Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Tám, 2019, 11:28:50 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến đấu trong vòng vây  (Đọc 24798 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #30 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 05:46:30 AM »


        Dự kiến tiến trình phát triển của cuộc kháng chiến phải trải qua ba giai đoạn là cơ bản phù hợp với quy luật phát triển của so sánh lực lượng. Nó giúp quân và dân ta xác định đúng đắn nhiệm vụ xây dựng và tác chiến của từng giai đoạn, phát huy sự nỗ lực chủ quan để đi tới chiến thắng, đồng thời không để tư tưởng chủ quan, nôn nóng chi phối. Tuy nhiên, dự kiến này được đặt ra trong bối cảnh cuộc chiến đấu diễn ra giữa ta và quân xâm lược pháp, một đế quốc đã suy yếu nhiều sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ta chưa nhìn thấy âm mưu của đế quốc Mỹ, dẫn tới việc Mỹ sẽ can thiệp ngày càng sâu vào chiến tranh Đông Dương và trở thành kẻ thay thế khi Pháp đã thất bại. Dự kiến này rất đúng với giai đoạn đầu của kháng chiến, nhưng sự diễn biến sau đó thì phức tạp hơn nhiều.

        Một lần nữa, ta xác định “Chiến thuật căn bản của bộ đội là du kích vận động chiến”, đồng thời đề ra phải phát động phong trào dân quân du kích và vũ trang toàn dân, xây dựng làng kháng chiến, chuyển một phần bộ đội thành dân quân du kích (nhất là ở những nơi bị địch tạm chiếm).

        Một lần nữa, vấn đề căn cứ địa lại được nêu lên và thảo luận sôi nổi. Hội nghị đã đi đến nghị quyết: “Việt Nam không thể có căn cứ địa rộng rãi và vững chắc như Trung Quốc. Những căn cứ địa ở Việt Nam đều có thể bị đánh xuyên mũi dùi vào hoặc bị bao vây. Nhưng Việt Nam đã có một mặt trận đoàn kết toàn dân, nhân dân được hưởng chế độ dân chủ rộng rãi và liều chết giữ vững chế độ ấy. (…) Việt Nam vẫn có thể kháng chiến và nắm chắc thắng lợi bằng cách mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay cả sau lưng địch, trong ruột địch, và tổ chức căn cứ địa không những ở rừng núi mà ở cả đồng bằng”.

        Về kinh tế, hội nghị đề ra phải phá kinh tế của địch, đồng thời phải xây dựng nên kinh tế của ta, và lập nền kinh tế tự túc để vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

        Về văn hóa, hội nghị chủ trương phải động viên tất cả giới trí thức, văn nghệ tham gia kháng chiến, mở mang nền giáo dục kháng chiến, xây dựng nền văn hóa mới dân tộc, khoa học, đại chúng.

        Năm tháng sau ngày toàn quốc kháng chiến, Đảng ta đã hoạch định được đường lối tổng thể cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc, đề ra những biện pháp lớn và vạch rõ tiến trình đi tới thắng lợi.

        Tháng Năm năm 1947, Bộ Tổng chỉ huy triệu tập Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất tại Việt Bắc.

        Sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bác và Thường vụ nhận thấy cần có sự chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang. Ngày 12 tháng 2 năm 1947, Bộ Tổng chỉ huy quyết định thành lập Phòng Dân quân trực thuộc Bộ để giúp việc lãnh đạo và chỉ huy dân quân, tự vệ. Anh Khuất Duy Tiến và anh Lê Liêm được phân công làm trưởng phòng và phó phòng dân quân. Cùng trong tháng Hai, Bộ Quốc phòng ra thông tư tổ chức mọi công dân từ 18 đến 45 tuổi đều vào dân quân, tự vệ; dân quân ở thôn xã, tự vệ ở các xí nghiệp, cơ quan, đường phố, quy định nhiệm vụ của dân quân tự vệ và các đội du kích địa phương. Tháng Ba năm 1947, Chính phủ quyết định đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ, thành lập các ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội dân quân thuộc ủy ban kháng chiến các cấp. Tháng Tư năm 1947, Trung ương Đảng ra nghị quyết: “Mỗi làng, mỗi địa phương phải phái ngay đồng chí hoặc cán bộ cứu quốc có năng lực ra đảm nhiệm việc phát triển dân quân”.

        Từ chỗ là những tổ chức vũ trang quần chúng của các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh xây dựng ở từng địa phương, dân quân, tự vệ, du kích đã trở thành một bộ phận cấu thành lực lượng vũ trang của Nhà nước do Bộ Tổng chỉ huy và những cơ quan quân sự các cấp ở địa phương lãnh đạo và chỉ huy. Lực lượng này trên cả nước, vào mùa hè năm 1947, đã lên tới một triệu người. Hội nghị dân quân toàn quốc được triệu tấp nhằm mục đích thống nhất việc tổ chức và chỉ huy, xác định rõ vị trí chiến lược của dân quân, tự vệ và du kích trong kháng chiến. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các chiến sĩ dân quân cả nước, Bác viết: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng đầu vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”.

        Tiếp sau đó, trong tổng kết sau tháng đầu toàn quốc kháng chiến, Bộ Tổng chỉ huy đã kết luận: chỉ có thực hiện “vũ trang toàn dân”, “phối hợp sự chiến đấu của bộ đội và sự chiến đấu của dân quân và toàn dân, có những đội du kích khắp nơi, các làng mạc đều trở nên các pháo đài” thì mới “làm cho giặc bị tê liệt, bị vây hãm, bị đánh lúc chúng không đánh, bị khốn cùng về cả mọi mặt”.

        “Làng kháng chiến”, còn gọi là “làng chiến đấu” xuất hiện từ trước tổng khởi nghĩa trong thời gian đánh Nhật. Nó đã phát triển mạnh ở Nam Bộ sau ngày 6 tháng 3 năm 1946 dưới hình thức những căn cứ kháng chiến. Các tỉnh, huyện sau lưng địch ở Nam Bộ đều có những căn cứ liên hoàn nằm trên hai, ba huyện hoặc năm, sáu xã. Trong “Chỉ thị Toàn dân kháng chiến”, Thường vụ đã nêu khẩu hiệu: “Mỗi làng là một pháo đài!”. Nay làng kháng chiến đang phát triển theo tỉ lệ thuận với phong trào phát triển dân quân. Đã có hàng nghìn làng kháng chiến được bước đầu xây dựng. Hội nghị cán bộ Trung ương tháng Tư năm 1947 đã nhận định tinh thần “nhiệt liệt tham gia dân quân, tổ chức làng kháng chiến, giúp đỡ bộ đội tác chiến, phá hoại, cản địch…” ở quảng đại nông thôn chính là một phong trào cách mạng của nông dân.

        Nửa năm sau ngày kháng chiến toàn quốc, chúng ta đã có được những nghị quyết và những hình thức tổ chức khá cơ bản thể hiện tinh thần và tư tưởng của một loại hình chiến tranh mới: chiến tranh toàn dân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #31 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 05:52:59 AM »

       
6

        Ở Pháp, Pôn Râmđiê (Paul Ramadier) đã thay Lêông Blum là thủ tướng chính phủ. Ngày 13 tháng 3 năm 1947, Ramađiê tuyên bố trước Quốc hội Pháp: “Không thể giải quyết vấn đề Đông Dương bằng vũ lực”. Ramađiê cử một viên cao ủy mới sang thay Đácgiăngliơ bị triệu hồi vì bộ mặt hiếu chiến quá lộ liễu. Nhưng Vanluy vẫn ở lại giữ chức tổng chỉ huy quân viễn chinh.

        Ngày 19 tháng Ba, Đảng Cộng sản Pháp ra nghị quyết về chiến tranh Đông Dương: “Ban chấp hành Trung ương khắng định một lần nữa sự cần thiết hoàn toàn phải chấm dứt những hành động cừu nghịch ở Đông Dương, phải nối ngay những cuộc đàm phán với Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở Hiệp định mồng 6 tháng 3 năm 1946, phải tôn trọng độc lập và thống nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp”.

        Ngày 21 tháng 3, từ căn dứ địa Việt Bắc, Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn độc lập và thống nhất trong khối Liên hiệp Pháp, chúng tôi cam kết tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam… Nếu Chính phủ Pháp tuyên bố chính thức và thành thật công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam, và bảo đảm thực hiện đường lối chính trị đó, tất cả mọi vấn đề khác đều có thể giải quyết dễ dàng. (…) Nếu người Pháp không đếm xỉa tới nguyện vọng thành thật muốn hòa bình của chúng tôi mà cứ tiếp tục chiến tranh thì họ sẽ mất tất cả mà không được gì hết”.

        Đầu tháng Tư, Bôlae (Bollaert), người thay thế Đácgiăngliơ đến Sài Gòn.

        Ngày 19 tháng Tư, Bác gửi một bức thông điệp hòa bình cho nhân dân và Chính phủ Pháp. Bức thông điệp viết: “Nước Việt Nam chiến đấu cho độc lập, thống nhất của mình. Nước Pháp như lời tuyên bố của Thủ tướng Ramađiê không chống lại độc lập và thống nhất của Việt Nam. (…) Chiến tranh kéo dài chỉ có thể làm tăng thêm hận thù, dẫn tới những hi sinh về sinh mạng. (…) Với việc cử Cao ủy mới của nước Pháp ở Đông Dương,  Chính phủ Pháp dường như đã biểu lộ ý định chuyển đường lối chính trị đối với nước Việt Nam vào một con đường mới, xứng đáng với nước Pháp. (…) Để biểu lộ sự thành thật quan tâm của Việt Nam đối với hòa bình và hữu nghị với nhân dân Pháp, Chính phủ Việt Nam đề nghị với Chính phủ Pháp ngừng ngay mọi hành động cừu nghịch và mở cuộc đàm phán để giải quyết hòa bình cuộc xung đột.

        Sau ngày kháng chiến toàn quốc, không còn những cuộc tiếp xúc giữa ta và Pháp. Tuy nhiên, do phía Pháp đề nghị, thỉnh thoảng ta cũng cử đại diện gặp gỡ những lãnh sự Mỹ, Anh và đại biểu Hội Chữ thập đỏ, chủ yếu là để giải quyết “vấn đề tù binh Pháp”.

        Đầu tháng Năm, anh Hoàng Minh Giám gặp lãnh sự Anh ở gần Cầu Đuống. Sau ít phút trao đổi, lãnh sự Anh hỏi:

        - Ông có biết ông Pôn Muýt (Paul Mus) không? Ông ấy đã có dịp gặp ông ở Hà Nội và đã được yết kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 19 tháng 12 năm 1946.

        - Có, đúng như vậy.

        - Ông Pôn Muýt muốn được gặp ông. Ông ấy đã đi theo tôi tới bên kia cầu Đuống, cách đây độ một kilômét, và đang chờ ở đó. Nếu ông đồng ý tiếp, thì ông ấy sẽ tới ngay.

        - Về việc gì vậy, ông có biết không?

        - Một việc rất quan trọng, ông ấy tha thiết gặp ông. Hiện giờ ông ấy là người giúp việc thân cận, một cố vấn của Cao ủy Bôlae.

        - Được. Nhờ ông báo cho ông Pôn Muýt biết tôi sẵn lòng gặp.

        Chỉ lát sau, Pôn Muýt tới. Sau khí chào hỏi, ông ta vào đề ngay.

        - Tôi có một việc quan trọng, bí mật và gấp, muốn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi được ủy nhiệm chuyển trực tiếp tới Chủ tịch một thông điệp của Cao ủy Bôlae. Nếu có thể, tôi sẵn sàng đi theo ông ngay bây giờ.

        - Rất tiếc không thể làm như vậy. Tôi sẽ báo cáo với Chủ tịch và trả lời về quyết định của Người. Ông cho biết có thể trả lời cách nào vừa nhanh chóng vừa đảm bảo bí mật.

        - Cảm ơn. Đề nghị ông trả lời cho tôi bằng điện đài.

        Pôn Muýt trao đổi quy ước liên lạc với anh Giám.

        Bác chấp nhận gặp Pôn Muýt. Pôn Muýt đã có mặt từ những năm 30 ở Đông Dương với tư cách một giáo sư khảo cổ. Ông biết chữ Hán và thông thạo tiếng Việt. Sau ngày 6 tháng 3 năm 1946, Pôn Muýt trở lại Hà Nội trong cương vị cố vấn chính trị của Lơcléc. Đầu trung tuần tháng Năm, người của ta đón Pôn Muýt ở Cầu Đuống. Ông giáo sư hăng hái đi bộ ban đêm theo người dẫn đường tới thị xã Thái Nguyên.

        Tối 12 tháng 5 năm 1947, Bác Hồ gặp Pôn Muýt.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #32 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 05:53:23 AM »


        Theo lời anh Giám kể, sứ giả của Bôlae sững sờ khi nhìn thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới ánh sáng xanh của ngọn đèn măng sông trong ngôi nhà duy nhất còn lại giữa thị xã đã biến thành đống gạch vụn. Bác vẫn giản dị, lịch sự như khi tiếp khách ở phòng khách Chính phủ phố Ngô Quyền Hà Nội.

        - Thưa Chủ tịch, - Pôn Muýt nói - tôi xin cảm ơn Chủ tịch đã vui lòng cho tôi được gặp để làm nhiệm vụ do Cao ủy trao, là chuyển trực tiếp tới Chủ tịch một bản thông điệp.

        Khi Bác bảo đưa bức thông điệp thì Pôn Muýt nói tiếp:

        - Thưa Chủ tịch, vì những lí do không tiện trình bày ở đây, bản thông điệp của Cao ủy trả lời bức thư đề nghị ngừng bắn của Chính phủ Việt Nam không được ghi vào giấy. Tôi đã nhớ kĩ nội dung, xin được nhắc lại đúng từng lời trong văn bản.

        - Tôi sẵn sàng nghe.

        Pôn Muýt đọc một hơi:

        - Để thực hiện một cuộc ngừng bắn, về phần mình, Cao ủy Pháp ở Đông Dương xin nêu với Chủ tịch bốn điều kiện: Thứ nhất, quân đội Việt Nam phải nộp vũ khí cho Pháp. Thứ hai, quân đội Pháp có quyền tự do đi lại trên đất nước Việt Nam. Thứ ba, Chính phủ Việt Nam phải trả lại cho Pháp tất cả những người đã bị bắt. Thứ tư, Chính phủ Việt Nam phải trao trả cho Pháp tất cả những người nước ngoài đã chạy sang phía Việt Nam.

        Bác nghiêm nét mặt, nhưng giọng vẫn ôn tồn:

        - Ông Muýt, tôi biết ông đã tham gia kháng chiến của nhân dân Pháp chống chủ nghĩa phát xít Hítle, điều đó có đúng không?

        - Thưa Chủ tịch, đúng.

        - Vậy ông hãy trả lời: Nếu ở địa vị tôi, ông sẽ có thái độ thế nào đối với bản thông điệp của ông Bôlae? Ông có nhận những điều kiện đó không?

        Pôn Muýt lúng túng.

        Bác nói tiếp:

        - Tôi nghe nói ông Bôlae cũng đã tham gia kháng chiến chống Hítle và có thành tích. Những điều kiện ông ấy đưa ra để ngừng bắn có ý nghĩa gì? Có nghĩa là ông ấy đòi chúng tôi phải đầu hàng! Ông Muýt, bản thân ông có nghĩ rằng chúng tôi có thể đầu hàng không? Lại còn điều kiện liên quan tới những người nước ngoài đứng trong hàng ngũ Việt Nam chống thực dân! Phải là một con người hèn mạt mới chấp nhận những điều kiện như vậy.

        Bác nhìn Pôn Muýt. Pôn Muýt ngồi im lặng rồi gật đầu nói:

        - Tôi hiểu, thưa Chủ tịch, tôi hiểu…

        Chuyện bức thông điệp không được nhắc tới nữa. Bác nói về lập trường của Chính phủ và nhân dân ta: yêu chuộng hòa bình, muốn có quan hệ tốt với nhân dân Pháp, nhưng kiên quyết kháng chiến để bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc mình. Pôn Muýt thừa nhận rằng đó là những tình cảm và ý chí chính đáng. Và hứa sẽ báo cáo đầy đủ những điều Bác đã nói với Bôlae.

        Trước lúc ra về Pôn Muýt tỏ ra xúc động thật sự. Ông chúc sức khỏe Bác, rồi hỏi:

        - Thưa Chủ tịch, như vậy là chiến tranh vẫn tiếp diễn?

        - Chúng tôi muốn hòa bình, nhưng không phải là hòa bình với bất cứ giá nào! Mà phải là hòa bình trong độc lập, tự do.

        - Thưa chủ tịch, chúc Người lòng dũng cảm.

        - Tất nhiên, bao giờ cũng như vậy.

        Đồng chí phục vụ bưng ra mấy li sâm banh. Pôn Muýt uống cạn li chia tay rồi khuất vào bóng đêm.

        Năm năm sau, trong cuốn sách của mình, “Việt Nam, cuộc chiến tranh xét về xã hội”, Pôn Muýt đã phê phán nội dung bản thông điệp mà ông phải chuyển cho Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái Nguyên.

        Mười ba ngày sau khi gặp Pôn Muýt, cùng với thư gửi nhân dân Pháp, Bác viết thư gửi đồng bào ta:

        “Vì nhân đạo, vì hòa bình, vì muốn giữ tình cảm với Pháp, Chính phủ ta đã đề nghị với Chính phủ Pháp, căn cứ vào nguyện vọng  thống nhất và độc lập của nhân dân ta, tìm cách dàn xếp cuộc chiến tranh. Song bọn quân phiệt thực dân Pháp, quen thói hung tàn, bất nhân, vô lễ. Chúng khinh miệt bộ đội và nhân dân ta. Chúng đưa ra những điều kiện kiêu hãnh, ngang ngược. (…) Thế là chúng đòi chúng ta đầu hàng. (…) Chúng ta quyết không chịu làm vong quốc nô. Vì vậy, tôi thay mặt Chính phủ, kêu gọi toàn thể đồng bào, phải ra sức kháng chiến, giúp đỡ bộ đội đánh giặc. Tôi ra lệnh cho toàn thể bộ đội, dân quân, tự vệ kiên quyết chiến đấu, xung phong giết giặc.

        Mỗi công dân phải là một chiến sĩ. Mỗi làng phải là một chiến hào.

        Chúng ta phải kiên quyết hi sinh chiến đấu để đánh tan bọn quân phiệt thực dân, để tranh lấy thống nhất và độc lập”.

        Đây là lần tiếp xúc cuối cùng giữa Bác và đại diện của phía bên kia trong kháng chiến chống Pháp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #33 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 05:59:52 AM »


Chương ba

MÙA HÈ YÊN TĨNH

1

        Vào mùa hè, tình hình các mặt trận có phần lắng dịu.

        Dọc đường số 5, Pháp mở những cuộc càn quét nhỏ với ý định dồn các đội du kích ra xa những làng nằm sát trục đường, hình thành một vành đai an toàn cho những cuộc hành quân, vận chuyển quân sự.

        Trung tuần tháng Năm, một tiểu đoàn Pháp nhảy dù xuống thị xã Phú Thọ. Ngày hôm sau, tàu chiến và ca nô địch từ Hà Nội đổ bộ lên thị xã Việt Trì vài trăm quân. Chỉ mấy ngày sau, cả hai toán quân này đều rút.

        Tháng Sáu, bộ binh Pháp kết hợp với quân dù tiến lên chợ Bờ Hòa Bình, nhưng không ở lại đây lâu.

        Có thể là những cuộc hành quân tập dượt.

        Tại Trung Bộ, quân Pháp rút khỏi Hồi Xuân, đánh vài trận nhỏ ở Bình Trị Thiên. Địch mở hai cuộc tiến công vào Phú Đa và An Khê, gặp lực lượng ta đánh trả, địch lại rút về.

        Đã thấy hiện tượng của chiến tranh mùa. Ở miền Bắc, mùa hè là mùa mưa, nước các triền sông lên to, ngăn trở những cuộc hành binh lớn phải sử dụng các lực lượng cơ giới. Mặt khác, quân Pháp đã bị tổn thất, mệt mỏi sau những trận đánh ở thành phố và hàng loạt cuộc tiến công, cần nghĩ ngơi, củng cố và chờ viện binh.

        Về phía ta, bộ đội cũng cần được chấn chỉnh tổ chức, bổ sung, huấn luyện, bồi bổ lực lượng. Tuy nhiên, ta cũng cố gắng mở một số trận đánh làm cho quân địch không rảnh tay chuẩn bị cuộc tiến công sắp tới.

        Trên miền Bắc, bộ đội các khu 2, 3, 12 nhiều lần phục kích địch diệt nhiều xe cơ giới, hai lần đột nhập thị xã Hà Đông. Khu 4 đánh địch ỏ Mỹ Chánh, An Phú, Ưu Điềm… Khu 5 nhiều lần phục kích trên đèo Hải Vân, bẻ gãy gọng kìm tiến công lớn của địch ở Phú Phong. Khu 6 ba lần đột nhập thị xã Phan Thiết. Quân và dân Nam Bộ, sau khi có nghị quyết ngày 25 tháng 3 năm 1947 của Xứ ủy, đã vùng lên mạnh mẽ suốt mùa hè, chống càn, đánh giao thông, đánh đồn, bao vây quấy rối các châu thành, phá cơ sở kinh tế, hậu cần của địch.

        Nhìn chung cả nước, nổi bật trong hoạt động mùa hè là chiến trường Nam Bộ, Khu 6, Khu 3; Nam Bộ đạt được hiệu suất chiến đấu cao. Tuy vậy, kết quả hoạt động mùa hè còn hạn chế vì ở nhiều nơi bộ đội chưa nắm được phương thức hoạt động, lực lượng ta còn có hạn, đội ngũ cán bộ còn thiếu đào tạo.

        Chúng ta biết khoảng thời gian lắng dịu này sẽ nhanh chóng qua đi. Cơn giông tố đợi ở phía trước, sẽ bùng nổ khi mùa khô tới. Địch đã bị bất ngờ trong những đợt giao chiến đầu tiên, nhưng đã hiểu ta hơn, về thực lực cũng như những nhược điểm của một quân đội non trẻ. Pháp sẽ dồn mọi cố gắng vào trận đánh quyết định đẻ mong kết thúc sớm chiến tranh. Về phía ta, chỉ có thể tồn tại bằng cách đánh trả địch những đòn hiệu quả. Đách cách nào đây? Phải trả lời được câu hỏi đó trước khi mùa mưa kết thúc.

        Ngày mới được Bác trao nhiệm vụ tổ chức đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, tôi thường tự hỏi: sức mạnh nào giúp người chiến sĩ bật dậy xung phong trước làn đạn của kẻ thù? Qua các trận đánh, đã thấy đó là lòng dũng cảm bắt nguồn từ một lí tưởng chiến đấu. Trên khắp các mặt trận, quân và dân ta đã chững tỏ một tinh thần cực kì dũng cảm. Nhưng cũng đã có những hiện tượng buộc ta phải suy nghĩ. Một số cán bộ, chiến sĩ có quá trình rèn luyện, nhưng khi mặt trận bất thần vỡ đã hốt hoảng bỏ đồng đội, bỏ đơn vị chạy dài. Trong khi đó, các chiến sĩ trung đoàn Thủ đô, phần lớn là người dân mới cầm vũ khí, được lệnh rút khỏi thành phố đã tình nguyện xin ở lại giữa vòng vây tiếp tục chiến đấu? Điều cần rút ra là tinh thần dũng cảm càng thật sự bền vững khi người chiến sĩ có một phương pháp đánh địch và bảo vệ mình có hiệu quả. Người chỉ huy không thể chỉ đòi hỏi, trông chờ ở tinh thần dũng cảm của chiến sĩ hay cán bộ cấp dưới, mà phải luôn luôn tìm ra trong những tình huống biến động của chiến tranh, cách nuôi dưỡng và phát huy tinh thần dũng cảm của bộ đội. Quá trình chỉ huy chính là quá trình tìm hiểu, phát hiện và sáng tạo những cách đánh địch có hiệu quả nhất.

        Những tháng vừa qua, mỗi lần gặp cán bộ quân sự có trình độ, anh Trường Chinh thường hỏi: “Đồng chí đã đọc Claudơvít chưa?”. Nhà lí luận quân sự người Phổ này khi mất cách đây hơn một trăm năm, đã để lại một tập bản thảo viết về chiến tranh. Vợ ông tập hợp những di cảo đó in thành sách với tiêu đề “Bàn về chiến tranh”. Lênin gọi Claudơvít là tác giả viết về quân sự sâu sắc nhất, lớn nhất, mà những ý kiến chủ yếu đã trở thành di sản không thể không thừa nhận. Anh Trường Chinh đọc rất kĩ “Bàn về chiến tranh” của Claudơvít và “Đánh lâu dài” của Mao Trạch Đông.

        Từ thời làm báo Tiếng Dân, tuy chưa hề có ý nghĩ trở thành một nhà quân sự, tôi thường chăm chú theo dõi cuộc chiến đấu oanh liệt của Hồng quân Trung Hoa. Tôi đọc nhiều tài liệu viết về Mao Trạch Đông và Chu Đức. Những năm làm báo ở Hà Nội, 1935 - 1940, ngoài những bài viết thường xuyên trên mục “Thế giới thời đàm”, về Bát lộ quân, Tân tứ quân, Biên khu Tấn Ký Sát, tôi còn viết cuốn sách “Tìm hiểu tình hình quân sự Tàu” bên trong có khá nhiều bản đồ. Tôi làm công việc này với ý nghĩ đồng bào ta nên vận dụng kinh nghiệm chiến đấu của cách mạng Trung Quốc.

        Trong những tài liệu tôi đem theo ngày rời Hà Nội có cuốn “Bàn về chiến tranh”, một bản dịch bằng tiếng Pháp của Đơnidơ Navinlơ (Denise Naville). Tập sách khá đồ sộ, đề cập tới nhiều vấn đề về bản chất chiến tranh, những lí luận về chiến lược, chiến thuật quân sự. Gần ngày kháng chiến tôi mới thật chú ý tới cuốn sách này. Trước đó tôi nghĩ Claudơvít bàn về chiến tranh trong thế kỉ trước và không đồng tình với nhận định của tác giả là phải có không gian rộng lớn như nước Nga mới thực hiện được chiến tranh du kích.

        Những tối không làm việc, bên bếp lửa nhà sàn, khi là đồng chí thư kí, khi là Bích Hà (chúng tôi mới lập gia đình mấy tháng) đọc cho tôi nghe một số trang “Bàn về chiến tranh”. Có lúc cảm thấy như tác giả đang ngồi trước mặt luận bàn về những sự việc diễn ra ngày hôm nay. Claudơvít hiểu sâu sắc tính cực kì biến động của chiến tranh. Vì nó chứa đựng quá nhiều yếu tố ngẫu nhiên, ông ví chiến tranh giống như một canh bạc. Tôi đặc biệt thích chương “Vũ trang nhân dân”, một chương tương đối ngắn trong tác phẩm. Tôi cứ tự hỏi: Vì sao một sĩ quan của đế chế Phổ lại có được những nhân định rất triết học về một hình thức đấu tranh vũ trang của nhân dân? Claudơvít phải có một tinh thần thiết tha yêu Tổ quốc, không chịu để đất nước mình bị khuất phục dưới vó ngựa quân xâm lược mới viết lên được những điều như thế. Tôi rất chú ý tới đoạn tác giả bàn về cái ông gọi là “chiến tranh nhỏ” (petite guerre). Nó rất phù hợp với những điều ông cha ta đã nói “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy ít địch nhiều”, “dùng đoản binh thắng trường trận”. Ông viết: “Chiến tranh nhỏ biểu hiện những đặc tính: những phân đội nhỏ có thể đi quan mọi nơi, tự tiếp tế không khó khăn, giữ bí mật, di chuyển nhanh chóng, rút lui ngay cả khi không có đường sá v.v.”.

        Phải chăng những gì ta đang làm cũng có chỗ giống loại hình này…?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #34 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 06:04:36 AM »

       
2

        Trước ngày Tổng khởi nghĩa, Bác đã mấy lần không tán thành những cuộc khởi nghĩa chưa có đủ điều kiện, dấy lên đơn độc ở từng địa phương. Người cho rằng làm như vậy nhất định thất bại vì kẻ thù sẽ tập trung lực lượng đàn áp. Cách mạng chỉ có thể thành công nếu động viên được sức mạnh toàn dân và chớp được thời cơ. Suốt năm qua, Người cố tránh mở rộng chiến tranh, vì tình hình quốc tế ở thời điểm này không có lợi cho ta. Liên Xô đang phải hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định tình hình những nước Đông Âu, đối phó với chiến tranh lạnh. Tại Trung Hoa, từ tháng 6 năm 1946, Tưởng Giới Thạch tập trung mấy triệu quân tiến công khu giải phóng, Hồng quân phải tạm thời rút lui khỏi Diên An. Các đơn vị du kích lớn bị càn quét dữ dội. Nước Việt Nam kháng chiến sẽ đơn độc trong vòng vây của chủ nghĩa chống cộng, không thể trông cậy vào sự hỗ trợ của quốc tế về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Nhưng mọi sự nhân nhượng đều không cho ta tránh khỏi chiến tranh.

        Khẩu hiệu của ta là: “Vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Ai cũng biết xây dựng chế dộ mới trong kháng chiến là vô cùng khó khăn. Nhưng chúng ta quyết tâm làm đồng thời cả hai việc. Vì quân và dân ta muốn tiến hành kháng chiến lâu dài để đánh bại quân địch thì cần phải có ăn, có mặc và có súng đạn.

        Mùa hè năm đó, chúng ta đã làm được khá nhiều việc.

        Chính phủ kháng chiến phải đặt những cơ sở ban đầu cho nền kinh tế tự túc trong chiến tranh. Không thể để sản xuất đình đốn. Phải đảm bảo nhu cầu ăn mặc cho nhân dân và lực lượng vũ trang.

        Chính sách giảm tô 25 phần trăm và chia ruộng đất vắng chủ cho nông dân nghèo đã gắn bó nông dân với chế độ mới. Với khẩu hiệu “Toàn dân tăng gia sản xuất”, sản xuất lương thực trở thành nghĩa vụ của mọi người. Các hình thức đổi công, hợp nông, vần nông góp phần giải quyết khó khăn thiếu nhân công do thanh niên đầu quân hoặc tham gia du kích thoát li sản xuất.

        Bộ Quốc phòng dành hẳn một lực lượng bộ đội trực tiếp tăng gia sản xuất, và tổ chức những nông trường đầu tiên. Bộ đội ở đâu đều tổ chức sản xuất ngay ở đó với quy mô nhỏ. Vấn đề bảo vệ sản xuất trở nên khẩn trương. Giặc Pháp phá hoại mùa màng, cướp thóc lúa, nông cụ, giết trâu bò để triệt nguồn lương thực của ta. Bộ đội, du kích có nhiệm vụ đánh địch hỗ trợ nhân dân thu hoạch mùa màng, cất giấu thóc lúa.

        Bác gửi thư nhắc đồng bào giữ gìn đê điều: “Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm…

 “Lụt thì lút cả làng,
Muốn cho khỏi lụt thiếp chàng cùng lo”.

        Trong năm 1947, nhân dân ta đã đắp 1.300.000 mét khối đất để bảo vệ đê. Vì nhiều vùng có chiến sự nên diện tích trồng lúa bị thu hẹp. Nhưng lượng thóc trong cả nước so với năm trước không giảm bao nhiêu, diện tích trồng màu lại tăng khá nhiều.

        Chính phủ chủ trương mở mang, khuyến khích thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp, đặc biệt chú trọng kĩ nghệ chế tạo vũ khí và khai thác nguyên liệu. Phương châm phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp lúc này là: “Tổ chức quy mô nhỏ, phân tán, dùng công cụ sản xuất thô sơ kết hợp với máy móc, dựa vào dân, dựa vào nguyên liệu trong nước, địa phương tự lập, sản xuất tự cấp, tự túc”.

        Đến đầu tháng Sáu, ta đã tổ chức được gần hai trăm trại sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp, thu hút bốn vạn đồng bào tản cư. Được sự giúp đỡ của các địa phương, nhiều đồng bào tản cư đã tổ chức những trại, những tập đoàn sản xuất quy mô nhỏ, có phương hướng làm ăn lâu dài.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #35 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 06:05:02 AM »


        Bộ Tổng chỉ huy xác định phương hướng tổ chức các nhà máy quốc phòng là: Xây dựng một hệ thống các xưởng chế tạo và sửa chữa vũ khí. Ngoài ra còn có những xưởng vũ khí của dân quân, của công an, của Tổng liên đoàn ở các khu, các tỉnh. Cán bộ, chiến sĩ quân giới đã “tái sinh” nhiều máy móc hư hỏng, cải biến những máy móc không thích hợp, khai thác nguyên liệu làm thuốc đen, thu nhặt bom đạn chưa nổ của địch, mò vớt súng đạn, thủy lôi của Nhật, Pháp dưới lòng sông. Sáu tháng cuối năm 1947, công nhân quân giới từ Khu 5 trở ra sản xuất được 133.101 tấn vũ khí các loại. Ở Nam Bộ các cơ sở sản xuất vũ khí vũ khí đã tổ chức từ năm trước và được tiếp tục duy trì, trong điều kiện hết sức khó khăn.

        Ngày 15 tháng Năm, Chính phủ ra sắc lệnh lưu hành giấy bạc Việt Nam trên cả nước.

        Một số cơ sở của những trường đại học, trung học từ Hà Nội chuyển lên Việt Bắc tiếp tục hoạt động trong đó có các lớp y và dược khoa. Tháng Tư, Chính phủ ra nghị định mở kì thì trung học và tiểu học trên cả nước. Phong trào bình dân học vụ được duy trì và phát triển khá mạnh. Cuối năm 1947, toàn quân thanh toán xong nạn mù chữ.

        Bác rất quan trọng làm cho hậu phương trở thành chỗ dựa vững chắc cả về tinh thần lẫn vật chất cho tiền tuyến. Người động viên toàn dân thương yêu bộ đội như con em mình. Theo sáng kiến của Người, trong nhân dân đã tổ chức “Hội mẹ chiến sĩ”, đã có Phong trào “Mùa đông binh sĩ” “Hũ gạo nuôi quân”. Bản thân Người cũng có một hũ gạo nuôi quân.

        Chính phủ quyết định lấy ngày 27 tháng 7 làm ngày Thương binh toàn quốc để “là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái, và tỏ lòng yêu mến thương binh” như Bác đã viết trong thư gửi đồng bào trong cuộc mít tinh ngày 27 tháng 7 năm 1947 tại Đại Từ, Thái Nguyên.

        Phong trào chăm sóc thương binh trở thành một phong trào quần chúng. Thương binh từ mặt trận Hà Nội lên Việt Bắc được đồng bào sốt sắng đón về nhà chăm sóc, nhận làm con. Nhiều cô gái kết hôn với thương binh.

        Tinh thần thương yêu, đùm bọc chiến sĩ của đồng bào hậu phương không những là nguồn động viên vô tận đối với những người ở tiền tuyến mà còn thúc đẩy phong trào thanh niên tham gia đầu quân.

        Tổng số vệ quốc ngân ngày toàn quốc kháng chiến là 85.000 người đã tăng lên 120.000 người.

        Ngày 26 tháng Tám, Chính phủ ra sắc lệnh thành lập đại đoàn độc lập, trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy.

        Quân đội ta đã tăng lên đáng kể về mặt số lượng, nhưng trang bị vẫn chưa cải tiến được bao nhiêu. Ngoài một số vũ khí ta mới sản xuất như badôca, súng cối, lựu đạn chống tăng, bộ đội vẫn sử dụng những súng cũ, đạn rất ít. Toàn quân lúc này có khoảng ba vạn khẩu súng, hầu hết là súng trường với gần hai chục kiểu. Quần áo bộ đội phần lớn do anh em mang từ gia đình đi. Nhiều đơn vị thành lập một thời gian vẫn không đủ quần áo cấp cho bộ đội. Các chiến sĩ tự sắm dép cao su, làm lấy mũ nan, bi đông bằng ống tre, bát bằng ống bương, ba lô, giỏ lựu đạn đan bằng tre mây. Từ Việt Bắc, cho đến Khu 4, Khu 5 và Nam Bộ, ngành quân nhu đã cố gắng sản xuất tự túc được một phần nên sinh hoạt của chiến sĩ có khá hơn.

        Tháng Tám, Bộ Tổng chỉ huy mở lớp bổ túc cán bộ trung cấp toàn quân tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Bác tới dự lễ khai mạc và huấn thị cho lớp học. Bác căn dặn: “Người làm tướng phải có trách nhiệm đối với kỉ luật, đối với binh sĩ, đối với dân, đối với cả địch”. “Cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên, lúc bình cũng như lúc chiến… Đội viên chưa có cơm ăn, chưa có áo mặc, chưa có chỗ ngủ… thì cán bộ không được ăn no, không được mặc ấm, không được ngủ yên. Bản thân cán bộ phải chăm lo học tập: học tập chính trị, học tập chiến lược, chiến thuật, học cách làm quân… làm sao đánh thắng giặc mà đỡ tốn xương máu của chiến sĩ, của đồng bào, rút ngắn lại những ngày đau khổ”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #36 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 10:52:22 PM »

       
3

        Không lâu sau ngày Bác gặp Pôn Muýt, chúng ta hiểu giới cầm quyền Pháp đang muốn gì.

        Với việc chấp nhận kế hoạch Mácsan (Marshall), Pháp đã lệ thuộc hoàn toàn vào Mỹ. Ramađiê (Ramadier) lên thay Blum, chính quyền Pháp ngả hẳn về phía hữu. Đờ Gôn tái hiện trên vũ đài chính trị với Phong trào Tập hợp dân chúng Pháp. Thượng tuần tháng Năm, những đảng viên cộng sản Pháp phụ trách một số bộ đều bị đưa ra khỏi chính phủ. Cốt Phlôre (Coste Floret), bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp, nói trắng trước ủy ban Đông Dương của phong trào Cộng hòa bình dân: “Pháp từ chối điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh không phải vì biến động ngày 19 tháng 12 năm 1946 mà vì mối quan hệ của ông Hồ với Mạc Tư Khoa”.

        Tuy nhiên, Chính phủ Pháp cũng không thể làm ngơ trước sự đấu tranh của Đảng Cộng sản Pháp, một bộ phận của Đảng Xã hội và dư luận tiến bộ trong nhân dân Pháp đòi tôn trọng hiến pháp mới, chống sự đô hộ theo kiểu thực dân cũ, đòi để người Việt Nam tự định đoạt vấn đề chính trị của mình, kể cả vấn đề độc lập và thống nhất trong khối Liên hiệp Pháp. Ramađiê buộc phải hứa sẽ đàm phán với những người đại diện đủ tư cách của Việt Nam. Thủ tướng Pháp chỉ tránh một điều không nói rõ người đó là ai.

        Bức thông điệp hòa bình ngày 19 tháng Tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Chính phủ Pháp lúng túng. Ramađiê không thể khước từ một đề nghị có lí có tình của Chính phủ Việt Nam. Nhưng yêu cầu trong bản thông điệp “ngừng ngay những hành động cừu nghịch” là điều mà giới thực dân Pháp ở Đông Dương lúc này rất không muốn. Những cuộc hành binh của binh đoàn thiết giáp Mátxuy (Massu) và tàu chiến, ca nô Pháp trên chiến trường Bắc Bộ mấy tháng qua đã mang lại cho Vanluy ảo tưởng về một chiến thắng quân sự đang tới gần. Ngừng bắn sẽ giúp cho đối phương cơ hội để cải thiện tình hình quân sự. Cái mà Vanluy đang cần là có lực lượng mở một cuộc tiến công lớn và chớp nhoáng đi đôi với một mưu đồ chính trị để đi tới kết thúc chiến tranh Đông Dương.

        Cao ủy Bôlae đã đối phó bằng cách cử Pôn Muýt tới gặp Bác với những điều kiện mà chúng ta không thể chấp nhận. Những đề nghị này chỉ được thuật lại bằng miệng. Pôn Muýt hứa ít ngày sau sẽ giử văn bản chính thức, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ nhận được.

        Ngày 14 tháng Năm, Bôlae ra Hà Nội. Màn kịch bắt đầu. Ba “cựu nghị sĩ phe đối lập trong Quốc dân đại hội Việt Nam” (trong số 70 người mà quân đội Tưởng ép ta đưa vào Quốc hội không qua tuyển cử) đã chạy theo Pháp, đưa ra đề nghị: Nước Pháp chỉ có thể đàm phán với cựu hoàng đế Bảo Đại, và trao cho Bảo Đại thành lập một chính phủ quốc gia với những người có khả năng và uy tín trước dân chúng (!).

        Ngày 20 tháng Năm, ở Sài Gòn, Nguyễn Văn Tâm nhân danh “Mặt trận thống nhất quốc gia” ca ngợi Vĩnh Thụy là “nhà yêu nước nồng nhiệt, một người đứng trên các đảng phái”, đả kích Chính phủ ta đã tiến hành một đường lối chính trị đảng phái và độc đoán.

        Ngày 24, Bôlae tới Huế. Một số quan lại của triều đình Huế cũng tiếp ông cao ủy với cùng một điệu đàn.

        Tại Sài Gòn, dưới sự giật dây của Điđiê Misen (Didier Michel), cố vấn chính trị mới của Bôlae, bản hòa tấu có phần phong phú hơn. Một số rùm beng: “Cựu hoàng đế Bảo Đại là người đại diện xứng đáng của Việt Nam để đàm phán với nước Pháp”. Một số lớn tiếng phản đối “thống nhất ba kỳ”, đòi cho “Nam Kỳ tự trị”, “Nam Kỳ phải được vĩnh viễn tách khỏi Việt Nam”!…

        Ngày 5 tháng Bảy, Vĩnh Thụy lên tiếng ở Hồng Công trong một cuộc phỏng vấn: “Nếu toàn dân Việt Nam đặt lòng tin vào tôi, (…) tôi sẽ sung sướng trở về Đông Dương. Tôi không ủng hộ cũng không chống lại Việt Minh. Tôi không thuộc một đảng phái nào”.

        Nhưng không phải Bôlae không gặp sự chống đối ở nhiều nơi. Ngay tại Sài Gòn, một phái đoàn do Nguyễn Văn Tỵ cầm đầu, tới Nha Cao ủy đem theo bản tuyên ngôn có ba trăm chữ kí của những nhà trí thức đòi phải mở cuộc đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh. Báo chí Sài Gòn cũng đã nhiều lần lên tiếng như vậy. Đầu tháng Tám, Lêông Blum và Clốt Buốcđê (Claude Bourdet) lên tiếng trên báo Le Populaire và báo Combat đòi Bôlae phải tiếp tục cuộc đàm phán với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Blum viết: “Vài ngày mới đây, tôi đã nhận được theo đường chính thức một thư riêng của ông (Hồ Chí Minh). Ông vẫn là đại diện chân chính và xứng đáng của nhân dân Việt Nam và (…) ngay cả lúc này ông đã cung cấp cho chúng ta bằng chững chắc chắn, hiển nhiên về tính thận trọng, về tinh thần yêu nước, sự hi sinh quên mình của ông. (…) Đã có ánh sáng ở Đông Dương. Ánh sáng đó phải trở thành bình minh rồi sau đó là ban ngày”.

        Ngày 15 tháng Chín, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Bôlae nói gì? Ta phải làm gì?”. Bản chỉ thị viết:

        “Toàn thể bộ đội và nhân dân Việt Nam càng nhận rõ rằng không dùng bạo lực mà đè bẹp ý chí xâm lược của thực dân Pháp thì không thể độc lập và thống nhất được”. “Con đường đã vạch. Phải tự tin ở sức mình. Muốn tự do, độc lập, phải kiên quyết kháng chiến”. “Rồi đây, không phải những kẻ như Bôlae có thể ra điều kiện cho ta, mà chính sức đoàn kết và đấu tranh mạnh mẽ của dân tộc ta và dân tộc Pháp sẽ buộc bọn thực dân phản động Pháp phải hàng phục”.

        Trong suốt thời gian Bôlae thay mặt Chính phủ Pháp để tìm giải pháp chính trị ở Việt Nam, Bác  lên tiếng nhiều lần. Những lời lẽ hợp lí, hợp tình, những biện pháp cụ thể mà Ngườì nêu ra nhằm giải quyết cuộc xung đột, như một nhà sử học viết: “Có lúc dồn Chính phủ Ramađiê đến chân tường”.

        Chính phủ Pháp đã tỏ rõ quyết tâm khôi phục quyền thống trị trên bán đảo Đông Dương. Cùng với việc chuẩn bị lá bài chính trị của Bôlae, viện binh Pháp tiếp tục kéo sang.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #37 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 10:59:56 PM »

       
4

        Hạ tuần tháng Tám, tôi đi Bắc Kạn và Cao Bằng.

        Từ những ngày đầu Chính phủ lâm thời mới thành lập, tôi là Bộ trưởng Nội vụ, về Đảng được phân công đặc trách vấn đề quân sự và làm Bí thư Đảng đoàn Chính phủ, anh Lê Văn Hiến là Phó bí thư. Mặc dù chuyên trách về quân sự, với nhiệm vụ được phân công là Bí thư Đảng đoàn các cơ quan Chính phủ, Bác và các anh vẫn cử tôi đi làm việc với các khu, các tỉnh về những công việc chung của Đảng và chính quyền. Lần này, tôi còn đươc trao nhiệm vụ thay mặt Chính phủ phát biểu trên làn sóng đài Tiếng nói Việt Nam nhân dịp kỉ niệm Quốc khánh lần thứ hai. Cả hai bộ phận chính và dự bị của Đài đều đặt ở gần Bắc Kạn.

        Đường số 3 và 3b từ Thái Nguyên lên Bắc Kạn, Cao Bằng còn chưa phá hoại. Chiếc xe Pho cũ giấu kín trong rừng sâu lại được đem ra dùng. Lần đầu từ khi lên Việt Bắc, tôi trở lại hai tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng. Đường nhựa nhiều quãng bị hỏng, xe rất xóc. Nhưng so với đường Nam tiến ngày địch khủng bố trắng, giá đầu người chỉ bằng đấu muối, thì đã khác xa. Bao nhiêu kĩ niệm cũ sống lại. Tôi nhớ tới đồng chí Đức Xuân bị địch bêu đầu giữa chợ và anh chị em bị địch bắt, đã hi sinh.

        Tại thị xã Bắc Kạn, tôi gặp lại nhiều người thân. Chủ tịch tỉnh, anh Thạch vốn là chính trị viên đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Anh Hằng, thường vụ tỉnh ủy, đã tham gia Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Kạn từ trước Tổng khởi nghĩa. Chị Thanh, cán bộ phụ nữ, cũng là một nữ chiến sĩ giải phóng quân đã cùng hoạt động trong một tiểu đội bí mật với tôi từ năm 1942. Thị xã Bắc Kạn đã có những bãi cắm cọc tre chống nhảy dù, nhưng vẫn mang không khí một đại hậu phương ở xa mặt trận.

        Từ Bắc Kạn đi lên luôn luôn nhìn thấy dãy núi Cứu Quốc cao ngất trời. Chưa hết mùa hè. Tiết trời Việt Bắc còn oi ả. Nhưng qua khỏi Nà Phạc, khí hậu cao nguyên mỗi lúc càng trong trẻo, tươi mát. Những bông hoa sử quân tử, hoa cúc dại nở rộ hai bên đường.

        Tới thị xã Cao Bằng, tôi cảm thấy như trở lại quê nhà. Các đồng chí cũ và bà con cơ sở từ nhiều nơi được tin kéo tới rất đông. Cao Bằng bắt đầu phá hoại nhà cửa và có nhiều bãi cắm chông. Không khí có vẻ khẩn trương. Tôi tranh thủ đi thăm Nước Hai và một số bản gần Lô Cốt Đỏ, nơi đóng cơ quan thời hoạt động bí mật. Tôi được biết con đường từ Thất Khê lên đã được phá hoại triệt để. Trong buổi làm việc  với tỉnh ủy, ủy ban và chỉ huy quân sự tỉnh, tôi nhấn mạnh khả năng sớm muộn quân Pháp sẽ đánh chiếm Cao Bằng để bít kín biên giới phía bắc nước ta, cần tiến hành gấp việc phá hoại thị xã, triệt để thực hiện khẩu hiệu “vườn không, nhà trống” khi địch tới, bộ đội và nhân dân Cao Bằng phải chiến đấu xứng đáng là cái nôi cách mạng của Việt Bắc, được Bác Hồ trực tiếp đào luyện. Tôi cũng nói nếu địch chiếm Cao Bằng, con đường số 4 đoạn tự Thất Khê lên rất hiểm trở, sẽ thuận lợi cho những trận phục kích.

        Từ Cao Bằng trở về tới Bắc Kạn, đúng ngày mồng 2 tháng Chín, tôi tới thăm Đài Tiếng nói Việt Nam. Đài đặt trong rừng, tại một địa điểm cách Bắc Kạn tám cây số. Ăngten phát sóng nằm giữa những vòm cây cao. Quốc thiều mở đầu buổi phát thành là tiếng đàn banjo của anh Đỗ Lạc. Phòng bá âm làm một gian nhà lá thưng bằng phiên nứa có dán thêm những tờ giấy báo. Giữa lúc tôi đang nói trước micrô thì có tiếng gà gáy rất to. Tôi biết tiếng gà gáy này sẽ được truyền đi khắp nơi cùng với lời phát biểu của mình. Một cán bộ cảu Đài nói vui: “Ngày Quốc khánh năm nay báo hiệu bình minh của kháng chiến”.

        Ở Cao Bằng về, tôi yên tâm với sự chuẩn bị Thu Đông ở biên giới phía Bắc. Nhưng chưa biết điều bất ngờ chính trong mùa khô đang chờ đợi ở Bắc Kạn.

        Từ trung tuần tháng Sáu đến cuối tháng Chín, Bộ chỉ huy liên tiếp triệu tập hai hội nghị quân sự.

        Trong cuộc chiến tranh này, hội nghị quân sự chính là hình thức tập huấn ngắn ngày đối với những người chỉ huy. Những cuộc họp chỉ vài ba ngày, rất ít khi kéo dài. Mỗi lần họp lại phát hiện thêm những vấn đề mới. Người ta hi vọng khi tới, và vui vẻ khi ra về vì những băn khoăn được giải quyết, vì thấy mình lại lớn lên một chút.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #38 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 11:00:32 PM »


        Ở hội nghị lần thứ hai, tháng Tư, chúng ta đã nhận thấy sự hiểu biết quân sự của mình quá ít ỏi. Chúng ta đã ra nghị quyết phải học tập ngay những hành động quân sự của kẻ thù. Nhưng lúc có học hết mọi mánh lới chiến thuật của kẻ thù, ta cũng không thể áp dụng vì quân đội ta còn rất xa mới có những vũ khí, trang bị và trình độ tác chiến của một đội quân nhà nghề. Ta học địch là để tìm ra cách đánh của ta. Ta đã phát hiện biện pháp ứng phó với một số chiến thuật của địch, nhưng vẫn còn chưa đi được vào những vấn đề cơ bản, chưa đề ra được nguyên tắc chỉ đạo tư tưởng và hành động của cán bộ trong vận dụng chiến lược chiến thuật của ta.

        Hội nghị đã thống nhất nêu lên 11 nguyên tắc chính.

        Nguyên tắc thứ nhất: “Giữ vững chủ động”.

        Thực tế chiến đấu suốt thời gian qua ở khắp nơi nơi đều chứng tỏ, cũng với so sánh lực lượng như vậy, nhưng kết quả chiến đấu sẽ hoàn toàn khác nếu quyền chủ động thuộc về ta. Bị động thường gắn với tổn thất. Chủ động trong tiến công cũng như trong rút lui, nếu không đem lại thắng lợi thì cũng hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất. Nghị quyết viết: “Về chiến lược cũng như về chiến thuật chúng ta phải đi đến chỗ giữ vững quyền chủ động; cuộc tác chiến của bộ đội chỉ một phần là đối phó với các cuộc hành binh của địch, còn phần lớn là phải do một kế hoạch do ta định trước để phá tan những kế hoạch của địch và thực hiện những nhiệm vụ của ta”.

        Ở đây cũng nên nói thêm. Suốt ba mươi năm kháng chiến sau này, có thể thấy rõ đó là một quá trình giành và giữ vừng quyền chủ động về chiến lược, chiến thuật giữa ta và quân địch, thắng lợi sẽ đến với bên nào giữ vững được quyền chủ động. “Giữ vững chủ động” chính là biểu hiện tập trung của tư tưởng và tinh thần tiến công địch. May thay, đây chính là nguyên tắc đầu tiên chỉ đạo tư tưởng và hành động của cán bộ ta trong vận dụng chiến lược và chiến thuật. Cũng chính nguyên tắc đầu tiên này đã chi phối hầu hết những nguyên tắc tiếp theo. Có thể nói đây làm một tư tưởng chi phối nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cả hai cuộc kháng chiến.

        Nguyên tắc thứ hai: “Hiểu rõ lực lượng của ta và lực lượng của địch”.

        Trong tác chiến, cán bộ chỉ huy của ta đã bộc lộ rõ hai nhược điểm: không rõ tinh thần, năng lực của bộ đội, hiệu lực của những vũ khí hiện có; không  nắm vững địch. Nghị quyết nhấn mạnh: “Hai khuyết điểm này cần phải chú ý sửa chữa ngay, nếu không thì không thể có một sự dùng binh hợp lí”.

        Đây chính là điều ông cha ta đã nơi từ xưa: “Biết mình biết người, trăm trận đánh trăm trận thắng”. Lúc này nó càng cần, do so sánh lực lượng quá chênh lệch giữa ta và địch, một sự chênh lệch nhân dân ta chưa từng gặp trong lịch sử chống xâm lăng.

        Nguyên tắc thứ ba: “Biết dùng lực lượng dự bị”.

        Muốn giữ được quyền chủ động trong tác chiến thì phải có lực lượng dự bị và phải biết sử dụng lực lượng đó. Nghị quyết quy định: “Mỗi đơn vị trong lúc tác chiến đều phải có một bộ phận dự bị, Mỗi khu phải có chủ lực tức là lực lượng dự bị của khu. Bộ Tổng chỉ huy phải có chủ lực của Bộ điều khiển, tức là lực lượng dự bị toàn quốc”.

        Nguyên tắc thứ tư: “Biết tập trung binh lực khi cần, biết điều động rất nhanh chóng và kịp thời”.

        Nguyên tắc thứ năm: “Phải giấu lực lượng của mình, làm sai lạc phán đoán của địch”.

        Nguyên tắc thứ sáu: “Phải đánh bất thần, xuất kì bất ý, lợi dụng những nhược điểm của địch”.

        Nguyên tắc thứ bảy: “Phải thực hiện sự phối hợp về chiến lược và chiến thuật”.

        Nguyên tắc thứ tám: “Phải phối hợp bộ đội chủ lực với dân quân du kích, tự vệ”.

        Nguyên tắc thứ chín: “Phải nặng về tiêu diệt chiến”.

        Nguyên tắc thứ mười: “Phải có kế hoạch thiết thực, rành mạch”.

        Nguyên gắc thứ mười một: “Phải tiến cho kịp địch và hơn địch”.

        Cuộc chiến đấu quá không cân sức không cho phép ta phạm sai lầm ngay từ đầu trên những nguyên tắc lớn. Ngày nay nhìn lại, có thể nó rằng tất cả những nguyên tắc đề ra từ những tháng đầu kháng chiến toàn quốc, đã được chúng ta vận dụng trong suốt hai cuộc chiến tranh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20930


« Trả lời #39 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 11:00:56 PM »


        Hội nghị quân sự lần thứ tư được triệu tập vào ba ngày 27, 28, 29 tháng Chín. Mùa khô đã tới. Cuộc tiến công lớn có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Hội nghị này có nhiệm vụ khó khăn là phán đoán ý đồ tiến công của địch và bàn kế hoạch làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng.

        Chúng ta đã chú ý sớm đến công tác tình báo, nhưng vì thiếu kinh nghiệm, tổ chức chưa ổn định nên chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu âm mưu chiến lược của địch. Nguồn tin tức chủ yếu vẫn là dựa vào báo chí, đài phát thanh của Pháp và phương Tây, hoạt động của những chính khách, tướng lĩnh Pháp và sự động tĩnh của quân viễn chinh trên các chiến trường. Tới tháng Chín, chúng ta có tin địch đưa thêm 20.000 quân tăng viện, trong đó có quân dù và binh lính Bắc Phi. Xalăng (Salan) đã thay Đépbờ làm chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở miền Bắc Đông Dương. Xalăng đã có mặt ở Đông Dương từ thời Pháp thuộc, khá am hiểu vùng rừng núi phía Bắc Việt Nam. Có tin Xalăng nhiều lần đi máy bay thị sát biên giới phía Bắc, vùng Đông Bắc và vùng Trung Du; quân dù, quân Bắc Phi và quân ngụy được huấn luyện để có thể đánh sâu vào rừng núi Bắc Bộ.

        Tôi báo cáo tình hình các mặt trận, so sánh lực lượng giữa ta và địch, những phán đoán về địch mà ta đã nắm được, rồi nêu lên một số nhận định và dự kiến.

        Hội nghị nhanh chóng nhận định cuộc tiến công của địch trong Thu Đông này nhằm chụp bắt cơ quan đầu não của kháng chiến, đánh quỵ bộ đội chủ lực ta, phá các căn cứ để tạo điều kiện cho một chính quyền tay sai ra đời, sau đó biến dần chiến tranh xâm lược thành một cuộc chiến tranh dùng người Việt đánh người Việt. Như vậy, Bắc Bộ sẽ trở thành chiến trường chính. Ở Trung Bộ, địch có thể chia cắt chiến trường thành nhiều đoạn rồi càn quét. Ở Nam Bộ, quân Pháp và quân ngụy sẽ mở những trận càn quét lớn.

        Nhưng khi phán đoán cuộc tiến công chiến lược chính của địch nhắm vào đâu thì ý kiến phân tán giữa ba hướng: đồng bằng, Việt Bắc và Khu 4.

        Một số người cho rằng địch sẽ đánh đồng bằng vì đây là vùng đông dân, nhiều lương thực, nằm bao quanh Hà Nội, phát huy được sức mạnh tối đa của cơ giới, sẽ tạo nhiều thuận lợi cho Pháp lập một chính quyền bù nhìn. Một số khác cho rằng địch sẽ đánh Việt Bắc vì muốn kết thúc nhanh chiến tranh, chúng phải đánh thẳng vào cơ quan đầu não và nơi tập trung bộ đội chủ lực của ta. Có những người cho rằng Pháp sẽ đánh Khu 4 là vùng tự do rộng lớn của ta hiện nay để mở rộng phạm vi chiếm đóng nối liền miền Bắc với miền Trung. Nhiều ý kiến cho rằng đánh đồng bằng hoặc Khu 4, địch sẽ giành thắng lợi với ít khó khăn hơn nhiều so với chiến trường Việt Bắc toàn rừng núi và là nơi ta tập trung chủ lực.

        Sau khi thảo luận tiếp, đa số cho rằng địch có thể đánh đồng bằng trước, nếu mạo hiểm mới đánh lên Việt Bắc. Ở Việt Bắc chỉ còn một số thị xã chưa phá hoại, trong đó có Bắc Kạn. Nhiều ý kiến cho rằng quân Pháp không nhảy dù xuống đây, vì Bắc Kạn quá xa và nằm sâu trong vùng căn cứ của ta giữa rừng núi.

        Hội nghị chuyển sang bàn cách đối phó với cuộc tiến công mới của địch.

        Với so sánh lực lượng, ta không thể tiếp nhận một trận đánh quyết định với chủ lực của địch, mà cần làm thất bại âm mưu của địch tiêu diệt chủ lực ta. Do đó, ta chủ trương kiên quyết nắm vững bộ đội, giữ gìn chủ lực đi đôi với tiêu diệt từng bộ phận quân địch, bảo vệ căn cứ nhưng không cố thủ, thực hiện phối hợp chiến đấu giữa các khu và trên toàn quốc, phá tan âm mưu lập ngụy quyền.

        Về cách đánh, Hội nghị nhấn mạnh: Kiên quyết phát động chiến tranh du kích, tập trung bộ đội để đánh vận động, vừa dùng đơn vị đại đội để hoạt động trên chiến trường của mỗi địa phương, vừa tập trung chủ lực đánh vận động. Bộ đội ta cần tránh phòng ngự chính diện, phải ở lại vùng sau lưng địch để chiến đấu, tập trung và phân tán nhanh chóng. Lực lượng vũ trang ta nhất định không để kẻ thù tiêu diệt, bao giờ cũng phải bảo tồn lực lượng chứ không giữ đất bằng mọi giá.

        Hội nghị đã giải đáp một câu hỏi được nêu lên: Thế nào là thắng trong trận đánh sắp tới?

        “Nếu chúng ta đối phó với cuộc tiến công mùa Đông mà giữ gìn được phần lớn lực lượng là ta nắm phần thắng. Việc tiêu hao và tiêu diệt địch sẽ làm gia tăng phần thắng”.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM