Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Hai, 2020, 11:00:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh  (Đọc 25263 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #60 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2016, 08:39:48 pm »

       
ĐƯA TÊN LỬA SANG TÂY TRƯỜNG SƠN ĐÁNH MÁY BAY AC-130

Đại tá Nguyễn Tiến Thu                       
Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không       

        Mùa khô năm 1971, theo quyết định của Bộ Tổng tư lệnh, các lực lượng của Đoàn 559 liên tiếp mở các chiến dịch vận chuyển lớn chi viện cho chiến trường miền Nam chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên ba hướng chính: Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.

        Theo lệnh của Quân chủng, Tiểu đoàn tên lửa 67, Trung đoàn 275 đang bảo vệ cửa khẩu đường 12, cơ động gấp sang tây Trường Sơn đánh máy bay AC-130.

        Ngày 19-12-1971, Tiểu đoàn 67 được Tiểu đoàn pháo cao xạ 119 bảo vệ vượt cửa khẩu đèo Mụ Giạ, qua trọng điểm 050, Siềng Phan - Pha-nốp xuống Lùm Bùm.

        Dọc đường hành quân địch đánh phá ác liệt, Tiểu đoàn cao xạ 119 tích cực bảo vệ tên lửa đã bắn rơi 1 F4 ở Pắc-pha-năng.

        Tại Lùm Bùm, đơn vị vừa nghiên cứu nắm quy luật hoạt động của địch chưa kịp triển khai chiến đấu, lại có lệnh hành quân ngay xuống đường 9, khu vực đường Máy Húc.

        Đường hành quân không ai biết, thời gian lại gấp chúng tôi quyết định lấy một xe Gát-66 đi ngay ban ngày để trinh sát đường xá và tìm nơi trú quân.

        Mới đi được một quãng đường đã bị ba-rie của binh trạm giữ lại và mắng cho một trận: "Các ông ở đâu đến mà chủ quan, liều mạng thế".

        Binh trạm chỉ cho đi đêm và lấn sáng, lấn chiều.

        Cuối cùng đơn vi cũng khắc phục khó khăn, nguy hiểm vượt qua các trọng điểm và đèo Văng Mu đến được nơi trú quân ở đường Máy Húc.

        Khu vực này có nhiều đồi cây lúp súp, nhiều vạt rừng xanh tốt, kín đáo có thể cất giấu khí tài, bố trí trận địa tên lửa phù hợp, đánh được AC-130 bay dọc theo tuyến vận chuyển từ bắc xuống nam đường 9.

        Suốt chặng đường hành quân dọc theo Trường Sơn từ đèo Mụ Giạ xuống sát đường 9, chiều dài gần 200km, Tiểu đoàn 67 bị đánh 21 lần có 17 lần trúng đội hình, một số cán bộ chiến sĩ thương vong, xe cộ, khí tài bị đánh hỏng nhiều: Hỏng khối hoàn mã hệ phát lệnh xe tính toán, 1 cần cẩu, 3 bệ, 1 xe chở đạn TZM, cháy 1 xe téc chở xăng, mang đi 8 quả tên lửa thi bị cháy 2, hỏng 3. Chiếc xe Gát chở hàng Tết cho trung đoàn sang cho bộ đội bị AC-130 bắn cháy nên anh em Tiểu đoàn 67 và Tiểu đoàn cao xạ 119 năm đó không có Tết.

        Trong khi chờ đợi cán bộ kỹ thuật của trung đoàn đến sửa chữa khí tài và bổ sung thêm tên lửa, chúng tôi tổ chức đi bộ khảo sát địa hình, đường xá dọc theo đường 128 cắt đường 9, vùng Na-bo, Sê-pôn, Thà- khống, Bản Đông, dọc đường xuống Mường Noòng, trên đường la liệt chỗ nào cũng thấỵ xe cộ bị bắn cháy.

        Tiếp xúc với một số cán bộ binh trạm khu vực đường 9, các đồng chí bức xúc nói: "Dạo này AC-130 hoạt động dữ quá, xe cộ bị bắn cháy nhiều, binh trạm nào không có đường "lấn" thì không thể hoàn thành kế hoạch. Cao xạ 37mm của binh trạm không bắn tới AC- 130. Chúng tôi vô kế khả thi. Mong Bộ nhanh chóng đưa tên lửa sang".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #61 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2016, 08:40:59 pm »

        Theo tư liệu của Đoàn 559: Máy bay AC-130 được trang bị pháo 40mm và 20mm, có máy quan sát hồng ngoại, khuyếch đại ánh sáng mờ nên phát hiện rõ mục tiêu di động trong đêm tối và điều khiển pháo bắn chính xác. Thời gian hoạt động trong đêm của AC-130 khoảng 2-3 lần, mỗi lần kéo dài từ 2 - 3 giờ bay, túc trực trên không từ đầu tuyến đến cuối tuyến, đặc biệt ở Nam Bắc đường 9, không một đoàn xe nào đi trên đường trống trải mà không bị phát hiện và tấn công. Chúng bay ở độ cao 3 - 4km, chủ yếu dùng pháo 40mm bắn xuống sát thương trên xe cộ. Các đội xe khi gặp máy bay AC-130, dù đã tắt đèn để chạy vẫn bị chúng phát hiện và bắn trúng. Trong số xe bị bắn hỏng có 60 đến 70% do AC-130 gây ra. Số lái xe thương vong từ 10 đến 20%.

        Tiểu đoàn 67 từ khi bố tri ở trận địa Máy Húc đã đánh hai trận đúng đối tượng AC-130 được Bộ tư lệnh 559 công nhận bắn rơi một chiếc nhưng không rơi tại chỗ.

        Đánh máy bay AC-130 không dễ. Ban ngày OV-IO lượn lờ nhòm ngó, ngụy trang sơ hở một chút là bị máy bay cường kích đến ném bom. Ban đêm nó được máy bay tiêm kích đi hộ tống, lùng sục tìm rađa tên lửa phát sóng để phóng "sơ-rai".

        Nhiều tiểu đoàn tên lửa trước đây đã sang Tây Trường Sơn và các tiểu đoàn tên lửa 68, 69 của Trung đoàn 275 cũng đã bị "sơ-rai1? bắn hỏng khí tài, nên cán bộ và kíp chiến đấu Tiểu đoàn 67 cũng rất ngại "sơ-rai", cả hai trận đánh AC-130 đều dùng phương pháp bắn đuổi.

        Đồng chí Thân, trung đoàn trưởng Trung đoàn 275 rất trăn trở về hai trận bắn đuổi của Tiểu đoàn 67, đã cùng một số cán bộ xạ kích giỏi của Quân chủng, sư đoàn, nhà trường trực tiếp xuống đơn vị gặp cán bộ tiểu đoàn và kíp trắc thủ trao đổi, bàn bạc dân chủ, thống nhất cách đánh trong trận tiếp theo, hướng dẫn cho đơn vị sử dụng phương pháp điều khiển, chế độ ngòi nổ phù hợp với đặc điểm đánh đối tượng AC-130 có tốc độ chậm, nhắc anh em về truyền thống đánh nhanh, đánh có chuẩn bị của đơn vị, cảnh giác đề phòng địch phóng "sơ rai", đưa mọi công tác chuẩn bị trực tiếp lên giai đoạn chuẩn bị trước, tận dụng các phần tử của đài rađa nhìn vòng, rút ngắn thời gian phát sóng của đài điều khiển, phóng nhanh khi phát hiện được mục tiêu...

        3 giờ sáng ngày 29-3-1972, Tiểu đoàn 67 chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu 4 bệ, 4 đạn, 3 rãnh, khí tài tốt. Kíp chiến đấu số 1 do đồng chí Lành - Tiểu đoàn phó chỉ huy, đồng chí Bá - Sĩ quan điều khiển, các trắc thủ: Chàng - cự ly, Bằng - phương vị, Dương - góc tà, phát hiện một AC-130 từ phía Nam đường 9 bay lên. Theo phương án đã chuẩn bị, tiểu đoàn phóng hai quả tên lửa, dùng phương pháp bắn đón, đạn có điều khiển tốt, nổ trùm lên mục tiêu. Máy bay AC-130 rơi tại chỗ, cách trận địa khoảng lOkm. Đồng chí Lành đến tận nơi kiểm tra thấy có 13 nhân viên phi hành đoàn đã bị chết.

        Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên gửi ngay điện xuống biểu dương, tặng thưởng Tiểu đoàn 67 một chiếc đài bán dẫn National, một xe quà lấy ở Binh trạm 41 và đề nghị lên trên tặng thưởng cho đơn vị Huân chương

        Quân công hạng Nhì. Tư lệnh mặt trận Trị - Thiên Lê Trọng Tấn, Bộ Tư lệnh Quân chủng, Sư đoàn 377 và nhiều đơn vị khác đã gửi điện chúc mừng đến Trung đoàn 275.

        Lần đầu tiên bộ đội tên lửa bắn rơi tại chỗ máy bay AC-130 ở Tây Trường Sơn, đối thủ nguy hiểm nhất của tuyến chi viện chiến lược. Choáng váng trước sự uy hiếp của tên lửa, máy bay AC-130 phải ngừng hoạt động trên một khu vực rộng lớn của cửa khẩu vào đến Bạc trong 15 ngày, tạo điều kiện cho đội hình xe tiến công cả ngày và đêm trên cả đường "kín" và đường "hở". Hiệu suất vận chuyển tăng từ 3 đến 4 lần so với trước.

        Con "Át chủ bài" AC-130 bị đánh gục, bộ đội Trường Sơn đẩy cuộc "Tổng công kích" lên một cao trào mới. Hơn 40 tiểu đoàn xe tiến công dồn dập cả ngày và đêm. Nhiều đội hình được lệnh chạy thẳng từ đầu tuyến đến cuối tuyến.

        Chiến công của Tiểu đoàn 67 bắn rơi tại chỗ máy bay AC-130 là rất xuất sắc. Đây cũng là chiến công chung của tất cả cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 275 đã đổ máu, mồ hôi, công sức, vượt qua bao khó khăn nguy hiểm để kiểm tra, sửa chữa khí tài, tiếp tế đạn phục vụ cho tiểu đoàn đánh thắng. Nhiều anh em đã anh dũng hy sinh.

        Chiến công của Tiểu đoàn 67 cũng góp phần quan trọng cùng các lực lượng vận chuyển của Đoàn 559 tăng cường, chi viện hiệu quả cho chiến trường miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, thắng lớn trên các hướng chiến dịch Trị Thiên - Bắc Tây Nguyên - Đông Nam Bộ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #62 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2016, 08:45:13 pm »

        
NHỮNG KHÓ KHẢN, TRỞ NGẠI VÀ Ý CHÍ QUYẾT CHIẾN CỦA BỘ ĐỘI KHÔNG QUÂN TRONG TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG NĂM 1972

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên                    
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng        

        Trong cuộc chiến với không quân Mỹ bảo vệ miền Bắc và Hà Nội, lực lượng không quân của ta từ một trung đoàn đã phát triển thành Binh chủng Không quân trong đội hình chiến đấu của Quân chủng Phòng không - Không quân, bao gồm Binh chủng Tên lửa, Binh chủng Cao xạ, Binh chủng Rađa và Binh chủng Không quân.

        Trong 8 năm chống chiến tranh phá hoại, 4 binh chủng luôn luôn đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể như anh em ruột thịt trong một nhà; có thể nói đây là một mối quan hệ hiệp đồng mẫu mực nhất trong chiến tranh với tinh thần thực sự thương yêu và quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, chị ngã em nâng. Khi không quân gặp khó khăn, sân bay bị địch đánh phá, thời tiết xấu không cất cánh được thì bộ đội cao xạ, tên lửa dũng cảm đánh địch bảo vệ không quân. Khi bộ đội tên lửa, cao xạ bị đánh thì không quân tìm mọi cách bảo vệ trận địa tên lửa, cao xạ. Trong chiến đấu có những lúc bộ đội tên lửa gặp khó khăn do địch gây nhiễu nặng, không đánh được, bộ đội không quân đã tìm mọi biện pháp để bắn rơi máy bay gây nhiễu điện tử của địch, tạo điều kiện cho bộ đội tên lửa hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Nhờ sự đoàn kết gắn bó và hiệp đồng chặt chẽ với nhau cho nên Quân chủng Phòng không - Không quân của ta đã đánh thắng kẻ địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần, mà đỉnh cao là trận Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy cuối năm 1972 tiêu diệt hàng nghìn máy bay Mỹ và rút ra nhiều bài học kinh nghiêm quý báu.

        Mỹ là một tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực to lớn về quân sự - kinh tế và cũng là kẻ cổ đầu óc thực tế, cho nên trước khi bước vào trận quyết chiến trên không cuối cùng, Mỹ đã tính toán rất kỹ, chuẩn bị chu đáo, chúng đã gây cho ta không ít khó khăn, trở ngại, đặc biệt là đối với bộ đội không quân.

        Đêm 20-11-1971, phi công MiG-21 Vũ Đình Rạng đã dũng cảm vượt qua mọi khó khăn trở ngại, bắn bị thương nặng B-52 trên không phận đường Hồ Chí Minh ở miền Tây Quảng Bình. Đây là thắng lợi bước đầu của bộ đội không quân trong nhiều năm tìm kiếm và tiêu diệt máy bay chiến lược B-52 của Mỹ, nhưng đây cũng là một sự cảnh báo để Mỹ tìm mọi cách đối phó cao nhất với không quân ta, khi chúng mở ra chiến dịch tập kích đường không chiến lược của B-52 đánh phá Hà Nội...

        Trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không", bộ đội không quân có 4 khó khăn lớn nhất làm ảnh hưởng đến hiệu quả chiến đấu như sau:

        Khó khăn lớn nhất mà không quân ta vấp phải là căn cứ cất hạ cánh. Mỹ đã tập trung một lực lượng lớn máy bay chiến dịch, chiến thuật và cả B-52 đồng thời đánh phá ác liệt vào các sân bay của ta, làm cho ta không cất cánh được lên trời để ngăn chặn B-52. Sân bay là mục tiêu lớn, cố định Mỹ đã trinh sát đi lại nhiều lần cho nên ta rất khó bảo vệ.

        Khó khăn thứ hai của không quân là làm thế nào để phát hiện được chính xác B-52 từ xa trong điều kiện địch gây nhiễu rất nặng và cất cánh chiến đấu ban đêm thời tiết xấu. Khi cho B-52 đánh vào Hà Nội, địch đã tổ chức gây nhiễu mạnh nhất và đày đặc nhất làm cho rađa khó tìm ra được mục tiêu B-52 trên màn hiện sóng. Đây là khó khăn của cả rađa cảnh giới, dẫn đường, rađa điều khiển của tên lửa và rađa ngắm bắn trên máy bay ta.

        Khó khăn thứ ba của không quân, nếu ta cất cánh lên được thì làm thế nào để tiếp cận được B-52 trong điều kiện đội hình B-52 có các máy bay tiêm kích yểm hộ dày đặc. Khi dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Mỹ đã có kế hoạch yểm hộ rất chặt chẽ, bao gồm yểm hộ trực tiếp đi cùng B-52 và yểm hộ khu vực trên các vị trí mà ta bay lên để từ đó tiếp cận B-52. Không quân ta muốn đánh B-52 cách Hà Nội từ 80 km đến l00 km thì khi đội hình B-52 còn cách Hà Nội hơn 200km máy bay ta đã phải cất cánh và lấy độ cao lO.OOOm để tiếp cận đội hình bay của B-52. Khi ta bay lên được độ cao 3000m đến 4000m, cách B-52 khoảng 70km - 80km thì hàng chục rađa của hải quân Mỹ ở biển Đông chõ vào đã phát hiện được MiG, chúng lập tức thông báo cho các máy bay tiêm kích yểm hộ B-52 biết tọa độ của MiG để tổ chức ngăn chặn, không cho ta tiếp cận được B-52.

        Khó khăn thứ tư của không quân trong thời điểm chiến dịch phòng không cuối tháng 12, là tháng thời tiết xấu nhất, ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của không quân, nhất là ban đêm. Đối với địch, chúng không bị ảnh hưởng nhiều vì B-52 bay và ném bom theo hệ thống đài dẫn đường tính toán, và ném từ độ cao 8.000 - l0.000 m. Còn ta thì phải cất hạ cánh xuyên qua mây, không phải phi công nào cũng làm được và cũng không thể tung lên trời nhiều máy bay cùng một lúc. Đây cũng là một khó khăn khách quan mà không quân ta khó khắc phục.

        Bốn khó khăn trên gây cản trở cho không quân ta tưởng như không thể vượt qua. Nhưng với kinh nghiệm chiến đấu đã tích lũy và tinh thần hy sinh, dũng cảm cao của đội ngũ người lái và cán bộ, chiến sĩ trong toàn binh chủng, bộ đội không quân đã vì Hà Nội, vì Tổ quốc thân yêu mà vượt qua được. Ngay từ những ngày đầu của chiến dịch, không quân ta đã tìm mọi cách khắc phục và đã có mặt trên bầu trời, tuy chưa bắn được B-52 từ những giây phút đầu tiên như mong muốn, nhưng cũng đã làm cho địch phải phân tán đối phó, tạo ra những kẽ hở cần thiết để bộ đội tên lửa có điều kiện tiêu diệt B-52. Bộ đội không quân còn được giao nhiệm vụ đánh địch ban ngày cùng với bộ đội cao xạ, bảo vệ vững chắc các trận địa tên lửa trong 12 ngày đêm chiến dịch.

        Đêm 27 và 28-12-1972, phi công Phạm Tuân và phi công Vũ Xuân Thiều đã cất cánh bắn rơi được 2 B-52 từ sân bay vòng ngoài (Yên Bái) và sân bay dã chiến bí mật (Cẩm Thủy), là một nỗ lực to lớn. Không quân trong chiến dịch phòng không đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử: "Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 của Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Với thành tích khiêm tốn nhưng đầy khó khăn của không quân, tuy chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của binh chủng và của nhân dân cả nước nhưng cũng đã rút ra được nhiều bài học quý báu mà chúng ta mãi mãi trân trọng và ghi nhớ trong chiến dịch này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #63 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2016, 07:14:48 am »

       
NHỮNG NGÀY ĐẦU TIÊN TRÊN CHIẾN TRƯỜNG "CÁN XOONG" KHU IV

Đại tá Lê Đức Khuê                    
Nguyên sĩ quan tham mưu Quân chủng        

        Khi địch tập trung đánh vùng "cán xoong” thì Trung đoàn 275 cũng đã thành là quân địa phương nên tình hình trên địa bàn cũng như địch tình chúng tôi nắm tương đối chắc hơn.

        Tháng 12 năm 1967 tôi ra Hà Nội dẫn Tiểu đoàn 68 lấy khí tài khôi phục từ A31 về. Trên đường qua phà Thiệu Hóa, tôi gặp Trung đoàn 234 cùng đi trên đường vào, có lẽ vào sân bay Vinh. Gặp đồng chí Cần, vốn là bạn thân từ lâu, tôi cởi mở bảo Cần: "Có hiểu rõ về đường không? Tớ vừa ra để kéo 68 vào đây". Đồng chí Cần bảo: "Mình có bản đồ rồi”. Tôi nghĩ: 'Đường trong chiến tranh thay đổi từng giờ, phải hết sức nhạy cảm”. Tôi bảo thêm: "Vào Vinh phải cẩn thận đấy”. Đồng chí Cần bảo: "Trung đoàn 57 mạnh lắm, không lo". Tôi đã trải qua các trung đoàn pháo- 37mm, 57mm, bây giờ ở tên lửa, thấy nói vậy trong lòng nghĩ: Chẳng có bài học nào hay hơn thực tiễn”. Tôi đứng chờ trên ngã ba Bôn, thấy xe tên lửa vào thì chặn lại hỏi: Nhớ đường chưa? "Rõ" và thế là cho đi. Hai hôm sau, chúng tôi đã tập kết tại Đông Hiếu rồi, chờ mãi mà không thấy đồng chí Cần vào. Quân Trung ương mới rời Thủ đô, hành quân chính quy, phải trinh sát cầu cống cẩn thận nên đi chậm.

        Không quân địch tích cực chuẩn bị chiến trường mới, có lẽ chúng phát hiện được ý định điều quân của chúng ta. Máy bay trinh sát hoạt động với cường độ cao, đặc biệt ngày 11/5/1968 lúc 12h30\ một A3J đã bay theo đường 38 qua sân bay Vinh. Đường bay này cách Tiểu đoàn 93 - 300m, cách Tiểu đoàn 68 là lOOOm, qua đội hình Trung đoàn 234. Lúc 16h30' ngày 11/5/68, 2 F4 bay theo hướng biển qua Phương Tích dọc đường 38, ngã 3 Nghi Văn và vòng về Truông Bồn ra biển. Không ngờ đây là hoạt động đầu tiên của địch mở trọng điểm mới tại ngã 3 Nghi Văn. Sau này hỏi lại nhiều người cũng biết hoạt động này nhưng không quan tấm. Tối đến, Sư đoàn 367 cho một xe con đưa đoàn cán bộ theo đường Nghi Vãn quay về Truông Bồn để xuống Vinh họp, trong khi đó đoàn cán bộ tiểu đoàn và trung đoàn đã tập trung tại Tiểu đoàn 91, trận địa Nghi Phong để chờ họp.

        Xe chở đoàn cán bộ đến Nghi Văn thì bị trúng bom từ trường. Toàn bộ đoàn hy sinh trong lúc tại Tiểu đoàn 91 tất cả cán bộ ngồi chờ mãi đến 1 giờ sáng mà không có tin tức gì. Hỏi sư đoàn thì được trả lời là đã đi lâu rồi. Nóng ruột quá, tôi triệu tập tất cả gồm: Tôi, đồng chí Thái Hiệp - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 69, Cao Biền - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 68, Khâm - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 93, Thị - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 91. Vốn quen biết nhau đã lâu khi tôi làm việc tại phòng 22. Tôi phát biểu như sau: "Ớ đây chỉ có tôi là cán bộ trung đoàn, tôi xin nêu vấn đề như sau: Địch phát hiện ý định của ta nên đang chuẩn bị tập trung đánh phá để loại tên lửa ra khỏi khu vực Vinh, tạo nên một khu vực rộng gồm cầu Cấm, phà Phương Tích, Truông Bồn, phà Nam Đàn, Bến Thủy để ngăn chặn vùng "cán xoong", không cho các phương tiện giao thông vượt qua khu vực này. Hiện nay Trung đoàn 275 có 2 tiểu đoàn thì Tiểu đoàn 69 đang định kỳ năm, Tiểu đoàn 68 mới vào, tham số không ổn định. Đồng chí Khâm báo cáo xem tình hình khí tài như thế nào?", Đồng chí Khâm cho biết ngày mai không chiến đấu được vì mới cho xe đi lấy emu tại Đông Hiếu và phải qua phà Phương Tích đang bị phong tỏa không thể về trong đêm được. Đồng chí Thị - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 91 cho biết khí tài chắp vá không đồng bộ, tham số luôn dao động không thể chiến đấu được. Như vậy toàn bộ khí tài không sẵn sàng chiến đấu, cần báo cáo sư đoàn nhưng trước hết đồng chi Khâm cần báo cáo kịp thời về trung đoàn cho tiểu đoàn sơ tán ngay, vì ngày mai chắc chắn địch sẽ đánh trả. đồng chí dùng tiếp sức của Tiểu đoàn 91 báo cáo ngay trung đoàn. Tuy nhiên không liên lạc được. Tôi nhắc lại nếu không được rút khỏi trận địa thì phải sơ tán đạn và kịp thời thông báo cho nhân dân để di chuyển đi xa.

        Tất cả thống nhất như thế và nhanh chóng trở về tiểu đoàn.

        Nghe nói khi về đến tiểu đoàn, đồng chí Khâm báo cáo xin ý kiến với trung đoàn trưởng thì được trả lời: Bất cứ giá nào phải ở lại để chiến đấu. Khi về đến SCH, tôi báo cáo sư đoàn toàn bộ tình hình. Đồng chí Phúc - Tham mưu trưởng về cao xạ là trực chỉ huy. Tôi nói bằng tiếng lóng: Thằng Khâm nhà ông Duệ bị "ốm nặng" các anh nên cho nó đi ra ngoài chữa bệnh (ý nói cho sơ tán). Ông Phúc nghe xong liền bảo: "Thằng Khâm là quân của ông Duệ có liên quan gì đến anh mà anh nói". Tôi bảo:  "Không liên quan nhưng chẳng thấy thế đành bảo bỏ qua à". Thật là giấu đầu hở đuôi, công việc chuẩn bi về thông tin là như vậy tất cả đều hướng ra biển và tha hồ nói, thế là các tàu chiến Mỹ với khí tài trinh sát điện tử hiện đại tha hồ thu tin tức đầy đủ.

        Thời gian trôi qua và tai họa đang đến 8h00 ngày 12/5/1968, Tiểu đoàn 93 đã hứng chịu nhiều đợt đánh phá đến 12h00, trên trung tâm trận địa chỉ còn lại mấy xác xe màu nâu đỏ ối sau khi đã cháy hết. Đáp lại, chỉ có tiểu đoàn cao xạ bảo vệ trực tiếp bắn lên nhưng không có kết quả. May thay, tiểu đoàn trưởng Khâm đã cho sơ tán hết đạn và thông báo cho nhân dân quanh xóm Nghi Trường sơ tán đi xa nên không có thương vong.

        Ngày hôm sau, theo dự kiến địch sẽ đánh Tiểu đoàn 68, chúng tôi cho sửa chữa hết sức nhưng vẫn không thể sẩn sàng chiến đấu được. Sư đoàn trưởng triệu tập tôi lên nhận lệnh, trước khi đi, tôi hội ý với chính ủy là hôm nay địch sẽ đánh Tiểu đoàn 68, anh tiếp tục báo cáo lên sư đoàn và xin cho Trung đoàn 234 tích cực yểm hộ cho Tiểu đoàn 68 nếu bị đánh, còn với Tiểu đoàn 68 nếu bị đánh mà khí tài vẫn hỏng, không đánh được thì có bao nhiêu đạn cho phóng hết và huy động cao xạ bắn mạnh vào.

        Tôi cùng với cậu liên lạc đi như chạy theo đường tắt và bơi qua sông để đến sư đoàn, nhưng lúc ấy chỉ huy sư đoàn đang giao ban. Tôi hô to xin được báo cáo khẩn cấp. Sư đoàn trưởng giơ tay hắt đi, bắt trực ban tiếp tục báo cáo. Hướng Vinh có tiếng pháo cao xạ bắn lên, linh tính báo cho tôi biết Tiểu đoàn 68 bi đánh rồi. Tôi rất bực tức nhưng đành chịu. Lại nhiều cán bộ và chiến sĩ hy sinh không đáng.

        Trên một chiến trường mới hình thành, công tác tham mưu có nhiều vấn đề cần nói và làm. Nhưng suy cho cùng chính là vai trò của người chỉ huy. Người chỉ huy có ý định tốt, luôn chỉ ra nhiều việc phải làm, nhưng quan trọng hơn lại là cấp dưới cần nắm chắc ý định và triển khai đúng mức. Không thể duy ý chí nhất là không nắm chắc được địch và thậm chí cả ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #64 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2016, 07:18:51 am »

        
LÀM THAM MƯU PHÁN ĐOÁN
TÌNH HUỐNG: 1, 2... KHẢ NĂNG?

Đại tá Lê Văn Thiêm                        
Nguyên Tham mưu phó Quân chủng PK-KQ        
Nguyên Tham mưu phố chiến dịch                
Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng                 
(Thượng Lào) 1971 -1972                    

        Những năm 1970 - 1971, tác chiến của quân ta ở mặt trận Thượng Lào lúng túng, không có bài bản rõ ràng. Nhìn vào bản đồ chiến sự, chỉ thấy như củ khoai sọ, không có điểm, diện, hướng chính, hướng phụ.

        Bộ chủ trương giúp Bộ Tư lệnh Thượng Lào tổ chức một chiến dịch tấn công quân Thái ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, có "bài bản" để đưa quân ta trưởng thành lên, tạo điều kiện chuyển biến mạnh ở chiến trường.

        Anh Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng được phái sang chiến trường chỉ đạo tác chiến. Bộ chỉ thị các quân binh chủng cử cán bộ sang tăng cường cho chiến trường Lào: Tôi đang làm Hiệu phó Trường Sĩ quan Phòng không ở Sơn Tây, được lệnh của Quân chủng sau 2 tiếng đồng hồ phải có mặt ở Hà Nội để nhận nhiệm vụ đi chiến trường.

        Sau một thòi gian chuẩn bị, triển khai lực lượng, xác định 2 giờ là giờ G, Sư đoàn 312 là chủ công bắt đầu nổ súng đánh vào cứ điểm Pu Tâng ở trung tâm cánh đồng Chum do quân Thái chiếm đóng. Sở chỉ huy mặt trận theo dõi các đơn vị chấp hành lệnh nổ súng tiến công. Sau chừng nửa giờ, tình hình chiến sự ở dưới báo cáo lên, không rõ ràng lắm. Bộ Tư lệnh chiến dịch đã có mặt đông đủ, đang cân nhắc đánh giá tình hình. Có mặt các anh Vũ Lập, Huỳnh Đắc Hương, Nguyễn Hữu An, Nam Hà, Dũng Mã.

        Ngoảnh lại phía sau thấy anh Lê Trọng Tấn khoác áo "Ba Lan" (trời khi đó rét đậm) đang nghe các ý kiến trao đổi. Bỗng anh Tấn bảo: "Thôi nhé, tôi hỏi Trưởng phòng Quân báo: Tình hình địch hiện nay thế nào? Dạ, báo cáo anh, có thể địch co cụm lại, cũng có thể rút lui... Anh Tấn bảo trưởng phòng Tác chiến: Ý kiến anh thế nào? Trưởng phòng Tác chiến ấp úng. Anh Tấn hỏi: Ý kiến Tham mưu trưởng Dũng Mã? Dạ, có khả năng... Anh Tấn bảo: Gọi sư đoàn trưởng 312 Hiền Trang - cầm máy nói chuyện: "A lô Tấn đây! Nghe rõ không. Địch bỏ chạy rồi đấy. Anh cho chuyển toàn bộ đội hình của sư đoàn sang truy kích địch. Xe tăng bật đèn sáng. Pháo binh chuyển lên chặn địch chạy về Sảm Thông. Toàn bộ đội hình ra khỏi công sự truy kích địch. Nếu anh để địch chạy thoát thì tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự và anh chịu trách nhiệm với lịch sử là đã để hơn 10 nghìn quân Thái chạy thoát". Nói xong anh Tấn ngoảnh lại nói với Bộ Tư lệnh chiến dịch: "Các anh theo dõi chấp hành lệnh ấy của tôi. Quả thật, địch đã bỏ chạy, chậm tí nữa thì chúng trốn vào rừng, cũng may là ta vẫn tiêu diệt và bắt sống được mấy nghìn".

        Trong buổi liên hoan sau thắng lợi, anh Lê Trọng Tấn lại chạm cốc với chúng tôi. Anh Tấn bảo: "Các cậu quen làm tham mưu phán đoán lúc nào cũng nói "nước đôi", ở thời cơ then chốt, người tham mưu phải khẳng định ý kiến của mình để giúp thủ trưởng nhanh chóng hạ quyết tâm. Tối hôm ấy, tớ cũng có nóng nảy, thôi xí xóa nhé!" Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Dũng Mã nói: "Theo anh, chúng tôi còn "méo mó nghề nghiệp", làm tham mưu lúc nào cũng phải phát biểu có nhiều khả năng. Đêm hôm ấy nếu không có nhận định nhanh chóng và quyết tâm chuyển hướng truy kích địch của anh thì đã lỡ thời cơ diệt địch. Xin cảm ơn anh đã cho chúng tôi một bài học sâu sắc khi làm tham mưu phán đoán tình hình và đề đạt quyết tâm với người chỉ huy”.

        Thật ra anh Lê Trọng Tấn cũng không có thông tin nào khác về tình hình. Nhưng do có kinh nghiệm chiến trường, hiểu đặc điểm của quân Thái trên chiến trường Lào, do có trách nhiệm cao, có tác phong quyết đoán nên ở thời cơ then chốt, đã nhanh chóng nhận định tình hình chính xác và đề ra quyết tâm đúng đắn.

        Trong chỉ huy quân sự cũng như trong một số ngành nghề khác, ở một số người có trách nhiệm cao, có kinh nghiệm, có tư duy phán đoán tốt như người công an hỏi cung, người thẩm phán xử án, người thầy thuốc chẩn đoán bệnh... có thể có "'giác quan thứ 6", có thể "linh cảm", phán đoán đúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #65 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2016, 07:21:44 am »

        
ĐÔI ĐIỀU TÂM ĐẮC

Đại tá Nguyễn Đình Hậu                    
Nguyên Trưởng Phòng Quân lực Quân chủng        

        Hơn 10 năm phục vụ ở cơ quan tham mưu Quân chủng qua các cương vị trợ lý tác chiến, trợ lý Quân huấn, trưởng phòng Quân lực, Phó cục trưởng Cục Huấn luyện và Nhà trường, đối với tôi có nhiều dấu ấn và kỷ niệm khó quên. Dấu ấn sâu đậm nhất trong tôi, vẫn là niềm tự hào về một tập thể Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân đoàn kết gắn bó trên dưới một lòng, trung thành tuyệt đối, tận tụy và sáng tạo đã phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực thi nhiệm vụ, thực sự là cánh tay đắc lực của lãnh đạo và chỉ huy Quân chủng trong tác chiến huấn luyện và xây dựng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

        Cán bộ chủ trì của Bộ Tham mưu không chỉ là những người dày dạn có nhiều thành tích trong chiến đấu, mà còn là những người có tác phong sâu sát, nhạy bén, sống có đức độ, nên đã tạo được mối quan hệ gắn bó trong nội bộ. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan tham mưu PK-KQ qua các thời kỳ.

        Các cơ quan trong Bộ Tham mưu Quân chủng từ phòng Tác chiến, Quân huấn, Quân báo... đến các phòng Thông tin, Khí tượng, Công binh, Quân lực... và các đơn vị trực thuộc đều là những tập thể mạnh, có trình độ, có sự đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ trong thực thi nhiệm vụ cũng là một trong những ấn tượng sâu đậm trong tôi.

        Là người đã làm nhiệm vụ trợ lý tham mưu và cũng là người đã qua cương vị chỉ huy tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn tôi có 2 điều tâm đắc:

        1. Đã là cán bộ tham mưu thì bất luận ở cấp nào đều phải thể hiện mình là người có bản lĩnh vững vàng và tác phong tốt - cân nhắc suy nghĩ chín chắn trong mọi việc, mạnh dạn và chủ động đề xuất góp ý với người chỉ huy, không làm việc một cách máy móc, thụ động, người chỉ huy bảo gì làm nấy - đồng thời phải luôn sâu sát đơn vị, giải quyết mọi việc với ý thức thận trọng, chính xác. Đặc biệt, khi gặp trường hợp ý kiến chỉ đạo của thủ trưởng chưa đúng, cần phải vì lợi ích chung mà khiêm tốn trình bày, lý giải và kiên trì thuyết phục.

        2. Muốn phát huy được khả năng và trách nhiệm của cơ quan, người chỉ huy phải chăm lo xây dựng cơ quan vững mạnh toàn diện - ngoài lập trường quan điểm và ý thức trách nhiệm, cán bộ nhân viên cơ quan phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có năng lực theo dõi chỉ đạo đơn vị tốt. Đặc biệt, phải có tác phong quần chúng sâu sát, lắng nghe, tôn trọng ý kiến của cán bộ nhân viên thuộc quyền, tạo cho được sự đoàn kết, gắn bó trong nội bộ làm cho cơ quan thực sự là một tập thể thống nhất cao.

        Tôi nghĩ rằng 2 điều nêu trên là tiêu chí hàng đầu và là yếu tố có tính quyết định đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của một cơ quan tham mưu.

        Mừng kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Quân chủng PK-KQ anh hùng, xin có đôi lời trao đổi cùng bạn bè, đồng chí.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #66 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2016, 07:24:56 am »


 
TRINH SÁT NHIỄU TRONG CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

Trung tướng Phan Thu                 
Nguyên cán bộ tham mưu Quân chủng       

        Trinh sát nhiễu là một lĩnh vực của trinh sát điện tử mà Quân chủng PK-KQ đã sử dụng có hiệu quả để nghiên cứu nhiễu và chống nhiễu.

        Trong chiến tranh phá hoại ra miền Bắc nước ta từ 1964 đến 1972, đế quốc Mỹ rất coi trọng thủ đoạn đấu tranh điện tử mà trọng điểm là gây nhiễu các loại rađa của ta. Thủ đoạn gây nhiễu của địch ngày càng tinh vi hơn. Từ thủ đoạn thuần túy gây nhiễu tiêu cực, địch đã kết hợp gây nhiễu tiêu cực và gây nhiễu tích cực. Từ thủ đoạn chỉ gây nhiễu ngoài đội hình để yểm trợ cho các máy bay vào trinh sát, đánh phá các mục tiêu nằm sâu trong đất liền, địch đã phát triển gây nhiễu trong đội hình phát ra từ các máy gây nhiễu được đeo dưới bụng máy bay và phối hợp gây nhiễu ngoài đội hình và gây nhiễu trong đội hình. Từ thủ đoạn gây nhiễu ngụy trang để che lấp mục tiêu, địch đã sử dụng thủ đoạn gây nhiễu xung trả lời, tạo mục tiêu giả để đánh lừa hoặc làm sai lệch tọa độ mục tiêu. Cường độ nhiễu ngày càng mạnh và thủ đoạn gây nhiễu ngày càng tinh vi phức tạp. Đỉnh điểm của thủ đoạn gây nhiễu của Mỹ, xảy ra khi chúng leo thang chiến tranh ờ nấc thang cao nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, ra bắn phá Hà Nội vào cuối năm 1967, đầu năm 1968, với thủ đoạn gây nhiễu rãnh đạn tên lửa.

        Cũng vào khoảng thời gian này, ngày 10/01/1967, đồng chí Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ ký quyết định thành lập Đội nhiễu, với chức năng trinh sát nhiễu điện tử, do Không quân Mỹ gây ra, nghiên cứu phân tích nhiễu và chống nhiễu. Tình thế nào dẫn đến việc ra đời Đội nhiễu, một đơn vị KTQS chuyên ngành về tác chiến điện tử của nước ta?

        - Thứ nhất là do thủ đoạn gây nhiễu của Mỹ đã làm ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả chiến đấu của lực lượng PK của ta. Đây là đòi hỏi khách quan, và chính đó là điều kiện cần để ra đời của Đội nhiễu.

        - Thứ hai là từ đầu năm 1967, Liên Xô rất muốn sang chiến trường Việt Nam để tìm hiểu về nhiễu của Mỹ, có đề nghị với Chính phủ ta cho Liên Xô đưa sang Việt Nam một đoàn cán bộ khoa học của Trung tâm nghiên cứu đấu tranh điện tử của quân đội Liên Xô gồm 4 người do trung tá phó tiến sĩ Sha-ri-cốp dẫn đầu, có mang theo các thiết bị trinh sát điện tử và phân tích tín hiệu. Cuối năm 1967 khi đoàn chuyên gia Liên Xô về nước đã để lại cho ta đồng bộ tất cả các thiết bị đó. Đây là điều kiện đủ để Đội nhiễu ra đời.

        Một may mắn nữa đến với chúng ta, đó là do sau chuyến khảo sát nghiên cứu khoa học có kết quả về chiến tranh điện tử mà Mỹ sử dụng ở Việt Nam của đoàn cán bộ khoa học Liên Xô trong năm 1967, đến năm 1969 Liên Xô lại đưa sang Việt Nam một đoàn cán bộ khoa học thứ 2 do đại tá Kô-dơ-lốp dẫn đầu với nhiều thiết bị trinh sát điện tử và phân tích tín hiệu; ngoài ra còn có một số thiết bị trinh sát rađa làm việc ở dải sóng centimét để trinh sát hệ thống các thiết bị điện tử trên các loại máy bay của quân đội Mỹ. Điều này đã tạo thêm điều kiện đủ chúng ta phát triển Đội nhiễu thành Tiểu đoàn nhiễu, mang phiên hiệu là tiểu đoàn 8.

        Tháng 6/1967, khi máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang ở Hà Nội, Đội nhiễu đã bắt đầu mở máy làm việc, thu thập các tần số gây nhiễu của địch. Thành tích đầu tiên của Đội nhiễu là đã đo đạc được tham số của nhiễu rãnh đạn tên lửa, khẳng định thủ đoạn này của máy bay Mỹ, giúp cho các chuyên gia Liên Xô tìm nguyên nhân nhiễu rãnh đạn tên lửa, làm cơ sở để cải tiến chống nhiễu rãnh đạn thành công.

        Cuối năm 1968, Mỹ xuống thang chiến tranh, chỉ đánh phá từ vĩ tuyến 17 trở vào. Đề phòng địch có thể đánh trở lại, kể cả việc sử dụng máy bay B-52, BTL Quân chủng chỉ thị cho Đội nhiễu cơ động vào phía trong trinh sát tìm hiểu thêm về nhiễu của địch, đặc biệt đối với nhiễu của máy bay B-52 khi B-52 vào đánh phá đường vận chuyển 559. Lúc đó tôi là đội trưởng Đội nhiễu đã tổ chức một bộ phận gọn nhẹ, vào bố trí tại Vĩnh Nam, Vĩnh Linh, sau đó lên bố trí tại km 54 đường 20 bên cạnh trạm quan sát mắt 25 ở Cà-Ròn. Những đồng chí cùng đi với tôi, phải kể đến các đồng chí Đặng Đình Vinh, Hoàng Văn Khoa, Phan Huy Thuần, Lưu Công Hưng, Nguyễn Vãn Khảm...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #67 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2016, 07:26:50 am »

        Nhiệm vụ đội trinh sát nhiễu ở Cà-Ròn được xác định như sau:

        1. Trực ban 24/24 tiếng đồng hồ trong ngày, phục vụ Bộ tư lệnh Quân chủng nắm tình hình trên không qua các thủ đoạn gây nhiễu và các tín hiệu VTĐ khác của máy bay Mỹ - Báo cáo qua máy 50W về Quân chủng, ban ngày 3 lần: 6 giờ, 9 giờ, 15 giờ và ban đêm 2 lần: 21 giờ và 3 giờ sáng.

        2. Nghiên cứu quy luật hoạt động về nhiễu của địch, dự đoán thời điểm máy bay B-52 ném bom để báo động cho các trọng điểm trên tuyến đường vận chuyển.

        3. Phục vụ các đơn vị trên tuyến đường như: Bộ tư lệnh -559, Binh trạm 14, Trung đoàn 280, Trung đoàn 290, Sư đoàn 367 và bộ phận trực của KQ ta, khi có triệu chứng máy bay B-52 vào đánh. Các thông báo này đồng thời được báo ngay về Quân chủng. Quân số Đội nhiễu cũng được tăng cường thêm 9 đồng chí của Không quân. Đó là Đại úy Lê Tiến Đức, Thiếu úy Đặng Quang Nhượng, 2 đồng chí chỉ huy không quân và 5 đồng chí thông tin. Tổng quân số của Đoàn công tác hỗn hợp này lên đến 30 người, được tổ chức thành một chi bộ ghép.

        Qua việc theo dõi, ghi chép và dùng phương pháp thống kê để phân tích, chúng tôi đã xác định được thời điểm xuất hiện máy bay B-52 được sớm từ 5 đến 10 phút, giúp cho việc sẵn sàng chiến đấu trên tuyến đường, báo động cho các lực lượng công binh, thanh niên xung phong đang sửa đường trên các trọng điểm vào nơi ẩn nấp và các đoàn xe ngừng qua các trọng điểm, nếu các đoàn xe đang trên trọng điểm hoặc mới ra khỏi trọng điểm thì phải nhanh chóng vượt xa các trọng điểm mà máy bay B-52 thường ném bom. Chúng tôi chỉ có thể thông báo, báo động đến các địa chỉ quy định, còn trách nhiệm báo động đến các trọng điểm thì các binh trạm sử dụng súng bắn theo dây chuyền.

        Tháng 10/1968, tôi được bổ nhiệm làm phó Phòng Khoa học quân sự -Bộ Tham mưu, tháng 9/1969, tôi được chuyển sang làm phó Phòng Quân báo và tháng 1/1970 được giao nhiệm vụ làm phó Phòng Quân báo kiêm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn nhiễu. Tiểu đoàn nhiễu, mang phiên hiệu là Tiểu đoàn 8, được BTL Quân chủng ra quyết định thành lập, do có các thiết bị được bổ sung, do hiệu quả trinh sát nhiễu và do yêu cầu của nhiệm vụ. Tiểu đoàn phó có các đồng chí Nguyễn Xuân Đại và Đặng Đình Vinh. Chính trị viên và chính trị viên phó tiểu đoàn là đồng chí Huỳnh Năm và đồng chí Tô Minh Thường. Tiểu đoàn 8 có 3 đại đội: Đại đội 52 bố trí trên đồi Phú Liễn - Kiến An; Đại đội 27 bố trí ở huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh; Đại đội 3 bố trí ở Cà-Ròn km 54 đường 20.

        Đại đội 3 là đại đội chủ lực của tiểu đoàn nên cán bộ tiểu đoàn thường xuyên thay nhau theo dõi chỉ đạo và cán bộ đại đội cũng luôn luôn được tăng cường. Cuối năm 1970, Đại đội 3 được lệnh cử một bộ phận cơ động gọi là bộ phận B5 do đồng chí La Văn Sàng phụ trách vào phối thuộc với BTL-559, trực tiếp nằm dưới sự chỉ đạo của Cục Tác chiến Phòng không do đồng chí Ngô Huy Biên làm cục trưởng, đã nhiều lần được Bộ tư lệnh 559 khen ngợi vì những kết quả thông báo chính xác thời điểm xuất hiện máy bay B-52 vào đánh các trọng điểm trên tuyến đường.

        Cũng trong mùa khô cuối năm 1970 đầu năm 1971, Tiểu đoàn tên lửa 84 trung đoàn 238 được đưa vào km 48 đường 20, phục kích đánh các tốp máy bay B-52 vào ném bom ngầm Tà-Lê, Đại đội 3 cũng đã phục vụ thông báo chính xác thời điểm máy bay B-52 xuất hiện để tiểu đoàn tên lửa 84 chuyển cấp mở máy bắt mục tiêu, Tiểu đoàn 84 đã bắt được máy bay B-52 ở cự ly 23km và cũng đã phóng đạn.

        Đại đội 52 và Đại đội 27 bố trí ở phía ngoài, trong thời gian này chủ yếu phục vụ Quân chủng đánh máy bay không người lái (KNL) nhờ các thiết bị trinh sát rađa POST-2M thu được các tín hiệu điều khiển của máy bay C-130 đối với máy bay KNL khi máy bay KNL rời khỏi rãnh phóng của máy bay C-130; cùng lúc đó Mỹ tăng cường cho mở thêm rađa trên hàng không mẫu hạm đã tạo nên những triệu chứng của việc xuất hiện máy bay KNL. Thời gian có thể thông báo sớm được khoảng 3 đến 5 phút trước khi máy bay KNL vào đến bờ biển, vì máy bay KNL bay thấp các rađa cảnh giới của ta rất khó phát hiện mục tiêu. Với thời gian như vậy cũng tạm đủ để lực lượng PK chuyển cấp và máy bay ta cất cánh sớm đến khu chờ, kịp đón bắn rơi máy bay KNL.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #68 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2016, 07:27:42 am »

        Ngoài kết quả hoạt động của các đại đội trinh sát thông qua các triệu chứng về nhiễu để báo động máy bay địch, các đại đội trinh sát nhiễu, với tư cách vốn là một cơ sở nghiên cứu khoa học nên đã thu thập, phân tích những tham số kỹ thuật của nhiễu giúp tên lửa góp phần vào việc chọn phương pháp thao tác của kíp trắc thủ để đánh địch trong điều kiện bị nhiễu nặng.

        Từ hiệu quả báo động máy bay địch thông qua các triệu chứng gây nhiễu, cuối năm 1971, các đại Đội nhiễu đã được đưa về phối thuộc với các trung đoàn rađa để góp phần bổ trợ cho việc phát hiện máy bay địch. Cụ thể Đại đội 52 được đưa về phối thuộc với Trung đoàn rađa 291; Đại đội 3 và Đại đội 27 được đưa về phối thuộc với Trung đoàn 290.

        Cuối năm 1972, khi Mỹ đưa máy bay B-52 ra tập kích chiến lược trong 12 ngày đêm vào Hà Nội, Hải Phòng, Đại đội 3, lúc này do đồng chí Nguyễn Ngọc Lương làm đại đội trưởng, cũng đã thông báo về các triệu chứng địch có thể đánh lớn miền Bắc và trong trận đầu ngày 18/12/1972, máy bay B-52 vào đánh Hà Nội, Đại đội 3 cũng báo động sớm thời điểm có máy bay B- 52 vào và đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

        Sau khi hòa bình lập lại trên cả nước năm 1975 và biến động về tổ chức của Quân chủng PK-KQ tách thành 2 Quân chủng năm 1977, Đại đội 3 và Đại đội 27 được sử dụng để thành lập Tiểu đoàn 127 và biên chế về cho Quân chủng Không quân. Quân chủng Phòng không được bổ sung một số trang thiết bị về tác chiến điện tử, năm 1978 thành lập Tiểu đoàn 878 và năm 1984 thành lập thêm Tiểu đoàn 884.

        Đến ngày 30/4/1992, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục Tác chiến điện tử và điều Tiểu đoàn 878 và Tiểu đoàn 884 từ Quân chủng Phòng không về trực thuộc Cục Tác chiến điện tử, Bộ Tổng tham mưu.

        Hiện nay, trong Quân chủng PK-KQ, Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu chỉ còn là cái bóng của chính mình trong Tiểu đoàn 127 hiện đang làm chức năng một trung tâm trinh sát kỹ thuật của Quân chủng. Hiện thân của Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu chỉ còn lại trong hội truyền thống các bạn chiến đấu cũ của Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu. Họ vẫn thường gặp mặt nhau hàng năm để ôn lại những ngày vất vả cùng nhau đứng trên mặt trận nghiên cứu nhiễu và chống nhiễu.

        Đội nhiễu và Tiểu đoàn nhiễu chỉ tồn tại tròn 10 năm (1967 - 1977), trong 10 năm ngắn ngủi, Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mở ra một loại hình trinh sát của Quân chủng PK-KQ, loại hình trinh sát nhiễu. Kế thừa Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu là những đơn vị mang tên khác, hoặc vẫn trực thuộc Quân chủng hoặc đã chuyển sang đơn vị khác với nhiều nhiệm vụ khác nhau. Sự tồn tại của Đội nhiễu và Tiểu đoàn nhiễu là sự thật lịch sử. Nó thực sự là một tổ chức trong Bộ Tham mưu Quân chủng. Tôi không hiểu vì lý do gì mà trong các tài liệu biên niên sự kiện cũng như tài liệu lịch sử của Bộ Tham mưu Quân chủng không có một dòng nào nói về tổ chức này. Tôi rất khó giải thích cho anh chí em đã từng làm việc và phục vụ chiến đấu trong Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu là tại sao lại như vậy? Tuy nhiên, hiện nay họ đều là các thành viên trong Hội truyền thống Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu, họ đã không hổ thẹn và rất tự hào về những gì mà họ đã đóng góp cho Quân chủng.

        Chúng tôi rất mong, các nhà viết sử, cũng như các vị nhân danh, nhân chứng lịch sử khi nói về các sự kiện lịch sử trong những lễ kỷ niệm, có liên quan đến việc nghiên cứu nhiễu và chống nhiễu, đừng quên sự tồn tại của một đơn vị trong đội hình chiến đấu của Quân chủng. Đó là Đội nhiễu, Tiểu đoàn nhiễu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25100


« Trả lời #69 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2016, 07:30:45 am »

         
SỞ CHỈ HUY TIỀN PHƯƠNG QUÂN CHỦNG TẠI SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT

Đại tá Nguyễn Bắc                         
Nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng       

        Sau khi giải phóng Sài Gòn, do đặc điểm tình hình mới, TL Lê Văn Tri và Chính ủy Hoàng Phương vào trực tiếp chỉ đạo các công việc PK ở miền Nam qua SCHTP Quân chủng tại sân bay Tân Sơn Nhất, dùng UH1, A37 truy quét bọn phỉ FULRO ở Tây Nguyên, bọn tàn quân ngụy ở các đảo xa. Điều chỉnh lực lượng PK toàn miền Nam, tổng kết PK trong chiến dịch HCM, tiếp quản cơ sở KQ ngụy phân loại máy bay để sử dụng, thu hồi tài liệu, thiết bị kỹ thuật...

        Trong khi ta đang quản lý sân bay thì Sở chỉ huy Oét molen (Westmoeland) của ngụy bị cháy, không rõ địch đốt hay ta làm cháy. Là Phó phòng SCHQC, tôi có ý định tháo gỡ các thiết bị của SCH này về lắp ráp vào SCH K14 của Quân chủng đang xây mới SCH K14 do chuyên gia Liên Xô thiết kế, chuyên gia Hungari lắp. Đặt thiết bị TT của Hungari, nếu có thiết bị chỉ huy của Mỹ thì trình độ chỉ huy ở K14 rất hiện đại.

        Tư lệnh Lê Văn Tri coi như tổn thất lớn về chỉ huy PK-KQ, do để cháy SCH Oét Molen. Xin ý kiến Tư lệnh, tôi và đồng chí Vừng đến gặp đại tá Trịnh Hảo Tâm, Trưởng khối chỉ huy ngụy (như trưởng phòng SCH của ta) đang cải tạo ở trại Long Thành, để khai thác về SCH này.

        SCH Oét Molen nằm ngầm dưới Trung tâm đào tạo chỉ huy TM không quân ngụy trong sân bay Tân Sơn Nhất. Các báo cáo tình huống đều thể hiện trên màn hình, xử lý tình huống trên máy tính. Đối thoại trên máy vô tuyến điện đều được mã hóa và ép tiếng, có độ bảo mật cao. Vì vậy số nhân viên trong SCH không nhiều, diện tích nhỏ, hẹp, nhưng bảo đảm chỉ huy nhanh chóng chính xác, thuận tiện. SCH có đường dây thẳng với Lầu Năm góc, liên lạc được với BTL Thái Bình Dương, Hạm đội 7, các bộ chỉ huy trong khối SEATO, các lực lượng Mỹ, ngụy tại Lào, Campuchia. Được bổ trợ về chuyên môn của Trung tâm không ảnh (ảnh chụp trên không do máy bay trinh sát đưa về từ các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia) và trung tâm không lưu (thu thập các hoạt động trên không của các loại máy bay quân sự, dân dụng...), nên SCH Oét Molen có thể chỉ đạo chiến lược, chỉ huy chiến dịch, chiến thuật, có thể chỉ huy đánh phá các mục tiêu ở miền Nam, miền Bắc Việt Nam, Lào, Campuchia...

        Trịnh Hảo Tâm đã vẽ lại sơ đồ mặt bằng SCH Oét Molen, còn về các thiết bị trong SCH trình bày còn thiếu sót. Đ/c Vừng - Trợ lý đã từng học 3 lần tại Hungari về thiết bị CN hiện đại và cách sử dụng nên am hiểu kỹ hơn, nên bổ sung cho Hảo Tâm về vấn đề này. Chỉ tiếc các thiết bị trong SCH Oét Molen đã bị cháy, ta lại không có kinh phí để mua và đáng tiếc hơn, 3 đồng chí trợ lý Vừng, Nhân, Lệ đã học 3 lần về thiết bị chỉ huy hiện đại của nước bạn, mà không có “đất dụng võ”...

        Chiều 7/5/1975, chúng tôi được dự cuộc gặp mặt giữa lãnh đạo Bộ và đại biểu các đơn vị chiến thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Bộ gồm các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an.

        Sau khi nói về tình hình, ý nghĩa, kết quả thắng lợi của chiến dịch, TTMT Văn Tiến Dũng đánh giá các lực lượng (xin nêu vắn tắt):

        - Các mũi tiến công, các đơn vị binh chủng hợp thành đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        - Không quân khắc phục mọi khó khăn, tham gia đúng thời gian của chiến dịch, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

        - Chỉ tiếc cho tên lửa tuy hành quân vất vả, nhưng lại không nổ súng chiến đấu. Nếu không có máy bay địch, chỉ cần phóng 1 - 2 quả tên lửa về phía Sài Gòn, cũng đã làm tròn nhiệm vụ.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhất trí với TTMT và nói thêm:

        - Vừa qua, mỗi lần giải phóng 1 tỉnh, các nhà báo muốn ca tụng là thắng lợi vĩ đại. Bộ Chính trị không đồng ý. Nhưng bây giờ dùng từ “vĩ đại” cho thắng lợi giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam là đúng tầm cỡ.

        - Chúng ta có lỗi với Bác Hồ, không thực hiện được ý nguyện của Bác muốn được vào miền Nam thăm đồng bào. Đến bây giờ giải phóng được miền Nam, thì Bác đã đi xa (Bộ trưởng nghẹn ngào nói về Bác, cả hội trường đều xúc động). Sau đó đồng chí Giáp tiếp tục nói.

        - Bây giờ ta phải bắt tay ngay vào xây dựng đất nước, xây dựng kinh tế. 10 năm nữa, các nước bạn đến thăm ta, họ sẽ không hỏi kinh nghiệm chiến tranh nữa, mà chỉ hỏi ta làm ăn ra sao? Đời sống có được nâng lên không?

        Về điều này, tôi thấy dự báo của Bác Giáp là chính xác. Ta nhớ năm 1985 (sau 10 năm từ 1975), đời sống nhân dân ta quá khó khăn, khốn cùng. Từ năm 1986 đến nay, ta có đường lối đổi mới, nên kinh tế mới đi lên như ngày nay.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM