Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Tám, 2019, 12:31:50 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến đấu trong vòng vây  (Đọc 24784 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #70 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2016, 05:17:38 AM »


        Bộ đội đào hào, đắp ụ súng, xây lô cốt, cắm hàng rào lông nhím bao quanh. Họ đã hiểu vị trí địch cùng với chỗ mạnh, chỗ yếu của nó. Khi “đồn” đã xây dựng xong, cán bộ, chiến sĩ lần lượt vào đó đóng vai quân xanh đối phó thực sự với cuộc “tiến công” của quân đỏ. Quan nhiều lần tập dượt, họ biết sẽ gặp những khó khăn nào và cần phải làm gì trong trận đánh sắp tới.

        Súng đạn vẫn là vấn đề nan giải. Mặc dù Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị tập trung vũ khí cho những đơn vị sẽ đánh cứ điểm, nhưng mỗi đại đội chỉ có từ 2 đến 3 trung liên. Tiểu liên không đủ cho các tiểu đội trưởng. Một nửa số chiến sĩ phải trang bị bằng mác búp đa để đánh giáp lá cà. Ta không đủ đạn để bịt các hỏa điểm của địch khi bộ đội xung phong, anh em bàn cách khắc phục bằng cách bí mật bò sát lô cốt, ném lựu đạn vào lỗ châu mai. Ta không đủ thuốc nổ để phá hàng rào, các chiến sĩ đã có sáng kiến làm những thang gấp bằng tre, lót phên nửa ở phía sau, vắt qua hàng rào lông nhím để trèo vào đồn địch. Loại thang này còn được dùng mãi về sau trong những trận đánh đồn địch đã thay thế lớp rào lông nhím bằng những cọc sắt, dây thép gai và bãi mìn.

        Hạ tuần tháng Bảy, tiểu đoàn 11 lên đường. Mỗi chiến sĩ buộc một sợi chỉ đỏ ở cổ tay để ghi nhớ lời hứa không lùi bước trước khó khăn, quyết tâm  tiêu diệt đồn địch.

        Để trợ lực cho tiểu đoàn, Bộ Tổng tham mưu điều một khẩu sơn pháo 75 li từ Liên khu 10 sang phối hợp. Đây là một khẩu đội đã bắn chìm tàu địch trên sông Lô.

        Sau mấy phát đại bác mở đầu nhằm uy hiếp tinh thần địch, đạn súng máy, súng trường của ta bắn khá trúng lô cốt, ụ súng, buộc quân địch phải gục đầu sau lỗ châu mai bắn bừa bãi ra ngoài. Bộ đội ta lập tức tiến lên vắt thang qua hàng rào lông nhím cho các chiến sĩ xung kích cầm mác vượt qua.

        Mặc dù địch chống cự quyết liệt, hai mũi xung kích vẫn lọt vào đồn.

        Sau hai giờ kịch chiến, bộ đội chiếm được ba phần tư đồn và sở chỉ huy. Nhưng rồi họ bị chặn lại trước lô cốt cuối cùng. Đạn tiểu liên và lựu đạn đem theo đã sử dụng hết. Các chiến sĩ với cây mác trong tay không thể tiến lên trước những luồng đàn súng máy bắn chặn. Trời gần sáng, tiểu đoàn trưởng Vũ Yên cho bộ đội rút lui.

        Trận Phủ Thông nằm trong một đợt hoạt động của bộ đội ta trên đường số 3 từ tháng 7 đến tháng 9, bao gồm những trận phục kích, tập kích, quấy rối, bắn tỉa. Đồn Phủ Thông bị cô lập suốt ba ngày và bị tập kích liên tục hai đêm sau. Mãi đến chiều 28 tháng 7, lực lượng địch từ Cao Bằng mới mở được đường tới ứng cứu.

        Gần đây, tình cờ tôi được đọc một cuốn sách của Pháp xuất bản năm 1992, trong đó tác giả viết khá chi tiết về trận Phủ Thông.

        Đồn Phủ Thông do đại đội 2 của trung đoàn lê dương thứ 3 bảo vệ. Quân số gồm 102 người. 19 giờ 30 ngày 25 tháng 7 năm 1948 bất thần một hỏa lực mạnh trút xuống đồn. Đạn súng cối, những tràng liên thanh, pháo 75 li bắn thẳng làm tê liệt quân phòng thủ. Hàng rào và cửa lô cốt phía tây bị phá vỡ, bố trí phòng thủ nhanh chóng bị rối loạn. Ngay giờ đầu, đại úy đồn trưởng và trung úy đồn phó đều bị tử thương. Bộ đội Việt Nam hò hét xung phong chiếm các khu 1, 2, 3; chỉ còn khu 4 là chống cự trong tình trạng tuyệt vọng. Đại đội đã bị loại khỏi vòng chiến đấu một nửa quân số (14 chết, 33 bị thương).

        Riêng về lực lượng tiến công của ta, tác giả viết là “gồm 5, 6 tiểu đoàn với 3.000 người”! trong khi đó, quân số của tiểu đoàn 11 không quá 400 người!

        Trận đánh không thành công trọn vẹn, nhưng đã mang lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm và một niềm tin mới: nếu chuẩn bị đầy đủ hơn thì đã tiêu diệt đồn địch. Cũng phải thấy rằng trong một trận thí điểm, lẽ ra ta nên chọn một mục tiêu phù hợp hơn với trình độ tác chiến của bộ đội ta.

        Tiểu đoàn 11 được nhận danh hiệu: “Tiểu đoàn Phủ Thông”.

        Tiểu đoàn đã mở đầu cho truyền thống đánh cứ điểm của quân đội ta và trở thành một đơn vị đánh cứ điểm nổi tiếng sau này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #71 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 09:40:43 AM »


4

        Đầu năm, chúng ta dự kiến Pháp có thể tiến công Việt Bắc lần thứ hai hoặc đánh vào Thanh Hóa. Xalăng đã yêu cầu tăng viện, với lời lẽ khiếm nhã, để mở cuộc tấn công mới lên Việt Bắc, nên đã bị triệu hồi vào giữa tháng Năm, và thay thế bằng tướng bốn sao Bơledô (Blaizot). Với một số tiểu đoàn chuyển vào Nam Bộ, lực lượng quân viễn chinh Pháp tại Bắc Bộ lại trở về với con số trước mùa đông năm 1947. Sự tăng viện từ Pháp sang nhỏ giọt. Bộ Tổng chỉ huy nhận thấy Pháp ít có khả năng mở cuộc tiến công chiến lược vào đại hậu phương ta khi mùa khô tới. Nhưng địch vẫn có thể tiến công lên trung du. Để chuẩn bị đối phó với tình huống này, Bộ quyết định tổ chức Mặt trận Trung Du (được gọi tắt là mặt trận 3) do anh Hoàng Văn Thái trực tiếp làm chỉ huy trưởng.

        Những hoạt động Xuân - Hè 1948 của Pháp trên miền Bắc không có gì đặc biệt. Địch mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Tây Bắc, chiếm Nghĩa Đô, Bảo Hà, Phố Lu. Ở đồng bằng, quân Pháp lấn ra một số vùng chung quanh Hà Nội như Văn Điển, Thường Tín. Từ cuối tháng 4 đến hết tháng 6, địch tổ chức hai cuộc càn quét ở huyện Lang Tài, khu căn cứ du kích tỉnh Bắc Ninh và huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên, mỗi cuộc sử dụng vài nghìn quân. Đồng thời, có những mũi quân địch thọc lên Sơn Tây và tiến ra Xuân Mai, Hà Đông.

        Trong thời gian này, chúng ta hoạt động mạnh trên các đường giao thông. Bốn tháng đầu năm, đường số 4 nổi lửa. Những trận phục kích Lũng Vài, Khuổi Ngọa, Nậm Mười, Bản Na, Đông Khê liên tiếp nổ ra diệt hàng trăm xe địch. Từ tháng 5 tới tháng 9 ta đánh mạnh trên đường số 5 và đường số 3. Nhiều đoàn xe, đoàn tàu bị lật đổ, những đồn bốt bị tập kích. Giao thông đường bộ, đường sắt của địch thường bị gián đoạn.

        Căn cứ địa Việt Bắc và những tỉnh vùng chung quanh tương đối yên tĩnh. Bộ đội ở đây tranh thủ được một thời gian luyện tập.

        Chúng tôi quyết định giành chủ động ngay từ đầu mùa thu bằng cách mở những chiến dịch tiến công vào những hướng xung yếu ở địch hậu, do những tiểu đoàn chủ lực của Bộ, phối hợp với những lực lượng của khu tiến hành, buộc địch phải bị động đối phó.

        Trong thời kì vận động đánh nhỏ, ngoài những trận phục kích, tập kích, chống càn, đánh cứ điểm nhỏ, chúng ta chủ trương mở những chiến dịch để tích cực rèn luyện bộ đội chuẩn bị tiến lên vận động đánh lớn. Khác những chiến dịch trong chiến tranh hiện đại với những đơn vị tham gia thường là tập đoàn quân, chúng ta tổ chức những chiến dịch nhỏ với một số tiểu đoàn, trung đoàn, nhằm những mục tiêu nhất định gồm cả quân sự, chính trị và kinh tế. Những chiến dịch này nhằm tập dượt cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân làm quen với công tác điều tra, trinh sát, chuẩn bị địa bàn, điều động lực lượng, tổ chức hành quân, tác chiến chỉ huy và phối hợp tác chiến, giải quyết thương binh, tiếp tế lương thực, đạn dược. Những chiến dịch này sẽ làm rối loạn hậu phương địch, đánh mạnh vào âm mưu xây dựng khối ngụy quân và chính quyền bù nhìn ở cơ sở và phá hoại địch về kinh tế.

        Mùa thu này có hai hướng để lựa chọn.

        Quân địch đã trải rộng binh lực trên chiến trường Tây Bắc và Đông Bắc, bộc lộ những sơ hở. Chiến trường rừng núi là nơi có điều kiện thuận lợi để bộ đội chủ lực của Bộ tập dượt trong một chiến dịch tiến công đầu tiên. Sau khi bàn bạc, cân nhắc, chúng tôi quyết định chọn địa bàn mở chiến dịch là một khu vực ở vùng sâu Đông Bắc. Địch sẽ bất ngờ vì vẫn coi đây là vùng an toàn. Tại Đông Bắc có một đơn vị du kích của Đảng Cộng sản Trung Quốc hoạt động ở vùng Thập Vạn Đài Sơn, bị quân Quốc dân đảng càn quét, đang tạm thời nương náu ở Vị Loại. Bạn cũng mong bộ đội ta về mở rộng vùng tự do ở đây.

        Tôi xuống Trại Cau bàn với các đồng chí trong Bộ chỉ huy Liên khu 1 thực hiện quyết định của Bộ.

        Tháng Ba vừa qua, quân Pháp huy động một nghìn rưởi quân càn quét vùng Thanh Mai, Bến Tắm ở Hồng Quảng. Lực lượng du kích ta đã đững vững. Sau một thời gian phá phách các kho tàng, địch rút lui.

        Đường chuyển quân từ Việt Bắc về Đông Bắc phải vượt qua một hệ thống đồn bốn dày đặc. Các đồng chí ở Liên khu bàn sẽ dùng nhiều thuyền nhỏ, ban đêm bí mật luồn qua hành lang kiểm soát. Địa phương hứa khắc phục mọi khó khăn làm tốt công việc này. Rõ ràng là nhân dân Đông Bắc từ lâu trông chờ bộ đội trở về.

        Nhưng có một trở ngại lớn là vấn đề tiếp tế lương thực cho bộ đội. Đây là vùng đồng bào dân tộc Nùng, ít ruộng đất, ngày xưa vốn đã thiếu ăn, từ khi chiến tranh nổ ra lại bị càn quét liên miên, lương thực càng hiếm hoi. Trong những cuộc càn quét, một mục tiêu của quân Pháp là phát hiện, đốt phá những kho lúa, kho dự trữ lương thực. Nhiều nơi không thể tìm ra lương thực. Nếu chiến dịch kéo dài, vấn đề gạo của bộ đội sẽ trở thành nan giải. Liên khu ủy và ủy ban đều nhất trí ta đánh vào Đông Bắc địch sẽ hoàn toàn bất ngờ. Các anh hứa sẽ cố gắng giải quyết vấn đề tiếp tế lương thực cho bộ đội trong thời gian chiến dịch.

        Một đội vũ trang tuyên truyền và một đội trinh sát của trung đoàn 308, chủ lực Bộ, được lệnh lên đường đi Đông Bắc chuẩn bị cơ sở quần chúng và nắm tình hình địch.

        Vì khó khăn về lương thực, số lượng đơn vị huy động vào chiến dịch chỉ có ba tiểu đoàn: hai tiểu đoàn chủ lực của Bộ, và một tiểu đoàn chủ lực của Liên khu 1. Phối hợp tác chiến sẽ có trung đoàn Hồng Quảng đã được chia thành những đại đội độc lập hoạt động tại địa phương. Hình thức tác chiến sẽ gồm những trận đánh cứ điểm và những trận phục kích trên đường giao thông. Nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm được trao cho các tiểu đoàn chủ lực của Bộ.

        Để phối hợp với chiến dịch chính Đông Bắc trong mùa thu này, chúng ta quyết định sẽ đánh mạnh trên mặt trận Đường số 5 và Đường số 3, đồng thời mở một chiến dịch nhỏ ở Tây Bắc; chiến dịch này sẽ được tiến hành sớm hơn để làm lạc hướng quân địch.

        Sau này, có nhà sử học quân sự Pháp đã nhận xét: mùa thu năm 1948, bộ đội Việt đã “phát động trên khắp Bắc Bộ một loạt cuộc chiến đấu du kích mà sự liên tục của nó đã nhanh chóng tiến thành một cuộc tiến công thật sự”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #72 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 09:59:08 AM »

       
5

        Giữa mùa hè, một bộ phận tiền phương của Bộ chuyển lên đỉnh Tam Đảo, dãy núi cao hùng vĩ ngăn đôi Việt Bắc với Trung Du. Những tiểu đoàn chủ lực của Bộ đang tập luyện ở cả hai bên dãy núi Tam Đảo. Tại chính thị trấn Tam Đảo đã triệt để phá hoại cũng có một trường quân chính của ta. Từ đây xuống thăm bộ đội ở Đại Từ hay Lập Thạch chỉ một vài giờ đi ngựa. Cơ quan trú quân trong một vùng rừng vầu. Khi trời trong, nhìn xuống chân núi thấy rừng cọ và cánh đồng trung du, màu xanh của lúa hòa với màu sáng bạc của nước trải ra khi tới chân trời, cảm thấy Hà Nội rất gần.

        Tôi đã thăm bộ đội luyện tập đánh điểm ở vùng đồi huyện Lập Thạch. Ấn tượng sâu sắc là tình hình trang bị kém cỏi của bộ đội ta. Trong các đại đội xung kích, nhiều chiến sĩ còn trang bị bằng mác búp đa. Nhưng tinh thần cán bộ, chiến sĩ hết thảy đều phấn chấn. Không một ai kêu ca về những nguy hiểm, khó khăn đang chờ đợi. Họ còn tự hào với nhiệm vụ được trao. Đại đội nào cũng muốn được chọn làm đơn vị chủ công. Những buổi chiều ở phố Me, bộ đội đi tập về, bà con ở trong nhà đổ xô ra cửa khi xuất hiện những chiến sĩ mặc quần áo tiện y, lưng đeo lựu đạn, tay cầm cây mác xung kích hoặc vác trên vai những chiếc thang vượt rào. Đây chính là những người nay mai ra trận, sẽ xung phong đánh giáp lá cà với quân địch.

        Ở đại đội xung kích của tiểu đoàn Lũng Vài có một tiểu đội phó người Đức. Anh được đặt cái tên Việt Nam là Hồ Sĩ Thắng. Thắng đã bỏ đơn vị lê dương Pháp chạy sang hàng ngũ ta với một khẩu tiểu liên Thompson. Anh còn rất trẻ, mắt xanh, tóc vàng, hơi nhỏ nhắn so với tầm vóc người Âu. Trong những trận đánh, anh thường lao lên trước. Thắng sống kham khổ với bộ đội, ăn cơm nắm muối vừng, uống nước cơm cháy đựng trong ống bương. Tôi muốn hỏi Thắng nghỉ gì về cuộc kháng chiến của ta, vì sao có thể chịu đựng được cuộc sống kham khổ, muốn nói chuyện lâu với người thanh niên này, nhưng không kịp làm trước khi anh lên đường đi chiến dịch.

        Lần đầu bộ đội chủ lực ta mở một chiến dịch tiến công vào vùng sâu hậu địch, tôi muốn được cùng đi với bộ đội, nhưng Bác và Thường vụ thấy không nên vì có thể phải đối phó với những diễn biến phức tạp về quân sự khi mùa khô tới.

        Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1948, theo chỉ thị của Bác, ta sẽ tổ chức một cuộc duyệt binh lớn tại Đồi Me, huyện Lập Thạch, vừa để mừng ngày Quốc khánh, vừa để động viên nhân dân hăng hái kháng chiến. Ta cũng có ý đồ thu hút sự chú ý của địch về hướng này.

        Đồng bào từ những vùng xung quanh đổ về khá đông.

        Cuộc duyệt binh đã điễn ra trên một bãi rộng; kì đài, cờ, khẩu hiệu được chuẩn bị đàng hoàng.

        Diễu qua lên đài, bước đều theo tiếng kèn đồng và nhịp trống của đoàn quân nhạc, là khối học sinh khóa 4 Trường lục quân Trần Quốc Tuấn. Tiếp theo là các tiểu đoàn sắp tới sẽ đi làm nhiệm vụ. Sĩ quan cũng như binh sĩ đều mặc quần áo tiện y màu nâu, đội mũ lá. Trong các đội xung kích, trung liên, tiểu liên, súng trường xen với những cây mác búp đa. Đây là hình ảnh thực sự của người dân Việt hi sinh chịu đựng, vững vàng đi vào trận đánh trường kì.

        Ngay đêm hôm đó, những tiểu đoàn chủ lực của Bộ lặng lẽ rời những thôn xóm vùng đội cọ Lập Thạch dưới ánh trăng thu, đi về phía Bắc Giang. Tại đây, họ dùng thuyền bí mật lướt qua vành đai đồn bốt, tiến sâu vào vùng địch hậu Đông Bắc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #73 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 10:03:53 AM »

       
6

        Đêm 9 tháng Mười, chiến dịch Đông Bắc mở màn.

        Hai tiểu đoàn chủ lực của Bộ đồng thời tiến công hai vị trí địch trên đường số 13. Tiểu đoàn Lũng Vài được tăng cường thêm đại đội xung kích của tiểu đoàn Bình Ca, đánh An Châu, vị trí tiểu khu do một đại đội bảo vệ. Hai đại đội của tiểu đoàn Bình Ca đánh cứ điểm Đồng Dương cũng thuộc tiểu khu này.

        Trận đánh An Châu kéo dài suốt đêm. Quân địch tại đây đóng thành hai khu, một trung đội đóng trên đồi, hai trung đội cùng với bộ phận chỉ huy đóng phía dưới. Hai đại đội xung kích dùng thang vượt qua hàng rào lông nhím, tiêu diệt quân địch đóng dưới chân đồi, trong đó có viên thiếu tá chỉ huy tiểu khu. Nhưng khi xung kích xung phong lên đồi thì bị hỏa lực liên thanh chặn lại. Cục diện lại diễn ra như Phủ Thông. Sau khi phá hủy ba khẩu trọng liên, hai xe GMC, thiêu hủy một kho đạn và một kho lương thực, bộ đội phải rút với một số thương vong.

        Trận Đồng Dương thắng giòn giã. Toàn trung đội địch đóng tại đây bị tiêu diệt gọn trong vòng nửa tiếng. Ta thu ba súng trung liên, ba mươi súng trường, bắt một số tù binh.

        Vấn đề lương thực khó khăn đã hạn chế những hoạt động tiếp theo của bộ đội ta.

        Một tháng sau, tiểu đoàn Lũng Vài đánh tiếp vị trí Đồng Khuy. Trung đội tăng cường của địch ở đây đóng trên ba mỏm đồi theo hình tam cấp. Rút kinh nghiệm trận An Châu, lần này bộ đội đánh chiếm mỏm cao nhất trước, rồi từ đó phát triển xuống những mỏm bên dưới. Hỏa lực của ta phát huy tác dụng tốt. Toàn bộ quân địch chết hoặc bị ta bắt. Ta thu toàn bộ vũ khí.

        Sau đó, ta đánh tiếp Trại Thán, một ổ thổ phỉ rất nguy hiểm được Pháp trao nhiệm vụ trấn giữ con đường xuyên rừng từ Bắc Giang xuống. Hồ Sĩ Thắng hi sinh trong trận này.

        Chiến dịch Đông Bắc kết thúc ngày 26 tháng 12 năm 1948. Nó đã gây chấn động vì địch coi Đông Bắc là đại hậu phương an toàn. Quân Pháp buộc phải bỏ bảy vị trí trên các tuyến phòng ngự trong vùng. Khu căn cứ của ta mở rộng. Hàng trăm ngụy binh bỏ hàng ngũ ra hàng. Bộ máy ngụy quyền ở xã rất hoang mang.

        Hình ảnh cây mác búp đa in đậm trong các bài hát, bài thơ:

                                                       … Trút, trút cả căm hờn lên mũi mác
                                                       Hỡi những chàng trai trẻ áo quần nâu.
                                                       Rừng búp đa về mở hội cờ lau…


        Các nhà nghệ sĩ đều say sưa với hình ảnh cây mác búp đa.

        Chúng ta đang rất cần súng trường cắm lưỡi lê cho các chiến sĩ xông vào đồn địch nếu chưa phải là tiểu liên. Cây mác xung kích chỉ được đưa ra khỏi trang bị của bộ đội chủ lực vào đầu năm 1951 khi mỗi chiến sĩ xung kích đã có một khẩu súng trường. Tuy nhiên, qua những trận Phủ Thông, An Châu, Đồng Dương, Đồng Khuy… thu đông năm 1948, đã thấy rõ trang bị chiến đấu của bộ đội ta không những có khả năng tiêu diệt các đoàn xe, các đơn vị ứng chiến bằng phục kích, mà còn hoàn toàn có khả năng tiêu diệt cứ điểm trung đội, đại đội của địch, làm phá sản chiến thuật cứ điểm nhỏ, đội ứng chiến nhỏ. Điều này đã được chứng minh ngay sau đó vào mùa xuân năm 1949 với hàng loạt trận đánh trên mặt trận sông Thao, mặt trận đường số 4, những đơn vị chưa thành công trọn vẹn trong các trận Phủ Thông, An Châu chỉ cần một giờ, hoặc 45 phút để tiêu diệt cứ điểm đại đội Âu Phi.

        Gần một tháng sau khi ta mở chiến dịch Đông Bắc, quân Pháp mới bắt đầu phản ứng. Đầu tháng 11, Pháp dùng hải quân và máy bay đánh vào bờ biển Thanh Hóa. Ngày 7 tháng 10 năm 1948, quân Pháp nhảy dù xuống Việt Trì và Vĩnh Hộ (Vĩnh Yên). Hôm sau, tàu chiến và ca nô đưa tiếp quân đổ bộ lên Việt Trì. Từ đây, quân Pháp lấn ra một số vùng xung quanh, tiến lên Tam Nông, Hưng Hóa, La Phù, nhưng chỉ dừng lại những nơi này ít ngày rồi quay trở về vị trí xuất phát. Đây là cuộc tiến công chính của Pháp ra vùng tự do trong Thu Đông 1948. Khó có thể hiểu Bơlêzô định làm gì với những cuộc hành binh này.

        Chiến dịch Đông Bắc đã mang lại nhiều kinh nghiệm, với những đội vũ trang tuyên truyền đi trước dọn đường, cuộc hành quân vào địch hậu giữa được hoàn toàn bí mật, công tác vận động và tranh thủ nhân dân được tiến hành tốt, lần đầu dân công được huy động đông đảo phục vụ chiến dịch, bộ đội chủ lực với những trang bị yếu kém như hiện nay vẫn có khả năng tiêu diệt nhanh chóng những cứ điểm nhỏ do một trung đội, hoặc trung đội tăng cường bảo vệ và nếu khắc phục được một vài nhược điểm, khuyết điểm, tiểu đoàn chủ lực của ta chắc chắn đã tiêu diệt được cứ điểm đại đội của địch.

        Ngày nay nhìn lại, càng thấy rõ, trong năm 1948, với việc đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương ta, với việc đẩy mạnh vận động đánh nhỏ, vận động phục kích, chống càn, đánh vào những hệ thống đồn bốt nằm ở vùng sâu, ta đã thực sự tranh chấp quyền chủ động với quân địch. Và Thu Đông năm 1948, lần đầu tại Bắc Bộ từ khi nổ ra chiến tranh, ta đã giành được quyền chủ động trên một hướng.

        Với việc triển khai toàn diện chiến lược chiến tranh toàn dân, mặc dù lực lượng quân sự của ta về nhiều mặt còn yếu hơn địch, cuộc kháng chiến chống Pháp đã vững vàng bước sang một giai đoạn mới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #74 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 10:08:13 AM »


Chương bảy

KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC

1

        Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ, trải qua nhiều thử thách trong mười lăm tháng đầu của thời kì hòa hoãn, phải đương đầu với thử thách mới: chiến tranh lan rộng trên cả nước.

        Từ một chính phủ cách mạng lâm thời, chỉ ba tháng sau, chúng ta đã có một chính quyền dân cử trên cả nước theo phổ thông đầu phiếu. Đầu tháng Ba năm 1946, trước nguy cơ chiến tranh có thể nổ ra do việc Pháp đưa quân ra miền Bắc theo Hiệp ước Pháp - Hoa, ta mở rộng chính phủ cho những người thân Tưởng không qua bầu cử, thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Cuối tháng Sáu, quân Tưởng rút về nước, nhiều phần tử thân Tưởng chạy theo để lại những chỗ trống trong chính phủ và quốc hội. Đầu tháng Mười một, Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ mới được thành lập để đối phó với tình hình rất khẩn trương  sau khi quân Pháp chiếm thành phố Hải Phòng. Bốn chục ngày sau, Chính phủ mới đã phải lãnh đạo cuộc kháng chiến diễn ra trên cả nước. Chiến tranh gắn liền với tàn phá, hi sinh, mất mát, đói khổ, bệnh tật.

        Bản chất của chiến tranh hoàn toàn mâu thuẫn với việc xây dựng đất nước đòi hỏi phải có hòa bình, ổn định. Những khó khăn của ta càng gay gắt trong hoàn cảnh một nước thuộc địa với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, người dân từ xưa vẫn thiếu ăn, quân thù đã có mặt trên hầu khắp lãnh thổ, lại bị bao vây bốn phía, hoàn toàn không có nguồn chi viện vât chất từ bên ngoài. Những thành phố, thị trấn, những cơ sở vật chất về kinh tế, tài chính, công nghiệp, giao thông, … nơi thì bị quân thù chiếm đóng, nơi thì bị chúng tàn phá.

        Pháp là một đế quốc già đời có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược những nước nhược tiểu. Cuộc tái xâm lược Việt Nam lần này được tiến hành với hình thức một cuộc chiến tranh về nhiều mặt, bao gồm cả quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, tài chính.

        Ngay từ đầu kháng chiến toàn quốc, Pháp luôn luôn trù tính một cuộc tiến công chiến lược nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và làm tan rã chủ lực của ta, đi đôi với tổ chức một chính quyền tay sai. Với những phương tiện thông tin đại chúng mạnh mẽ và quan hệ quốc tế rộng rãi của một cường quốc phương Tây, Pháp đã bóp méo hình ảnh chính phủ ta thành những kẻ cầm đầu phiến loạn “cộng sản”. Pháp tiến hành hàng loạt chính sách phá hoại ta về kinh tế, tài chính. Địch dùng nhiều biện pháp phong tỏa kinh tế ta: chiếm các hải cảng, sân bay, kiểm soát thuế quan, cố gắng kiểm soát những tuyến đường bộ quan trọng và biên giới. Địch chiếm Thủ đô và các thành phố lớn vốn là những trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của ta. Địch chiếm mỏ than Hòn Gai, vùng đồn điền cao su Nam Bộ, mở rộng phạm vi kiểm soát tại những tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng là hai vùng trồng lúa chủ yếu để bóp nghẹt ta về lương thực. Trong những cuộc tiến công lớn và những trận càn, ngoài việc lùng tìm bộ đội chủ lực, du kích, đánh phá cơ sở, quân Pháp còn đốt phá lương thực, phá hoại mùa màng, giết trâu bò là sức kéo canh tác chủ yếu của ta. Địch tung những hàng xa xỉ từ vùng tạm chiếm ra vùng tự do để lũng đoạn kinh tế ta, đồng thời kiên quyết ngăn chặn không để lọt ra ngoài lương thực, thuốc men và những hàng cần cho quốc phòng.

        Ngay từ sau khi trở lại Việt Nam, địch đã kiên quyết tiến công ta về mặt tiền tệ. Đầu tiên, Pháp tuyên bố hủy bỏ tờ bạc 500 đồng, tờ bạc to nhất của Ngân hàng Đông Dương, cướp trắng một phần tài sản to lớn của nhân dân ta. Trước khi tiến công vào Việt Bắc bốn ngày, Pháp tuyên bố đổi hết những tờ bạc Đông Dương 100 đồng trong vòng một tháng. Một lần nữa Pháp lại cướp đi những đồng tiền ít ỏi của nhân dân vùng tự do, đặc biệt là làm cho ta không thể mua được ở vùng địch những thứ hàng thiết yếu cho kháng chiến.

        Để ngăn chặn quân Pháp nhanh chóng mở rộng phạm vi chiếm đóng, chúng ta đã phá hoại tất cả những tuyến đường bộ, đường sắt, và buộc phải phá những thành phố, thị xã và một số cơ sở kinh tế mà Pháp đã xây dựng. Công việc này là cần thiết trong chiến tranh trước một kẻ địch bội phần mạnh hơn, nhưng cũng mang lại những ảnh hưởng tiêu cực trong xây dựng của ta. Những cuộc tiến công mở rộng phạm vi kiểm soát đất đai của quân Pháp đã kéo theo làn sóng ồ ạt những người tản cư và di cư. Người sản xuất bị tách khỏi môi trường sản xuất, không có điều kiện tiếp tục hoạt động. Nhiều ngành sản xuất không còn nơi tiêu thụ, buộc người sản xuất phải bỏ nghề hay đổi nghề. Những xáo động trong thời kì đầu chiến tranh gây nên tâm lí không ổn định đối với người sản xuất, buôn bán. Những người có tiền không dám bỏ vốn làm ăn vì sợ chiến tranh lan tới.

        Nhà nước của chúng ta là một nhà nước do dân, vì dân, phải chăm lo cho độc lập, tự do, hạnh phúc của dân. Nhiệm vụ trước mắt là bảo đảm kháng chiến thành công, nhưng không thể không chú trọng xây dựng đất nước, xây dựng chế độ mới. Hai nhiệm vụ liên quan mật thiết với nhau. Vì người dân chỉ dốc hết tâm lực của mình vào công cuộc kháng chiến, nếu họ gắn bó với chế độ. Đường lối cơ bản của ta trong chiến tranh là: vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

        Ngày 26 tháng 12 năm 1946, Hội đồng Chính phủ họp phiên khoáng đại dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ tịch tại thị xã Hà Đông. Tham dự phiên họp, ngoài các thành viên chính phủ còn có các cụ Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng và linh mục Phạm Bá Trực trong Ban Thường vụ Quốc hội, các anh Phan Anh, Bùi Công Trừng, thành viên ủy ban Kiến thiết.

        Sau khi nghe Bộ Ngoại giao và Bộ quốc phòng báo cáo, ai nấy đều tán khành kháng chiến đến cùng để giành lại nền độc lập cho đất nước. Trong gian phòng kín, dưới ánh sáng nhỏ của ngọn đèn dầu, tất cả mọi người đều nắm tay giơ lên biểu lộ ý chí của cả dân tộc đáp lại lời tuyên bố quyết chiến của Bác: ”Chúng ta đem lực lượng của 20 triệu đồng bào chống lại mấy vạn thực dân Pháp. Chúng ta nhất định thắng lợi. Dù ta cần hi sinh 4 triệu hay 8 triệu người mà nước ta được độc lập, dân ta được tự do, tổ tiên ta được vẻ vang, con cháu ta được hành phúc, cũng còn hơn cúi đầu mà làm nô lệ cho thực dân Pháp muôn đời”.

        Đây cũng chính là lời kêu gọi mà Người đã viết để gửi đồng bào ngày hôm trước.

        Cuộc họp kéo dài đến 1 giờ sáng. Phía Hà Nội lửa cháy rực trời và rền vang tiếng súng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #75 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 10:09:45 AM »


2

        Lần đầu tiên chúng ta có một chính quyền do dân bầu. Công việc thật bỡ ngỡ. Trong cuộc họp Chính phủ đầu tiên, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kĩ thuật hành chính… Chúng ta vừa làm vừa học, vừa học vừa làm, chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sửa chữa khuyết điểm”.

        Bác rất coi trọng tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chính quyền, làm cho chính quyền trở nên “mạnh mẽ, nhanh chóng, quyết đoán, thống nhất, tập trung”, “đủ khả năng điều khiển chiến tranh và kiến thết chế độ dân chủ”. Việc củng cố chính quyền các cấp của ta là mối quan tâm thường xuyên của Bác và Trung ương.

        Mặc dù hoàn cảnh kháng chiến đi lại khó khăn những hàng năm chính phủ đều tổ chức hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc. Năm 1947 họp tại thị xã Sơn Tây đang tiêu thổ kháng chiến. Từ năm 1948 trở đi, hội nghị hằng năm đều được tổ chức tại an toàn khu (ATK) ở Việt Bắc.

        Tại các cuộc hội nghị này, các bộ trình bày chủ trương, chính sách của Chính phủ về ngoại giao, quân sự, kinh tế, tổ chức chính quyền. Chúng tôi bàn bạc để thực hiện các chiến tranh như phát triển sản xuất, đấu tranh kinh tế với địch, nghĩa vụ tòng quân, lệnh động viên sức người sức của, chăm lo công tác an ninh tình báo… Chính phủ cũng bàn với các khu, các tỉnh chấn chỉnh bộ máy chính quyền, sửa đổi lề lối làm việc, giải quyết mối quan hệ giữa trung ương và địa phương.

        Tôi nhớ nhất là cuộc Hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc năm 1948, được tổ chức từ 21 đến 31 tháng 7. Hội nghị phải họp nhờ ở trong nhà dân chật chội. Vừa đúng vào mùa mưa rừng Việt Bắc, nước ngập mênh mông, địa điểm họp phải di chuyển. Tuy vậy 60 con người vẫn tập trung, khẩn trương làm việc.

        Hội nghị được nghe báo cáo của đồng chí Nguyễn Duy Trinh thay mặt cho Khu 5 và Nam Bộ, đồng chí Hồ Tùng Mậu báo cáo về tình hình Khu 4. Đây là hai báo cáo có giá trị, có nhiều kinh nghiệm về xây dựng chính quyền địa phương qua hơn 1.000 ngày kháng chiến, có nhiều tài liệu bổ ích và lí thú. Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng tổ chức chính quyền từ trung ương đến địa phương có nhiều lủng củng.

        Với tư cách là bí thư Đảng đoàn Chính phủ, tôi được Bác ủy nhiệm đọc diễn văn bế mạc hội nghị. Hội nghị tuy dài ngày, nhiều khuyết điểm về chi tiết, nhưng đem lại nhiều kết quả. Thay mặt hội nghị, tôi hứa với Bác thực hiện nghiêm chỉnh các mệnh lệnh và chỉ thị của Chính phủ.

        Các đại biểu ra về với niềm hứng thú vì những bài học bổ ích thu hoạch được tại hội nghị.

        Bác rất quan tâm rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ chính quyền các cấp. Bác luôn luôn nhắc cán bộ, đảng viên phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Đầu năm 1947, Bác đã viết thư gửi các đồng chí Bắc Bộ và các đồng chí Trung Bộ. Người căn dặn phải đấu tranh sửa chữa những căn bệnh của cán bộ chính quyền thời đó. Đó là địa phương chủ nghĩa, bè phái hẹp hòi, quan liêu quân phiệt, ham chuộng hình thức, xa rời quần chúng, vô kỉ luật, ích kỉ, hủ hóa. Cuối năm, Người viết cuốn “Sửa đổi lề lối làm việc” dưới bút danh X.Y.Z. Đây là một cuốn sách rất bổ ích. Mọi người đều coi là cuốn sách gối đầu giường của mình. Ngay nhiều đồng chí cán bộ cao cấp trong chính phủ cũng chỉ đoán già, đoán non theo văn phong của Bác. Không ai nghĩ trong hoàn cảnh kháng chiến lúc ấy, cơ quan chính phủ còn đang di chuyển nay nơi này, mai nơi khác, công  việc mọi mặt bộn bề, Bác lại có thể dành thời gian viết được cuốn sách như vậy để giáo dục mọi người.

        Tác phong trong cuộc sống hằng ngày của Bác là tấm gương mẫu mực cho mọi người. Nhiều năm làm việc gần Bác cả trong những lúc khó khăn gian khổ đến những ngày sống giữa Thủ đô, tôi chưa hề bao giờ thấy Bác phàn nàn về cái nóng, cái lạnh. Có lẽ trong Người vẫn tâm niệm điều mà Bác đã dạy cho cán bộ quân đội ta “Khi bộ đội còn chưa được ăn, cán bộ không được kêu mình đói. Khi bộ đội còn chưa đủ mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Khi bộ đội còn chưa có chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”.

        Từ ngày rời Hà Nội, dù trong thời gian di chuyển dần lên Việt Bắc hay khi đã ổn định ở khu căn cứ an toàn, Chính phủ vẫn duy trì những cuộc họp Hội đồng Chính phủ hằng tháng. Có những tháng họp tới hai lần. Phiên họp nào cũng do Bác chủ trì. Địa điểm họp ban đầu là nhà của dân, sau này có hội trường riêng, tuy mái tranh phên nứa, nhưng đàng hoàng, trang trọng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #76 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 10:10:12 AM »


        Bác thường ở xa nơi họp. Có khi phải băng rừng, leo đèo, lội suối hàng chục ki-lô-mét nhưng không khi nào Bác đến trễ giờ. Một lần dọc đường Bác lên cơn sốt, phải dùng võng để tới kịp giờ họp. Để đảm bảo bí mật, Bác thường cải trang và xuất hiện một cách bất ngờ. Nghệ thuật cải trang của Bác thật tài tình, lúc là một ông nông dân miền xuôi, lúc là một ông ké miền ngược khiến người quen cũng khó nhận ra.

        Công việc kháng chiến bộn bề nhiều mặt. Cơ quan Chính phủ lại đóng phân tán nhiều nơi. Vì vậy, các cuộc họp Hội đồng Chính phủ thường phải kéo dài vài ba ngày, có ngày họp tới 2 - 3 giờ sáng mới xong công việc.

        Ngày nay nhớ lại thấy khi đó hội họp cũng nhiều. Nhưng ở buổi ban đầu đó, việc bàn bạc để đi đến nhất trí trong mọi thành viên Hội đồng Chính phủ là cần thiết.

        Thường thường, trước khi họp Hội đồng Chính phủ, tôi hội ý với anh Trường Chinh, xin ý kiến của Thường vụ Trung ương Đảng. Đảng đoàn họp trước để thống nhất ý kiến trong nội bộ và phác định chương trình. Những khi bận phải đi mặt trận, thì anh Lê Văn Hién thay tôi chủ trì các cuộc họp này. Sau Đảng đoàn là họp Việt Minh đoàn. Đây là tổ chức coi như nòng cốt của Hội đồng Chính phủ để đi đến nhất trí và được giải quyết nhanh chóng.

        Một nghi thức cho đến nay vẫn còn để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc, đó là các buổi lễ tuyên thệ. Mỗi bộ trưởng, thứ trưởng mới được bộ nhiệm làm thành viên Hội đồng Chính phủ đều làm lễ tuyên thệ trước khi vào họp hội đồng. Lễ tuyên thệ tuy đơn giản nhưng trang nghiêm. Mọi người chứng kiến lời hứa hết lòng vì nước vì dân của một thành viên mới của Hội đồng Chính phủ.

        Cuộc họp Hội đồng Chính phủ ngày 30 tháng 4 năm 1949 gây nhiều xúc động. Lần đầu tiên, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa họp trong rừng của khu căn cứ an toàn, cùng một lúc truy điệu hai thành viên Hội đồng Chính phủ. Cụ Huỳnh vừa mất ở miền Trung và anh Hoàng Hữu Nam bị nước cuốn trôi trên sông Lô. Như vậy là Bộ Nội vụ cùng một lúc mất cả bộ trưởng và thứ trưởng. Anh Hoàng Hữu Nam là một cán bộ có nhiều triển vọng, từng cộng tác đắc lực với tôi khi tôi còn giữ chức bộ trưởng Bộ Nội vụ. Chúng tôi làm lễ mặc niệm trên một nhà sàn. Mắt Bác rớm lệ. Bác nói quan tiểu sử và thành tích của hai người. Giọng Bác đau đớn như cùng một lúc vừa mất đi một người anh và một người con. Hội động Chính phủ đã nhất trí cửa Bác Tôn và anh Trần Duy Hưng làm bộ trưởng và thứ trưởng nội vụ.

        Những cuộc họp Hội đồng Chính phủ thời đó cũng là những buổi gặp gỡ lí thú. Anh em mỗi người  ở một nơi, mỗi người đi công tác ở một vùng chiến trường. Đây là một dịp gặp mặt chuyện trò, trao đổi với nhau về tình hình, về công việc, về gia đình. Trong những ngày lễ, ngày Tết, gặp phiên họp Hội đồng Chính phủ, cuộc họp thường kết thúc bằng một tối liên hoan lửa trại “cây nhà lá vườn” do Bác chủ trì. Các bộ trưởng đều góp tiết mục: hát chèo, ngâm thơ, kể chuyện… Anh Phan Anh thường tập Kiều, anh Lê Văn Hiến thường được Bác yêu cầu hát bội.

        Để đẩy lùi âm mưu của địch chia rẽ Bắc, Trung, Nam, chia rẽ dân tộc, lương giáo, giàu nghèo, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng được củng cố. Bác thường nhắc cán bộ phải chống xu hướng hẹp hòi, “nhất là thái độ hẹp hòi đối với phú hào, nhân sĩ, trí thức”, “phải gây một không khí tin cậy, thân mật, đoàn kết thật thà, gian nan cùng chịu, vinh nhục cùng chia”.

        Cùng với việc củng cố mặt trận, củng cố chính quyền, Bác và Thường vụ đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng. Số đảng viên sau ngày Tổng khởi nghĩa rất ít. Để đáp ững yêu cầu lãnh đạo ở mọi ngành, mọi cấp, từ trung ương tới địa phương, đặc biệt là trong lực lượng vũ trang, ngày 1 tháng Sáu năm 1948, Thường vụ ra chỉ thị thi đua xây dựng Đảng. Đối tượng phát triển Đảng là những cán bộ, chiến sĩ ưu tú đã được rèn luyện, thử thách trong kháng chiến. Trong giai đoạn 1948, 1949, Đảng ta đã có thêm nửa triệu đảng viên. Cuộc vận động thi đua ấy đã đem lại những kết quả tốt, những cũng không tránh khỏi những nhược điểm và khuyết điểm.

        Để nghiên cứu kế hoạch hậu cần toàn diện để trình Chính phủ duyệt và thực hiện kế hoạch, từ 19 tháng Tám năm 1948, Nhà nước đã thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao, Bác là Chủ tịch hội đồng, anh Lê Văn Hiến là Phó chủ tịch, tôi và mấy anh khác là ủy viên hội đồng. Nhờ có hội đồng những hoạt động của mọi ngành trong kháng chiến phối hợp nhịp nhàng, có kết quả và tăng thêm hiệu lực. Công việc của Bác ngày càng bận rộn.

        Qua mấy năm kháng chiến, chế độ mới ngày càng củng cố. Chúng ta đã có một nhà nước dân chủ nhân dân thực sự của dân, vì dân, một khối đoàn kết dân tộc rộng rãi và vững chắc, một nếp sống văn hóa lành mạnh. Đó là bảo đảm vững chắc cho lực lượng vũ trang hoàn thành nhiệm vụ ngày càng lớn của mình.

        Sau thất bại của cuộc tiến công Việt Bắc, trong một cuộc họp báo ở Hà Nội, một viên sĩ quan Pháp đã giải thích là không hề có một chính phủ Việt Minh như người Pháp vẫn lầm tưởng, chỉ có những căn nhà lá tồi tàn với những bộ trưởng ba lô trên lưng, hồ sơ đựng trong cột nhà, sẵn sàng lẩn trốn vào rừng khi quân Pháp xuất hiện. Bề ngoài, anh ta không quá nói ngoa. Nhưng điều rất lớn mà viên sĩ quan không hiểu, chính là ở trong những ngôi nhà lá với những ông bộ trưởng như vậy, những quyết định quan trọng của nhà nước Việt Nam đã ra đời và sẽ chôn vùi số phận quân đội viễn chinh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #77 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 10:12:14 AM »


3

        Kinh tế là một bộ phận quan trọng của cuộc kháng chiến toàn diện của dân tộc ta. Những cuộc họp Hội đồng Chính phủ, ngoài những vấn đề về quân sự, ngoại giao, lần nào cũng có bàn về kinh tế, tài chính, nội thương, ngoại thương, xây dựng và củng cố hậu phương.

        Trung ương rất kiên trì chủ trương ngoài Việt Bắc là căn cứ địa chính của cả nước, cần xây dựng hậu phương thứ hai ở đất Hoan Diễn. Vì vậy đã bố trí ở Thanh Hóa những cán bộ có năng lực và uy tín: anh Đặng Thai Mai, anh Tố Hữu, anh Đặng Việt Châu. Và kể từ đầu kháng chiến cho tới sau này, Bác đã 6 lần về thăm, 6 lần viết thư giao nhiệm vụ, 13 lần viết thư khen.

        Hậu phương vững chắc là một nhân tố cơ bản của thắng lợi. Đất ta hẹp, ta không có khả năng xây dựng những căn cứ địa bao la rộng lớn như Trung Quốc. Trung ương Đảng ta chủ trương xây dựng những hậu phương quy mộ thích hợp trên những địa bàn chiến lược quan trọng, xây dựng về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa; coi trọng cả những căn cứ du kích sau lưng địch. Chúng ta coi hậu phương vững chắc nhất là ở trong lòng dân.

        Chúng ta bước vào kháng chiến với một nền kinh tế dân chủ nhân dân đang ở giai đoạn ban đầu. Ba thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã, kinh tế tư nhân thì hai thành phần kinh tế đầu mới chỉ hình thành, thành phần kinh tế tư nhân chiếm đa số thì lại bị ảnh hưởng của chiến tranh. Nền kinh tế đó lại bị giặc Pháp phong tỏa, bao vây.

        Địch phong tỏa và bao vây ta về kinh tế, ta đề ra chính sách tự túc tự cấp trong toàn quốc và ở từng địa phương để kháng chiến lâu dài.

        Ta giúp đỡ sản xuất của tư nhân vì kinh tế tư nhân là bộ phận lớn nhất và có ảnh hưởng mạnh nhất của nền kinh tế lúc bấy giờ.

        Thiếu một nền công nghiệp chế tạo, ta chủ trương phát triển ngành nghề thủ công, sử dụng nguyên liệu địa phương để sản xuất, đáp ứng những nhu cầu kháng chiến thiết yếu cho chiến đấu, sản xuất và sinh hoạt.

        Hoàn cảnh kháng chiến buộc ta phải phân tán, phải phá hoại, nhưng ở nơi hậu phương ta cũng vẫn khuyến khích mở chợ, sửa đường, phát triển vận tải để phân phối điều hòa nguyên liệu, sản phẩm, kích thích sản xuất.

        Vấn đề lương thực được đặt lên hàng đầu. Bác kêu gọi:

                                                        Ruộng rẫy là chiến trường,
                                                        Cuốc cày là vũ khí,
                                                        Nhà nông là chiến sĩ,
                                                        Hậu phương thi đua với tiền phương.


        Những cải cách về ruộng đất của chính phủ như triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, tạm cấp ruộng đất vắng chủ cho dân nghèo, cho nông dân vay tiền sản xuất làm cho đại đa số nông dân ở vùng tự do phấn khởi.

        Chính phủ lại chăm lo tu bổ đê điều, đắp đập khai mương, đẩy mạnh công tác khuyến nông, phổ biến các biện pháp thâm canh: nước, phân, cần, giống, nhờ đó mà mùa màng ổn định, năng suất tăng cao.

        Ta lại động viên toàn dân tăng gia sản xuất. Các ủy ban tự túc tự cấp về ăn mặc được lập ra khắp nơi. Bộ đội, cơ quan, xí nghiệp, trường học đều phải dành thời gian sản xuất nhằm tự túc lấy lương thực, vừa giải quyết một phần nhu cầu bản thân, vừa giảm nhẹ gánh nặng đóng góp của nhân dân.

        Nhiều nơi sắn trồng bạt ngàn nương rẫy, mía ngô phủ kín bãi ven sông. Nương của bộ đội, của cơ quan, xí nghiệp được mở ra sản xuất bên cạnh nương của đồng bào.

        Nhờ vậy, ruộng vườn có bị chiến tranh thu hẹp, đất đai bị chia cắt, nhưng sản lượng lương thực không giảm. Nạn đói không xảy ra nghiêm trọng ở bất cứ đâu trong vùng tự do. Đời sống của những người nghèo khổ so với trước cách mạng đã khá hơn nhiều.

        Chúng ta khuyến khích trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm. Nghề kéo sơi, dệt thủ công được phục hồi và phát triển, nhờ đó vấn đề mặc được giải quyết một phần. Chỉ riêng Liên khu 4, năm 1949, đã dệt được 12 triệu 812 nghìn thước vải. Liên khu 5 đã tự túc được về mặc. Những bộ quân phục xita bền đẹp đã trở thành niềm tự hào của Liên khu.

        Địch tìm cách phá hoại các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp của ta. Ta chủ trương thực hiện sản xuất quy mô nhỏ, phân tán. Quy mô nhỏ không những có lợi về mặt đề phòng giặc ném bom phá hoại mà còn thích hợp cho việc huy động vốn của dân lúc đó. Ta cũng chú trọng mở rộng dần cơ sở của kinh tế nhà nước và gây dựng cơ sở ban đầu của kinh tế hơp tác xã.

        Ngay trong những ngày đầu kháng chiến, Chính phủ đã chủ trì nhiều cuộc họp với các nhà trí thức và kĩ sư tại Vân Đình để bàn việc mở mang công nghiệp của đất nước. Ai nấy đều tỏ ra sốt sắng tham gia vào công việc kiến thiết ở hậu phương. Sau này một số anh em được trưng dụng vào quân giới đã có nhiều đóng góp cho việc sản xuất vũ khí của quân đội.

        Cùng với công nghiệp quốc phòng phát triển vượt bậc, các ngành công nghiệp khác hướng vào nhu cầu quốc phòng và đời sống dân sinh, thay thế hàng ngoại cũng hoạt động mạnh. Trong ba năm đầu kháng chiến ta đã khai thác được hơn 2 vạn tấn than, 6000 tấn phốt phát, 300 tấn diêm tiêu; đã sản xuất được một số hóa chất cơ bản: axít, xút, cồn 900; đã đặt vấn đền nghiên cứu luyện kim theo quy mô nhỏ.

        Các ngành thủ công nghiệp dần dần được khôi phục: nghề muối, nghề dệt, đường mật… Đặc biệt nghề giấy phát triển trên cả nước. Toàn quốc có 553 xưởng giấy, đã sản xuất trong năm 1949 được 1.587 tấn. Từng địa phương, với thế mạnh về nguyên liệu của mình đã có những mặt hàng trao đổi trên thị trường của từng vùng. Lưu thông hàng hóa ngày một phát triển.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #78 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 10:12:51 AM »


        Cùng với việc xây dựng nền kinh tế tự chủ, chúng ta đã xây dựng một nền tài chính độc lập. Bằng cách phát hành đồng bạc Việt Nam, ta đã loại trừ ảnh hưởng của đồng tiền Đông Dương do Pháp phát hành.

        Với sự thận trọng và khôn khéo, chúng ta đã từng bước cho ra đời tờ bạc đầu tiên của Việt Nam.

        Ngày 2 tháng 2 năm 1946, tờ bạc Việt Nam được phát hành hầu khắp các tỉnh Nam Trung Bộ từ vĩ tuyến 16 trở vào, nơi không có sự phá rối của quân đội nước ngoài.

        Ngày 3 tháng 11 năm, 1946, để đối phó với âm mưu lũng đoạn tiền tệ của thực dân Pháp, Chính phủ ra sắc lệnh lưu hành tờ bạc Việt Nam trên toàn quốc.

        Tháng 4 năm 1948, Hội đồng Chính phủ đã ra sắc lệnh bắt đầu từ ngày 22 tháng 5 năm 1948 thủ tiêu giấy bạc Đông Dương thay thế bằng giấy bạc Việt Nam, cắt đứt cái ràng buộc cuối cùng của thực dân Pháp.

        Việc đảm bảo cung cấp một số lượng giấy bạc đáp ứng nhu cầu của kháng chiến là một cố gắng lớn của cán bộ, công nhân ngành tài chính.

        Cơ sở vật chất nhỏ bé, lại bị địch đánh phá nhiều lần. Có khí sản xuất ngừng trệ cả tháng vì máy móc hư hỏng, vật tư thiếu thốn, Tờ bạc 500 đồng in được một mặt thì hết hóa chất bicromat amôn. Mua ở vùng địch tạm chiếm thì không có. Gửi mua ở Hồng Kông thì chưa biết bao giờ về. Giám đốc nhà máy phải nhờ anh em cán bộ kĩ thuật quân giới Bộ Quốc phòng nghên cứu điều chế giúp.

        Qua ba năm kháng chiến, mặc dù chiến trường chia cắt, tiền tệ vẫn thống nhất. Ban đầu ta dự kiến có thể các địa phương sẽ tự động phát hành nhiều giấy bạc để tự cấp theo nhu cầu. Tình trạng ấy sẽ làm cho trong nước có nhiều tờ giấy bạc khác nhau với các giá trị khác nhau. Chuyện đó đã không xảy ra. Trên toàn quốc chỉ lưu hành một loại bạc do Trung ương phát hành, trừ Khu 5 có thêm một thứ tín phiếu. mặc dầu không có trữ kim và ngoại tệ mạnh bảo đảm, nhưng với tinh thần yêu nước, lòng tin vào tiền đồ kháng chiến của nhân dân, đồng bạc Việt Nam trong những năm đầu vẫn giữ được tương đối ổn định. Đó là một thành công lớn.

        Nếu không kể những cuộc ném bom, bắn phả của máy bay địch, căn cứ địa Việt Bắc đã có hai năm yên tĩnh. Sau khi địch rút khỏi Bắc Kạn, khu căn cứ không còn bị đe dọa. Dọc những đường lớn, hàng quán mọc lên nhiều, không khí buôn bán trở lại rộn rịp. Nhưng riêng về lương thực, do Pháp mở rộng lấn chiếm đồng bằng và trung du nên tình hình trở nên rất gay gắt. Bộ đội thiếu ăn. Bữa cơm ở cơ quan thường là sắn cõng cơm. Do địch bao vây ta ráo riết về lương thực, giá gạo tăng vọt. Đồng bạc Việt Nam bắt đầu mất giá. Ngoài việc bao vây lương thực, địch còn tiến công trực tiếp vào đồng bạc Việt Nam bằng cách in tiền giả, tung vào vùng tự do, đánh phá những nơi chúng nghi là cơ sở in giấy bạc của Bộ Tài chính. Trong năm 1949, những cơ sở của Bộ Tài chính đã hai lần bị địch ném bom.

        Để khắc phục tình hình này, Bộ Tài chính có hai đề nghị được Hội đồng Chính phủ bàn bạc rất nhiều, thảo luận rất sôi nổi. Một là chuyển sang thu thuế bằng thóc và ban hành công trái kháng chiến. Nếu thu thuế bằng thóc, ta sẽ có được một phần lương thực để cấp phát cho bộ đội và những người làm việc cho Nhà nước, làm dịu những khó khăn gay gắt về lương thực lúc này. Thu thuế bằng thóc sẽ góp phần ổn định  đồng tiền Việt mà ta không muốn in nhiều cũng không có khả năng in nhiều. Nhưng phải tính tới kho chứa thóc, điều kiện bảo quản, khả năng vận chuyển và hệ số an toàn rất thấp trong điều kiện chiến tranh hiện nay. Hai là phát hành tờ 500 đồng bạc Việt Nam. Việc phát hành tờ 500 cho phép ta có được một khoản dự trữ mà ta đang rất cần. Nó hợp với khả năng in ấn có hạn của ta. Nhưng tung một đồng bạc lớn ra trong điều kiện đồng tiền đang mất giá có thể làm cho tình hình càng trầm trọng hơn. Đồng tiền lớn sẽ khó sử dụng trong chi tiêu, thanh toán. Và địch càng có cơ hội phá giá đồng tiền của ta với cách in tiền giả mà chúng đang làm… Cuối cùng, ta vẫn phải quyết định thu thuế bằng thóc và phát hành đồng 500 sau khi đã tính một số điều kiện về tổ chức để phòng ngừa.

        Về phía địch, âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh gặp nhiều khó khăn. Cùng với chính sách tiêu thổ kháng chiến, ta chủ trương kiên quyết bao vây kinh tế địch. Ta ngăn chặn không cho hàng địch đưa vào vùng ta, nhất là các hàng xa xỉ phẩm. Đồng thời ta tổ chức thống nhất việc tiếp liệu để mua được các hàng cần thiết từ vùng địch. Có lúc, có nơi việc bao vây kinh tế địch làm quá chặt, ảnh hưởng đến ta, Trung ương phải uốn nắn. Nhìn chúng, chủ trương bao vây kinh tế của địch có điều chỉnh là cần thiết. Những nơi buôn bán nhộn nhịp như Cống Thần, Chợ Đại dần dần xuất hiện.

        Kế hoạch phục hồi kinh tế Đông Dương của địch cũng phá sản. Địch không thực hiện được kế hoạch chiếm đóng và xây dựng  lại những vùng kinh tế quan trọng, những khu vực có khả năng về công nghiệp và nông nghiệp. Tứ giác Lạng Sơn, Móng Cái, Hà Nội, Hải Phòng, vùng Tây Nguyên, khu vực từ Cam Ranh vào Nam Bộ không lúc nào vắng tiếng súng kháng chiến.

        Phong trào đấu tranh của công nhân trong vùng địch kiểm soát ngày một phát triển, lúc thì gây phong trào lãn công, lúc thì bí mật phá hoại máy móc, vật tư, nguyên liệu, gây cho địch không ít tổn thất. Sản xuất than, cao su… không đạt yêu cầu, xuất khẩu giảm sút. Nhất là từ năm 1949, sau khi có một kế hoạch thống nhất giữa Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, việc phá hoại kinh tế địch lại càng đi vào chiều sâu.

        Tóm lại, khó khăn của ta là khó khăn của bước đường đi lên thắng lợi, khó khăn của địch là khó khăn trên con đường đi xuống, không thể khắc phục được.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #79 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2016, 10:13:59 AM »

       
4

        Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta. Hơn 95 phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ… Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Sắc lệnh số 20/SL của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cưỡng bách mọi người học chữ quốc ngữ và không mất tiền, hạn trong một năm tất cả mọi người từ 8 tuổi trở lên đều phải biết đọc, biết biết chữ quốc ngữ.

        Sau ngày kháng chiến toàn quốc, nhiều người có quan niệm: việc học chữ không cấp bách bằng việc đánh giặc, kháng chiến thành công rồi học cũng chưa muộn. Đảng ta đã sớm uốn nắn quan niệm này. Nha Bình dân học vụ đề ra những khảu hiệu: “Đi học là kháng chiến”, “Có học thì kháng chiến mới thành công”… Ngày 1 tháng 8 năm 1948, Nha Bình dân học vụ phát động trong cả nước một chiến dịch diệt giặc dốt quyết huy động toàn lực giành một thắng lợi quyết định trong công tác xóa nạn mù chữ. Đến giữa năm 1949, cả nước đã có trên 10 triệu người thoát nạn mù chữ. Đến giữa năm 1949, cả vùng đồng bằng, miền núi, vùng dân tộc ít người, vùng Thiên chúa giáo và cả vùng địch hậu, 9 tỉnh tuyên bố hoàn thành về cơ bản việc thanh toán nạn mù chữ: Hà Tĩnh, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Hưng Yên, Phúc Yên, Quảng Ngãi, Phú Yên và Bình Định. Hà Tĩnh dẫn đầu phong trào được Bác gửi thư khen.

        Từ năm 1947, Bộ Giáo dục đã gấp rút khôi phục và mở thêm một số trường phổ thông, mở những hội nghị bàn về sửa đổi chương trình, cải cách giáo dục, cải tổ hệ thống trường học cho phù hợp với những yêu cầu và điều kiện của kháng chiến. Từ Liên khu 5 trở ra, có khá nhiều trường tiểu học, trung học. Tới năm 1949, ta đã có Trường đại học y khoa, lớp dự bị đại học văn khoa, lớp dự bị đại học về toán. Quân đội mãi mãi nhớ ơn Trường đại học y khoa, đặc biệt là các anh Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ… đã đào tạo đội ngũ cán bộ quân y, quân dược. Chúng ta cũng ghi nhớ công lao ngành giáo dục đã cung cấp cho quân đội những thanh niên có trình độ văn hóa phục vụ cho việc xây dựng các binh chủng kĩ thuật trong thời kì bộ đội ta chuyển lên đánh lớn.

        Chiến tranh đã đẩy rất đông người kháng chiến về những miền trung du, rừng núi, nhiều nơi chưa được khai phá, trước đây còn bị coi là “ma thiêng nước độc”. Lương thực khó khăn, thuốc men cực kì thiết thốn, lại thêm nếp sinh hoạt hằng ngày của người dân nhiều vùng còn lạc hậu. Chính quyền kháng chiến cùng với các ngành chuyên môn đã có nhiều cố gắng trong việc chăm lo bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.

        Với phương châm “phòng bệnh là chính”, cuộc vận động nếp sống vệ sinh với phong trào ba sạch: “ăn sạch, uống sạch, ở sạch” đã phát triển rộng rãi ở nhiều địa phương. Khâu chữa bệnh được chú ý, từ đào tạo cán bộ chuyên môn, sản xuất thuốc đến xây dựng cơ sở y tế. Các liên khu đều có một hệ thống y tế từ tỉnh đến xã. Trong bộ đội, hệ thống quân y có tới cơ sở trung đội. Tính tới năm 1950, riêng ngành dân y của Liên khu Việt Bắc có 17 bệnh viện, một trạm giải phẫu, 135 trạm cứu thương, 77 nhà hộ sinh, 173 phòng phát thuốc. Ở cấp xã có 138 tủ thuốc, 224 cán bộ vệ sinh. Tình hình này đáp ứng một phần nhu cầu chữa bệnh của nhân dân. Chỉ với những dụng cụ thô sơ và vật liệu tại chỗ, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã nghiên cứu và sản xuất thành công thuốc kháng sinh Pênixilin dạng đơn giản… và bác sĩ Tôn Thất Tùng đã tìm ra những phương pháp điều trị mới cho một số bệnh gan, mật… Việc chữa bệnh bằng đông y và sử dụng cây thuốc nam cũng được nhiều địa phương chú ý và thu được nhiều kết quả.

        Trong những năm kháng chiến, ở vùng tự do không có dịch bệnh lớn. Chúng ta đã hạn chế được đáng kể những bệnh sốt rét, kiết lị ở vùng rừng núi không để ảnh hưởng lớn tới nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

        Đề cương văn hóa năm 1943 của Đảng với phương châm “dân tộc - khoa học - đại chúng” đã thu hút nhiều nhà văn hóa, nhà văn, nhà nghệ sĩ từ bỏ tháp ngà lên đường đấu tranh cách mạng. Hai tác phẩm: “Kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam” của đồng chí Trường Chinh những năm đầu kháng chiến đã đặt nền móng cho một nền văn hóa Việt Nam mới trong chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc. Đường lối văn hóa của Đảng đưa văn hóa Việt Nam trở về cội nguồn dân tộc, chống lại những xu hướng duy tâm, mê tín lạc hậu; và đặc biệt là đưa văn hóa trở về với số đông, là đại bộ phận nhân dân, sẽ quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Với nền văn hóa mới, văn nghệ sĩ trở thành những người “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, văn học nghệ thuật trực tiếp góp phần cho công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Đây là những thay đổi rất cơ bản so với nền văn hóa trước cách mạng trong xã hội thực dân phong kiến.

        Với những phương tiện cực kì eo hẹp, những tờ báo tường, báo in đá, tạp chí, truyện in với số lượng ít trên giấy giang, những bản nhạc chép tay, truyền miệng… văn nghệ kháng chiến vẫn có mặt trên khắp nẻo đường khắp xóm vắng, hang cùng. Văn hóa kháng chiến đã đáp ững nhu cầu tình cảm của chiến sĩ, nhân dân ta trông chiến tranh. Nhân dân thương yêu, chăm sóc, che chở cho bộ đọi như con, em. Người ở mặt trận nhớ tới người ở hậu phương. Đồng bào miền xuôi, miền ngược coi nhau như người trong một gia đình. Văn hóa, văn nghệ kháng chiến đã có những công hiến to lớn trong suốt ba mươi năm chiến tranh.

        Trong năm 1948, tôi đã gặp lại một thầy học cũ, cụ Võ Liêm Sơn. Những năm hai mươi thầy Võ Liêm Sơn dạy ở trường Quốc học Huế. Năm 1927, tôi tham gia cuộc tổng bãi khóa của học sinh ở Huế. Sau đó cùng với mấy người bạn đi vào Đà Nẵng, Quy Nhơn để tìm đường xuất dương. Khi tôi quay lại Huế, vì giới cầm quyền thành phố để ý nên khó tìm nơi tá túc. Chính thầy Sơn đã bảo tôi về ở tại nhà thầy. Ở đây tôi đã được đọc cuốn sách đầu tiên viết về chủ nghĩa Mác.

        Cụ Võ Liêm Sơn ghé qua Bộ Tổng chỉ huy sau khi đã đi dự Đại hội văn hóa toàn quốc về. Hai mươi năm mới gặp lại thầy Sơn, tôi rất xúc động. Thầy đứng lặng nhìn tôi một lúc, rồi lấy khăn tay lau nước mắt. Ngày ấy tôi là một cậu học trò nghèo, được thầy cưu mang lúc khó khăn, và tạo điều kiện cho hiểu thêm về cách mạng.

        Tôi biết những giọt nước mắt của thầy hôm nay là những giọt nước mắt hạnh phúc.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM