Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tám, 2019, 01:12:53 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến đấu trong vòng vây  (Đọc 24721 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #100 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:18:03 AM »


4

        Tháng 5 năm 1947, bộ đội chủ lực của Bộ đã được củng cố một bước quan trọng, lực lượng ở Bộ lúc này đã có 2 trung đoàn và 4 tiểu đoàn. Bộ Tổng chỉ huy nhận thấy cần có một lực lượng tập trung mạnh để đối phó với những đòn tiến công của quân địch. Tháng 7 năm 1947, sau khi có sắc lệnh của Chính phủ, Bộ Tổng chỉ huy đã giao cho Bộ Tổng tham mưu xây dựng đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ.

        Ngay trong chiến dịch Việt Bắc, ta đã kịp thời nhận thấy chưa thể tổ chức ngay những đơn vị lớn. Ngược lại, cần phân nhỏ những đơn vị đã tập trung để phát động chiến tranh toàn dân và tiến hành vận động đánh nhỏ thì mới chống lại được chủ trương chiếm đóng và tiến công ồ ạt vào căn cứ địa của quân thù. Các trung đoàn đã chia thành những đại đội độc lập đưa về địa phương. Những đơn vị được giữ lại chỉ tác chiến ở quy mô tiểu đoàn.

        Quân đội ta đã trải quan hai năm thực hiện phương châm đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung. Các lực lượng vũ trang đều có nhiều tiến bộ. Dân quân du kích nhiều xã được rèn luyện trong tác chiến. Bộ đội địa phương huyện ở nhiều nơi có khả năng thay thế đại đội độc lập. Các tiểu đoàn tập trung đã trưởng thành qua nhiều trận đánh và những chiến dịch. Bộ đội qua phong trào luyện quân lập công năm 1948, rèn cán chỉnh quân năm 1949 và nhất là qua thử lửa chiến trường đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Để đón thời cơ mới, phương châm chiến lược đề ra trong Hội nghị Trung ương hồi đầu năm là: “Cần mạnh bạo đẩy vận động chiến đi tới và khi đủ điều kiện thì kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trọng để tiến sang giai đoạn phản công” và “cần phải có kế hoạch rút dần các đại đội tập trung trở lại…”.

        Rút các đại đội độc lập, chắc chắn sẽ tạo nên chỗ trống ở những nơi bộ đội địa phương chưa trưởng thành. Nghị quyết cán bộ Trung ương lần thứ sáu và Hội nghị Dân quân lần thứ ba (tháng 4 năm 1949) đã nêu lên tầm quan trọng của việc xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân du kích.

        Ngày 7 tháng 4 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương ở tỉnh và huyện.

        Ngày 18 tháng 8, Thường vụ ra chỉ thị: “Xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân trong giai đoạn cầm cự và chuẩn bị tổng phản công”. Chỉ thị nêu rõ: Ta phải có bộ đội chủ lực mạnh và bộ đội địa phương mạnh, hai lực lượng này có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ cho nhau chiến đấu, hỗ trợ cho nhau trưởng thành. Vì vậy, muốn xây dựng một đội quân chủ lực mạnh, cần phải có sự phát triển rộng rãi của phong trào dân quân và những bộ đội địa phương đã trưởng thành.

        Sau Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu, Đảng ta chủ trương phải tổ chức một số đại đoàn, trước mắt thành lập ngay một đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ.

        Đầu tháng Tư, Bộ Tổng tư lệnh đã lựa chọn xong số cán bộ chỉ huy cũng như những đơn vị sẽ đứng trong đội hình của đại đoàn. Những đơn vị của Bộ được dồn lại thành hai trung đoàn: 88 và 102. Trung đoàn thứ ba sẽ là trung đoàn 36 của Bắc Ninh và Bắc Giang.

        Tư lệnh kiêm chính ủy đại đoàn là anh Vương Thừa Vũ, đã từng là khu trưởng Chiến khu 11, phó tư lệnh lực lượng vũ trang Liên khu 4. Đại đoàn phó Cao Văn Khánh là khu trưởng Chiến khu 5, mới ra Bắc đầu mùa hè. Tham gia đại đoàn gồm những đơn vị đã chiến đấu ở mặt trận Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tu, Cẩm Phả, Kiến An, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Bắc Ninh, Bắc Giang. Đơn vị nào cũng đã lập nhiều chiến công.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #101 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:22:59 AM »

       
5

        Sáng ngày 28 tháng 8, tôi và anh Trần Đăng Ninh tới Đồn Đu, huyện lị huyện Phú Lương, nằm trên đường số 3 từ Thái Nguyên lên Bắc Kạn. Mùa đông năm 1947, những tiểu đoàn chủ lực của Bộ đã xoay vần với binh đoàn Bôphrê trên con đường này. Dạo này trời mưa, khí hậu ẩm ướt, sương mù giăng khắp núi đồi. Dọc đường, gặp đồng bào người Kinh, người Tày, người Nùng, người Trại nô nức kéo đi dự lễ thành lập đại đoàn.

        Qua phố huyện Đồn Đu một quãng, nhìn bên đường thấy một cổng chào kết bằng lá, bên trên có một bức vẽ lớn. Hình ảnh một chiến sĩ xung kích mặc quần áo nâu, đầu đội mũ lá, đi chân đất, tay cầm cây mác đứng trên một bức tường thành rực lửa. Đây là biểu tượng của Đại đoàn 308.

        Trên một bãi cỏ rộng cạnh đường cái đá, xuất hiện một kì đài lớn kết bằng lá xanh, trên nóc, phấp phới lá cờ đỏ sao vàng. Trước kì đài là lễ đài, màu nứa lá xanh nguyên, lợp bằng mấy chiếc dù chiến lợi phẩm.

        Trên bãi cỏ còn bạc sương đêm, bộ đội xếp hàng thành từng khối. Những khẩu đại liên, trung liên, súng cối đặt trước hàng quân. Trang phục của bộ đội không giống nhau. Có đơn vị mặc quân phục màu lá cây. Nhiều đơn vị mặc quần áo tiện y màu nâu, màu đen. Thống nhất là chiếc mũ đan bằng tre bọc vải có lưới cài lá ngụy trang. Vũ khí không giống nhau. Có những khối bộ binh, pháo binh, công binh, thông tin. Đội nhạc binh do anh Đinh Ngọc Liên chỉ huy, sau ngày bị địch nhảy dù vồ hụt ở Bắc Kạn, cũng có mặt đầy đủ với bộ kèn đồng vàng óng.

        Đại đoàn trưởng kiêm chính ủy, người cao gày, mặc bộ quân phục bằng kaki dày, ống quần bó trong ủng, đi nghiêm đến trước lễ đài, rút kiếm chào đại diện của Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh rồi mời chúng tôi đi duyệt hàng quân.

        Cán bộ chỉ huy, đội trưởng và chính trị viên đứng trước từng đơn vị. Nét mặt cán bộ, chiến sĩ đều lộ vẻ xúc động. Tất cả đều rất trẻ. Người lớn tuổi nhất đại đội là anh Vương Thừa Vũ, ba mươi chín tuổi. Người ít tuổi nhất là em Trương Công Lũy, chiến sĩ trung đoàn Thủ đô, mới 11 tuổi.

        Nhiều cán bộ đối với tôi đã khá quen thuộc. Đồng chí Vũ Yên, người cao lớn, cân đối, vững chãi như một pho tượng. Trước cách mạng, anh là một người thợ đồng thời là vận động viên bơi lội. Đồng chí Thái Dũng với nét mặt kiên nghị, đã mất bàn tay phải trong trận Bản Pùm. Đồng chí Vũ Lăng nhỏ nhắn, cặp mắt sắc, bộ râu quai nón mới cạo xanh xanh. Đồng chí Doãn Tuế, bộ mặt chất phác, hiền lành đứng trước những khẩu sơn pháo cũ kĩ nhưng đầy chiến công.

        Chúng tôi bước lên lễ đài. Anh Trần Đăng Ninh chuyển tới cán bộ và chiến sĩ đại đoàn lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ về thành tích chiến đấu trong mấy tháng qua, nhắc đơn vị cố gắng phục vụ nhân dân, khiêm tốn học hỏi, không quản ngại khó khăn, xứng đáng là con chim lớn đầu đàn, làm tròn nhiệm vụ một đơn vị cơ động chiến lược đầu tiên của nước nhà.

        Tôi đọc Nhật lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, nói lí do cần thiết phải thành lập đại đoàn chủ lực đầu tiên, nhắc lại truyền thống và chiến công vẻ vang của các đơn vị từ các địa phương về xây dựng đại đoàn, nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của đại đoàn:

        “… Đại đoàn có nhiệm vụ cùng với các binh đoàn chủ lực khác, đi tiên phong trên con đường tiêu diệt sinh lực địch, trên con đường chính quy hóa…

              Đại đoàn phải: hễ đánh là thắng
              Đã đánh là tiêu diệt sinh lực địch
              Ngày càng lớn mạnh
              Quyết định chiến trường…”

        Tôi trao cho đại đoàn mốt lá cớ “Chiến thắng” của Bộ Tổng tư lệnh, và gắn huân chương cho một số cán bộ, chiến sĩ vừa lập chiến công xuất sắc trong thời gian qua.

        Âm thanh hùng tráng từ những chiếc kèn đồng của đoàn quân nhạc vang lên.

        Những khối bộ binh đứng im phăng phắc bắt đầu chuyển động. Bộ đội diễu qua lễ đài.

        Đi đầu là ba chiến sĩ cao lớn, người đi giữa giương cao lá cờ Chiến thắng, hai người cầm tiểu liên bảo vệ hai bên.

        Đồng chí Vũ Yên dẫn khối ba tiểu đoàn 54, 18, 79 sẽ hợp thành trung đoàn 102, trung đoàn Thủ đô.

        Đồng chí Thái Dũng dẫn đầu khối trung đoàn 88. Anh giơ tay trái chào khi đi ngang lễ đài.

        Cuối cùng tới đơn vị pháo binh. Những khẩu pháo trong các trận chiến đấu được di chuyển bằng những chiếc đòn khiêng đặt trên vai các chiến sĩ pháo binh, đã từng làm khiếp đảm quân thù, hôm này được kéo bằng ngựa. Tôi nhớ lại một bức tranh về những trận đánh thời Napôlêông. Nhìn bề ngoài, những khẩu pháo của ta chưa hiện đại được bao nhiêu so với thời đó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #102 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:23:45 AM »


        Sự trưởng thành của quân đội ta ngày nay, trước hết và quyết định là sự trưởng hành của đội ngũ cán bộ, những người dẫn đầu các đơn vị diễu qua lễ đài. Tôi biết rõ xuất thân của nhiều người. Học có thành phần giai cấp không giống nhau: thợ thuyền, dân cày, học sinh, sinh viên, cựu binh sĩ, nhà giáo, viên chức… Có những người xuất thân từ tầng lớp trên, từ những gia đình giàu có.

        Một số đơn vị của đại đoàn không có mặt trong lễ thành lập, vì đang trên đường đi chiến đấu. Họ được vinh dự lập những chiến công đầu để chào mừng ngày ra đời của đại đoàn.

        Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi tặng đại đoàn thanh kiếm khắc bốn chữ “Mã đáo thành công”. Tổng bộ Việt Minh cũng tặng đại đoàn một thanh kiếm mang tên “Dân tộc”.

        Thư và điện từ khắp nước, kể cả Khu 5, Nam Bộ xa xôi tới tấp gửi về chào mừng đại đoàn chủ lực đầu tiên, chúc đại đoàn tiến lên làm tròn nhiệm vụ “con chim đầu đàn”.

        Ít lâu sau, tin chiến thắng đã từ các mặt trận bay về. Tiểu đoàn 29 đánh một trận vận động xuất sắc trên mặt trận Vĩnh Yên, tiêu diệt hai trăm địch tại Thanh Vân, Hữu Thủ. Tiểu đoàn 23 đánh trận phục kích thứ hai trên đường số 4, cùng với một tiểu đoàn của trung đoàn 174 diệt gọn 93 xe địch tại Lũng Phầy. Lũng Phầy đã thực sự là “lũng lửa”.

        Trong buổi lễ thành lập đại đoàn đầu tiên, không khí bộ đội cũng như đại biểu nhân dân địa phương đều tràn đầy phấn khởi. Nhưng có lẽ không mấy ai, kể cả anh Ninh là người đồng chí cộng tác rất gần gũi hiểu hết những cảm nghĩ của tôi. Tôi thấy chúng ta đã đi được một bước đầy ý nghĩa trong công cuộc xây dựng bộ đội chủ lực; nhìn lại cả con đường đã trải qua thực không phải là thẳng tắp và đơn giản mà đầy khúc khuỷu, phức tạp.

        Ngay từ ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời, chúng tôi đã cho rằng đã có nhà nước độc lập, thì đường nhiên phải có một quân đội tương xứng. Và quân đội ấy không phải chỉ có những đại đội hay tiểu đoàn, trung đoàn, mà nhất định phải có đại đoàn. Đó là một ý nghĩ về mặt nào đó có phần hợp lí, nhưng cũng phản ánh phần nào sự thiếu kinh nghiệm trong chiến tranh.

        Thế rồi, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đồng thời đặc trách công tác quân sự - ít lâu sau là bí thư Quân ủy Trung ương từ khi mới thành lập, tôi đã đề nghị lập hai đại đoàn chủ lực. Đề nghị ấy được chấp nhận. Đến khi tình hình đất nước diễn ra khẩn trương, qua các cuộc xung đột lớn nhỏ đầu tiên với quân đội Pháp ở Lạng Sơn hay ở Hải Phòng, thì thấy rõ ngay là quân ta không có trình độ tác chiến với đơn vị đại đoàn. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hai đại đoàn đầu tiên đã được nhập vào hai quân khu. Lúc bấy giờ quân đội ta chỉ còn gồm những trung đoàn là đơn vị cao nhất.

        Trải qua các cuộc chiến đấu trong và sau những ngày toàn quốc kháng chiến, trong các trận đánh ở các thành phố và các cuộc chiến đấu tiếp theo, qua thực tiễn lại thấy bộ đội ta vẫn chưa có khả năng tác chiến tác chiến thắng lợi với đơn vị trung đoàn tập trung. Như các chương trên đã trình bày, do phát hiện thực tế diễn ra trên chiến trường, tôi đã đề nghị và được Trung ương chấp nhận là trước mắt còn phải lùi một bước nữa về tổ chức bộ đội: kiên quyết áp dụng rộng rãi công thức đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung.

        Với hình thức thích hợp ấy, trong một thời gian không lâu, bộ đội ta đã phát huy tác dụng to lớn. Các đại đội và tiểu đoàn không những đã dạn dày kinh nghiệm chiến đấu, mạnh lên về vũ khí và phương tiện chiến tranh cướp được từ tay địch, mà còn gây dựng lại chính quyền cơ sở, phát động chiến tranh du kích rộng rãi đưa đến sự ra đời của đông đảo dân quân du kích. Những trung đội và đại đội bộ đội địa phương được thành lập và dần dần có khả năng hoàn toàn thay thế vai trò các đại đội độc lập. Tình hình đó đã đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc của ba thứ quân, và đến lúc nào đó, đã cho phép ta rút các đại đội độc lập tập trung các tiểu đoàn lại. Cùng thời gian đó, các tiểu đoàn đã được tôi luyện và trưởng thành trong những trận đánh bằng tiểu đoàn, rồi nhiều tiểu đoàn, bằng trung đoàn hay trung đoàn tăng cường trong hàng loạt chiến dịch nhỏ. Đến lúc bấy giờ, ta đã có điều kiện đã tổ chức ra những trung đoàn chủ lực mạnh, những đại đoàn chủ lực với đầy đủ chức năng hiện thực của nó. Và đại đoàn đầu tiên là đại đoàn Quân tiên phong đã ra đời. Đây là một bài học lớn về tổ chức, không những trong lĩnh vực quân sự mà cả trong các lĩnh vực khác. Với nhân tố con người - nhất là cán bộ như thế nào, với nhân tố vật chất, tức là vũ khí và phương tiện chiến tranh như thế nào - hai nhân tố cơ bản nhất và cách mạng nhất như Ăngghen đã nhận định, thì với hình thức kết hợp hai nhân tố ấy, với hình thức tổ chức bộ đội hợp lí nhất mới có được hoạt động tác chiến có hiệu quả nhất, đưa lại thắng lợi tương xứng. Hình thức tổ chức và trình độ tác chiến kết hợp với nhau một cách hữu cơ, đó là một quy luật.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #103 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:24:08 AM »


        Làm sai quy luật, theo ý muốn chủ quan, duy ý chỉ đưa đền thất bại. Làm đúng quy luật đưa đến thắng lợi. Sự thành lập đại đoàn Quân tiên phong là một bước tiến vững chắc, đánh dấu sự trưởng thành của quân đội ta trong chiến tranh. Những cảm nghĩ nói trên hôm ấy đã đưa lại cho tôi một sự phấn khởi đặc biệt, một niềm tin lớn.

        Để đáp ứng nhiệm vụ mới, Bộ Tổng tư lệnh đang chuẩn bị sớm thành lập 3 đại đoàn, rồi 5 đại đoàn. Trước mắt, ở Bộ cũng như ở các liên khu được lệnh  xây dựng các trung đoàn chủ lực mạnh với một tiểu đoàn mạnh trong từng trung đoàn, đồng thời kiểm tra và xúc tiến tổ chức các đơn vị binh chủng. Bộ Tổng Tham mưu và Cục chính trị chuẩn bị gấp các phương án cán bộ.

        Trung đoàn Sông Lô, chủ lực của Liên khu 10, được bổ sung và tăng cường trở thành trung đoàn 209, sẽ là trung đoàn mạnh của Đại đoàn 312. Các trung đoàn Bao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn được tổ chức lại thành trung đoàn 174, sẽ là trung đoàn mạnh của Đại đoàn 316. Các trung đoàn này trực thuộc Bộ.

        Liên khu 1 củng cố trung đoàn 62. Liên khu 3 hai trung đoàn 64 và 66. Liên khu 4, các trung đoàn 9, 57 và 103 thuộc Thanh - Nghệ - Tĩnh; các trung đoàn 101, 95 và 18 thuộc Bình - Trị - Thiên. Khu 5 củng cố trung đoàn 210, Nam Bộ kiện toàn các tiểu đoàn 307, 304, 302.

        Các lực lượng binh chủng cũng đã phát triển một bước mới. Đến cuối năm 1949, từ Liên khu 4 trở ra, công binh có một tiểu đoàn và 16 đại đội, pháo binh có 7 tiểu đoàn và 7 đại đội. Các lực lượng thông tin, quân y, quân nhu đều được kiểm tra và kiện toàn.

        Ngày 10 tháng 3 năm 1950, Đại đoàn 304 chính thức thành lập tại Thọ Xuân, Thanh Hóa. Anh Hoàng Minh Thảo được cử giữ chức đại đoàn trưởng, anh Trần Văn Quang giữ chức chính ủy đại đoàn. Đại đoàn gồm có trung đoàn 66 chủ lực của Liên khu 3, trung đoàn 57 và trung đoàn 9 chủ lực của Liên khu 4.

        Đại đoàn 312 với các trung đoàn: 209, chủ lực của Bộ, 165 thuộc mặt trận Tây Bắc và 141 hình thành từ sau chiến dịch Biên Giới, chính thức thành lập ngày 25 tháng 12 năm 1950. Anh Lê Trọng Tấn là đại đoàn trưởng, anh Trần Độ là chính ủy đại đoàn.

        Đại đoàn 320 dự kiến thành lập sớm với các trung đoàn 48, 64 của Liên khu 3 và trung đoàn 52 Tây Tiến. Nhưng do chiến sự lan rộng ở đồng bằng Bắc Bộ nên đến 16 tháng 4 năm 1951 mới chính thức thành lập. Anh Văn Tiến Dũng là đại đoàn trưởng kiêm chính ủy.

        Đại đoàn 325 lấy ngày chiến thắng trận Thanh Hương 11 tháng 3 năm 1951 làm ngày truyền thống của đại đoàn, nhưng phải tới đầu năm 1953 đại đoàn mới có điều kiện tập trung ra vùng tự do Liên khu 4 để xây dựng và huấn luyện. Anh Trần Quý Hai làm đại đoàn trưởng kiêm chính ủy.

        Đại đoàn 316 thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951, nòng cốt là trung đoàn 174, cùng với trung đoàn 176 thuộc tỉnh Lạng Sơn và trung đoàn 98 thuộc mặt trận Đông Bắc. Anh Lê Quảng Ba là đại đoàn trưởng, anh Chu Huy Mận là chính ủy.

        Về binh chủng, Đại đoàn công pháo 351 được thành lập ngày 27 tháng 3 năm 1951, gồm trung đoàn sơn pháo 75, trung đoàn lựu pháo 105 và trung đoàn công binh 151. Anh Đào Văn Trường quyền đại đoàn trưởng, anh Phạm Ngọc Mậu là chính ủy.

        Mùa xuân năm 1950, trên chiến trường Bắc Bộ, lực lượng cơ động của Bộ Tổng tư lệnh với các đại đoàn 308, 304 và hai trung đoàn 209, 174, đó là chưa kể một số trung đoàn mạnh của cá liên khu, đã lớn hơn lực lượng cơ động chiến dịch của địch.

        Cho tới tháng 9 năm 1950, trước chiến dịch giải phóng biên giới thì lực lượng cơ động chiến dịch của ta lại tiếp tục tăng thêm. Trên tổng quân số hơn 20 vạn trong cả nước, bộ đội chủ lực đã chiếm hơn 16 vạn với những đại đoàn và trung đoàn manh, bộ đội địa phương có bốn vạn rưỡi. Dân quân du kích thì ước khoảng hai triệu.

        Chúng ta đã có điều kiện để mở những chiến dịch tiến công, tiến tới giành chủ động trên chiến trường chính.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #104 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 03:28:38 PM »


Chương mười

TIẾN TỚI GIÀNH CHỦ ĐỘNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH

1

        Từ tháng 7 năm 1949, người Pháp ra sức làm những điều ghi trong kế hoạch Rơve. Tổng chỉ huy Bơlêdô một mặt tập trung đánh chiếm Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc yên, Vĩnh Yên, mặt khác rút quân khỏi thị xã Bắc Kạn và các vị trí: Phủ Thông, Nà Phạc, Ngân Sơn trên đường Bắc Kạn - Cao Bằng.

        Tháng 9, tướng Cácpăngchiê sang thay tướng Bơlêdô làm Tổng chỉ huy Đông Dương. Cácpăngchiê quyết định thực hiện chủ trương của Rơve là “làm tròn đồng bằng Bắc Bộ”. Với những đơn vị mới được tăng viên từ Pháp sang và lực lượng quân ngụy mới phát triển, trong thu đông 1949 và xuân hè 1950, Bộ chỉ huy Pháp mở nhiều cuộc hành quân liên tiếp lần lượt đánh chiếm Bùi Chu, Phát Diệm, nam phần Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, nam Hà Đông, Ninh Bình, Phủ Lý.

        Tháng 10 năm 1949, trước âm mưu địch mở rộng phạm vi chiếm đóng đổng bằng Bắc Bộ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh đã kịp thời tăng cường cán bộ lãnh đạo cho Đảng bộ và Bộ chỉ huy Liên khu 3, trong đó có anh Lê Thanh Nghị, anh Văn Tiến Dũng và một số anh khác. Anh Lê Thanh Nghị được cử làm bí thư Liên khu ủy. Anh Văn Tiến Dũng được cử làm chính ủy Liên khu và ủy viên thường vụ Liên khu ủy.

        Trước những hoạt động liên tục, ráo riết của địch, Bộ tư lệnh Liên khu 3 chủ trương phát động chiến tranh du kích rộng rãi để tiêu hao lực lượng, cản bước tiến của địch, đồng thời dùng các đơn vị chủ lực của Liên khu bám đánh, chống địch càn quét bình định. Các đơn vị của Liên khu 3 đánh được một số trận ở Tiên Hưng, Thái Ninh, Quỳnh Côi thuộc tỉnh Thái Bình và một trận vận động xuất sắc ở Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Đông.

        Đồng bằng Bắc Bộ bị chiếm đóng, nhưng thực dân Pháp không sao bình định được vùng chúng kiểm soát. Nhờ chủ trương chuyển hướng đấu tranh kịp thời, đúng đắn của Liên khu 3, những vùng mới bị đánh chiếm đã khắc phục được một phần tình trạng lúng túng ban đầu, từng bước khôi phục và phát triển phong trào kháng chiến, gây cho địch nhiều tổn thất, buộc chúng phải chống đỡ khắp nơi. Đồng bằng Bắc Bộ sẽ trở nên một chiến trường du kích nổi tiếng với du kích Nguyên Xá anh hùng, với trung đoàn 42 anh hùng mà địch thường gọi là “trung đoàn ma”, và nhiều căn cứ du kích ngay trong lòng địch.

        Quân và dân đồng bằng Bắc Bộ bước vào một thời kì thử thách mới vô cùng gian khổ, một thời kì chiến đấu hết sức quyết liệt, phải chịu nhiều hi sinh to lớn, đồng thời cũng lập nhiều chiến công rất vẻ vang, sản sinh ra những tấm gương anh dũng, kiên cường, bất khuất. Cuộc chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân ở một trình độ cao chưa từng có của quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đã làm “thối ruỗng” hệ thống chiếm đóng và bình định của giặc, làm tê liệt các đường giao thông, kìm chân và gây thiệt hại nặng cho các binh đoàn cơ động của địch, có tác dụng phối hợp đắc lực và hỗ trợ mạnh mẽ cho các chiến dịch của bộ đội chủ lực trên các chiến trường. Cuộc đấu tranh toàn diện tàn khốc ở đồng bằng Bắc Bộ, lúc âm thầm bền bỉ, lúc sôi nổi quyết liệt, kéo dài suốt cho đến khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng.

        Để kịp thời đối phó với âm mưu mới của địch, tháng 9, Bộ Tổng tư lệnh ra mệnh lệnh chuẩn bị chiến dịch Lê Lợi ở Hòa Bình. Bộ chỉ huy chiến dịch được chỉ định: anh Hoàng Sâm là chỉ huy trưởng, anh Lê Quang Hòa là chính ủy, anh Lê Trọng Tấn và một đồng chí đại diện Bộ tư lệnh Liên khu 4 làm chỉ huy phó.

        Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá thế uy hiếp của địch ở sau lưng Liên khu 3, mởi rộng đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3.

        Phối hợp với chiến dịch Lê Lợi, Bộ tư lệnh Liên khu 10 mở liên tiếp chiến dịch Sông Mã và chiến dịch Yên Bình Xã - Nghĩa Đô.

        Sau một thời gian chuẩn bị, cuối tháng 11, chiến dịch Lê Lợi bắt đầu. Lúc này, anh Văn Tiến Dũng làm chính ủy trong Bộ chỉ huy chiến dịch, thay anh Lê Quang Hòa.

        Chiến dịch mở màn bằng trận nội ứng diệt gọn ví trí Gốt ở nam đường số 6. Trung đoàn 66 tiến công vị trí Đồng Bến, đánh nhanh diệt gọn một đại đội địch trong công sự. Tiếp theo, ta phục kích diệt một đại đội địch ở làng Lum (giữa Suối Rút và Mỏ Hẻm), đột kích vào Phố Đúng ở thị xã Hòa Bình, phục kích ở Bến Bưởi bắn chìm hai phà và ba thuyền chở quân của địch. Sau đó, ta tiêu diệt các vị trí Suốt Rút, Mỏ Hẻm, Tử Mễ. Địch phải dùng hơn 30 xe chở gần 1.000 quân từ Hà Đông lên chi viện cho Hòa Bình; trung đoàn 48 cùng bộ đội Hà Nội tiến công thiêu hủy cả đoàn xe.

        Đầu tháng 12, bằng cách vây điểm diệt viện, trung đoàn 209 tiêu diệt hai đại đội ứng chiến tinh nhuệ trong trận phục kích trên đường số 6, giữa Chợ Bờ và Mỏ Hẻm.


        Sau chiến dịch, tôi nghe anh Lê Trọng Tấn, trung đoàn trưởng 209, báo cáo cụ thể. Để cứu nguy các vị trí đang bị uy hiếp, địch buộc phải dùng máy bay đánh phá, thả dù tiếp tế, đưa lực lượng mới lên đóng lại vị trí Mỏ Hẻm. Ta phán đoán quân địch ở vị trí này là lực lượng cơ động, chúng không thể chiếm đóng lâu và nhất định sẽ có đơn vị khác lên thay thế. Trung đoàn 209 tập trung lực lượng bố trí phục kích trên đường số 6, chỉ để lại một bộ phận vây hãm, buộc địch phải rút để ta tiêu diệt. Đúng như ta phán đoán, ngày 6 tháng 12, địch rút bỏ Mỏ Hẻm. Khi địch đến gần Chợ Bờ, bộ phận chặn đầu của ta nổ súng bắn chết ngay một trung úy, một thiếu úy và tiểu đội tiền vệ. Quân ta xung phong đánh vào giữa đội hình địch, tiêu diệt một số lớn. Bộ phận còn lại của địch chạy về Mỏ Hẻm định đóng bè qua sông quân ta truy kích tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Nghe anh Tấn báo cáo xong, tôi nói đây là một trận đánh hay, cần phổ biến kinh nghiệm kịp thời cho các đơn vị nghiên cứu.

        Cuối tháng 12, trung đoàn 66 dùng lối đánh cường tập, tiêu diệt vị trí Đầm Huống. Lính ngụy ở đồn Toàn Thắng và đồn Cổ Lũng nổi dậy giết chết đồn trưởng rồi đầu hàng quân ta.

        Cuối tháng 1 năm 1950, trung đoàn 48 dùng địch vận tiêu diệt vị trí Mát, thu toàn bộ vũ khí.

        Chiến dịch Lê Lợi kết thúc cuối tháng 1 năm 1950. Ta tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, diệt 10 vị trí, bức rút 13 vị trí khác, phát triển chiến tranh du kích ở địa phương, đánh mạnh vào kế hoạch lập xứ Mường tự trị và tinh thần lính ngụy người Mường. Ta đã phá được một phần thế uy hiếp của địch đối với tây Liên khu 3, bước đầu mở rộng được đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Thanh - Nghệ.

        Trên chiến trường phối hợp, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội Lào tiêu diệt vị trí Xiềng Khọ, phá vỡ phòng tuyến địch từ mường Xiềng Khọ đến Sốp Hào, mở rộng khu giải phóng Thượng Lào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #105 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 03:32:38 PM »

       
2

        Đầu năm 1950, Trung Quốc rồi Liên Xô, Mông Cổ, Triều Tiên, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, Hunggari, Rumani, Ba Lan, Bungari, Anbani chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Thắng lợi của cách mạng Trung Hoa mang lại cho cuộc kháng chiến của ta những thuận lợi to lớn. Vòng vây bên ngoài bị phá vỡ ở phía Bắc. Bên kia biên giới là lục địa Trung Hoa, nối liền một dải với Liên Xô và các nước anh em.

        Ban Thường vụ Trung ương triệu tập Hội nghị toàn quốc lần thứ ba, họp từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 2 năm 1950. Hội nghị lần này tổ chức khá đàng hoàng. Mỗi đại biểu đều có số ghế ngồi ở hội trường, số phòng ở và số giường ngủ. Theo sự phân công của Thường vụ, anh Trường Chinh đọc báo cáo chính trị, tội đọc báo cáo quân sự, anh Phạm Văn Đồng đọc báo cáo công tác chính quyền. Hội nghị nhận định trong hai năm cầm cự và chuẩn bị tổng phản công, thế cầm cự về mọi mặt của ta và địch diễn ra ra rõ rệt và ngày càng có lợi cho ta. Hai năm cầm cự đã chỉ cho ta thấy rõ những khả năng cũng như những khó khăn của ta và của địch.

        Hiện nay thế của ta mạnh hơn địch, lực của ta còn kém địch về vật chất nhưng hơn địch về tinh thần. Thế mạnh có thể chuyển thành lực mạnh. Ta phải tích cực phát huy khả năng của ta, triệt để lợi dụng nhược điểm của địch, làm cho thế và lực của ta lớn mạnh hơn, để trong năm 1950 có thể chuyển sang tổng phản công.

        Muốn chuyển sang tổng phản công, ta cần chiếm ưu thế quân sự trên chiến trường chính, trong khi ở các chiến trường khác, ta đủ sức kiềm chế địch. Ưu thế quân sự đó phải được giữ vững và phát triển để tiếp tục phản công cho đến toàn thắng.

        Tổng phản công là phản công trong cả một giai đoạn chiến lược theo một kế hoạch chung cho chiến trường Đông Dương, là phản công từng đợt cho đến khi địch hoàn toàn thất bại, ta hoàn toàn thắng lợi.

        Năm 1950, ta cần gấp rút hoàn thành việc chuẩn bị, chuyển mạnh sang tổng phản công.

        Ngày 12 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh quyết định tổng động viên. Tất cả nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân đều đặt dưới chế độ pháp luật đặc biệt thời kì chiến tranh. Vì lợi ích của quốc gia và nhu cầu kháng chiến, Nhà nước có quyền huy động và sử dụng mọi lực lượng của dân tộc, thực hiện khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

        Một nhiệm vụ quan trọng trước mắt là phải phá vỡ thế bao vây của quân Pháp ở biên giới phía Bắc, giải tỏa thế uy hiếp ở hai sườn căn cứ địa Việt Bắc.

        Chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em, nhưng con đường từ nước ta ra quốc tế chưa được khai thông. Pháp còn chiếm các thị xã Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái, không chế tất cả những đường vận chuyển cơ giới sang Trung Quốc. Trong thực tế, với những đồn binh đóng rải rác, quân Pháp chưa bao giờ bịt kín được biên giới phía bắc. Song những đường mòn xuyên rừng dùng cho người đi bộ và đi ngựa, không cho phép tiếp nhận tiếp tế dễ dàng và nhanh chóng sự giúp đỡ vật chất của quốc tế nay mai.

        Đầu tháng 1, Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị mở chiến dịch Tây Bắc và chuẩn bị chiến trường Đông Bắc. Lúc này ở Bắc Bộ, Tây Bắc là nơi yếu nhất và sơ hở nhất của địch. Đông Bắc là chiến trường quan trọng đối với ta cũng như đối với địch suốt từ nay cho đến khi chuyển sang tổng phản công.

        Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở một chiến dịch tiến công ở Tây Bắc, đồng thời đẩy mạnh những trận vận động phục kích trên đường số 4. Đông Bắc là nơi địch có phòng tuyến rắn chắc nhất, khống chế những con đường sắt, đường bộ nối liền Việt Nam với Trung Quốc. Chúng ta cần phá với phòng tuyến này mới giải quyết được về cơ bản sự giao lưu quốc tế. Nhưng cần có sự chuẩn bị chu đáo. Trong xuân hè này, ta tích cực chuẩn bị chiến trường ở Đông Bắc, nhưng tạm thời chưa đụng tới hệ thống đồn bốt của địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #106 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 03:41:13 PM »


3

        Thi hành chỉ thị của Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh mở chiến dịch Tây Bắc mang mật danh là chiến dịch Lê Hồng Phong 1.

        Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tiêu diệt một số vị trí, tối thiểu là làm tan rã các đơn vị linh ngụy, tối đa là giải phóng Lào Cai, mở thông đường liên lạc quốc tế.

        Hướng chính của chiến dịch là mặt Lào Cai, hướng phụ là mặt Điện Biên Phủ và Sầm Nưa, hướng nghi binh kiềm chế là Sơn La.

        Bộ chỉ huy chiến dịch gồm có anh Bằng Giang là chỉ huy trưởng, anh Song Hào là chính ủy, anh Cao Văn Khánh là chỉ huy phó.

        Trong khi ta đang chuẩn bị chiến dịch thì ở biên kia biên giới giáp với Lào Cai, Quân giải phóng Trung Quốc đã chiếm Mông Tự, Hồ Kiều và đang tiến tới kiểm soát khu vực đối diện với Phong Thổ, Lai Châu. Quân Pháp ra sức câu kết với tàn quân Quốc dân đảng, củng cố phòng thủ dọc biên giới.

        Ở hướng chính, ta tiến công Phố Lu, một thị trấn có hai đại đội, được tổ chức phòng ngự vững chắc. Trận đánh có nhiều tình huống gay go, quyết liệt. Sau ba đợt chiến đấu kéo dài bốn ngày đêm ta hoàn toàn làm chủ Phố Lu. Địch bị tiêu diệt, nhưng ta bị thương vong nhiều, có đại đội bị thiệt hại tới hai phần ba.

        Sau chiến dịch, tôi nghe anh Vũ Yên, trung đoàn trưởng trung đoàn Thủ đô báo cáo cụ thể trận Phố Lu. Vị trí này là sở chỉ huy phân khu do 1 đại đội lính Pháp, 1 đại đội lính khố đỏ và 80 lính ngụy địa phương đóng giữ. Đây là vị trí quan trọng còn lại trên tuyến phòng thủ Sông Thao sau chiến dịch mùa hè năm trước, án ngữ con đường tiến lên thị xã Lào Cai.

        Phố Lu là một thị trấn chưa phá hoại, với những đường phố, những ngôi nhà gạch một tầng, hai tầng còn nguyên vẹn. Địch đã đuổi tất cả dân chúng ra ngoài để xây dựng một đồn binh kiên cố. Quanh thị trấn có tường thành khá dày từ một đến hai mét. Bốn góc có lô cốt vững chãi. Bao quanh phía ngoài là hàng rào dây thép gai và bãi mìn. Cạnh căn cứ là một sân bay dã chiến. Viên chỉ huy phân khu coi Phố Lu và một vị trí bất khả xâm phạm.

        Hai đợt tiến công đều không thành, xung kích bị chặn trước hàng rào dây thép gai. Đợt thứ ba, ta rút kinh nghiệm, tập trung cả một tiểu đoàn pháo về một hướng, bắn vỡ một góc tường, mở được cửa đột phá cho bộ đội xung phong. Chiến sĩ mang badôca đi cùng chiến sĩ xung kích, tiêu diệt từng hỏa điểm. Các chiến sĩ pháo binh cũng đẩy pháo vào trong vị trí, ngắm bắn trực tiếp vào những ổ đề kháng. Viên chỉ huy đồn Phố Lu tử trận, để lại cuốn nhật kí có ghi dòng chữ: “Chao ôi! Kẻ thù của chúng ta có tinh thần của những người chiến thắng”.

        Ở hướng thứ yếu, tình hình diễn biến phức tạp. Ta tiến công Nghĩa Đô ba lần đều không thành công. Địch đưa lực lượng từ Hà Nội lên ứng cứu cho Nghĩa Đô, nhưng ta vẫn bao vây uy hiếp mạnh, nên địch phải rút bỏ Nghĩa Đô. Sau đó, ta tiêu diệt vị trí Bản Lầu và tiến công một số vị trí khác.

        Địch phải dùng quân nhảy dù tăng cường cho Lào Cai, chiếm lại Phố Lu và Nghĩa Đô. Nhận thấy địch đã tăng cường phòng thủ, sức chiến đấu của bộ đội ta giảm sút, tiếp tế lương thực khó khăn, Bộ Tổng tư lệnh quyết định tạm ngừng chiến dịch.

        Địch bị thiệt hại nặng và buộc phải phân tán quân nhảy dù là lực lượng cơ động chiến lược lên đối phó với cuộc tiến công của ta ở vùng rừng núi Tây Bắc, nhưng ta cũng bị tổn thất và chưa đạt được mục đích chiến dịch. Cục diện chiến trường về căn bản chưa có gì thay đổi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #107 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 03:42:17 PM »


        Sau khi các đơn vị kiểm điểm, nhân danh Tổng tư lệnh kiêm Tổng chính ủy, tôi gửi thư cho Bộ chỉ huy chiến dịch, nhận xét ưu điểm, khuyết điểm của trận Phố Lu và trận Nghĩa Đô. Thư có đoạn:

        “Kiểm điểm cho đúng là một việc làm cần thiết để tiến bộ, để tránh sai lầm về sau.

        Trước đây, tôi đã phê bình nghiêm ngặt trận Cầu Rằm. Năm 1948, tôi đã chỉ thị phê phán nghiêm ngặt trận Phủ thông, không được gọi là đánh tiêu diệt. Năm 1949, tôi đã phê bình trận Sông Lô…

        Trận Phố Lu thì khác, là một trận tiêu diệt thị trấn quan trọng của địch, thu được vũ khí, đạn dược, có những tấm gương anh dũng vô song của chiến sĩ và cán bộ. Nhưng cách dùng binh đã đi đến kết quả lực lượng ta bị tiêu hao nặng, nên cần phê bình, nêu khuyết điểm bên cạnh ưu điểm. Trận Nghĩa Đô thì phải nêu là một thất bại. Công tác chính trị không phải chỉ nêu thắng lợi và ưu điểm mới động viên được, mà lại cần nêu thất bại, khuyết điểm để học tập, sửa chữa…

        Chúc các đồng chí thắng lợi và luôn luôn nhớ tự kiểm điểm nghiêm ngặt, nhất là trong lúc thắng lợi”.


        Trong năm 1949 và mùa xuân năm 1950, những chiến dịch nhỏ liên tiếp diễn ra trên chiến trường cả nước.

        Bộ chỉ huy Liên khu 4 do anh Nguyễn Sơn là tư lệnh, anh Trần Văn Quang làm chính ủy, chủ trương “đánh mạnh ở Bình Trị Thiên”. Tháng 1 năm 1949, trung đoàn 101 do anh Trần Sâm là trung đoàn trưởng, anh Trần Quý Hai làm chính ủy, đã phục kích một đoàn tàu quân sự tại Hói Mít trên đường sắt Đà Nẵng - Huế, phá đoàn tàu chở 80 tấn vũ khí, đạn dược, tiêu diệt đại đội bảo vệ.

        Tháng 8, bộ đội ta vừa tổ chức chống càn, vừa đánh vận động, tiêu diệt một đại đội lính lê dương ở Mỹ Chánh, Mỹ Xuyên. Đây là thắng lợi giòn giã của bộ đội Bình - Trị - Thiên ở địa hình đồng bằng.

        Đầu năm 1950, mặt trận Bình - Trị - Thiên được thành lập do anh Hà Văn Lâu làm chỉ huy trưởng, anh Trần Quý Hai làm chính ủy, anh Trần Sâm là chỉ huy phó. Mặt trận mở chiến dịch Lê Lai ở nam Quảng Bình phối hợp với chiến dịch Lê Lợi ở Hòa Bình. Ta tiêu diệt một đại đội lính Âu Phi ở Vạn Xuân, Thạch Xá Hạ, tiêu diệt và bức rút nhiều vị trí, giải phóng nhiều vùng ở bắc và nam Quảng Bình.

        Tháng 6, mặt trận mở chiến dịch Phan Đình Phùng. Ta dùng cách đánh linh hoạt, lúc tập trung, lúc phân tán, phát động chiến tranh du kích, giải phóng một số làng ở đồng bằng, mở rộng căn cứ du kích nam Quảng Bình. Trung đoàn 95 và trung đoàn 101 phục kích đoàn xe hơn một trăm chiếc từ Đồng Hới chạy đến khu vực Chấp Lễ - Hạ Cờ, diệt hơn 300 tên, phá 40 xe quân sự.

        Bộ chỉ huy Liên khu 5 do anh Nguyễn Chánh làm chính ủy, anh Nguyễn Thế Lâm làm quyền tư lệnh. Cuối năm 1948, một đơn vị của liên trung đoàn 80 - 83 do anh Lư Giang làm trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Đường Lâm là chính ủy, tiêu diệt đồn Phước Thuận ở bắc thị trấn Ninh Hòa. Sau đó, ta tiêu diệt các cứ điểm Trại Cá, Đại Điển Trung, Phú Khê, Phú Cốc, đánh chìm chiến hạm Amiran Vécnông ở vùng biển Hòn Khói, tiêu diệt một đại đội lính Âu Phi trên đường số 1 ở bắc thị trấn Vạn Giã.

        Đầu năm 1949, trung đoàn 108 do anh Nguyễn Bá Phát là trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Quyết là chính ủy, đánh phục kích trên đường sắt và đường bộ từ Quảng Nam ra Huế, đánh hỏng nhiều đoàn tàu hỏa, phá nhiều xe vận tải và xe bọc sắt.

        Ở Tây Nguyên, trung đoàn 120 do anh Trương Cao Dũng làm trung đoàn trưởng, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, đánh thắng nhiều trận trên đường số 14 và đường số 7, mở vùng căn cứ du kích lớn trong khu tam giác Cheo Reo - Buôn Hồ - Mađrắc và dọc nam bắc đường 19 từ phía tây đèo Măng Giang tới sát thị xã Plây Cu.

        Đầu năm 1950, ở hướng Quảng Nam, trung đoàn 210 do anh Đàm Quang Trung làm trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Đôn làm chính ủy, tiêu diệt một đoàn xe và một đại đội lính lê dương ở Thanh Quýt, diệt hai vị trí Cẩm lệ và Hòn Báng. Bộ đội ta phục kích đánh đổ ba đoàn tàu quân sự trên đèo Hải Vân, giải phóng phần lớn huyện Duy Xuyên và tây huyện Đại Lộc, mở rộng căn cứ du kích ở Điện Bàn, Phú Vang.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #108 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 03:43:01 PM »


        Ở Nam Bộ, sau khi Xứ ủy phê phán “chủ nghĩa du kích”, mỗi khu xây dựng được một trung đoàn chủ lực. Bộ tư lệnh Nam Bộ mở chiến dịch Mùa Xuân, đẩy mạnh hoạt động ở Trà Vinh, Mỹ Tho, Sóc Trăng, đánh phá các đường giao thông thủy bộ, tiêu diệt nhiều vị trí nhỏ, đột nhập thị trấn, bức rút nhiều đồn bốt. Khu 7 mở chiến dịch Dầu Tiếng. Khu 8 mở chiến dịch Cầu Ngang. Khu 9 tiêu diệt và bức rút nhiều đồn. Sự vận chuyển của địch trên đường Sài Gòn, Lộc Ninh gần như bị tê liệt. Sự vận chuyển đường sông đi Vũng Tàu cũng bị tắc sau khi ta đánh chìm một tàu vận tải trên sông Lòng Tàu, cách Sài Gòn 20 kilômét.

        Phong trào đấu tranh chính trị ở Nam Bộ, đặc biệt ở Sài Gòn rất sôi nổi. Trước “giai pháp Bảo Đại” của thực dân Pháp theo lệnh của đế quốc Mỹ, nhiều cuộc bãi công, bãi thị, bãi khóa của các tầng lớp nhân dân thành phố đã liên tiếp nổ ra. Cuộc tổng bãi công lớn của 8 xí nghiệp lớn do Liên hiệp Công đoàn Sài Gòn tổ chức và một cuộc tổng bãi khóa của học sinh, sinh viên nhiều trường vào những ngày cuối tháng 11 năm 1949 đã châm ngòi cho hàng loạt cuộc đấu tranh tiếp theo.

        Cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên Sài Gòn ngày 9 tháng 1 năm 1949 đòi thả những người bị bắt đã được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Địch cho binh lính và cảnh sát đàn áp dã man, bắn chết học sinh Trần Văn Ơn, làm bị thương hàng chục người. Đám tang học sinh Trần Văn Ơn ngày 12 tháng 1, với khẩu hiệu:

“Chết vì Tổ quốc, chết cũng như sống;
Sống kiếp Việt gian, sống nhục muôn đời”

        đã biến thành cuộc biểu dương lực lượng, thể hiện tinh thần đoàn kết đấu tranh của nhân dân và có tiếng vang lớn.

        Nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà báo, nhà tu hành, tiểu thương đã xuống đường. Công nhân của nhiều xưởng, nhiều hãng, viên chức của nhiều công sở đều tham gia. Hai đoàn đại biểu học sinh, sinh viên miền Bắc và miền Trung đã đi máy bay vào để kịp dự lễ tang. Các cửa hàng, các trường công và tư, một số công xưởng đóng cửa. Chợ búa không họp. Hơn nửa triệu người đã xuống đường đấu tranh. Chưa bao giờ Sài Gòn - Chợ Lớn có một cuộc tổng bãi công, bãi thị, bãi khóa rộng lớn như vậy.

        Ngày 9 tháng 1 đã đi vào lịch sử và chính thức trở thành ngày đấu tranh của học sinh, sinh viên toàn quốc cho độc lập và thống nhất Tổ quốc.

        Sự can thiệp trực tiếp của đế quốc Mỹ vào vấn đề Đông Dương ngày càng lộ rõ. Đại sứ Gơripsphin (Griffins) của Mỹ đến Sài Gòn. Hai chiến hạm của Mỹ cập bến cảng thành phố, một tàu sân bay chở 70 máy bay lởn vởn ngoài khơi Vũng Tàu để uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân ta.

        Để kịp tỏ rõ ý chí của nhân dân ta chống Mỹ can thiệp, Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn chủ trương tiến hành một cuộc đấu tranh lớn. Biệt động Sài Gòn ném lựu đạn vào khách sạn Côngtinăngtan, nơi đại sứ Mỹ ở. Tối 18 tháng 3, giữa lúc Mỹ, Pháp mở tiệc trên tàu, các chiến sĩ của tiểu đoàn Quyết tử 950 đã bắn súng cối vào khu vực có chiến hạm Mỹ.

        Ngày 19 tháng 3, hơn 30 vạn đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn đã xuống đường biểu tình; luật sư Nguyễn Hữu Thọ cùng một số nhân sĩ, trí thức yêu nước của thành phố dẫn đầu. Cờ đỏ sao vàng được quần chúng giương cao dọc theo các phố xá. Cờ Mỹ, cờ Pháp, cờ bù nhìn, ảnh Bảo Đại bị xé nát. Các khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ!”, “Đế quốc Mỹ cút đi!”, “Đả đảo bù nhìn Bảo Đại”, “Hồ Chủ tịch muôn năm” được quần chúng hô vang. Các đoàn biểu tình làm chủ trung tâm thành phố từ sáng đến trưa. Ngay đêm ấy, hai chiến hạm Mỹ không kèn, không trống rút khỏi bến cảng Sài Gòn.

        Đây là cuộc đụng độ đầu tiên của nhân dân ta và đế quốc Mỹ. Với cuộc biểu tình này, đồng bào thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn mang danh hiệu vinh quang thành phố Hồ Chí Minh - đã đi tiên phong trong phong trào chống Mỹ ở nước ta. Chính từ sự kiện lịch sử này, ngày 19 tháng 3 trở thành ngày toàn quốc chống Mỹ của nhân dân ta.

        Ở Hà Nội, hưởng ứng chủ trương của Thành ủy, học sinh mở một đợt đấu tranh trong suốt một tuần lễ. Học sinh toàn thành phố tổ chức để tang các học sinh Sài Gòn đã hi sinh. Tại chùa Quán Sứ, sáng 20 tháng 1, đồng bào và học sinh tổ chức rất trọng thể lễ cầu hồn cho học sinh Trần Văn Ơn và các bạn đã bị địch sát hại. Đêm 18 tháng 1, các dũng sĩ Hà Nội tập kích sân bay Bạch Mai, phá 22 máy bay và đốt cháy 60 vạn lít xăng. Ngày 21 tháng 1, Bảo Đại và đại sứ Mỹ vừa đến Hà Nội, ta phá 15 trong số 42 trạm biến thế điện của toàn thành phố. Trong mấy ngày đầu tháng 3, ta còn phá 16 đầu xe ở sở xe điện Thụy Khuê, phá một kho đạn lớn ở Đồn Thủy.

        Phong trào đấu tranh của nhân dân các thành phố lớn Sài Gòn, Hà Nội là đồn tiến công mạnh mẽ đánh thẳng vào trung tâm sào huyệt lớn của địch. Nó làm cho kẻ thù khiếp sợ, lúng túng, làm cho nhân dân càng tin tưởng vào thắng lợi và quyết tâm dẩy mạnh kháng chiến.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #109 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 03:46:36 PM »


4

        Trên đường số 4, từ cuối tháng 7 năm 1949, địch rút bỏ nhiều vị trí xung quanh thị xã Cao Bằng, ra sức củng cố các cứ điểm và tăng cường bảo vệ các đoàn xe vận chuyển tiếp tế. Tuy vận, chúng vẫn không thoát khỏi các trận phục kích của ta.

        Đầu tháng 9, tại Lũng Phầy, trung đoàn 174 và tiểu đoàn 23 thuộc trung đoàn 88 phục kích một đoàn xe hơn 120 chiếc từ Thất Khê lên Cao Bằng, diệt 200 tên, phá hơn 90 xe.

        Giữa tháng 9, tại Lũng Vài - Bố Củng, bộ đội ta đánh một đoàn xe chở 800 quân trên đường từ Thất Khê về Nam Sầm, diệt nhiều địch, phá gần 30 xe.

        Đầu tháng 10, trung đoàn 174 và tiểu đoàn 23 lại phục kích đoàn xe 100 chiếc, phá 42 chiếc, đồng thời tiến công buộc địch rút hai vị trí Bố Củng, Lũng Vài.

        Tổng hợp tình hình chiến sự trên đường số 4, Cục tác chiến báo cáo đoạn đường từ Tiên Yên tới Thất Khê địa hình trống trải không thuận lợi cho những trận phục kích lớn. Những khu vực nguy hiểm đều nằm trên đoạn đường từ Thất Khê lên Cao Bằng. Quân Pháp đã nghiên cứu kĩ lưỡng các trận đánh của bộ đội ta, đề ra những biện pháp đề phòng rất cẩn mật. Mỗi đoàn xe được tổ chức chặt chẽ như một cuộc hành binh.

        Mờ sáng, một tiểu đoàn Âu Phi mở đường từ Thất Khê lên đèo Bông Lau, chia quân chiếm lĩnh các mỏm núi cao. Phía Đông Khê, hai đại đội bộ binh cũng triển khai quanh bản Lũng Phầy, sẵn sàng ứng cứu. Đoàn xe ở Thất Khê chỉ xuất phát khi những bộ phận sục sạo phát tín hiệu: “Đường đã mở”.

        Tuy vậy, những trận phục kích của bộ đội ta vẫn không ngùng nổ ra: Bố Củng - Lũng Vài lần thứ nhất…, Bông Lau - Lũng Phầy lần thứ hai…, Bố Củng- Lũng Vài lần thứ ba… rồi Bông Lau- Lũng Phầy lần thứ tư.

        Sau trận phục kích đầu tháng 10, trung đoàn trưởng 174 Đặng Văn Việt được gọi về Bộ, báo cáo trực tiếp với tôi về từng trận đánh vừa qua trên đường số 4. Khi nghe xong, tôi hỏi tại sao trung đoàn lại có thể phục kích nhiều lần ở cùng một đoạn đường?

        Anh Việt báo cáo: “Sau mỗi lần bị đánh, địch lại thay đổi cách hành quân, nên cách đánh của ta cũng phải thay đổi. Mỗi cuộc vận chuyển của địch thế nào cũng có sơ hở, ta cần nhè trúng sơ hở của địch mà đánh. Nếu địch không có sơ hở thì phải làm cho nó có sơ hở.

        Mấy tháng nay, trung đoàn không còn phục kích tại chỗ theo kiểu cũ, giấu sẵn quân ở ven đường chờ địch tới là xông ra đánh. Đơn vị đã vận dụng chiến thuật vận động phục kích, ém quân xa đường, không để địch phát hiện, rồi vận động ra đánh khi thời cơ xuất hiện. Nguyên tăc bí mật được để lên hàng đầu. Công việc trinh sát, giấu quân, bố trí thông tin, không được để lại dấu vết khiến địch nghi ngờ. Có khi ém quân chờ địch hai, ba ngày. Bộ đội phục kích phải có tính tổ chức và kỉ luật cao”.

        Hạ tuần tháng 5 năm 1950, tôi bỗng nhận được điện báo của trung đoàn 174 vừa tiêu diệt gọn cứ điểm Đông Khê. Tin này hoàn toàn bất ngờ. Đông Khê là một cứ điểm trọng yếu của dịch nằm giữa Cao Bằng và Thất Khê, do một tiểu đoàn Âu Phi thiếu một đại đội cùng một đại đội ngụy chiếm đóng. Tổ chức phòng ngự ở đây được bố trí thành một hệ thống liên hoàn trên những mỏm núi cao, có công sự vững chắc. Trung đoàn 174 đánh phục kích giỏi, nhưng chưa hề đánh cứ điểm. Bộ đội ta đã làm thế nào để tiêu diệt được Đông Khê với số thương vong rất thấp?... Mặt khác, Đông Khê nằm trong dự kiến của Bộ trong thu đông tới, khi ta mở đầu chiến dịch lớn. Bộ chủ trương trong xuân hè này, tạm thời chưa đánh những cứ điểm địch trên đường số 4. Điều này tôi chỉ mới trao đổi với anh Hoàng Văn Thái.

        Tôi điện cho anh Phan Phác, tổng tham mưu phó đang có mặt trên đường số 4, cùng với trung đoàn trưởng 174 về Bộ ngay để báo cáo.

        Tôi hỏi riêng anh Phan Phác, vì sao trước khi đánh Đông Khê không xin ý kiến của Bộ. Anh Phác trả lời đã báo cáo về Bộ trước khi đánh mấy ngày, không thấy Bộ có ý kiến gì nên mới đồng ý cho đơn vị đánh. Tôi thấy đây là một vấn đề về mặt nguyên tắc xin chỉ thị cần sớm rút kinh nghiệm.

        Sau đó, tôi nghe anh Việt báo cáo cụ thể trận Đông Khê, một trận đánh tốt, lần đầu tiên ta tiêu diệt một cứ điểm có công sự vững chắc do một tiểu đoàn địch chiếm giữ. Nghe báo cáo xong, tôi biểu dương những tiến bộ của trung đoàn, rồi nói với anh Việt: “Anh chuyển lời tôi hỏi thăm sức khỏe anh Mân và khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ của trung đoàn”.

        Trận Đông Khê tiếp tục thu được những kinh nghiệm thành công và không thành công của những trận đánh cứ điểm trước đây, là một trong những trận đánh địch phòng ngự có công sự vững chắc tiêu biểu của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM