Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Mười Hai, 2019, 01:35:55 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường lên cơ quan Tổng hành dinh  (Đọc 16125 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #30 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:16:12 PM »

        Khoảng 12 giờ 30 phút (5/8/1964) thì được báo cáo máy bay địch đã bắt đầu thả bom vào căn cứ Hải quân ở Bãi Cháy. Các đơn vị phòng không trên bờ và cao xạ 37 ly trên tàu ta đang đánh trả quyết liệt.

        Tiếp sau đó, độ 13 giờ lại được báo cáo quân dân Quảng Bình và Hải quân ta đánh trả máy bay địch đánh phá bến phà sông Gianh và thị xã Đồng Hới.

        Tại Sở chỉ huy tác chiến, đồng chí Nghiêm bỏ dở bản chuẩn bị báo cáo (để chiều báo cáo Quân ủy) cùng một số cán bộ khác chạy xuống nhà trực ban nắm tình hình. Sở chỉ huy tác chiến trở nên nhộn nhịp khác thường, khác cả đêm 2 tháng 8 năm 1964 trong trận hải chiến đầu tiên.

        Đến 13 giờ 30 phút, ngày 5 tháng 8 năm 1964 bắt đầu họp Quân ủy ở một phòng trên “Sân Rồng”, kiểm điểm về sự kiện tối 2 tháng 8 năm 1964. Đồng chí Nghiêm đang báo cáo diễn biến tình hình, đồng chí Trần Quý Hai báo cáo xen vào một vài ý kiến. Ở Sở chỉ huy trực ban tác chiến nhận được tin đầu tiên ta bắn rơi một máy bay Mỹ và bắt sống một giặc lái (trung úy An-va-rét). Tôi vội vã mang tin này lên báo cáo ngay. Tới cửa phòng họp, tôi dừng một tý để trấn tĩnh, nghe các đồng chí thủ trưởng đang hỏi “xoay” đồng chí Nghiêm. Đồng chí Song Hào đang đi lại có vẻ bực bội. Tôi “nhảy xổ” vào báo cáo tin mừng này.

        Hội nghị dừng lại, quay lại hỏi tôi dồn dập: “có đúng không? Có chắc không? Ai báo cáo? Có xác máy bay không? Bắt chắc phi công Mỹ không?...”. Tôi vừa mừng lại vừa lo. Nếu mà nhận báo cáo láo thì chết, có lẽ phải chui xuống đất mất! vừa đi vừa nghĩ, có lẽ mình hơi hấp tấp! nhưng vì hội nghị đang căng thẳng, có tin mừng này mà không báo cáo ngay thì cũng khuyết điểm.

        Về lại Sở chỉ huy, trực ban tác chiến lại báo cáo là đã nhận được tin ở Bãi Cháy lại bắn rơi 3 chiếc nữa, giặc lái đã đưa về Ban chỉ huy căn cứ Hải quân.

        Quân khu 4 lại báo cáo ra, ở Quảng Bình cũng bắn rơi một chiếc. Đang lo toát mồ hôi hột, tôi thấy nhẹ cả người. Tôi cũng hỏi lại trực ban tác chiến (như lời các đồng chí Quân ủy hỏi tôi) “có chắc không? hay là tin vịt”. Trực ban nói lần này thì “chắc như cua gạch rồi”.

        Tôi lại vội vàng hớt ha hớt hải chạy lên phòng họp báo cáo tin mới này. Thế là cả hội nghị cười ồ, dừng hẳn cuộc họp. Đồng chí Hai và đồng chí Nghiêm mặt tươi cười hẳn lên! Đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) lại máy điện thoại báo cáo trực tiếp với Bác, rồi với anh Thận (đồng chí Trường Chinh). Đồng chí Song Hào gọi điện thoại ngay đồng chí Hoàng Minh Thi (lúc này là Cục trưởng Cục Tuyên huấn), chuẩn bị đưa tin thắng lợi đầu tiên này của quân dân ta, của hải quân, phòng không ở Quảng Ninh, Quảng Bình, phát thanh trên đài tiếng nói Việt Nam kịp giờ phát thanh 18 giờ chiều nay. Đồng chí Hoàng Văn Thái lại vỗ vai tôi vừa cười vừa nói: “Thế là tốt rồi, anh em tác chiến nắm tình hình tốt, báo cáo kịp thời? Cậu về truyền đạt cho anh em các nơi nói Bộ rất mừng, khen ngợi tất cả anh em chiến đấu dũng cảm, thắng lợi, sẽ khen thưởng thích đáng. Anh em tác chiến tiếp tục theo dõi, nắm chắc tình hình và có tin gì mới lên báo cáo ngay nhé.”. Tôi ra về thư thái, nhẹ nhàng! không cập rập, vội vàng như khi lên báo cáo.

        Thắng lợi trong trận đầu hạ uy thế của không lực Hoa Kỳ, bắn rơi tại chỗ 7 máy bay địch, bắt sống một giặc lái làm nức lòng quân dân cả nước. Công đầu thuộc về các chiến sĩ Hải quân, phòng không, những người lính trực tiếp cầm súng ngẩng cao đầu bắn máy bay “siêu âm” hiện đại nhất của Mỹ. Nhưng tôi lại nghĩ, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng người chỉ huy sâu sát kịp thời xuống tận căn cứ Hải quân (Mũi Chùa) ngay trong ngày hôm sau để hướng dẫn anh em rút kinh nghiệm trận đánh đầu tiên với thái độ trầm tĩnh, khen ngợi động viên các thủy thủ của phân đội phóng ngư lôi. Đặc biệt là nhờ tính cảnh giác, nhạy bén, kịp thời ra lệnh cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu sau khi vừa nghe đài được tin Giônxơn tuyên bố trả đũa, trong lúc cả cơ quan tác chiến và Quân báo của Bộ Tổng Tham mưu chưa nắm được tin này. Lệnh báo động chiến đấu kịp thời đó của Tổng Tham mưu trưởng đã tác động ngay đến tinh thần sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị, đưa đến thắng lợi giòn giã trận đầu đánh trả máy bay địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #31 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:20:33 PM »

        Tiếp sau đó, ngày 7 tháng 8 năm 1964, nghị quyết “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” đã được Quốc hội Mỹ thông qua, Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân trên miền Bắc Việt Nam. Sự kiện đêm 2 tháng 8 năm 1964 (đêm tàu phóng lôi ta đánh khu trục hạm Ma đốc Mỹ trong hải phận của ta), sự kiện đêm 4 tháng 8 sáng 5 tháng 8 năm 1964 (tàu Mỹ tự bắn các loại súng và pháo sáng ở đông đảo Hòn Ngư, Nghệ An dựng lên một cớ để vu cáo tàu ta tiếp tục đánh tàu địch) cũng là một bài học nhớ đời của tôi trong công tác ngành tham mưu tác chiến.

        Do sự suy nghĩ không chín chắn của chúng tôi, cán bộ tham mưu gần gũi của đồng chí Trần Quý Hai đã không kìm chế sự căm tức về khiêu khích trắng trợn của tàu chiến Mỹ trong hải phận của ta, không quán triệt chính sách của Đảng và Chính phủ ta trong lúc đó còn muốn hạn chế chiến tranh trong phạm vi miền Nam, đã báo cáo không rõ tình hình, đề đạt ý kiến không đúng (qua máy điện thoại ở nhà riêng) để thủ trưởng ra quyết định không phù hợp với tình hình chính trị lúc đó. Chúng tôi tự nhận khuyết điểm và chịu trách nhiệm chính về mình.

        Đồng chí Trung tướng Trần Quý Hai là một đồng chí chỉ huy có nhiều kinh nghiệm chiến đấu trong những năm kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Bình Trị Thiên, là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 325. Hòa bình lập lại, đồng chí ra làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, rồi làm Tổng tham mưu phó. Khi đồng chí Hoàng Văn Thái vào công tác ở miền Nam thì đồng chí là Tổng tham mưu phó thứ nhất thường chủ trì sinh hoạt ở Bộ Tổng Tham mưu thay Tổng Tham mưu trưởng. Là một thủ trưởng tham mưu có đức tính rất kiên nhẫn, thận trọng, chín chắn xử lý mọi công việc, với tác phong rất tỷ mỉ mà anh em thường ca ngợi là đồng chí có trí nhớ từng “con số cụ thể” về quân số từng đơn vị, “số lượng” từng loại súng, bảo đảm vật chất từng kilôgam, đồng chí có tài tính nhẩm bằng miệng, tính toán con số (cộng, trừ, nhân, chia) rất nhanh, hơn cả cán bộ tác chiến (có trình độ văn hóa cao) theo dõi các đơn vị...”.

        Đồng chí Trần Quý Hai có trí nhớ tuyệt vời. Làm việc rất nghiêm túc. Cán bộ tác chiến trước khi lên báo cáo tình hình ta, phải chuẩn bị kỹ về con số.

        Đã có lần một cán bộ tác chiến lên báo cáo, về con số tình hình ta trước sau không thống nhất. Đồng chí mở sổ tay ghi chép nói “Ủa! tuần trước anh báo cáo con số này! sao chưa đầy 1 tuần lại thay đổi con số này?”.

        Tinh thần làm việc tỉ mỉ, cụ thể, nghiêm túc! Tinh thần tự học của đồng chí rất cao (mặc dầu sức yếu tuổi cao) là một tấm gương cho cán bộ tác chiến chúng tôi noi theo!

        Đồng chí đối xử với cán bộ cấp dưới có tình có nghĩa:

        Khi bố tôi bị bệnh mất ở Bệnh viện 354. Một hôm họp Thường vụ Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu (lúc này đồng chí làm Tổng Thanh Tra Quân Đội kiêm phụ trách nội bộ). Vào họp đồng chí Lê Cư - Bí thư Đảng ủy nói: “Hôm nay đồng chí Khánh bận làm tang lễ cho cụ thân sinh, có xin phép không dự họp Thường vụ được, Đồng chí Trần Quý Hai nói ngay: “Thế thì tạm hoãn họp Thường vụ vào Bệnh viện 354 để viếng cụ đã (mà đồng chí chưa hề biết và chưa gặp mặt bố tôi bao giờ). Ta tới dự lễ viếng, sau về họp Thường vụ cũng được”. Đồng chí Trần Quý Hai và các đồng chí ủy viên Thường vụ đến Bệnh viện 354 dự lễ viếng. Bức ảnh đồng chí đặt vòng hoa, thắp hương trước quan tài bố tôi đã để lại một hình ảnh lưu niệm, cho gia đình tôi rất cảm động, một tình cảm thân thương!

        Tuy rằng “đế quốc Mỹ đã có âm mưu từ trước và kế hoạch dùng không quân đánh phá miền Bắc rồi thì cho dù không có sự kiện ngày 2 tháng 8 năm 1964 thì chúng cũng có thể dựng ra sự kiện khác để vu cáo ta mà hành động. Như chúng đã dựng lên sự kiện đêm 4 tháng 8 sáng 5 tháng 8 năm 1964”. (Từ tháng 3/1964 Giôn xơn đã phê chuẩn kế hoạch Dexoto dùng tàu khu trục Mỹ tuần tiễu ở Vịnh Bắc Bộ. Ngày 17 tháng 4 năm 1964 Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã vạch kế hoạch ném bom miền Bắc Việt Nam thông qua 94 mục tiêu đánh phá... Theo kế hoạch 34A).

        Nhưng một bài học, trong thời bình cần cảnh giác, lại cần phải thận trọng, đừng mắc âm mưu khiêu khích của địch, để tạo cớ cho kẻ thù gây ra chiến tranh, trong lúc ta chủ trương tranh thủ hòa bình để có thời gian và điều kiện thuận lợi xây dựng đất nước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #32 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:25:16 PM »


        Phòng tác chiến A bắt đầu phục vụ sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ:

        Sau đợt đánh bom “trả đũa” ngày 5 tháng 8 năm 1964, ngày 7 tháng 8 năm 1964 Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, máy bay thỉnh thoảng vi phạm vùng trời miền Bắc. Từ ngày 7 tháng 2 năm 1965 chiến tranh phá hoại diễn ra liên tục, leo thang từ Nam vĩ tuyến 20 ra toàn miền Bắc. Phòng A Cục Tác chiến tập trung vào công tác giúp thủ trưởng Bộ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân, của đế quốc Mỹ.

        Được sự viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc, lực lượng phòng không, không quân ta phát triển nhanh, nhất là tên lửa phòng không.

        Đầu năm 1965, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng được sự ủy nhiệm của Bộ Chính trị sang bàn với Trung Quốc viện trợ quân sự về vũ khí phòng không (xin 1 trung đoàn tên lửa phòng không “Hồng Kỳ”), ký kết về việc Trung Quốc đưa các đơn vị cao xạ, công binh sang giúp ta hiệp đồng chiến đấu phòng không và xây dựng công trình. Cùng đi với đồng chí Dũng có đồng chí Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Cục trưởng Cục 2 (Quân báo), tôi trưởng phòng A Cục Tác chiến, đồng chí Ngận cán bộ văn phòng làm phiên dịch và đồng chí Bảo bác sĩ, trưởng ban bảo vệ sức khỏe của Trung ương. Đoàn sang Nam Ninh được đồng chí Vi Quốc Thanh - Chủ tịch khu tự trị Choang tiếp và làm việc về hiệp nghị biên giới. Tới Bắc Kinh làm việc với Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc, đồng chí Dương Thành Vũ thông báo kế hoạch đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp thuận. Chủ tịch Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu ân Lai, Nguyên soái Hạ Long,... gặp đoàn (có cả đồng chí đại sứ Trần Tử Bình tham dự) thông báo chính thức ý định viện trợ và chụp ảnh chung, chiêu đãi đoàn trước khi về nước.

        Về nước, chúng tôi khẩn trương triển khai kế hoạch hiệp đồng đã thống nhất giữa hai nước, chuẩn bị kế hoạch để triển khai bố trí các sư đoàn phòng không của Trung Quốc trên các tuyến đường bộ, đường sắt từ Trung Quốc sang, các binh đoàn công binh công trình làm đường và xây dựng hang hầm lô cốt theo hiệp nghị. Tổ chức hiệp đồng xây dựng các công trình phòng thủ ở Đặc khu Đông Bắc, dọc bờ biển Quân khu 3 và Thanh Hóa (Quân khu 4). Phòng A Cục Tác chiến là cơ quan trung tâm hiệp đồng các cơ quan của Bộ Quốc phòng và các đơn vị phòng không, công binh của Trung Quốc, đoàn kết thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả tốt. Cũng có vài vụ nhỏ xảy ra trong quan hệ khi Trung Quốc đang diễn ra “Cách mạng văn hóa” ảnh hưởng đến các đơn vị bộ đội Trung Quốc, nhưng được giải quyết êm thấm.

        Thời gian này, đi đôi với việc đánh trả không quân, hải quân địch, Phòng A Cục Tác chiến còn lo tăng cường công tác phòng thủ bảo vệ căn cứ hậu phương miền Bắc. Tôi và đồng chí Trung tá Dương Ngọc Lâm (đã hy sinh trong một tai nạn máy bay) được thủ trưởng Bộ và Cục giao chuyên trách nghiên cứu xây dựng các căn cứ của Trung ương, Chính phủ và Sở chỉ huy bí mật thời chiến của Bộ Quốc phòng. Ban chỉ đạo xây dựng căn cứ do đồng chí Trần Hữu Dực làm Trưởng ban, có đồng chí Phạm Chung - Phó văn phòng Trung ương và đồng chí Nguyễn Hữu Kháng - Cục trưởng Cục bảo vệ Trung ương (sau này là Thiếu tướng Bộ Công An) giúp việc. Bên quốc phòng, sau khi đồng chí Hoàng Văn Thái đi công tác miền Nam thì đồng chí Trần Quý Hai làm phó của Ban căn cứ Trung ương. Giúp đồng chí Trần Quý Hai ở Cục Tác chiến có tôi và đồng chí Dương Ngọc Lâm. Cục Bảo vệ - Tổng cục Chính trị có một tổ do một đồng chí trung tá trưởng phòng bảo vệ phụ trách, Cục Công binh do đồng chí cục phó (sau này là Tư lệnh công binh) Trần Bá Đặng và một trung đoàn công binh chuyên trách xây dựng.

        Các khu căn cứ được xây dựng trong các khu rừng bí mật ở một số tỉnh ở Tây Bắc và phía tây đồng bằng Bắc Bộ. Lợi dụng các hang đá lớn xây dựng đường hầm dài, có hang lớn có thể dùng họp Trung ương, Chính phủ...

        Tuy rằng chưa xảy ra chiến tranh lớn trên bộ, nên chưa sử dụng đến. Nhưng trong chiến tranh phá hoại cũng có một vài lần dùng để sơ tán cơ quan lãnh đạo và các cuộc họp bí mật trong tình hình không quân địch hoạt động mạnh ở Thủ đô Hà Nội.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #33 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:29:43 PM »

        Nhớ lại một lần đưa Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị đi sơ tán, làm việc tại một khu căn cứ đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với tôi. Đó là buổi sáng tháng 5 năm 1966 tôi vào cơ quan được đồng chí Đỗ Đức Kiên - Cục phó giao nhiệm vụ sang nhà anh Văn (Võ Nguyên Giáp) để đi công tác. Tôi và đồng chí Trung tá Dương Ngọc Lâm sang nhà anh Văn, được biết là Bộ Chính trị quyết định mời Bác sáng nay đến khu căn cứ... để bàn công việc. Không họp ở Hà Nội, vì Cục 2 báo cáo có tin sáng nay có thể địch oanh tạc vào trung tâm Hà Nội. Đồng chí Văn bảo tôi gọi thông tin đi cùng để liên lạc thường xuyên với trực ban tác chiến nắm tình hình. Đồng chí Niên - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thông tin đến gặp tôi nói đã phái một tổ thông tin mang theo dây điện thoại đi trước để nối dây tới chỗ làm việc và hỏi địa điểm nào? Tôi bảo cứ mắc dây điện thoại tới cơ quan huyện ủy X đến đó sẽ hay, nếu phải vào đường hầm thì kéo dây nối tiếp.

        Đồng chí Lâm ở lại chờ đồng chí Văn ăn sáng xong cùng đi. Tôi đi xe sang chỗ Bác ở, vừa tới “cổng đỏ” thì gặp xe đồng chí Kháng (Cục trưởng Cục Bảo vệ) bảo đi luôn, đoàn xe của các đồng chí Bộ Chính trị đi sau rồi. Chúng tôi đến cơ quan huyện ủy huyện X đã chuẩn bị sẵn sàng một bàn họp và chỗ nghỉ cho Bác và các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị khác (đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh); còn đồng chí Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn được phân công ở lại Hà Nội.

        Các đồng chí Bộ Chính trị họp riêng trong phòng họp huyện ủy. Tôi, đồng chí Kháng, đồng chí Lâm ngồi ở phòng ngoài đón nhận bộ phận rải dây thông tin đến (máy đã đặt sẵn trong phòng). Thỉnh thoảng đồng chí Văn lại ra hỏi tôi có tin tức gì không? Tôi báo cáo; xe thông tin chạy chậm hơn xe thủ trưởng, đến bây giờ chưa thấy tới. Tôi bảo đồng chí Lâm đi tìm đồng chí Niên (Tư lệnh thông tin). Một lúc sau thấy đồng chí Lâm và đồng chí Niên hớt ha hớt hải chạy tới báo cáo còn 3 kilômét nữa thì dây mới kéo tới nơi. Đồng chí Văn bỏ họp lại ra hỏi: “Các cậu làm gì chậm thế, Bác sốt ruột hỏi tin tức đấy?”. Khoảng 11 giờ 30 phút Bác về phòng nghỉ, tôi vào báo cáo với Bác và đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác) ngồi bên cạnh cái giường gỗ, là đường dây liên lạc đã nối thông đến đây, Cục Tác chiến báo cáo tình hình vẫn yên ổn. Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ: “Bộ Chính trị quyết, thì Bác thi hành đi tới đây, nhưng sao lại bỏ dân ở Hà Nội mà mình lại đi sơ tán ở đây, chạy giặc à? Thế dân ở Hà Nội địch đến thả bom thì sao?”. Đồng chí Vũ Kỳ báo cáo lại: “Các đồng chí Bộ Chính trị quyết định mời Bác lên đây để họp cho yên tĩnh. Còn ở Hà Nội dân đã có kế hoạch phòng không nhân dân rồi ạ!...” đồng chí Kháng vào báo cáo mời Bác vào ăn trưa, Bác vẫy tay bảo tất cả vào ăn! sang phòng họp của Bộ Chính trị vừa rồi, tôi thấy các đồng chí trong Bộ Chính trị (đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh) đã ngồi sẵn ở hai bên một bàn dài, đồng chí Vũ Kỳ kéo ghế mời Bác ngồi ở đầu bàn (ghế chủ trì cuộc họp) và cả chúng tôi những người đi theo cũng kéo ghế vào bàn ăn. Nhìn trên bàn thấy đặt mấy đĩa cơm nếp, gói giấy trắng san sẻ ra, mấy đĩa giò lụa... Bác hỏi ăn thế này à? Đồng chí Kháng vừa chỉ tay vừa báo cáo “thứ này là ở nhà mang theo, còn rau muống và nước rau luộc là hái ở vườn đây”. Bác nói “lúc nãy mình nghe mổ lợn kêu éc éc tưởng là huyện ủy làm thịt lợn để chiêu đãi “dân sơ tán này”, sao không thấy lòng lợn đâu cả nhỉ!”. Đồng chí huyện ủy đứng bên cạnh báo cáo: “Dạ! hôm nay hội phụ nữ họp ở đây, có làm thịt lợn cho chị em dân tộc ở xa về ăn trưa thôi ạ?”. Bác nói: “Ừ! thế thì được, cho các cô người dân tộc ở các bản xa về họp thì được, tưởng các chú mổ lợn chiêu đãi “dân sơ tán này” thì Bác không dám ăn đâu!”. Ăn cơm xong ra ngoài sân, đồng chí Vũ Kỳ nói: “Tôi không ngăn cản mà các ông làm thêm món thịt lợn bồi dưỡng thì bị Bác phê bình cho đấy?”.

        Trưa hôm ấy, trong bộ quần áo lụa “lĩnh đen” tay ống rộng, quần dài quá đầu gối, Bác cứ trằn trọc không ngủ. Thỉnh thoảng lại hỏi “Tình hình máy bay địch như thế nào? Sao ta ngồi mãi ở đây làm gì?”. Sợ Bác bắt về trong giờ cao điểm, chúng tôi mời Bác đi vào xem một đường hầm của Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng gần đó. Bác đi thoăn thoắt một lượt từ đầu cửa hang này đến cuối cửa hang gần 2 kilômét. Đến một hang rộng có nhũ đá là chỗ để hội họp (được khoảng 150 người), Bác ngồi trên một tấm đá khen các chú công binh cải tạo hang đá thành đường hầm và có chỗ họp rộng tốt; Bác lấy bao thuốc lá trong túi chia cho các chiến sĩ công binh, mỗi người một điếu thuốc, ngồi vây xung quanh Bác. Đến 3 giờ chiều, ra khỏi cửa đường hầm Bác bảo: “Thôi chú gọi xe ra đây về luôn, không đi lại cơ quan huyện ủy nữa, bây giờ máy bay địch không dám bắn phá nữa đâu”. Thế là cả đoàn lại trở về Hà Nội.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #34 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:36:54 PM »

        Những lời nói và cử chỉ của Bác trong ngày hôm ấy tôi còn nhớ mãi! Vì ý kiến tập thể - Bộ Chính trị nên Bác phải đi sơ tán. Xa dân, Bác thấy không an tâm sốt ruột luôn hỏi thăm tình hình, lo lắng dân ở lại trong tình hình máy bay địch có thể đến bắn phá. Về địa phương thì không để làm phiền cán bộ, dân tại chỗ, tránh ăn uống lãng phí.

        Sáng ngày hôm sau, Cục 2 nhận được tin máy bay địch có thể ném bom Hà Nội. Chúng tôi lại được lệnh đưa Bác đi sơ tán. Lần này chỉ có tôi, đồng chí Lâm, đồng chí Hoàng (Thư ký đồng chí Võ Nguyên Giáp), đồng chí Kháng Cục trưởng Cục Bảo vệ Trung ương và đồng chí Vũ Kỳ đi theo Bác. Rút kinh nghiệm ngày hôm trước, sáng nay tôi mang theo một xe Uoát thông tin, có 2 tiêu đồ theo dõi phát tín hiệu hoạt động máy bay địch, vẽ lên một tấm bản đồ nhỏ.

        Chúng tôi đưa Bác đến Sở chỉ huy dự bị của Bộ Tư lệnh Phòng không, cách Hà Nội không xa lắm. Bác vào trong hang nằm nghỉ trên một tấm phản (thường của lính), mang theo cái đài bán dẫn thu tin để Bác nghe. Bác hỏi: “Sao hôm nay lại đi gần thế này? Mà chỉ có mình Bác, các chú khác không đi à?”. Chúng tôi báo cáo: “sơ tán gần nên mời Bác ra trước, các thủ trưởng khác sẽ ra sau, khi có tình hình gấp”. Thế nhưng Bác cũng không nằm nghỉ yên, đi ra ngoài cửa hang lại chỗ xe thông tin xem anh em tiêu đồ đang nghe tín hiệu và ghi đường bay địch trên một tấm bản đồ nhỏ miền Bắc. Bác ngồi xổm bên cạnh, xem khi biết (trên sơ đồ) máy bay địch chỉ hoạt động ở Thanh Hóa và trên biển, Bác cho anh em chiến sĩ tiêu đồ thuốc lá rồi bảo: “Thế này thì nó có bay vào Hà Nội đâu mà ta phải ngồi đây? Thôi đi về”. Thế là ngày thứ hai chúng tôi đưa Bác đi sơ tán về.

        Từ đó Bộ Quốc phòng quyết định xây dựng một hầm phòng không tại chỗ nhà làm việc và ở của Bác để không cần phải đi sơ tán nữa.

        Từ sở chỉ huy trực ban Cục Tác chiến có máy điện thoại trực tuyến đến hầm phòng không của Bác và có loa nhỏ đặt trên phòng làm việc. Mỗi lần có tin máy bay địch tới Hà Nội thì trực ban tác chiến vừa phát loa báo tin chung cho dân Hà Nội máy bay địch cách Hà Nội 150, 100 kilômét, rồi 50 kilômét... ấn nút còi báo động đặt ở Nhà hát lớn và trên nóc nhà hội trường Ba Đình. Riêng với Bác, các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư thì có hệ loa riêng thông báo tin hoạt động máy bay địch và khi máy bay tới gần, thì qua hệ thống loa mời Bác xuống hầm phòng không. Xuống ngồi nghỉ dưới hầm, thỉnh thoảng qua máy điện thoại trực tuyến, nối tới hầm Sở chỉ huy Cục Tác chiến Bác hỏi tình hình. Có lần nghe còi báo yên rồi, không thấy báo cáo điện thoại trực tuyến mời Bác lên hầm, Bác lại hỏi ngay: “Sao không thông báo cho Bác lên hầm?”. Thông thường anh em trực ban sợ Bác phải lên xuống hầm mệt nên chờ máy bay địch bay đi thật xa mới mời Bác lên, vì cũng đã có lần vừa còi báo yên lại báo động ngay, do tốp máy bay khác đột ngột bay vào lại...

        Đầu năm 1968 tôi được phong quân hàm Thượng tá và được đề bạt làm Cục phó Cục Tác chiến, vẫn phụ trách làm kế hoạch chiến lược và theo dõi chiến trường A, Phòng A có thêm nhiệm vụ tổng hợp tình hình các chiến trường Đông Dương, nhất là chiến trường B lúc này quân Mỹ đã vào, chiến tranh cục bộ đang diễn ra khẩn trương ác liệt. Vì vậy hàng năm thường có phái đoàn cao cấp của Đảng và Nhà nước sang Trung Quốc và Liên Xô thông báo tình hình và yêu cầu viện trợ. Trong phái đoàn thường có một đồng chí Thứ trưởng quốc phòng hoặc Tổng Tham mưu phó (thông thường đồng chí Thứ trưởng Trần Sâm, có lần đồng chí Nguyễn Đôn hay Trần Quý Hai).

        Ở Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Tống Thái - Cục trưởng Cục Trang bị và tôi Cục phó Cục Tác chiến làm chuyên viên quân sự. Tôi làm báo cáo tổng hợp tình hình về âm mưu và hoạt động của địch trên các chiến trường chủ yếu là ở miền Nam và miền Bắc, thắng lợi của ta và nêu những khó khăn, chủ yếu là thiếu trang bị và đạn dược. Từ đó đề xuất yêu cầu viện trợ quân sự bổ sung hàng năm.

        Riêng đầu năm và giữa năm 1969, phái đoàn ta do các đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đi hai lần sang Trung Quốc và Liên Xô. Dự họp chung ở Trung Quốc có đồng chí Chu Ân Lai (chủ trì) các đồng chí Khang Sinh, Trần Nghị,... Sau đó có họp riêng về đoàn quân sự hai nước để nghe cụ thể. Đầu năm 1969 các đồng chí Trung Quốc còn yêu cầu tổ quân sự của ta do đồng chí Nguyễn Đôn chủ trì, tôi báo cáo về tình hình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 cho thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu và các quân chủng, quân khu Bắc Kinh nghe tại “Điếu Ngư Đài”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #35 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:42:04 PM »

        Dự họp chung ở Liên Xô có đủ các đồng chí Brê-giơ-nhép, Pốt-goóc-nưi, Kô-xư-ghin,... dự. Sau đó còn yêu cầu tổ quân sự đến tại chỗ làm việc của Nguyên soái Ghơ-rét-scô (Bộ trưởng Quốc phòng) và nguyên soái Za-kha-rốp (Tổng Tham mưu trưởng). Cơ quan Bộ Quốc phòng Liên Xô, khi đó là một tòa nhà cao tầng bên cạnh một đại lộ (không có tường che chắn và bãi xe rộng). Xe ôtô của tổ quân sự ta vào dừng sát cổng. Bước vào cửa có hai lính bảo vệ đứng hai bên, phía sau là một tượng đài, ở sau có cắm hai lá cờ lớn (quốc kỳ và quân kỳ). Chúng tôi vòng ra sau đi thang máy lên lầu 11. Cửa thang máy mở ra thì cũng có hai lính bảo vệ đứng hai bên cửa, một sĩ quan Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô đón và đưa chúng tôi vào phòng làm việc rất lớn của Nguyên soái Ghơ-rét-scô Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tổ quân sự của ta họp ngay tại bàn làm việc của Bộ trưởng, bên cạnh có một quả địa cầu to, cao 2 mét và đường kính cũng 2 mét. Nguyên soái (Ghơ-rét-scô quay tay một vòng quả địa cầu và cầm cây chỉ bản đồ, dừng lại ở chỗ có bản đồ Việt Nam và nói với Tổng Tham mưu trưởng Za- kha-rốp: “Bây giờ ta nghe các đồng chí Việt Nam báo cáo”. Đồng chí Tổng Tham mưu phó Nguyễn Đôn chú trì, tôi báo cáo tình hình quân sự về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, trong năm 1968 và đầu năm 1969, theo 3 phần:

        1. Tình hình chiến sự trên hai miền Nam Bắc.

        2. Những thắng lợi của ta trong thời gian qua.

        3. Những mặt khó khăn, hạn chế của ta để đi đến giành thắng lợi, từ đó làm cơ sở yêu cầu bạn viện trợ trang bị vũ khí thêm. Đồng chí Tống Thái báo cáo liệt kê các khoản mục cụ thể đề nghị bạn viện trợ.

        Đồng chí Nguyên soái Ghơ-rét-scô cầm tập giấy dày yêu cầu viện trợ của ta từ tay đồng chí Tống Thái, lật nhanh qua từng trang, liếc nhìn các mục yêu cầu viện trợ. Đồng chí ngoảnh mặt sang phải cười và nói đùa với đồng chí Tổng Tham mưu phó Nguyễn Đôn: “Đồng chí “tác chiến” báo cáo rõ là ngắn, nhưng đồng chí “phụ trách trang bị” báo cáo dài với nhiều trang đánh máy yêu cầu viện trợ thế này!”. Đồng chí Nguyên soái Bộ trưởng lại ngoảnh mặt sang bên trái đưa tập giấy yêu cầu viện trợ của ta và nói với đồng chí Nguyên soái Za-kha-rốp: “Đồng chí cầm về cơ quan Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu để viện trợ tối đa cho các đồng chí Việt Nam, theo khả năng của ta”.

        Một ngày trước khi phái đoàn Việt Nam về nước, có một đồng chí Liên Xô mang đến cho đoàn bản chấp thuận các khoản yêu cầu viện trợ kinh tế và quân sự của ta của Chính phủ Liên Xô do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cô-xư-ghin ký.

        Đồng chí Tống Thái được xem phần viện trợ quân sự của bạn cho ta và về phòng nghỉ của đồng chí Nguyễn Đôn tươi cười vui vẻ nói: “Bạn viện trợ quân sự cho ta rất tốt, đạt nhiều kết quả theo yêu cầu viện trợ của ta...”.

        Năm 1968 là năm thứ ba quân Mỹ và chư hầu đã vào miền Nam trên 50 vạn và hơn 1 triệu quân ngụy, nhưng bị thất bại lớn và bất ngờ qua cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân xuân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (Xuân 1968) đánh vào hầu hết các thành phố, thị trấn ở miền Nam Việt Nam, vào hang ổ ngụy quyền Sài Gòn, tiêu diệt nhiều sinh lực cao cấp Mỹ - ngụy, phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh của chúng, tạo nên bước ngoặt mới để tiến lên giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.

        Bộ Tổng Tham mưu đã thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, tổ chức và điều hành cuộc tiến công và nổi dậy này một cách rất bí mật, tạo bất ngờ choáng váng cho địch khi tất cả miền Nam nổ súng đánh địch.

        Không chỉ đối với địch mà đối với ta (cả cán bộ cao cấp) cũng không biết. Cả thế giới cũng ngạc nhiên sửng sốt trước tin tức này. Khi phái đoàn Đảng và Chính phủ ta sang hội đàm với Trung Quốc và Liên Xô, họ đều khen ngợi sự tài tình tổ chức chỉ huy chu đáo của ta trong cuộc tập kích chiến lược táo bạo này.

        Nhưng về chỉ đạo thời gian hành động của ta, cũng có mặt chưa cụ thể, trong việc xác định thời gian nổ súng “ngày N giờ G” để đồng loạt tấn công (giờ giao thừa tối 30 theo Tết âm lịch năm đó ở miền Bắc và miền Nam chênh lệch 1 ngày).

        Về chỉ đạo chiến lược, gọi là “Tổng tiến công...”, nhưng kéo dài nhiều đợt (cả trong năm 1968 và đầu năm 1969). Những đợt sau đã mất yếu tố bí mật bất ngờ, địch đã hồi phục và điều quân về chi viện, đánh bật quân ta ra khỏi các thành phố, thị trấn, có nơi đẩy lùi quân ta ra khỏi vùng đồng bằng đông dân, buộc một số đơn vị chủ lực quân ta phải lui về biên giới Việt Lào và Campuchia gây cho ta nhiều tốn thất và nhiều khó khăn về tiếp tế hậu cần.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #36 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:48:59 PM »

        Năm 1968 và 1969 với tinh thần chiến đấu anh dũng của quân dân ta, lại được sự viện trợ lớn của Liên Xô và Trung Quốc nên ở miền Bắc đã đánh bại được bước đầu chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ. Ở miền Nam, chúng phải thực hiện chính sách “Phi Mỹ hóa chiến tranh”, rồi “Việt Nam hóa chiến tranh” có kế hoạch chi viện bằng hỏa lực hỗ trợ cho quân ngụy tiến công ra chia cắt đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn để cô lập lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Quân ủy Trung ương chủ trương kiên quyết bẻ gãy các cuộc tiến công của địch chủ yếu là trên hướng đường 9 - Nam Lào, vì ta có điều kiện sử dụng chủ lực ở miền Bắc Việt Nam vào, và gần hậu phương lớn, thuận lợi về bảo đảm hậu cần.

        Đầu năm 1970, Quân ủy cử một đoàn cán bộ vào phổ biến nghị quyết về chuẩn bị chiến trường cho Bộ Tư lệnh 559 và Bộ Tư lệnh B4 (Trị Thiên). Đoàn do đồng chí Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) dẫn đầu, đi cùng có đồng chí Cao Văn Khánh (Tư lệnh Binh đoàn 70), Hoàng Thế Thiện (vào nhận công tác Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh 559) và tôi (Cục phó Cục Tác chiến). Vào Bộ Tư lệnh 559 gặp đồng chí Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh 559, Bộ Tư lệnh B4 cử đồng chí Dương Bá Nuôi (Tham mưu trưởng B4) ra cùng nghe phổ biến nghị quyết và dự kiến kế hoạch phản công, nếu địch tiến công ra ngăn chặn đường vận chuyển chiến lược ở đường 9 - Nam Lào. Sau cuộc họp, đồng chí Dương Bá Nuôi đề nghị cho tôi cùng vào để báo cáo trực tiếp với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh B4 về nghị quyết Quân ủy Trung ương và dự kiến kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu (vì tôi nắm được ý định của trên).

        Được đồng chí Lê Quang Đạo (trưởng đoàn) đồng ý, sau khi báo cáo Bộ, tôi và đồng chí Dương Bá Nuôi theo đường dây cơ giới đi vào B4, đi trên một xe vận tải “Molotova” chúng tôi ngồi giữa các bao tải gạo chất đầy xung quanh thành xe. Dọc đường đi có máy bay C130 của địch bắn đuổi nhưng không trúng thân xe, có một vài viên bắn thủng các bao tải gạo vung vãi trên sàn xe. Qua ngầm Bản Đôn, máy bay C130 của địch thả pháo sáng và bom bi, nhưng xe vượt qua an toàn.

        Vào đến trạm giao liên cuối cùng của đường cơ giới, chúng tôi bắt đầu vác ba lô đi theo đường rừng vào sở chỉ huy B4 (lúc này rút ra đóng trên dãy Trường Sơn giữa biên giới Việt Nam - Lào). Trong thời điểm này, sau ba đợt tập kích vào Huế, địch đã phản công, nên Sở chỉ huy B4 và các đơn vị chủ lực của ta (f324) đều rút lên biên giới, có bộ phận rút sang tuyến 559 để được nhận tiếp tế gạo. Trên đường đi bộ, có nhiều đoàn dân công (người Pa Cô và cả các cô gái Huế) gùi gạo và ngô leo qua các “cổng trời” để tiếp tế cho bộ đội, nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Vì bộ đội đông, đường xa, dốc đứng, gùi lên đỉnh Trường Sơn thì cũng “thất bát”, ăn vơi một số.

        Vào đến Bộ Tư lệnh B4, đồng chí Trần Văn Quang, Bí thư Khu ủy, Tư lệnh mặt trận Trị Thiên (B4) chủ trì họp có đông đủ các đồng chí trong Khu ủy và Bộ Tư lệnh (đồng chí Tư Minh, đồng chí Hưng, đồng chí Nam Long, đồng chí Hoàng Văn Thái (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 325), đồng chí Dương Bá Nuôi,...). Tôi báo cáo nghị quyết Quân ủy Trung ương và kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu, mọi người đều nhất trí và tin tưởng sẽ đánh bại kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Trong không khí rất phấn khởi vì thấy phương hướng đúng đắn của trên, sẽ giải quyết những khó khăn lớn, khi địch phản công đẩy lùi quân ta lên biên giới Việt Lào.

        Tiếp đó theo ý kiến các đồng chí trong cuộc họp, tôi báo cáo tình hình tổ chức lễ tang Bác Hồ ở Hà Nội (vì yêu cầu chiến đấu không có đồng chí nào ra dự). Tất cả các đồng chí đều vô cùng thương tiếc Bác, không khí trầm lặng, rơi nước mắt, đồng chí Dương Bá Nuôi khóc rưng rức. Đồng chí Trần Văn Quang động viên các đồng chí trong hội nghị “biến đau thương thành sức mạnh, đoàn kết nội bộ, ra sức chuẩn bị để giành thắng lợi trong kế hoạch tới...”. Sau cuộc họp đồng chí Trần Văn Quang cho hội nghị ăn chè nấu hạt ngô đỏ xay và đồng chí nói: “Hôm nay họp Khu ủy và Bộ Tư lệnh có cậu Khánh vào nên chiêu đãi món này là đặc biệt lắm đấy! Món ăn dự trữ chiến lược của bọn mình trong này đấy!”. Ngày hôm sau đồng chí Trần Văn Quang (bí danh Bảy Tiến) gọi tôi sang lán đồng chí ở và làm việc phát biểu ý kiến riêng của đồng chí về cuộc tổng tiên công nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 chung trên các chiến trường và riêng ở Huế, về đánh giá thắng lợi và khuyết điểm, về nhận định tình hình hiện nay và đề nghị chủ trương tới. Sau hơn 10 ngày làm việc nắm tình hình B4 với các đồng chí Mai Xuân Tần (Tham mưu phó), đồng chí Ái, đồng chí Phạm Đăng Lung (phòng tác chiến), tôi trở về Bộ được đồng chí Nam Long (Tư lệnh phó B4) tặng một ba toong bằng cây mây do tự tay đồng chí uốn để làm kỷ niệm.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #37 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:51:21 PM »

        Trên đường về có đồng chí Nghị (cán bộ Cục Tác chiến), một đồng chí bảo vệ đi cùng tôi và có cả đồng chí Dương Bá Nuôi (đồng chí Trần Văn Quang cho ra Bắc nghỉ phép thăm gia đình). Khi qua một bãi đất trống rộng, cây sim thấp (ở vùng Cùa tỉnh Quảng Trị) thì bị hai trực thăng bay thấp tới phát hiện, tổ đồng chí Dương Bá Nuôi đi trước chạy nhanh tới ẩn nấp ở khe suối. Tổ 3 người của tôi đi sau phải ẩn nấp tại chỗ dưới một lùm cây sim, tay cầm một cành cây che đầu Hai trực thăng quần đi quần lại mấy vòng rất thấp (chúng tôi trông rõ cả giặc lái Mỹ, lưng trần da đỏ hỏn) không thấy gì, chúng bay đi. Về đến Hà Nội, đánh máy xong 12 trang về ý kiến đồng chí Bảy Tiến, Văn phòng bảo tôi lên báo cáo ngay với đồng chí Văn Tiến Dũng (đang nghỉ ở Tam Đảo). Đồng chí Dũng đồng ý những ý kiến đề xuất của đồng chí Bảy Tiến, bảo tôi về báo cáo với các thủ trưởng khác trong Bộ Tổng Tham mưu (tài liệu do đồng chí Cầm Văn Sinh lưu ở bảo mật Văn phòng Quân ủy).

        Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã nhận xét, bản kiến nghị của đồng chí Bảy Tiến (Trần Văn Quang) có nhiều ý kiến sâu sắc về đánh giá tình hình vừa qua, phán đoán chính xác tình hình sắp tới và đề xuất nhiều vấn đề đúng đắn, phù hợp với yêu cầu chiến lược mới...

        Đồng chí Thượng tướng Trần Văn Quang, mà tôi được biết từ khi tôi là “tự vệ Thành”, chuyển sang làm chiến sĩ, nhân viên Quân chính Cục ở Vinh mà đồng chí là Cục trưởng Quân chính. Khi tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 400, đồng chí làm Chính ủy Liên khu 4 rồi làm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 304. Đồng chí từng làm Cục trưởng Cục địch vận, rồi theo yêu cầu chỉ đạo chiến tranh qua giai đoạn “Tổng phản công”, được điều động sang làm Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

        Đồng chí có trình độ chính trị cao, tầm nhìn chiến lược rộng. Đồng chí đã bồi dưỡng cho cán bộ Cục Tác chiến chúng tôi nâng cao trình độ chiến lược, trong tình hình buổi đầu cán bộ Cục Tác chiến là những thanh niên học sinh, những cán bộ chiến thuật lên cơ quan tác chiến chiến lược, còn non nớt hay có thể nói là chưa hiểu biết gì về chiến lược.

        Đồng chí là thủ trưởng viết chữ rất đẹp, viết rõ ràng và cẩn thận nên đã “gò” và hướng dẫn kỹ càng cho cán bộ tác chiến trong khi thảo các văn kiện hay viết một bức điện và đã bồi dưỡng cho cán bó tác chiến cả về nghiệp vụ tham mưu.

        Với tác phong công tác cụ thể, tỉ mỉ, đồng chí thường kiểm tra phê bình những cán bộ làm việc “qua loa, đại khái”. Đồng chí thường nhắc nhở: “Mỗi cán bộ tác chiến không phải chỉ nắm tình hình tác chiến một cách chung chung mà phải đi sát đơn vị chiến đấu, tìm hiểu nắm chắc tình hình ta, cụ thể có nắm được cả đơn vị có đủ “xoong nồi nấu cơm, bát ăn và bữa cơm của chiến sĩ như thế nào”, trong hoàn cảnh bộ đội trong kháng chiến chống thực dân Pháp vật chất còn nhiều thiếu thốn, để xây dựng tác phong công tác tỷ mỉ, đi sâu sát cho cán bộ tác chiến”.

        Đồng chí lên làm Tổng Tham mưu phó khi hòa bình được lập lại sau hiệp định Giơnevơ 1954. Đến khi thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng về đẩy mạnh đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị ở miền Nam, đồng chí là thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đầu tiên, là trưởng đoàn cán bộ quân sự được phái vào miền Nam, làm trưởng ban quân sự Miền.

        Vì sức khỏe yếu, đồng chí trở ra miền Bắc chữa bệnh một thời gian ngắn, lại trở vào miền Nam, khi bắt đầu tổ chức mặt trận B4 (Trị Thiên) làm Bí thư khu ủy, Tư lệnh B4.

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (xuân 1968), đồng chí cùng các đồng chí trong Khu ủy, Bộ Tư lệnh B4 chỉ đạo quân dân Trị Thiên và thành phố Huế tiến công nổi dậy tiêu diệt nhiều sinh lực cao cấp Mỹ - ngụy trong thành phố, cắm cờ ở thành phố Huế làm chủ trong một tháng. Là thành phố nổi dậy đầu tiên, trụ vững trong thời gian dài nhất trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968...”
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #38 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:54:43 PM »


        3. Tham gia chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào


        Trở về công tác ở Cục Tác chiến, tôi vừa theo dõi phục vụ Sở chỉ huy của Bộ chống chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân địch ở miền Bắc, vừa theo dõi chiến trường B5 (đường 9 - Khe Sanh) là nơi lực lượng Quân khu 4 và chủ lực Bộ ở miền Bắc phái vào hoạt động, do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ đạo chỉ huy.

        Đúng như dự kiến trong kế hoạch của Bộ, tháng 2 năm 1971 quân ngụy Sài Gòn được sự chi viện bằng không quân của Mỹ tấn công ra đường 9 - Nam Lào để cắt đường vận chuyển chiến lược của ta. Chúng cho đây là yết hầu, cắt được cái “cổ họng” này thì ngăn chặn được đầu nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào, và các lực lượng của ta ở miền Nam sẽ bị chết đói. Bộ Tư lệnh chiến dịch phản công ở đường 9 - Nam Lào được thành lập do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo làm Chính ủy. Đồng chí Văn Tiến Dũng vào sau làm đại diện Quân ủy Trung ương, đồng chí Vũ Lăng, Hoàng Dũng, Nguyễn Tuyến giúp việc. Tôi được chỉ định làm Tham mưu phó tác chiến của Bộ Tư Lệnh chiến dịch. Trong lúc Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch đang được triệu tập, đồng chí Lê Trọng Tấn lệnh cho tôi, cùng một bộ phận nhỏ cán bộ tác chiến, cơ yếu thông tin đi trước vào chuẩn bị sở chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Tấn bảo tôi phải chuẩn bị gấp vì bốn ngày sau đó cơ quan và Tư lệnh chiến dịch sẽ vào họp Đảng ủy và triển khai lực lượng gấp (hành tiến chiến đấu vì là chiến dịch phản công phải đánh gấp không để địch vào sâu, phá hết kho tàng dự trữ của ta ở Đường 9 - Nam Lào). Bộ phận tiền trạm của tôi đi bằng 2 xe con (có một xe thông tin) và 2 xe tải, bộ phận hậu cần (C59) mang theo gạo, lương khô và mấy con lợn sống. Ngày đi, chiều đến vị trí dừng chân, thông tin cơ yếu triển khai làm việc báo cáo cho Tư lệnh của bộ phận đi sau.

        Đến đường đi đến Achoóc thì phải triển khai ngay Sở chỉ huy chiến dịch, bên trục đường. Có một sự tranh luận về xác định địa điểm Sở chỉ huy chiến dịch. Anh em tác chiến và tổ bảo vệ yêu cầu phải cách đường 2-3 kilômét vào rừng sâu để phòng địch oanh tạc bằng máy bay. Bộ phận thông tin do đồng chí Phạm Niên (Tư lệnh thông tin) thì yêu cầu đặt ngay sát đường cái đi Achoóc, cách xa đường không quá 500 mét, vì có trạm thông tin A72 ở đó, mới triển khai thông tin được.

        Bộ phận của Tư lệnh chiến dịch đi sau chỉ còn một chặng đường (1 ngày) nữa thì tới nơi. Ra đi đồng chí Tấn bảo sẽ đi ngay sau tôi 4 ngày, nhưng vì sốt ruột, đồng chí quyết định chỉ đi sau 2 ngày. Xe của bộ phận Tư lệnh lại tốt, đi nhanh hơn đoàn xe của tôi (có xe tải hậu cần đèo theo lượng thực và lợn nên đi chậm hơn). Một mặt khác bộ phận đi đầu của Binh đoàn 70 do đồng chí Hồng Sơn chỉ huy đã hành tiến tới gần địch, sở chỉ huy cần bắt liên lạc ngay. Vì vậy tôi đồng ý dặt Sở chỉ huy ngay gần trục đường (chỉ cách 500m). Anh em triển khai thông tin chặt cây làm lán, đào hầm dã chiến cho bộ phận Tư lệnh và Chính ủy là chính và một nhà lán trực ban tác chiến, còn lại là mắc võng nằm. Mới chuẩn bị được một ngày thì tối hôm sau bộ phận Tư lệnh vừa tới. Đồng chí Lê Trọng Tấn khen bộ phận tiền trạm của Sở chỉ huy đi nhanh, khẩn trương triển khai được Sở chỉ huy bắt liên lạc được với Binh đoàn 70 phía trước, nắm được tình hình địch - ta và liên lạc được về Bộ báo cáo tình hình kịp thời thông suốt.

        Đêm hôm đó, Đảng ủy chiến dịch họp luôn hạ quyết tâm chiến dịch.

        Chiến dịch tiến hành thắng lợi, lính dù ngụy bám càng trực thăng Mỹ mà rút chạy. Ta đánh bại cuộc tiến công lớn của Mỹ ngụy, bảo vệ an toàn các kho hàng chiến lược, bảo vệ thông suốt đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn.

        Sau chiến dịch, chúng tôi trở về cơ quan cũ làm tổng kết chiến dịch phản công đầu tiên có hiệp đồng quân binh chủng với một binh đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ (Binh đoàn 70), tấn công từ bắc Đường 9 phối hợp với Sư đoàn 324 của B4 đánh từ phía nam lên đường 9 và các đơn vị của Đoàn 559 chặn đầu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21980


« Trả lời #39 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2016, 03:58:11 PM »


        4. Tham gia chiến dịch tiến công Trị Thiên và đánh bại cuộc tập kích chiến lược băng máy bay B52 của Mỹ vào Hà Nội - Hái Phòng

        Năm 1972, phát huy thắng lợi bước đầu đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, Quân ủy Trung ương chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam với 3 hướng chiến dịch: Chiến dịch Nguyễn Huệ do Đoàn 301 (chủ lực Nam Bộ ) tiến công ở Bình Long, An Lộc; chiến dịch Tây Nguyên tiến công ở Kim Tum, Pleiku; chiến dịch Trị Thiên là hướng chính tiến công chủ yếu ở Quảng Trị, Thừa Thiên vì có điều kiện thuận lợi hơn trong việc sử dụng các binh đoàn chủ lực ở miền Bắc, tiếp tế hậu cần bảo đảm hơn, lại gần hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam.

        Bộ chỉ huy chiến dịch Trị Thiên do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí lê Quang Đạo làm Chính ủy và một số đồng chí khác làm Phó Tư lệnh, Phó Chính ủy như các đồng chí Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cương, Anh Đệ, Lê Tử Đồng, Hoàng Minh Thi,...

        Tôi được chỉ định làm Tham mưu phó tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch và một số các đồng chí các cơ quan Bộ tổ chức, cơ quan tham mưu chính trị, hậu cần của chiến dịch. Đồng chí Văn Tiến Dũng, ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng đại diện Quân ủy Trung ương bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch, có đồng chí Bùi Công Ái và Nguyễn Tuyến giúp đỡ. Đợt 1 chiến dịch ta giải phóng tỉnh Quảng Trị từ đường 9 đến sông Thạch Hãn một cách giòn giã. Nhưng vướng sông Thạch Hãn, bị tắc lại, không phát triển được xuống phía Nam sông để đánh về phía nam Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế. Nguyên nhân là lúc đầu có ý kiến nên lấy hướng Tây Nguyên là chính, đã điều động trung đoàn công binh vào để làm đường chiến dịch. Cuối cùng xác định lại hướng Trị Thiên là chính, điều trung đoàn công binh trở ra làm đường không kịp, nên trong thời gian chuẩn bị chiến dịch không làm đường vu hồi phía tây. Bộ đội cơ giới, pháo vượt sông ở bến phà Trắm (tây cầu Thạch Hãn khoảng 25km) bị tổn thất do máy bay địch thả đủ các loại bom, khống chế bến vượt suốt ngày đêm.

        Trong thời điểm này, ở trong Bộ Tư lệnh chiến dịch và ở ngoài cơ quan Tổng hành dinh có ý kiến khác nhau. Ở Tổng hành dinh chỉ đạo phải đánh vu hồi để tránh tổn thất do vượt sông đánh chính diện.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch thì đề nghị trong lúc địch còn hoang mang, chưa kịp tăng viện, cho dùng sức mạnh vượt sông Thạch Hãn qua cầu Quảng Trị để tranh thủ thời gian phát triển chiến dịch vào nam Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

        Dùng dằng mãi qua điện thoại, điện đài, không thể hiện rõ ý định, Bộ Tư lệnh chiến dịch cử tôi ra báo cáo Quân ủy Trung ương. Ngày 25 tháng 4 năm 1972 ăn cơm trưa xong từ Sở chỉ huy chiến dịch, tôi và một đồng chí bảo vệ đi bộ ra bến xe ôtô. Đến 6 giờ tối tôi đi một xe commăngca Liên Xô với 2 người lái và 1 bảo vệ đi ra Vĩnh Linh theo đường số 1 ra Hà Nội. Xe đi suốt đêm, 2 lái xe thay nhau lái, tôi nằm ngủ ở ghế sau cùng đồng chí bảo vệ. Qua các trọng điểm địch thường xuyên thả bom bắn phá và thả pháo sáng, Ở phà Quán Hầu, phà sông Gianh. Trên đường đi có nhiều đoạn do địch bắn phá và xe vận tải tranh nhau đi làm tắc đường, mãi đến 9 giờ sáng xe mới qua được phà Bến Thủy. Xe tiếp tục chạy một mạch đến 5 giờ chiều về tới Sở chỉ huy Bộ. Chưa kịp ghé thăm nhà tôi vào thẳng Sở chỉ huy gọi điện thoại báo cáo đồng chí Lê Trọng Tấn là đã tới nơi. Gặp đồng chí Vũ Lăng bảo: “Phải sang báo cáo, anh Văn đang chờ anh đấy”. Tới nhà đồng chí Văn mới được 5 phút, đang báo cáo dở, thì trực ban tác chiến gọi điện thoại tới nói: “Anh Ba (đồng chí Lê Duẩn) gọi anh sang nhà riêng đường Hoàng Diệu để báo cáo ngay”. Anh Văn bảo “Thôi cậu sang báo cáo trước với anh Ba rồi quay lại báo cáo với tôi sau”. Tôi đi xe luôn sang nhà đồng chí Lê Duẩn (xe bám đầy bùn, bụi dọc đường). Đồng chí Bí thư bảo: “Đồng chí sang phòng bên cạnh, anh Ba đang chờ ở đấy”. Sau khi mở cửa, vừa đưa tay chào thì đồng chí Lê Duẩn kéo tôi ngồi xuống bên cạnh, trước một cái bàn có trải sân bản đồ Quảng Trị, Thừa Thiên, vẽ hình thái địch và các mũi tiến công của ta (do Cục Tác chiến cung cấp). Đồng chí Lê Duẩn nói ngay: “Cậu báo cáo tóm tắt tình hình thôi (tôi đã biết rồi), chủ yếu là ý kiến anh Dũng (Văn Tiến Dũng) và anh Tấn trong đó thế nào”? Tôi báo cáo vắn tắt khoảng 10 phút về ý định phát triển tiến công của chiến dịch mà địch chưa được tăng viện, đánh chiếm La Vang và thị xã Quảng Trị. Đồng chí Lê Duẩn đặt cả bàn tay xuống bản đồ trùm lên cả khu vực La Vang, thị xã Quảng Trị đến cầu Mỹ Chánh và nói ngay: “Tôi đồng ý, đánh ngay! Cậu về báo cáo anh Văn sáng mai họp Quân ủy” và quay lại gọi đồng chí bí thư bảo: “Đồng chí gọi điện thoại cho đồng chí Sáu Thọ là tôi đã nghe đồng chí Khánh ở mặt trận ra báo cáo rồi. Tôi đồng ý với các đồng chí ở trong đó, sáng mai mời anh Thọ sang họp Quân ủy Trung ương rồi sẽ đi...”, (đi hội nghị Pa-ri).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM