Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Tám, 2019, 09:09:40 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vì bầu trời Tổ quốc thân yêu  (Đọc 19164 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #10 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 08:31:07 PM »

         
TÔI LÀ NGƯỜI LÍNH RA-ĐA ĐẦU TIÊN
CỦA BINH CHỦNG THÂN YÊU

PHAN THÁI                                      
Thiếu tướng - Nguyên trưởng phòng Ra-đa trinh sát        

        Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, để chuẩn bị đánh đêm và đánh ngày, thậm chí chiến đấu nhiều ngày đêm liên tục, Quân đội ta phải được trang bị vũ khí phòng không. Chúng tôi từ bộ binh chuyển sang cao xạ pháo, nhận những khẩu súng 12,7 và 37 ly phòng không vào giữa năm 1953 để thành lập các tiểu đoàn cao xạ pháo đầu tiên của Quân đội ta; các tiểu đoàn này xuất quân đi chiến dịch Điện Biên Phủ đã lập chiến công xuất sắc.

        Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các tiểu đoàn cao xạ 37 ly được điều về phối thuộc vào các sư đoàn bộ binh; một nửa đất nước được giải phóng, đoàn pháo cao xạ 367 được chuyển thành sư đoàn phòng không bảo vệ yếu địa, được trang bị hiện đại, cao xạ cỡ lớn, bắn bằng khí tài.

        Xây dựng đất nước trong hòa bình có lực lượng phòng không hiện đại đòi hỏi phải có phương tiện trinh sát trên không để quản lý không phận, Binh chủng Ra-đa trinh sát được ra đời làm nhiệm vụ phát hiện địch từ xa để thông báo cho lực lượng phòng không chiến đấu, đồng thời thông báo cho phòng không nhân dân để phòng tránh.

        Trong lúc quân và dân ta đang náo nức phấn khởi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Sư đoàn 367 đang học chuyển loại vũ khí mới ở Vai Cày (Thái Nguyên) thì tôi nhận được lệnh cấp tốc lên đường đi Trung Quốc để học về binh chủng mới: "Binh chủng Ra-đa trinh sát" ở Học viện Phòng không cao cấp Bắc Kinh. Như vậy tôi là anh lính đầu tiên của Quân đội ta được học về ra-đa trinh sát? Thật là vinh dự, nhưng cũng thật là khó khăn, vì gốc của tôi là anh bộ binh chân đất, được chuyển sang cao xạ pháo đã thấy khó khăn vất vả với món xạ kích, binh khí đến nay lại phải học về ra-đa đòi hỏi phải hiểu biết sâu về điện và vô tuyến điện mới tiếp thu được, cũng may là tôi có chút vốn liếng văn hóa học hồi Pháp thuộc nên cũng đỡ vất vả.

        Chỉ có điều khó là tôi phải ngồi học chung cùng lớp với "bạn", mà tôi lại chưa kịp học tiếng Trung Quốc, nên học phải qua phiên dịch theo kiểu dịch đuổi, những bài khó thì phải có hai phiên dịch, tôi ngồi giữa hai phiên dịch ngồi hai bên thay phiên nhau dịch "đuổi", nên ở trên lớp học tôi chỉ hiểu được khoảng 50%. Sau 5 - 6 tháng, tôi tranh thủ học tiếng Trung Quốc, nghe nhiều cũng quen, nghe trực tiếp tôi hiểu được tới 70%, hai đồng chí phiên dịch tập trung vào dịch tài liệu, kết hợp nghe giảng tại lớp và nghiên cứu tài liệu, cộng với sự nỗ lực cao độ học ngày học đêm. Theo quy định, nhà trường cứ 22 giờ trực ban bắt tất cả phải tắt đèn đi ngủ, tôi và đồng chí Tâm Trinh ngủ chung một buồng (đồng chí Tâm Trinh học chuyên về binh chủng đèn chiếu), tuy không bảo nhau mà mỗi người đều mua một chiếc đèn pin, đêm chui vào chăn học tới khuya, học chăm như vậy nên hiểu rất sâu và nhớ rất lâu, sau hai năm học, thi cuối khóa môn nào tôi và Tâm Trinh cũng đạt 5 điểm, đỗ nhất trường.

        Về trang bị ra-đa lúc bấy giờ Trung Quốc cũng chỉ mới có 2 loại chủ yếu là Π8 và 513K và học qua về 406, tôi được học kỹ hai loại Π8 và 513K và học qua về 406, sau này quân đội ta cũng được trang bị hai loại đó, lúc đó nó là loại vũ khí hiện đại nhất, nhưng đến nay nó đã loại khỏi trang bị của quân đội từ lâu rồi.

        Tôi học được 10 tháng thì được Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trong chuyến đi công tác ở Bắc Kinh có ghé vào thăm chúng tôi. Đồng chí có cho biết một tin làm tôi rất phấn khởi: ở trong nước Bộ Quốc phòng đã cho tổ chức một khung trung đoàn ra-đa đầu tiên, tập trung những anh em còn trẻ và có trình độ văn hóa từ lớp 4 trở lên để ôn tập và học thêm để chuẩn bị học về ra-đa.

        Tốt nghiệp ở trường Phòng không cao cấp Bắc Kinh về nước tôi được điều ngay xuống làm trung đoàn trưởng trung đoàn này (tên bí mật lúc đó gọi là tiểu đoàn 4) trung đoàn đóng quân ở gần thị xã Hà Đông bên bờ sông Nhuệ, khi tôi về nhận nhiệm vụ đã có các đồng chí: Trần Đình Cửu - Chính ủy, Hoàng Văn Thiêm - tham mưu trưởng, Hoàng Khoát - Chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Đình Sơn v.v...

        Nhiệm vụ của trung đoàn là tập trung vào học văn hóa nên được tổ chức thành các đại đội học từ lớp 4 đến lớp 7. Đó thực chất là lực lượng nòng cốt của Binh chủng Ra-đa sau này.

        Để chuẩn bị chuyển binh chủng, tôi được giao nhiệm vụ mở một lớp học binh khí kỹ thuật ra-đa Π8 cho các đồng chí, mà sau này sẽ là đại đội trưởng, đại đội phó kỹ thuật, trợ lý cơ quan và trạm sửa chữa, lớp học được tổ chức ở sân bay Gia Lâm, tôi và đồng chí Vương (chuyên gia Trung Quốc) chịu trách nhiệm giảng dạy cả khóa. Bài mà tôi giảng đầu tiên là bài: Tính năng kỹ chiến thuật và sơ đồ chức năng, bài tiếp là bài máy thu.

        Lớp học này kết thúc thì trung đoàn chuyển sang học chuyên môn kỹ thuật do các đồng chí học lớp trước giảng dạy trực tiếp cho anh em của đơn vị mình.

        Để chuẩn bị triển khai chiến đấu, cơ quan binh chủng được hình thành gồm có phòng ra-đa trinh sát và tổng trạm tình báo, tôi được quyết định làm trưởng phòng đồng thời là chủ nhiệm của binh chủng.

        Những ngày đầu, năm đầu triển khai xây dựng một binh chủng mới mẻ thật là đẹp đẽ và hào hùng, và cũng thật là đẹp trong ngày đầu của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không (ngày 18 tháng 12 năm 1972) mạng lưới ra-đa trinh sát trên không đã phát hiện B-52 từ xa, đảm bảo trước cho tên lửa Hà Nội, thời gian 35 phút. Những chiếc B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội có sự đóng góp công sức rất lớn của các chiến binh ra-đa thân yêu. Khi vào thăm chỉ huy sở của bộ đội ra-đa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã xúc động thay mặt Đảng và Chính phủ biểu dương chiến công này của bộ đội ra-đa (ngày 22 tháng 12 năm 1972).

        Tôi và nhiều anh em ở Binh chủng Ra-đa này từ những ngày đầu xây dựng, đến nay tuy không còn công tác nữa, nhưng rất vinh dự và tự hào về Binh chủng Ra- đa thân yêu của mình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #11 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 08:40:24 PM »

        
THỜI KỲ CÔNG TRƯỜNG 300

LƯƠNG HỮU SẮT                                
Trung tướng - Nguyên Tư lệnh Binh chủng Ra-đa        

        Ngày 4-4-1965, suốt ngày tôi phải ở trong sở chỉ huy Trung đoàn 290. Máy bay của không quân và hải quân Mỹ mở các trận ném bom cầu Hàm Rồng. Đò Lèn trên quốc lộ 1 suốt từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh. Sau khi bàn giao chiến đấu xong, bỗng có điện thoại từ sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân gọi gặp tôi để truyền đạt mệnh lệnh. Tôi vội đến nghe. Người nói đầu máy kia là anh Việt, trưởng phòng Cán bộ của Quân chủng truyền đạt mệnh lệnh điều động: "Theo lệnh của Tư lệnh Quân chủng, đồng chí Lương Hưu Sắt - trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn 290 về Quân chủng nhận nhiệm vụ mới, bàn giao công việc lại cho trung đoàn phó Bùi Đình Cường. Ngày 6 tháng 4 năm 1965 phải có mặt tại Quân chủng". Tôi ngạc nhiên và giật mình vì tình hình hiện nay rất căng thẳng, trên không lúc nào cũng có tình huống khẩn trương, toàn khu vực của trung đoàn phụ trách từ Vĩnh Linh đến Nghệ An địch đánh phá liên tiếp và ác liệt. Tôi vội hỏi anh Việt một cách không đúng nguyên tắc lắm: "Trong này công tác chiến đấu của trung đoàn liên tục và phức tạp không biết có việc gì mà ra gấp như vậy". Anh Việt cười: "Ngoài này lại càng nhiều việc hơn, ra gặp Tư lệnh Quân chủng rồi anh sẽ biết, nói chuyện trên máy điện thoại không tiện, yêu cầu anh ra đúng thời hạn quy định.

        Tôi buông máy bần thần nghĩ ngợi, ra đi lúc trung đoàn rất khó khăn, nhưng đành phải chịu, mệnh lệnh là phải chấp hành. Tôi ra ngoài sở chỉ huy gặp anh Tuất, Chính ủy trung đoàn, tôi truyền đạt lại mệnh lệnh điều động của Quân chủng và nói: "Do thời gian rất gấp, vì vậy nên bàn giao công việc chiều nay cho xong. Tối nay tôi sẽ lên đường, vì đường xá cầu cống địch đều đánh phá nên chưa biết có thông suốt được không". Anh Tuất, anh Cường, anh Hóa đều đồng ý như vậy, nên gọi các cơ quan tham mưu, hậu cần, kỹ thuật đưa sổ sách báo cáo để tổng hợp lại những vấn đề lớn. Tất cả đều rõ ràng nhất là vấn đề tài chính, hậu cần đều không có vấn đề gì thắc mắc. 19 giờ ký biên bản và ăn cơm. Trong lúc bàn giao anh Tuất đã cho anh em làm thịt một con gà tăng gia để liên hoan nhỏ giữa bốn chúng tôi, thời chiến không thể làm rùm beng. Anh Tuất, anh Cường, anh Hóa chúc tôi lên đường mạnh khỏe. Tình cảm gắn bó với nhau suốt thời kỳ đầu xây dựng trung đoàn 290 cho đến ngày nay rất mật thiết và sâu sắc.

        Trước lúc tôi lên đường, ban chỉ huy đại đội 8, đơn vị phụ trách sở chỉ huy của trung đoàn lên đề nghị "Anh em chiến sĩ nghe tin thủ trưởng dời khỏi trung đoàn nên đã tập hợp để chào thủ trưởng, yêu cầu anh nói chuyện với anh em và dặn dò anh em trước lúc lên đường". Thời gian còn lại rất ít, tuy vậy anh em đã tập hợp rồi tôi vội chào các anh Tuất, Cường, Hóa và đi theo anh em ban chỉ huy đại đội 8. Xuống dưới chân núi Quyết đã thấy cán bộ chiến sĩ, các đồng chí nuôi quân, báo vụ, tiêu đồ, ghi chép đến rất đông đủ, trừ các đồng chí đang trực ban chiến đấu. Tôi nói rõ tình hình trung đoàn, chúc anh em ở lại mạnh khỏe, chiến đấu lâu dài, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tôi cũng hứa dù đi bất cứ đâu cũng làm tốt công việc và luôn nhớ đến các đồng chí đại đội 8, nhớ đến trung đoàn 290, những người cùng xây dựng và chiến đấu trong những năm hòa bình và những năm chiến tranh vừa qua. Anh Ưu đại đội trưởng thay mặt anh em chúc "Thủ trưởng lên đường mạnh khỏe và luôn nhớ đến các anh em đại đội 8, những người cán bộ chiến sĩ đã gắn bó với thủ trưởng gần 5 năm nay, trong công tác và sinh hoạt hàng ngày của trung đoàn".

        Tôi rời khỏi núi Quyết về lại doanh trại cũ của trung đoàn. Những ngày hòa bình tôi đã sống ở đây. Đèn điện vẫn sáng, doanh trại im lìm vắng vẻ vì bộ đội đã di chuyển lên chỗ mới. Tôi thu xếp đồ đạc còn lại, không có gì nhiều: Một ba lô quần áo và chăn màn, một ít sách. Tất cả để lên xe con. Tôi đứng tần ngần trước nhà ban chỉ huy trung đoàn, nhìn hai nhà lầu hai tầng của cơ quan trung đoàn và đại đội 8, nhìn nhà ăn, nhà xe, sở chỉ huy, nhìn sân duyệt đội ngũ. Hai hàng cây phi lao chạy suốt xung quanh sân đã cao lên đến nóc nhà, chen nhau xanh um. Đầu những năm 60 anh em đã trồng trong suốt những mùa "trồng cây", bây giờ rất đẹp nhưng chiến tranh thì không biết có còn được như thế này nữa không.

        Tôi lên xe lúc 10 giờ đêm. Xe chạy qua thành phố Vinh đến cầu Cấm thì người gác cầu báo "Cầu bị đánh hỏng lúc 15 giờ chiều nay, không đi được nữa". Tôi xem bản đồ xong bàn với đồng chí Anh lái xe con và đồng chí trợ lý xe đi cùng ra Hà Nội "Bây giờ quay lại phà Phương Tích, lên gần Đô Lương ra Diễn Châu lại tiếp tục đi đường 1".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #12 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 08:46:58 PM »

        Chúng tôi quay ngược về Vinh, đến ngã ba rẽ về phà Phương Tích rồi đi Diễn Châu, theo đường 1 ra đến Hoàng Mai. Cầu Hoàng Mai lại bị địch đánh hỏng. Thật khó khăn. Tôi lại xem bản đồ rồi bàn với anh em "Bây giờ quay lại thị trấn cầu Giát, rẽ ra ngã ba Tuần, lên Nghĩa Đàn, đi đường 15 ra nông trường Sao Vàng ở Thọ Xuân rồi xuống Hàm Rồng; xe quay lại đi ngược về cầu Giát và lên Nghĩa Đàn. Đường 15 mới làm mặc dù rải bằng cấp phối nhưng bằng phẳng nên đi rất nhanh. Chúng tôi vừa đi vừa hỏi đường, nhiều lúc phải gõ cửa trong đêm, nhưng nhân dân chỉ đường rất chu đáo. Ngày 5 tháng 4 chúng tôi đến nông trường Sao Vàng lúc 7 giờ sáng, 9 giờ tới Tứ Trụ. Trên trời máy bay địch quần đảo. Đồng bào hai bên đường khoát tay ra hiệu dừng lại. Đành phải dừng lại nghỉ để đêm đi tiếp vì lái xe đi suốt đêm đã mệt. Chúng tôi ghé vào một nhà dân, cho xe vào một gốc nhãn, bà con lấy 2 cái nong phơi lúa che lại. Mỗi người ăn 2 cái bánh chưng nhỏ mua dọc đường. Trước khi đi ngủ, đồng chí Hạt trợ lý đưa tiền cho gia đình nhờ mua gạo và thức ăn, nấu cho 3 xuất cơm để 3 giờ chiều có thể ăn và lên đường tiếp.

        Chúng tôi ngủ một mạch cho tới khi ông chủ nhà đánh thức dậy ăn cơm. Đã 3 giờ chiều rồi, cơm canh đã nấu sẵn, sau khi ăn cơm xong, chuẩn bị xe cộ chúng tôi cảm ơn và tạm biệt nhà chủ lên đường. Đi ban ngày rất nhanh, 17 giờ 30 phút chúng tôi đã đến Hàm Rồng, cầu không đổ xuống sông nhưng hư hỏng phải gia cố lại. Công nhân đang tập trung sửa chửa. Trong lúc chờ phà, xe đậu bên này sông trên đê phía Nam Ngạn, người đứng đông như hội. Đó là buổi tiễn đưa anh em lính cũ lên đường tái ngũ. Anh tiễn em, vợ tiễn chồng, cha tiễn con. Cảnh tiễn đưa này khiến tôi nhớ lại thời kỳ tháng 10 năm 1954, trên bến Bắc Cao Lãnh - Đồng Tháp Mười, bà con gia đình tiễn đưa con em ra tập kết ngoài Bắc mà tôi lúc đó là một cán bộ ở miền Nam ra tập kết. Bây giờ chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đã lan rộng ra trên miền Bắc. Lớp động viên đầu tiên để mở rộng quân đội trước hết là những người lính cũ. Tôi lắng nghe một người lính cũ trao đổi "Sau Điện Biên, mình ở bộ đội đến năm 1958, trên cho phục viên chuyển ngành đợt 8 vạn, mình vẫn ở lại chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp, đến năm 1960 mới về quê lấy vợ, đã có 1 con, bây giờ lại lên đường chiến đấu tiếp". Người lính ấy vẫn mặc bộ quân phục cũ thời sau Điện Biên trên vai có các đường may ghép vải. Sau này trong các đơn vị ở Quân chủng Phòng không - Không quân, các đồng chí sau khi tái ngũ đều được giao trách nhiệm cao hơn, cán bộ đại đội, cán bộ tiểu đoàn. Đó là những người lính đã được thử thách trong kháng chiến chống Pháp.

        Xe chúng tôi vượt phà Hàm Rồng và Đò Lèn, đến 21 giờ mới đi qua được huyện lị Hà Trung, tiếp tục qua Tam Điệp nhưng đến thị xã Ninh Bình thì trời mưa rất to Trận mưa dông đầu mùa, nước láng mặt phố rất khó đi Tôi nghĩ có lẽ nên nghỉ lại đây, mai đi sớm, nếu gắng đi đêm về Hà Nội cũng không có ích gì, vì có ai làm việc hành chính vào lúc 3 - 4 giờ sáng đâu. Chúng tôi đi qua khỏi thị xã Ninh Bình một đoạn rồi rẽ vào nhà dân xin nghỉ lại. May quá gặp một người dân đi cất vó về, đón cá trời mưa dông, anh ấy mời ngay vào nhà nghỉ lại.

        5 giờ 30' ngày 6 tháng 4 năm 1965 chúng tôi lên xe về Hà Nội, 8 giờ 30' đến nơi. Sở chỉ huy và cơ quan Quân chủng nhộn nhịp, khẩn trương. Vào gặp anh Việt phòng Cán bộ, tôi báo "Đã ra kịp đúng thời gian quy định, đề nghị anh báo cáo với Tư lệnh tôi xin gặp để nhận nhiệm vụ”. Anh nói "Xin đợi 10 phút để đi báo cáo”. Anh quay về bảo: "19 giờ tối nay anh vào gặp đồng chí Tư lệnh tại phòng làm việc của đồng chí ấy".

        Tôi về nhà, tắm giặt và ngủ một giấc cho tới chiều. 19 giờ tôi có mặt ở phòng làm việc của anh Phùng Thế Tài. Cùng gặp có anh Tuyến - Tham mưu phó và anh Việt Trưởng phòng Cán bộ. Tư lệnh Quân chủng nêu: "Hiện nay cần xây dựng lực lượng binh chủng mới, vì vậy cần đào tạo chuyển binh chủng cho 700 học viên các loại ra-đa và thông tin mới. Thời gian rất gấp, làm sao sau 3 tháng phải ra trường và sử dụng các trang bị mới một cách vững vàng. Vì vậy Quân chủng thành lập một trung tâm huấn luyện ra-đa và thông tin lấy tên là Công trường 300, với bên ngoài là "Công trường nghiên cứu gạch chịu lửa" để giữ bí mật. Quân chủng điều cậu về phụ trách chỉ huy công trường này. Cậu Võ Bá Ngần, phó phòng Thông tin của Quân chủng sẽ về làm phó chỉ huy công trường. Địa điểm của công trường sẽ ở Sơn Tây, trong doanh trại của trung đoàn 84 nay đã đi chiến đấu. Tại đó có 2 nhà 2 tầng và 60 gian nhà cho xe và pháo. Thời gian rất gấp, các cậu về đó chuẩn bị cho chu đáo làm sao ngày 1 tháng 5 khai giảng lớp đầu tiên được. Ngày mai các cậu làm việc với các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Quân chủng để nắm được các nội dung, thời gian và yêu cầu các cơ quan đó giải quyết các nhu cầu của lớp này. Một vấn đề khác nửa, ở công trường có các chuyên gia Liên Xô khá đông, cậu phải trao đổi với các đồng chí đó về chương trình, nội dung và phân chia các lớp cho phù hợp. Phải đoàn kết thật sự để lớp học đạt kết quả. Công tác đồi ngoại do phòng Đối ngoại và cơ quan hậu cần doanh trại lo". Anh nhắc lại câu cuối "ngày 1 tháng 5 phải khai giảng lớp học".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #13 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 08:53:20 PM »

        Hôm sau tôi làm việc với phòng Cán bộ để xin cán bộ, đó là việc đầu tiên, nhưng anh Việt lại sẵn sàng hơn, đã đưa cho tôi một danh sách điều động về công trường 300 hơn 30 cán bộ các ngành. Anh Việt còn giới thiệu trực tiếp tôi với anh Xuyên, thượng úy phụ trách tham mưu phó công trường và anh Phụng - Chủ nhiệm hậu cần. Tôi rất mừng vì đã có người cùng cộng tác. Tôi bàn với anh Phụng để anh sang Cục Hậu cần bàn trước về các tiêu chuẩn, hậu cần, tài chính, doanh trại và các doanh cụ cho 700 học viên, giáo viên, chuyên gia. Tôi và anh Xuyên sang làm việc với phòng Quân lực để biết số lượng học viên cần đào tạo. Các anh ấy đưa cho số lượng yêu cầu về trắc thủ, báo vụ tải ba và máy nổ các loại. Ngày 10 tháng 4 những học viên đầu tiên bắt đầu về công trường.

        Buổi chiều tôi cùng anh Xuyên tới nhà khách Bộ Quốc phòng làm việc với chuyên gia Liên Xô về chương trình chuyển loại các trang bị mới. Các đồng chí Liên Xô đã lên chương trình cho từng loại trang bị và cho từng học viên để ta nghiên cứu và cho ý kiến. Tôi hẹn họ đến ngày 10 tháng 4 sẽ gặp nhau tại công trường Sơn Tây để bàn về các chương trình đào tạo và nhà ở cho chuyên gia.

        Ngày 8 tháng 4 tôi và anh Xuyên, anh Phụng cùng một số cảnh vệ, quân y, doanh trại và một số dụng cụ bàn ghế, xoong chảo, phản nằm lên một chiếc xe tải đi Sơn Tây để tiếp quản doanh trại và ở luôn tại đấy. Cùng đi có các đồng chí trợ lý doanh trại của Cục Hậu cần lên xem xét thực tế. Chúng tôi quyết định cần phải cải tạo lại 2 nhà hai tầng và nhà ăn cho chuyên gia, cải tạo các nhà xe để làm lớp học. Anh Toàn trưởng phòng doanh trại Cục Hậu cần đã rất tích cực giải quyết cho công trường: Hàng ngàn giường nằm, mấy trăm bộ bàn học, sửa chữa lại các nhà cũ, làm thêm các nhà mới. Với khối lượng công việc lớn như thế mà anh giải quyết rất kịp thời. Mặc dù tuổi anh lúc đó cao hơn nhiều so với chúng tôi nhưng bao giờ anh cũng vui vẻ, phân công các đồng chí trợ lý làm việc rất hiệu quả.

        Việc trước tiên, chúng tôi nghiên cứu khu vực đóng quân. Doanh trại có 3 khu vực riêng biệt. Khu cơ quan có 2 nhà hai tầng. Khu bộ đội có 16 nhà cấp 4, lợp ngói, có trần và cửa sạch sẽ. Khu nhà xe pháo có hơn 80 gian. Chúng tôi quy hoạch lại doanh trại thành các khu: Khu chuyên gia, khu giảng đường và khu để khí tài có công sự, khu nhà ăn, khu nhà ở của học viên. Chúng tôi tổ chức ăn theo từng đại đội để khi cần dễ cơ động.

        Ngày 10 tháng 4 các cán bộ, học viên lần lượt tập trung đầy đủ. Công việc tiếp nhận được tổ chức chu đáo. Các bộ phận cán bộ, Đảng, Đoàn, hậu cần, tài chính đều phải làm việc ngay tại chỗ để tiếp nhận anh em kịp thời.

        Trong đoàn cán bộ có hơn 30 đồng chí phiên dịch. Đa số anh em đều được động viên từ các cơ quan Nhà nước, chưa quen quân ngũ, nên có rất nhiều tâm tư. Đồng chí Tấn, chuẩn úy, phụ trách phiên dịch đến báo cáo tình hình trên. Tôi phải họp với anh em nghe ý kiến trực tiếp, vừa giải thích thắc mắc, vừa giải quyết những đề nghị chính đáng cho anh em. Có 2 vấn đề lớn mà số đông anh em thắc mắc là tiền lương và nghỉ phép. Tiền lương của anh em, do coi như chuyển ngành sang bộ đội làm phiên dịch, vẫn giữ nguyên, lại còn được trợ cấp thêm về chuyên môn, nên anh em dễ thông. Còn vấn đề nghỉ phép, chỉ cho nghỉ đến ngày 20 tháng 4 phải có mặt, người nào ở gần như Sơn Tây, Hải Hưng, Thái Bình, Thanh Hóa đều được về, còn những đồng chí ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thì không, vì phải để 10 ngày trước khi lên lớp chuẩn bị tài liệu, tiếp xúc với giáo viên và học viên. Hoàn cảnh chiến tranh khẩn trương, cái gì cho phép thì giải quyết ngay, cái gì ảnh hưởng đến nhiệm vụ thì phải hiểu rõ để xác định trách nhiệm của mình. Sau cuộc trao đổi ý kiến về nhiệm vụ, giải quyết thắc mắc, anh em đã thông suốt, bắt tay ngay vào chuẩn bị đi phép. Ai không đi phép thì chuẩn bị bắt đầu làm việc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #14 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 08:55:56 PM »

        Một đoàn cán bộ ở trường Tư Đình về công trường để tiếp tục học tiếp. Chúng tôi rất mừng vì lớp này đều là những cán bộ chỉ huy đại đội ra-đa mới về trường Tư Đình để bổ túc chuyển loại. Chúng tôi chọn những đồng chí đã đi học ở Liên Xô về chuyển làm cán bộ khung của đại đội cán bộ trung đội thì lấy học viên lên phụ trách. Trong số những đồng chí giáo viên có ba đồng chí kỹ sư: Đồng chí Kiên, đồng chí Hiền, đồng chí Quyết. Chúng tôi giao các đồng chí này phụ trách những việc trước mắt. Đồng chí Kiên lo xếp chương trình cho các lớp toàn khóa. Trong đó sau khi xếp chương trình xong, giao cho các giáo viên lần lượt viết giáo án. Đồng chí Quyết tạm thời lo xếp các giảng đường và căn cứ vào số học viên xếp các lớp để cho cán bộ doanh trại căn cứ vào đó mà chia nhà xe làm các giảng đường và đưa bàn ghế, bảng đen vào các lớp. Đồng chí Hiền - Kỹ sư ra-đa chỉ huy các đơn vị đào công sự, mỗi lớp học và mỗi học viên phải tự đào công sự cho mình ở doanh trại, ở giảng đường và ở các khu vực có khí tài. Đó là công việc khẩn trương và rất nặng nhọc. Mỗi đại đội phải lo đủ công sự cho đơn vị mình. Khi có báo động tất cả phải xuống công sự, bất kể thời gian nào dù đang giờ lên lớp, đang thực hành hay đang nghỉ.

        Tất cả đã chuẩn bị xong, anh Vũ Bá Ngần - Chỉ huy phó công trường và anh Vượng - Chính ủy công trường cũng về đủ. Ngày 20 tháng 4 từng đoàn xe khí tài từ xe lừa xuống sân bay Bạch Mai, đi thẳng đến công trường. Những bộ ra-đa Π12 mới tinh, gồm cả máy nổ và xe kéo đến sớm nhất. Đó là những bộ khí tài huấn luyện nhiều nhất ở công trường vì số trắc thủ và đài trưởng cần đào tạo chiếm nhiều nhất, sau đó đến ra-đa Π15, cuối cùng các đài ra-đa Π30 và Π35, ΠPB11 cùng đến. Đó là những bộ ra-đa có nhiều xe cùng liên kết mà ở Việt Nam lúc đó chưa có, nhiều đồng chí trắc thủ đài trưởng và đại đội trưởng mới thấy lần đầu. Đấy là các bộ ra-đa sóng Cm trang bị cho các đơn vị chiến đấu luôn. Công trường còn được trang bị một bộ máy T-30 có 20 bộ hiện sóng, một bộ tạo mục tiêu giả để huấn luyện trắc thủ và sĩ quan dẫn đường rất hiện đại, có thể huấn luyện một lúc rất nhiều trắc thủ. Về thông tin, có xe P-405, xe thông tin P-118 và P-102, các máy tải ba được trang bị riêng. Số lượng xe thông tin này dùng để huấn luyện báo vụ, thợ máy nổ và đài trưởng thông tin cho trung đoàn tên lửa, không quân và ra-đa. Tất cả đều đến công trường trong thời gian ngắn và đã được đưa vào các công sự ở các khu vực khí tài huấn luyện. Chúng tôi giao ngay cho các đại đội học viên quản lý, học khí tài nào thì quản lý khí tài ấy và chọn ngay những đồng chí cán bộ đã học ở Liên Xô về quản lý trực tiếp các trang thiết bị này, chọn riêng một số trắc thủ đưa lên xe cùng cán bộ và giáo viên huấn luyện riêng để làm đội mẫu, như vậy vừa quản lý được khí tài vừa làm mẫu cho số đông học viên trước khi tiếp xúc với các đài ra-đa và thông tin loại mới.

        Ngày 25 tháng 4 tất cả học viên đã đến đông đủ, các lớp học đã sắp xếp xong, cả địa điểm dã ngoại. Các đại đội học viên bắt đầu sinh hoạt theo đơn vị và theo lớp, các chi bộ Đảng và chi đoàn thanh niên đã hình thành và sinh hoạt, thực hiện chức năng lãnh đạo và hành động theo nghị quyết của Đảng ủy công trường. Chúng tôi đã diễn tập lên lớp ở giảng đường, ở thao trường và ở bãi khí tài, tất cả các học viên đều quán triệt nhiệm vụ của công trường, mục đích yêu cầu của khóa học, chương trình, kế hoạch học tập của từng lớp, chỉ tiêu yêu cầu đạt được của học viên sau lớp học mà mỗi người phải phấn đấu nữa.

        Ngày 1 tháng 5 năm 1965 công trường 300 khai giảng lớp học đầu tiên đúng hạn với 500 học viên ra-đa và 200 học viên thông tin các loại. Trong đó học viên ra-đa Π12 chiếm đông nhất, 5 lớp học trắc thủ, 2 lớp đài trưởng, 1 lớp máy nổ Π10.

        7 giờ sáng tất cả các lớp, dẫn đầu là lớp trưởng lần lượt đến tập hợp ở sân công trường. Các giáo viên đến nhận lớp theo sự hướng dẫn của đồng chí Kiên, đồng chí Quyết, đồng chí Hiền. Sau khi nghe bài diễn văn ngắn của chỉ huy trưởng công trường, các lớp trưởng dẫn giáo viên, học viên của lớp mình về giảng đường từng lớp. Khóa học bắt đầu với sự chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc. Các đồng chí phiên dịch đã về phép đúng hạn, đã tiếp xúc với bài giảng, với giáo viên và chuyên gia trước ngày 20 tháng 4 để chuẩn bị lên lớp trước một tuần.

        10 giờ ngày 1 tháng 5 đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân cùng đồng chí Séc-ba-cốp Đại sứ Liên Xô tại Việt Nam đến thăm công trường (thăm các lớp học, khu để khí tài, nơi ăn ở của giáo viên, học viên và của chuyên gia). Sau khi Tư lệnh kiểm tra xong đã khen công trường chuẩn bị chu đáo khai giảng đúng quy định. Tư lệnh còn nhắc phải chú trọng huấn luyện cho trắc thủ ra-đa Π12 sớm để khi có điều kiện có thể ra trường sớm hơn các lớp khác.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #15 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 09:01:46 PM »

        Trong khóa học này trắc thủ học nguyên lý của khí tài bằng sơ đồ ô vuông, nhưng tập trung học kỹ về thao tác và hiệu chỉnh khí tài, học thực tế trên khí tài và trên mô hình học cụ, theo nguyên tắc từ giản đơn đến phức tạp với các tình huống chiến đấu có nhiều tốp mục tiêu nhiều tầng, trong điều kiện nhiễu khác nhau, có cả máy bay ta và máy bay địch. Học viên tranh thủ học ngày, học đêm. Học cả ngày nghỉ.

        Đối với đài trưởng và thợ sửa chữa lại càng khẩn trương. Đài trưởng phải học nguyên lý mạch điện tỷ mỹ, phải biết thao tác đài thành thạo, phải biết triển khai đài khi chiến đấu và thu hồi đài khi hành quân, đặc biệt là triển khai và hạ ăng ten. Sau khi học xong phần lý thuyết còn phải thực hành, luyện tập sửa chửa các dạng hỏng hóc thông thường. Tuy nội dung học tập nhiều như vậy nhưng không ai kêu ca mà ra sức học tập. Nhờ nỗ lực cộng thêm một phần đã được học qua một số loại đài trước đó, nên kết quả học tập khá tất. Các đồng chí chuyên gia cũng rất bất ngờ với trình độ tiếp thu các học viên Việt Nam.

        Công trường đóng ở Sơn Tây được một tháng. Đến đầu tháng 6 năm 1965 máy bay địch trinh sát liên tục trên bầu trời Sơn Tây - Ba Vì. Trong khi đó doanh trại của công trường ở quá tập trung, gần 800 người trong một khu vực hẹp vì vậy Bộ tư lệnh Quân chủng cho công trường chuyển về vườn vải và trường học sinh miền Nam gần cầu Mai Lĩnh. Lại một đợt chuyển quân khẩn trương. Chỉ hơn một tuần sau chúng tôi đã bắt đầu học tập ở vị trí mới. Lúc này chuyên gia ở trường học sinh miền Nam, các đại đội học viên và cơ quan ở nhà dân quanh vườn vải, riêng các giảng đường và khí tài triển khai dưới các tán cây bên bờ sông Đáy, vừa kín đáo vừa mát mẻ. Các lớp học đều có công sự. Công trường được trang bị hơn 100 nhà bạt loại 10 và 20 người để làm lớp học.

        Tháng 6 và tháng 7 là 2 tháng nóng nhất trong năm. Lúc này cũng là thời điểm bắt đầu mùa mưa lũ. Đồi với người Việt Nam nóng nực là chuyện thường, nhưng đối với chuyên gia bạn thì quá sức chịu đựng. Trời quá nóng, anh em không ăn hết tiêu chuẩn gạo, công trường phải rút bớt lượng gạo mỗi bữa cộng với tiền bồi dưỡng đem nấu chè đậu xanh loãng để bồi dưỡng vào 3 giờ chiều là lúc nóng nhất.

        Cuối tháng 7 năm 1965 lớp trắc thủ và đài trưởng Π12 bắt đầu thi tốt nghiệp. Những học viên xuất sắc nhất được ra trường trước. Trong đó chọn ra 4 kíp trắc thủ và đài trưởng cho 4 đài ra - đa nhìn vòng Π12 của 4 tiểu đoàn hỏa lực thuộc trung đoàn tên lửa 236 lần đầu ra quân, các tiểu đội thông tin cho đài P405 cũng cho các đơn vị trên. Cuối tháng 8 năm 1965 chọn ra 4 trung đội ra-đa Π12 Và 4 tiểu đội thông tin đài P405 cho các tiểu đoàn hỏa lực của trung đoàn tên lửa 238. Cuồl tháng 9 trung tuần tháng 10 toàn bộ 6 trung đội Π12 và 10 trung đội ra-đa Π15 cùng với đài trưởng, thợ sửa chữa của các đơn vị ra-đa trinh sát tốt nghiệp để xây dựng các đơn vị ra-đa sóng mét và deximet. Lớp trắc thủ, đài trưởng của ra-đa Π130 Π35, PRV-11 ra trường cuối cùng vào trung tuần tháng 11 để thành lập 8 đại đội ra-đa dẫn đường cho các sân bay. Đó là các trung đội đông đảo nhất, bao gồm các trắc thủ, đài trưởng, thợ sửa chữa và các thợ vận hành các loại máy nổ AD30 và AD50 và các thiết bị tăng tần của trạm nguồn. Đây là lực lượng ra-đa dẫn đường đầu tiên đông đảo nhất được huấn luyện chuyển loại sử dụng các loại ra-đa sóng dài có chất lượng và đồng bộ. Các học viên thông tin cũng lần lượt ra trường, gồm các học viên đài thông tin P405, P118, tải ba, báo vụ. Đài trưởng và thợ sửa chữa đài thông tin P102 ra trường cùng với học viên ra-đa Π35 và PRV11 để xây dựng các đại đội ra-đa cho không quân tiêm kích.

        Các chuyên gia Liên Xô đã xong nhiệm vụ sau trung tuần tháng 10 năm 1965 đều lần lượt về nước, chỉ còn lại một số chuyên gia về đài Π35 và PRV11 là ở lại cho đến khi kết thúc lớp học vào trung tuần tháng 11 năm 1965.

        Cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1965 sau khi số trắc thủ, thợ sửa chữa, báo vụ và thông tin các loại ra trường, số chuyên gia cũng về nước dần, Quân chủng đã điều công trường về Hà Nội, đóng quân tại các trận địa cao xạ 100mm của sư đoàn 361 đã đi chiến đấu. Tại đây có sẵn nhà ở, giường nằm, giảng đường, có công sự để triển khai các đài ra-đa và thông tin (Nhật Tân, Hạ Quyết và một trận địa ở gần Nhà máy dệt 8-3). Trận địa 8-3 để cho học viên thông tin còn 2 trận địa kia để cho học viên ra-đa. Các cán bộ đại đội rất mừng vì có điện, có nước, có sẵn cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập, sinh hoạt lại tập trung nên rất thuận tiện.

        Đầu tháng 11 năm 1965 công trường tiếp tục chuyển loại khóa 2 cho lớp trắc thủ ra - đa Π12, Π15, Π35, PRV11 và báo vụ thông tin các loại. Số lượng ít hơn khóa 1, nhưng thợ sửa chữa lại nhiều, nêu khóa 2 chủ yếu chuyển loại cho thợ sửa chừa và đài trưởng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #16 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 09:05:18 PM »

        Tổng số còn lại 400 học viên, trong đó 100 của thông tin và 300 của ra-đa. Lúc này giáo viên là người Việt Nam, đa số là kỹ sư vô tuyến từ ngoài nhà nước và kỹ sư bách khoa mới ra trường được động viên vào quân đội sau khi tốt nghiệp lớp chuyển loại tại công trường, họ được giữ lại làm giáo viên. Do giảng dạy bằng tiếng Việt nên tiết kiệm được nhiều thời gian, dễ tiếp thu nên học viên tiến bộ nhanh.

        Cuối tháng 12 năm 1965, do các trận địa pháo 100mm phải sửa chữa lại, công trường phải chuyển về Học viện Thủy Lợi và Trường Ngân hàng rồi học tập ở đó cho đến hết khóa học tháng 5 năm 1966. Đây là 2 trường đại học có cơ sở vật chất khá đầy đủ nên việc học tập rất thuận lợi.

        Đến hết tháng 5 năm 1966 toàn bộ học viên đều tốt nghiệp. Lúc này tình hình rất khẩn trương. Địch tiếp tục leo thang đánh phá các vùng lân cận Hà Nội. Ta cũng chuẩn bị mọi mặt để bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng. Vì vậy công trường sẽ về Tân Ước, Bình Đà - Thanh Oai để đào tạo tiếp khóa sau.

        Ngày bế giảng khóa 2, công trường đã chuyển loại gần 100 trắc thủ ra-đa các loại, hơn 200 thợ sửa chữa và đài trưởng Π12, Π15, Π35 và PRV11 được đào tạo với chất lượng cao, cả về lý thuyết và thực hành. Học viên ra trường đã về các đơn vị chiến đấu ngay và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong năm 1966 và 1967 máy bay địch đánh phá Hà Nội, Hải Phòng ác liệt, nhưng bộ đội ra-đa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Tôi cho rằng, năm 1965 và 1966 là hai năm các binh chủng của Quân chủng lớn mạnh rất nhanh, trong vòng 1 năm bộ đội ra-đa đã chuyển biến mạnh về chất trên các mặt trang bị và kỹ thuật. Trang bị của ra-đa được tăng cường và bổ sung rất cơ bản, cả về chất lượng và số lượng. Số lượng tăng gấp đôi với đủ loại ra-đa mới: Sóng m, dm, cm có hiệu suất chiến đấu cao trong các điều kiện chiến đấu, thời tiết, địa hình phức tạp.

        Về mặt kỹ thuật, để đón trang bị mới, Quân chủng đã thành lập công trường 300 để chuyển loại một lực lượng lớn trắc thủ, đài trưởng, cán bộ đại đội và thợ sửa chữa trong thời gian phù hợp, được huấn luyện tập trung với trang bị đầy đủ. Do đó chất lượng học viên ra trường cao, đều đảm đương trách nhiệm một cách vừng vàng, mặc dù đúng vào lúc địch tập trung đánh lớn vào Hà Nội và Hải Phòng.

        Chính công tác chuẩn bị con người và kỹ thuật chu đáo dự đoán được tình hình nên khi trang bị được đưa vào với quy mô lớn chúng ta đã nhanh chóng làm chủ và phát huy hiệu quả trong chiến đấu.

        Cuối tháng 5 năm 1966, sau khi khóa 2 ra trường, công trường 300 kết thúc nhiệm vụ của nó. Công việc đào tạo thợ sửa chửa vẫn còn đó, nhưng đó là nhiệm vụ thường xuyên, số lượng ít hơn, nên công trường được chuyển thành tiểu đoàn huấn luyện thợ sửa chữa ra-đa và thông tin do đồng chí Kiên phụ trách. Số lượng phiên dịch và chuyên gia đông đảo khóa 1 không còn nữa. Các đồng chí phiên dịch được giao nhiệm vụ dịch tài liệu sang tiếng Việt để các đơn vị sử dụng. Sau 6 tháng toàn bộ tài liệu đã dịch xong, các đồng chí này được điều về phòng đồi ngoại và các đơn vị. Các cán bộ của công trường cũng được điều đi. Anh Vũ Bá Ngần về lại phòng Thông tin. Anh Vượng - Chính ủy được điều đi rất sớm từ sau khi kết thúc khóa 1. Anh Xuyên về Trung đoàn ra-đa dẫn đường 293 mới thành lập, làm tham mưu phó trung đoàn. Còn tôi sau khi bàn giao xong và đi thăm các lớp học viên lúc đó đã chuyển về Tân ước, Thanh Oai, được Quân chủng điều về làm Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng.

        Đối với tôi về công trường 300 được 1 năm, thời gian đầu cho khóa 1 rất khẩn trương, bởi số lượng học viên đông, trang bị nhiều và mới, chương trình và giáo viên chưa ổn định, địa điểm thường xuyên thay đổi. Nhưng đến khóa 2 thì thong thả vì chương trình đã có sẵn, chỉ cần điều chỉnh lại, giáo viên đã ổn định, giảng dạy đã theo nền nếp, địa điểm và cơ sở vật chất thuận lợi, nên tôi cũng có thời gian tranh thủ học thêm. Ngoài các ngày kiểm tra, nghe lên lớp thí điểm tôi đã tranh thủ ôn lại các nguyên lý mạch của các loại ra-đa từ thời tôi học ở Liên Xô. Nhưng quan trọng hơn, dưới sự hướng dẫn của các đồng chí kỹ sư Kiên, Hiền tôi đã tập trung nghiên cứu về thao tác sử dụng các mặt máy của các loại đài để hiểu sâu hơn về thực tế tính năng chiến đấu của khí tài. Đó là cơ sở tốt cho tôi khi về công tác ở Binh chủng Ra-đa từ năm 1967 đến năm 1969.

        Cho đến bây giờ sau 30 năm những cán bộ chiến sĩ ra-đa đã trưởng thành. Trong những ngày truyền thống của Binh chủng, anh em gặp nhau thường ôn lại những kỷ niệm học tập say sưa, nhớ về kỷ niệm lần đầu tiếp xúc với các loại trang bị mới, chúng tôi vẫn khẳng định rằng công trường 300 là nơi đã góp một phần vào bước chuyển biến quyết định về chất đối với con người sử dụng trang bị kỹ thuật, đưa bộ đội ra-đa tiến lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong những năm 1966 - 1969.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #17 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 09:11:39 PM »

        
TÌNH BÁO BINH PHÒNG KHÔNG NHỮNG NGÀY MỚI CHÀO ĐỜI

NGÔ VIỆT CHÂU        

        Sân bay Gia Lâm, mùa hè năm 1958, những căn nhà lợp tôn dài dặc, vắng lặng, nóng như chảo rang, bỗng trở lên nhộn nhíp, thông thoáng bởi sự có mặt của những chàng trai trẻ, khỏe, sạm nắng gió, náo động suốt ngày.

        Đó là số sáu bảy chục cán bộ gồm đủ Bắc, Trung, Nam được coi là có văn hóa cao vào loại nhất toàn quân lúc đó (cụ thể là từ lớp 6, 7 đến "Tú tài", tây, ta) tập trung về đây theo chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu để theo học khóa đào tạo về vũ khí ra-đa, gấp rút chuẩn bị cho một binh chủng mới chào đời: Binh chủng tình báo binh phòng không.

        Tất cả nhanh chóng được biên chế thành 2 lớp học với quân số tương đương nhau: Một lớp kỹ thuật ra-đa và một lớp chiến thuật ra-đa.

        Lớp thứ nhất do chính đồng chí Phan Thái, chủ nhiệm Ban cần vụ đối không (trực thuộc Bộ Tham mưu Phòng không) trực tiếp giảng dạy.

        Lớp thứ hai do đồng chí Tâm Trinh, Phó chủ nhiệm Ban cần vụ Đối không là giảng viên chính kiêm phụ trách lớp.

        Trên còn bố trí 2 cố vấn bạn thuộc Quân khu Hoa Nam là đồng chí Hoàng và một kỹ sư, trợ giúp cho lớp học.

        Cả hai lớp đều được đào tạo theo phương pháp chính quy mặc dù thiếu thốn nhiều thứ nhất là về dụng cụ học tập và sách giáo khoa. Nhưng tất cả học viên chúng tôi đều hăng say, tin tưởng. Từ 2, 3 năm trước khi Sư đoàn 367 còn đang tiến hành chuyển binh chủng từ trên đất Vai Cầy, huyện Đại Từ - Thái Nguyên, hai đồng chí Thái và Trinh được sư đoàn cử đi học ở học viện cao cấp phòng không quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tại Bắc Kinh.

        Giữa chừng khóa học đồng chí Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng một lần đi công tác Liên Xô có tạt thăm. Đồng chí căn dặn chúng tôi phải cố gắng trau dồi kiến thức và kinh nghiệm tác chiến phòng không của bạn, đặc biệt tranh thủ biên dịch tài liệu để khi về nước là có thể bắt tay ngay vào huấn luyện đào tạo cán bộ ra-đa. Hiện "ở nhà" đã thành lập đơn vị tiểu đoàn 4 đang tổ chức học thêm văn hóa để sẵn sàng trở thành trung đoàn ra-đa đầu tiên.

        Trong anh em học viên, cũng có người chưa biết chút gì về ra-đa, nhưng số đông đều đã được thấy ra-đa của pháo trung cao 88, một số đã đọc trong sách báo, hiểu ra-đa (radar) là viết tắt của nhóm từ Anh ngữ: Radio de'terting and ranging có nghĩa là vũ khí thăm dò và phát hiện, xuất hiện từ cuối đại chiến thế giới thứ II. Nhưng khi nghe các giảng viên nói đến những từ "Π8", "Π20", "406"... thì vẫn chẳng khác gì "vịt nghe sấm".

        Ở lớp chiến thuật, giảng viên cố gắng tạo ra những dụng cụ, mô hình đơn giản, kết hợp với tranh vẽ, sa bàn giúp học viên dễ hiểu, dễ nhớ những nội dung giảng dạy, chẳng hạn nói về cánh sóng của ra-đa, tức phạm vi hiệu lực phát hiện mục tiêu của ra-đa thì cứ hình dung nó giống như cái "chày giã cua" khổng lồ, giảng về các thủ đoạn của máy bay địch đối với các trận địa ra-đa, giáo viên thường liên hệ các kinh nghiệm của các đơn vị ra-đa chí nguyện quân Trung Quốc trên chiến trường Triều Tiên cùng với kinh nghiệm trong chiến đấu phòng không trên chiến trường Điện Biên Phủ. Đồng thời cũng gợi mở để học viên tham gia ý kiến làm cho các buổi giảng chiến thuật thêm sinh động, phong phú.

        Nhớ có mấy buổi chiều hè quá nóng, học viên đều thấm mệt, đồng chí Trinh còn để anh em mặc áo may ô trong lớp. Nhưng trực ban tuyên bố rõ là không được mặc may ô rách, ảnh hưởng "tư thể”! Hoàn cảnh khó khăn của những năm đầu hòa bình lập lại và giải phóng Thủ đô qua mấy vần "ca dao" khá phổ biến sau cũng nói lên điều đó;

                Một yêu, anh có may ô
                Hai yêu, anh có cá khô ăn dần


        Học viên ban ngày đã phải lên lớp suốt, tối đến còn sinh hoạt tổ tam - tam, ôn luyện văn hóa như "đánh vật”, với đủ loại nội dung, công thức, quy tắc quy phạm; làm bài tập và chuẩn bị sát hạch từng môn. Ý thức sâu sắc được tầm quan trọng và tính chất khẩn trương của khóa đào tạo, hầu như không phải tổ chức buổi đả thông tư thông nào, hoặc giải quyết một vụ việc nổi cộm vi phạm quy tắc, mất đoàn kết nghiêm trọng nào, suốt từ đầu đến cuối khóa học. Cuối khóa học, đồng chí Lương Hữu Sắt, thủ trưởng mới của Binh chủng đã đến biểu dương và khích lệ tinh thần học tập của anh em. Đồng chí cũng mang đến cho lớp học nhiều thông tin quan trọng kịp thời. Nhưng còn một điều sâu xa nữa đó là việc kẻ thù Mỹ, Diệm ngày càng ra mặt phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, liên tiếp đưa vào miền Nam nước ta hàng ngàn tấn vũ khí kể cả máy bay, xe tăng, tàu chiến và ráo riết hành quân càn quét, gây bao tội ác man rợ đối với đồng bào ta. Chúng trắng trợn hò hét "Bắc tiến" và liên tiếp xâm phạm vùng trời, vùng biển, vùng phi quân sự của ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #18 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 09:14:41 PM »

        Diễn biến của tình hình chính trị được gắn liền trong các bài giảng làm các học viên từng giờ, từng phút tranh thủ học tập rèn luyện, mong mỏi được sớm tỏa về các trận địa ra-đa, tổng trạm chỉ huy của binh chủng. Vào dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám năm 1958 với kết quả sát hạch, 100% học viên đạt yêu cầu, số lớn thuộc loại khá và giỏi.

        Đối với tôi cho tới giờ, nghĩa là gần nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn chưa quên cái cảm giác đầu tiên, khi đặt chân vào căn nhà to, rộng, nửa nổi, nửa chìm và xung quanh toàn cửa kính, nằm ngay gần cổng ra vào của Bộ tư lệnh Phòng không, được gọi là Tổng trạm tình báo binh phòng không. Rất nhiều trang thiết bị lạ mắt như bàn gỗ tròn to, đặt bản đồ, có phủ tấm mi ca với rất nhiều bút màu, những bàn nhỏ hơn có micrô và tai nghe, những tấm bảng có đèn xanh, đỏ... làm tôi liên tưởng đến những trường quay của truyền hình, là nơi sau này tôi thường xuyên làm việc.

        Bắt đầu ca trực, các sĩ quan chỉ huy Tổng trạm như các đồng chí Nguyễn Kim Thiệu, Đỗ Văn Năm, Nguyễn Đình Sơn, Trần Liên, Nguyễn Kiến Khang, Hứa Mạnh Tài và các sĩ quan phương hướng như chúng tôi cùng các chiến sĩ tiêu đồ viên khẩn trương vào vị trí. Tất cả răm rắp, đúng giờ giấc, đúng tác phong chính quy, vẻ mặt trang nghiêm, tư tưởng tập trung cao độ, luôn luôn sán sàng đón nhận tín hiệu từ các trận địa ra-đa, các vọng quan sát báo về và xử lý các tình huống theo chức năng và phương án. Cứ như vậy suốt 8 tiếng không xem báo, đọc sách, không nói chuyện, không hút thuốc, không nghỉ giữa giờ và ngày này qua ngày khác. Chỉ có khác là hôm nay trực sáng thì mai trực chiều và ngày kia trực tối. Rồi lại xoay vòng nếu không có gì đột xuất… Thực tình ban đầu rất khó chịu, thậm chí tưởng có lúc không gượng nổi nếu không mau chóng thích nghi. Nói vậy, chứ ăn, ngủ bất kỳ đâu có dễ! Nhất là chỗ ở và điều kiện phục vụ lúc đó còn rất nhiều khó khăn, riêng việc xe cộ đi lại suốt ngày và cái bể bơi quá ầm ĩ bên cạnh đã làm nhiều anh em khó lòng nhắm mắt, mặc dù đang ở tuổi ăn, tuổi ngủ... Nhưng rồi tình hình cũng dần dần được cải thiện, cộng với những điều chỉnh, cải tiến, chống máy móc rập khuôn, vả lại vào thời đó, thằng địch cũng chỉ lảng vảng ngoài xa, họa hoằn mới có 1, 2 chiếc cố tình bay vào, thăm dò hoặc thả biệt kích. Mỗi lần có tình huống như vậy là một lần thử thách trình độ của máy móc, trang thiết bị cũng như trình độ và ý chí của mỗi người trong tổng trạm. Mọi hoạt động đều kết thúc hoàn hảo, đảm bảo những mục tiêu đề ra góp phần nâng cao tay nghề và lòng tin đối với từng cán bộ, chiến sĩ. Nó chứng tỏ bước đầu, mạng lưới ra-đa đã thực sự phát huy hiệu lực, và nhất định sẽ ngày càng hoàn thiện hơn qua cọ xát với một đối thủ rất mạnh và rất xảo quyệt là không lực Hoa Kỳ.

        Theo định kỳ tổng trạm lại tổ chức những đợt đi kiểm tra và khảo sát thực tế tại các khu vực trọng điểm cùng các trận địa ra-đa, vọng quan sát một vùng duyên hải, từ Đồ Sơn qua Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, đã giúp các đơn vị tháo gỡ khó khăn, bổ sung phương án, tăng cường quan hệ với các đơn vị, cơ quan và nhân dân đia phương. Những cuộc đi như vậy để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp, bên cạnh những thu hoạch về mặt chuyên môn, nghiệp vụ đối với từng cán bộ tổng trạm kể cả các đồng chí cố vấn.

        Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, Binh chủng Ra-đa anh hùng tròn 45 tuổi, các chàng trai trẻ - học viên các lớp kỹ thuật, chiến thuật ra-đa đầu tiên tại sân bay Gia Lâm đều đã sang tuổi "Cổ lai hy" đã trở thành những ông nội, ông ngoại. Nhiều người đã ra đi vĩnh viễn trong chiến đấu và vì tuổi tác, bệnh tật. Do cuộc sống đời thường còn nhiều nỗi trăn trở chông gai, những hình ảnh của mình và bè bạn trong những buổi đầu thành lập binh chủng cũng dần dần đi vào quên lãng.

        Giờ đây, nếu con cháu họ có nối nghiệp cha ông, phục vụ trong các đơn vị ra-đa, thì chắc cũng khó mà hình dung được cái quá khứ mênh mang, xa lắc, những người sinh ra họ đã sống ra sao, đã có những gì trong tay để trụ lại được trong cuộc đối đầu không cân sức, kéo dài hàng thập kỷ với không quân và hải quân Mỹ.

        Để rồi, đến những ngày cuối tháng Chạp năm 1972, họ lại lập công đầu bằng việc phát hiện kịp thời và khẳng định từng đàn siêu pháo đài bay B-52 "ngoáo ộp" hòng hủy diệt Thủ đô Hà Nội.

        Với trí tuệ tuyệt vời và sự hy sinh cao cả họ đã dẫn đường cho tiêm kích MIG và bảo đảm cho rồng lúa Thăng Long "quật ngã chúng, tạo nên một trận Điện Biên Phủ trên không" vĩ đại, có một không hài trong lịch sử. Trước cái vĩ đại của dân tộc chúng ta biết mấy tự hào về sự đóng góp của Binh chủng Ra-đa anh hùng. Giờ đây, ôn lại chuyện xưa, chúng ta liên hệ đến mấy vần thơ chí lý và đầy tình người của nhà thơ lớn dân tộc bác Tố Hữu.

                "Yêu biết mấy, những bước đi, dáng đứng,
                Của đời ta chập chững bước đầu tiên"

(Mùa thu mới)         

                "Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay
                Ra sông, nhớ suối, có ngày nhớ đêm..."

(Việt Bắc)         

Hà Nội, mùa thu 2003       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20950


« Trả lời #19 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2016, 09:21:18 PM »

       
TRẬN ĐỊA VÀ BỘ ĐỘI RA-ĐA

TRẦN LIÊN                               
Đại tá Nguyên Phó tư lệnh Binh chủng Ra-đa       

        Tôi còn nhớ mãi ngày đầu triển khai (1959) ta mới chỉ có 8 đài ra-đa cùng một loại sóng mét. Kế đó từ 1960 - 1964 mới từng bước được tăng thêm về số lượng nhưng cũng vẫn loại sóng mét và một số ít sóng đề-xi-mét công suất thấp. Các loại đài này của bạn viện trợ đều là loại đã cũ công suất thấp và hầu như chưa có thiết bị bổ trợ cần thiết. Thiết bị chống nhiễu địa vật hay chống nhiễu tích cực, tiêu cực cũng mới chỉ giản đơn là thay đổi xê dịch cánh sóng hoặc xê dịch chút ít dải tần thu phát. Từ cuối năm 1964, bước vào chiến tranh, trang bị ra-đa có được bổ sung và cải tiến hơn, công suất có lớn hơn nhất là thêm loại đài sóng cen-ti-mét để trang bị bảo đảm dẫn đường cho không quân nhưng cũng chưa được cải tiến nhiều về kỹ thuật.

        Địa hình nước ta vừa dài, hẹp lại nhiều rừng núi. Tuyến bờ biển không những dài lại bị lõm vào phía nội địa và có nhiều đảo nhỏ. Tuyến biên giới là rừng núi hiểm trở, nên đối với ra-đa đây là loại địa hình rất phức tạp.

        Để có một trường ra-đa chặt chẽ nhiều tầng, nhiều hướng bao phủ diện rộng đòi hỏi phải công phu nghiên cứu bố trí đội hình, phát huy hết tính năng của từng loại đài hợp lý. Vì thế công tác trận địa được đặt thành vấn đề lớn trong cả quá trình triển khai, tìm chọn bố trí đội hình.

        Từ năm 1960 Phòng Ra-đa trinh sát cũng như ban chỉ huy các trung đoàn, đại đội ra-đa đã thường xuyên chăm lo nghiên cứu cả về lý luận và thực tế địa hình từng khu vực để tìm chọn trận địa nhất là ở vùng rừng núi. Đưa ra-đa lên cao để hạ thấp và vươn xa cánh sóng, hạ góc che khuất nhưng làm sao để giảm sóng về địa vật, để bắt được mục tiêu không bị đứt đoạn.

        Việc bố trí đội hình một trận địa ra-đa phải ra sao để các đài ra-đa, cũng như ra-đa và máy thu phát vô tuyến thông tin không nhiễu lẫn nhau; không chiếm nhiều đất đai trồng trọt của dân, không ảnh hưởng đến sức khỏe của dân và bộ đội khi phát sóng cao tần mà vẫn phát huy được hết tính năng của khí tài bảo đảm nhiệm vụ.

        Thế là các cuộc tập huấn cho cán bộ chỉ huy các cấp ngành ra-đa về tìm chọn trận địa, cách đo đạc địa hình, tính toán vùng phản xạ Fresnel (OP = 4ha/λ...) cho các đài sóng mét và đề-ci-mét, tìm chọn độ cao thích hợp cho từng loại đài sao cho cánh sóng khít nhau khỏi lọt mục tiêu (Sin θ = λ/4ha... n = 2ha/λ…) tính toán cách vẽ cánh sóng đã được gấp rút tiến hành. Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân gồm cả đồng chí Tư lệnh Phùng Thế Tài - Phó tư lệnh Lê Văn Trị chủ trì mở hội nghị chuyên đề về trận địa ra-đa có các chuyên viên ra-đa, thông tin tham dự và đi xuống thực địa trận địa ra-đa ở Vạn Điểm để kiểm nghiệm và kết luận. Năm 1961 ta đã đưa ra-đa 406 bố trí ở đỉnh cao 75m ở Đồ Sơn lấy biển làm mặt phản xạ thấy rõ cự ly phát hiện xa hơn bắt mục tiêu thấp hơn, nhiều lần phát hiện cả tàu biển nhưng sóng về địa vật lại quá nhiều. Ở cự ly từ 70 - 80km trở vào sóng về địa vật trắng xóa cả màn hiện hình cả 360º do cánh sóng đuôi và cạnh thu về. Đại đội 1 ở Cò Nòi, Sơn La bố trí có chút ít mặt phản xạ nhưng lại là thung lũng bốn bề núi non góc che khuất lớn. Tổ chức dùng Li-2 bay kiểm nghiệm ra-đa chỉ phát hiện mục tiêu ở cự ly gần 50 - 60km trên đỉnh đầu dọc thung lũng sông Đà. Một số trận địa khác như ở Điện Biên cũng bị tình trạng như vậy. Rõ ràng trường ra-đa ở hướng Tây Bắc chưa được bảo đảm. Chiến tranh ngày càng tới gần, năm 1964 ta đưa thí điểm ra-đa 406 lên Tam Đảo ở điểm cao 1300m hy vọng khống chế vùng trời hướng Đông Nam Hà Nội và khắc phục góc che khuất của dãy Tam đảo. Đại đội ra-đa 21 đã mất 30 ngày trời làm đường, tháo, kéo, khiêng, vác máy lên triển khai. Rõ ràng cự ly phát hiện ở đây xa hơn vươn tới ngoài cửa sông Ba Lạt, Thái Bình nhưng cũng như ở Đồ Sơn sóng về địa vật quá dày chiếm gần nửa màn hiện sóng. Trắc thủ Đặng Quang Đại đã phải học thuộc tới 2500 sóng về địa vật để có thể phát hiện và phân biệt mục tiêu vì ra-đa chưa có thiết bị chống nhiễu địa vật. Thật là gian khổ cho trắc thủ chưa kể đến điều kiện sinh hoạt khó khăn và nạn hay bị sét đánh mùa mưa. Hướng Tây và Tây Nam Hà Nội là hướng chính, không quân Mỹ cất cánh từ Thái Lan sang đánh phá, ta loay hoay mãi với vài trận địa ở cao nguyên Mộc Châu có mặt phản xạ nhưng lại bị dãy Pha Luông cao 1500 - 1900m che khuất hướng chính nên chỉ còn cách đặt máy sang bên kia núi, hy sinh mặt sau, tận dụng thảm rừng già thượng Lào phía trước là mặt phản xạ để vươn xa cánh sóng sang tận đất Thái và khắc phục sóng địa vật bằng cách lấy dãy núi cao làm vật chắn phía sau. Đây là một trận địa lý tưởng của vùng rừng núi và Trung đoàn Tô Hiệu đã dày công tìm được. Trạm ra-đa này đã được bố trí ở đây gần như suốt cuộc chiến tranh, được coi như là một trạm chốt, chủ lực của hướng Tây Hà Nội. Không quân địch ngay từ ngày đầu leo thang đánh phá ra ngoài vĩ tuyến 200 bắc đã đánh phá ác liệt trạm này nhưng với chiến thuật cơ động quanh chốt đó đi đôi với công tác ngụy trang và tổ chức hầm hào phòng tránh nên chúng ta trụ vững liên tục bảo đảm nhiệm vụ.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM