mẹ, người vợ liệt sĩ, thương binh hoặc gia đình bộ đội ở địa bàn mình trong cuộc sống, trong sản xuất. Ngoài việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, Đảng, Nhà nước ban hành các chế độ chính sách ưu tiên đối với những vùng trọng điểm bị địch đánh phá, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đối với con em cán bộ miền Nam...

        Nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, chính quyền các cấp luôn luôn chú trọng công tác sơ tán, phòng tránh, vận động và tổ chức toàn dân làm nhiệm vụ phòng không nhân dân. Nhờ thế, dù chiến tranh ngày càng ác liệt nhưng miền Bắc đã hạn chế được tối đa những tổn thất về người và của trước sự đánh phá của không quân và hải quân Mỹ.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM