Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2019, 08:26:26 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc  (Đọc 30026 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #70 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:35:58 PM »

        Nắm vững thời cơ chiến lược lớn đã tới, Bộ Chính trị hạ quyết tâm "với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm"1. Bộ Chính trị đã đánh giá chính xác tình hình thế giới, tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường và đã chọn chính xác lúc và nơi quyết định để tập trung lực lượng mở trận quyết chiến chiến lược cuối cùng kết thúc thắng lợi chiến tranh: lúc là những ngày cuối tháng 4 năm 1975; nơi là sào huyệt cuối cùng của Mỹ-ngụy tại Sài Gòn. Đấy cũng là thời gian và mục tiêu của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã bước vào giai đoạn cuối cùng. Lực lượng mà chúng ta tung vào cuộc là lực lượng cả nước với những quả đấm thép là các binh đoàn chủ lực đã đứng chân và tác chiến ở chiến trường, cùng với những binh đoàn chủ lực từ miền Bắc hành quân thần tốc vào chiến trường. Lực lượng chiếm ưu thế áp đảo đó tiến công đúng vào lúc quyết định và nơi quyết định, trở thành "sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát" (Nguyễn Trãi-Quân trung từ mệnh tập), đánh những trận "sấm vang chớp giật, trúc trẻ tro bay”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.
       
        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, cùng với nghệ thuật tập trung lực lượng chiếm ưu thế áp đảo vào các trận quyết chiến, điểm vào đúng những tử huyệt của địch trong những thời điểm quyết định, lực lượng của chúng ta đã cơ động thần tốc kịp thời, tận dụng được thời cơ để giành thắng lợi lớn và từ đấy lại tạo ra những thời cơ mới. Sự cơ động thần tốc đã nhân sức mạnh của những quả đấm thép trên chiến trường và cả sức mạnh của những lực lượng nổi dậy trong lòng địch lên gấp bội, tạo nên sự phối hợp tuyệt đẹp, đẩy Mỹ-ngụy đến chỗ hoang mang cùng cực và sụp đổ cả về ý chí lẫn tổ chức kháng cự. Như Ang-ghen đã chỉ rõ, "tốc độ vận động nhanh có thể bù đắp sự thiếu quân bởi vì nó cho phép tiến công địch khi chúng chưa kịp tập trung binh lực. Cũng giống như trong thương mại có câu: "Thời giờ là vàng bạc", trong chiến tranh cũng có thể nói: "Thời giờ là bộ đội"2.
       
        Đúng là trong quá trình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, bằng cách đánh thần tốc, lực lượng của ta được nhân lên với mỗi giờ mỗi ngày trôi qua, trong khi đó, lực lượng của kẻ địch lại bị thời gian xô đẩy tới tấp không sao gượng dậy được và cứ theo thời gian mà tan rã từng mảng để cuối cùng đi đến sụp đổ hoàn toàn.

*

*       *
       
        Trong bài diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm lần thứ 10 thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng đã chỉ rõ: "Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta đã thắng vì sự nghiệp của chúng ta là chính nghĩa. vì chúng ta dám đánh và biết đánh, biết thắng, càng đánh càng mạnh, tạo được lực lượng vượt trội hơn, đủ sức đánh bại đối phương, đè bẹp ý chí xâm lược của địch”3.
       
        Trong lĩnh vực "biết đánh" rất phong phú đó, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã vận dụng tài tình sáng tạo, đúng quy luật và nâng lên một đỉnh cao mới nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng được kế thừa của tổ tiên ta.
       
        Trong lịch sử, dân tộc ta luôn luôn phải chống lại những kẻ thù xâm lược có đông quân, lắm súng, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn ta, có khi gấp nhiều lần. Trong tình hình đó nếu không biết đánh giá địch, ta cho đúng thì làm sao dám đánh, dám chấp nhận cuộc chiến đấu không cân sức với quân thù, từ đó tìm ra con đường dẫn tới chiến thắng.
       
        Để đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch, chúng ta đã luôn luôn vận dụng đúng đắn quan điểm tổng hợp, đánh giá sức mạnh của địch và của ta không chỉ dựa vào số lượng quân đội, vũ khí, phương tiện vật chất, mà xem xét toàn diện các mặt quân sự, chính trị , kinh tế và văn hóa, vật chất và tinh thần, số lượng và chất lượng, điều kiện trong nước và trên thế giới... Trong kháng chiến chống Mỹ, đế quốc Mỹ mạnh hơn ta gấp hàng trăm, nghìn lần về kinh tế, về số lượng và chất lượng vũ khí, kỹ thuật quân sự. Nhưng chúng ta mạnh hơn hẳn chúng về chính trị, về tinh thần của nhân dân và quân đội, về chất lượng lực lượng vũ trang, về khoa học nghệ thuật quân sự. Chính vì vậy Đảng ta khẳng định ngay từ đầu: "Mỹ giàu nhưng không mạnh", và hạ quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
       
        Trong chiến tranh giải phóng, lúc đầu ta còn yếu hơn địch về vật chất. Muốn mạnh hơn địch để thắng địch, phải qua một quá trình chuyển hóa làm cho ta ngày càng mạnh lên, địch ngày càng yếu đi. Vì vậy phải đánh lâu dài, ta càng đánh càng mạnh, cuối cùng đủ sức áp đảo quân địch, giành thắng lợi.

---------------
1. Trích: Điện số 956KT ngày 1 tháng 4 năm 1975 của Bộ Chính trị gửi Trung ương cục và các đồng chí đại diện Bộ Chính trị tại mặt trận Sài Gòn.

2. C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, tiếng Nga, xuất bản lần thứ hai, t 9, tr. 495.

3. Lê Duẩn. Thiên anh hùng ca vĩ đại, Tạp chí Cộng sản, số tháng 5-1985, tr. 8.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #71 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:39:15 PM »

        Trong chiến tranh, phải đánh thắng địch về quân sự. Vì vậy phải tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch về quân sự. Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước của nhân dân ta chống xâm lược là chính nghĩa nên có sức mạnh của toàn dân. Lực lượng vũ trang tập trung của ta lúc đầu thường ít hơn quân xâm lược. nhưng ta vẫn duy trì và phát triển được cuộc kháng chiến là nhờ có sức mạnh của chiến tranh nhân dân, của toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Lực lượng vũ trang được tổ chức thành ba thứ quân nên có thể phát huy sức mạnh đánh địch ở khắp nơi, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Lực lượng vũ trang kết hợp với lực lượng chính trị càng tạo thành sức mạnh tổng hợp rất lớn. Thực tiễn của các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của nhân dân ta vừa qua đã chứng minh: thế dựa vào dân là thế vững nhất, sức mạnh của nhân dân là sức mạnh to lớn nhất, trí sáng tạo của nhân dân là vô tận. Cho nên nghệ thuật tổ chức, xây dựng lực lượng của chúng ta trước hết là nghệ thuật tổ chức xây dựng lực lượng của chiến tranh nhân dân, đi từ xây dựng cơ sở chính trị mà xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân cân đối và đồng bộ.
       
        Trong nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng, trong khi đánh giá đúng mức vai trò của số lượng lực lượng vũ trang, chúng ta hết sức coi trọng yếu tố chất lượng. Tổ tiên ta xưa kia đã từng vận dụng đúng đắn quan điểm xây dựng quân đội "cốt ở tinh nhuệ, không cốt nhiều”. Khi sử dụng, lúc thì lấy ít đánh nhiều, khi thì tập trung lực lượng ưu thế lấy nhiều đánh ít, nhưng nói chung đều sử dụng một cách hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất, "sức dùng một nửa mà công được gấp đôi”, (Nguyễn Trãi-Lam Sơn thực lục). Nghệ thuật sử dụng lực lượng của ta còn luôn luôn đi đôi với nghệ thuật làm suy yếu lực luống của địch, khơi sâu chỗ yếu và hạn chế chỗ mạnh của chúng.
       
        Nét đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng lực lượng của chúng ta là sử dụng lực lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với thế và thời. Chúng ta coi lực lượng là yếu tố cơ bản để tạo nên sức mạnh giành thắng lợi, nhưng sức mạnh không phải chỉ tùy thuộc vào bản thân lực lượng mà còn phụ thuộc vào thế và thời cơ mà lực lượng ấy được sử dụng. Lẽ đương nhiên là phải có lực lượng đủ mạnh thì mới tạo nên hoặc tận dụng được thế và thời cơ có lợi, nhưng một khi có thế tốt và được sử dụng đúng thời cơ thì sức mạnh mà lực lượng đó tạo ra sẽ vượt xa sức mạnh ban đầu của bản thân nó. Đúng như Nguyễn Trãi đã nói, "được thời có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn..." (Quân trung từ mệnh tập). Ví như một đội đặc công, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, với thế mạnh của lối đánh luồn sâu, ém sẵn, bí mật, bất ngờ, khi tập kích một sân bay địch có thể làm nên chuyện mà bình thường phải sử dụng từng trung đoàn, sư đoàn không quân ném bom mới làm nổi. Cho nên có thể nói nghệ thuật quân sự Việt Nam luôn luôn là nghệ thuật tạo thế, tạo thời cơ đê sử dụng lực lượng có lợi nhất, phát huy được sức mạnh lớn nhất và đạt tới hiệu quả cao nhất.
       
        Trong nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng của ta, còn nổi lên vấn đề xây dựng và phát triển lực lượng chủ lực để hình thành những quả đấm mạnh, giáng những đòn tiêu diệt lớn quân địch, đặc biệt là vào giai đoạn cuồl của chiến tranh.
       
        Trong chiến tranh giải phóng, lực lượng ta lúc đầu còn nhỏ nên phải đánh lâu dài, phải thắng địch từng bước, đánh bại địch từng bộ phận, vừa đánh vừa xây dựng, phát triển lực lượng về mọi mặt; đến khi lực lượng ta dần dần mạnh lên mới có khả năng đánh tập trung, thực hiện các đòn tiêu diệt lớn. Cùng với sự phát triển của chiến tranh, lực lượng vũ trang tập trung của ta được tổ chức với quy mô ngày càng lớn, đồng thời thế trận chiến tranh nhân dân của ta cũng phát triển ngày càng sâu rộng, cài xen vào thế trận của địch, buộc địch phải phân tán đối phó, phòng ngự bị động, không thể tập trung được lực lượng lớn để tiến công có hiệu quả.
       
        Đến giai đoạn cuối chiến tranh, ta tiến hành tiến công chiến lược và tổng tiến công chiến lược kết hợp với nổi dậy của quần chúng để giành thắng lợi quyết định thì trên cơ sở chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp, phải tổ chức các tập đoàn chiến dịch và tập đoàn chiến lược đứng chân trên các địa bàn trọng yếu, hình thành những quả đấm mạnh trên nhiều hướng chiến lược. Những quả đấm đó, trên nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp và vững chắc, cho phép ta thực hành các trận tiến công đồng thời hoặc gối đầu hay kế tiếp liên tục trên toàn chiến trường, làm cho địch bị động đối phó ở nhiều nơi, không điều động được lực lượng đi ứng cứu lẫn nhau; gây nên sự đổ vỡ "dây chuyền" trong thế trận chiến lược của địch, làm xuất hiện những tình huống chiến lược và thời cơ chiến lược mới nối tiếp nhau, tạo điều kiện cho ta giành thắng lợi nhanh chóng, dồn dập và ngày càng lớn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #72 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:42:15 PM »

        Trong kháng chiến chống Pháp, ta mới có khả năng tổ chức được một tập đoàn chiến lược nên chỉ mở được từng chiến dịch riêng rẽ trên từng hướng chiến lược riêng rẽ; các hướng chiến lược khác chỉ có sự phối hợp bằng các hoạt động tác chiến hoặc chiến dịch nhỏ mà kết quả thắng lợi chỉ có giá trị về chiến dịch, ít có giá trị về chiến lược. Năm 1950, ta mở chiến dịch Biên giới; đầu năm 1951 mới mở chiến dịch Trần Hưng Đạo rồi tiếp đến chiến dịch Hoàng Hoa Thám, sau đó là chiến dịch Quang Trung, nhưng đó đều là những chiến dịch, chưa làm thay đổi được cục diện chiến trường. Đến Đông-Xuân 1953-1954, ta cũng chỉ tập trung được một tập đoàn chiến lược mở chiến dịch Điện Biên Phủ mà không có tập đoàn chiến lược thứ hai ở đồng bằng Bắc Bộ; ở các hướng chiến lược khác, ta cũng mới tổ chức được một vài tập đoàn chiến dịch nhỏ. Do đó thắng lợi chiến lược có phần bị hạn chế.
       
        Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, với những điều kiện mới của tình hình trong nước và trên thế giới, việc xây dựng, phát triển lực lượng và sự chỉ đạo chiến lược của ta có bước phát triển cao hơn. Tới một giai đoạn phát triển nhất định của chiến tranh, ta đã tổ chức được nhiều tập đoàn chiến lược và tập đoàn chiến dịch, đứng chân và cài thế sẵn trên các hướng chiến lược trọng yếu trên toàn chiến trường. Trong chiến cuộc Xuân-Hè 1972, ta đã tổ chức được một tập đoàn chiến lược đứng chân ở phía bắc trận tuyến của địch ở Quảng Trị; một tập đoàn chiến dịch mạnh đứng chân ở phía nam trận tuyến của địch ở phía tây Sài Gòn; và một tập đoàn chiến dịch nhỏ đứng giữa trận tuyến của địch tại Tây Nguyên. Khi cuộc tiến công chiến lược được phát động thì các tập đoàn chiến lược và chiến dịch này đồng thời hành động với sự phối hợp của chiến tranh nhân dân rộng rãi, sâu hiểm trên toàn chiến trường, cả trước mặt và sau lưng địch. Tình thế đó buộc địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó một cách lúng túng, dẫn đến trận tuyến của chúng bị phá vỡ ở một số nơi, không sao hàn gắn được.
       
        Đến đầu năm 1975, việc tổ chức, chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng tiến công chiến lược đạt tới quy mô lớn hơn trước nhiều. Để chuẩn bị cho chiến cuộc Xuân 1975, ta đã xây dựng được hai tập đoàn chiến lược và một tập đoàn chiến dịch mạnh, đồng thời có lực lượng tổng dự bị chiến lược hùng hậu. Tập đoàn chiến lược thứ nhất gồm một quân đoàn và một số sư đoàn đứng chân ở hướng chiến lược Huế-Đà Nẵng. Tập đoàn chiến lược này đã kéo được hai sư đoàn tổng dự bị chiến lược của địch (sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn dù) ra Huế và Đà Nẵng rồi giam chân chúng ở đó, làm cho bộ chỉ huy địch không còn nắm được trong tay lực lượng dự bị mạnh. Tập đoàn chiến lược thứ hai gồm một quân đoàn cùng một số sư đoàn, đứng chân ở phía tây-bắc Sài Gòn. Đó là chiếc búa sẵn sàng đập vào đầu địch, khiến địch luôn luôn phải cảnh giác đề phòng.
       
        Tập đoàn thứ ba là một tập đoàn chiến dịch mạnh gồm một số sư đoàn đứng chân ở quãng giữa trận tuyến địch là Tây Nguyên.
       
        Ngoài ba tập đoàn lực lượng đó ra, Bộ Tổng tư lệnh của ta còn nắm trong tay lực lượng dự bị chiến lược mạnh gồm một quân đoàn, đồng thời có nguồn hậu bị dồi dào sẵn sàng được động viên.
       
        Do tổ chức được các tập đoàn chiến lược và tập đoàn chiến dịch mạnh đứng chân trên các hướng chiến lược trọng yếu suốt chiều dài trận tuyến như thế, nên khi cuộc tổng tiến công chiến lược được phát động thì các hướng đều có thể đồng thời hành động, hoặc gối đầu nhau, hoặc kế tiếp nhau một cách liên tục.
       
        Cách tổ chức, bố trí lực lượng như vậy làm cho ta nắm vững được quyền chủ động chiến lược. Ta lại có mưu kế hay, lập thế trận tốt, giỏi nghi binh lừa địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #73 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:47:46 PM »

       
NGHỆ THUẬT LẬP THẾ TRẬN
       
        Nghệ thuật lập thế trận, một nội dung rất quan trọng của nghệ thuật quân sự, đã ra đời từ rất sớm trong lịch sử chiến tranh. Nó cũng được nghiên cứu và vận dụng khá phổ biến ở các nước phương Đông từ nhiều thế kỷ qua.
       
        Ở Việt Nam, trong tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược lớn từ trước tới nay, thời nào cũng vậy, dân tộc ta luôn luôn phải đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh. So sánh lực lượng ban đầu thường là bọn xâm lược có số quân đông hơn ta, có khi gấp nhiều lần. Để đánh thắng chúng, ngoài việc tính toán chuẩn bị về lực lượng, tinh thần và tiềm lực kinh tế quân sự của đất nước, dân tộc ta luôn luôn phải nghiên cứu vận dụng nghệ thuật đánh giặc thích hợp, trong đó có nghệ thuật lập thế trận.
       
        Trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ vừa qua, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội vào thực tiễn nước ta, kế thừa kinh nghiệm đánh giặc giữ nước của dân tộc đồng thời tiếp thụ những kinh nghiệm quân sự tiên tiến trên thế giới, đưa nghệ thuật quân sự của chiến tranh cách mạng Việt Nam phát triển lên những đỉnh cao mới; trong đó, nghệ thuật lập thế trận đã có nhiều biểu hiện phong phú, sáng tạo. Trong điều kiện phải lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, nghệ thuật quân sự của ta đã thành công xuất sắc trong việc lập thế trận, nên với lực lượng ít hơn địch, đã tạo ra sức mạnh áp đảo quân địch, giành thắng lợi. Nghệ thuật lập thế trận đã thực sự trở thành một bản lĩnh sở trường, một kinh nghiệm có tính chất truyền thống của quân và dân ta, một nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
       
       
I. THẾ TRẬN LÀ GÌ?
       
        Thế trận là thế bố trí lực lượng, sắp xếp triển khai đội hình và tổ chức, thiết bị chiến trường trên một đia hình tác chiến nhất định đối trước quân địch, theo mưu kế tác chiến của ta.
       
        Nghệ thuật lập thế trận, theo binh pháp thời xưa thì gọi là phép bày binh bố trận. Đó là khoa học về tìm chọn phương án tối ưu trong việc bố trí, sắp xếp đội hình tác chiến phù hợp với những điều kiện khách quan trên chiến trường, nhằm thực hành tác chiến chiến lược, chiến dịch hay từng trận chiến đấu. Bố trí thế trận giỏi, điều khiển thế trận tài thì với lực lượng ít có thể thắng kẻ địch có số lượng đông hơn, có khi đông hơn mình gấp bội. Lực lượng mạnh, thế trận hay thì thắng lợi càng lớn. Ngược lại, có lực lượng mạnh mà bố trí thế trận tồi thì trước một đối phương có lực lượng kém nhưng có thế mạnh, vẫn lâm vào thế bị động, đối phó lúng túng, phạm sai lầm, dẫn đến hao binh tổn tướng và thất bại. Trong lịch sử đấu tranh vũ trang từ xưa tới nay đã không hiếm trường hợp một đội quân nhỏ đứng trên chỗ hiểm, lại khéo bày binh bố trận, giỏi điều khiển tình huống chiến đấu, đã thắng oanh liệt những đội quân đông hơn.
       
        Thế trận mang tính chất tổng hợp. Nó được hình thành trên cơ sở của nhiều yếu tố và sự tác động lẫn nhau giữa những yếu tố đó. Những yếu tố cơ bản là: lực lượng và hình thái bố trí của địch; lực lượng của ta; điều kiện địa hình và thiết bị chiến trường; nghệ thuật lập thế trận và tổ chức, chỉ huy của ta, v.v.
       
        Thế trận có thể sớm hình thành đầy đủ, trong đó toàn bộ đội hình của các lực lượng tham gia được triển khai ngay từ đầu. Thế trận cũng có thể hình thành dần từng bước trong quá trình tác chiến. Nhưng nói chung thế trận không đứng im mà luôn luôn vận động, biến hóa từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc tác chiến. Thế trận là một yếu tố giữ vai trò quyết định đối với diễn biến của tình huống chiến đấu.
       
        Thế trận và thế có mối quan hệ khăng khít với nhau. Trong cuộc đấu tranh giữa hai bên đối địch, thế là hình thái tạo ra điều kiện thuận lợi cho bên này và khó khăn cho bên kia trong việc phát huy sức mạnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra cho mình. Thế là kết quả của một quá trình đấu tranh làm chuyển biến so sánh lực lượng giữa hai bên, là kết quả sự vận động tổng hợp của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, vật chất và tinh thần, lực lượng và thế trận… Trong đó thế trận là một yếu tố rất cơ bản để hình thành thế, tạo ra thế có lợi nhằm đánh bại đối phương, giành thắng lợi về mình .
       
        Trong một cuộc chiến tranh, thường có rất nhiều thế trận khác nhau. Mỗi hình thức tác chiến có thể là một thế trận. Người ta thường chia ra thành thế trận chiến lược, thế trận chiến dịch và thế trận chiến đấu.
       
        Xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân, trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ vừa qua, đảng ta đã tổ chức xây dựng được một thế trận rộng lớn trên phạm vi cả nước: thế trận chiến tranh nhân dân. Trong thế trận chiến tranh nhân dân đó, thế trận chiến dịch và chiến đấu của ta phát triển hết sức phong phú, độc đáo và rất lợi hại.
       
        Thế trận chiến tranh nhân dân của ta là thế trận đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy1 tiến công với nổi dậy, kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động, kết hợp tiêu diệt địch với làm chủ, làm chủ với tiêu diệt địch... trong một cuộc đấu tranh toàn diện trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong thế trận đó, mỗi người dân là một chiến sĩ giết giặc, cứu nước, mỗi làng xã, mỗi địa phương là một pháo đài phòng giữ vững chắc, tiến công mạnh mẽ; sức mạnh tại chỗ của mỗi địa phương và sức mạnh của cả nước được phát huy đến mức cao khiến cả nước trở thành một mặt trận thống nhất, mỗi địa phương là một trận địa tiến công tiêu diệt kẻ thù.

------------------
1. Ngày nay được gọi là: kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực-B.T.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #74 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:57:15 PM »

        Thế trận chiến tranh nhân dân tạo ra cho quân và dân ta thế chủ động tiến công địch, bao vây, chia cắt, giam chân địch, căng mỏng chúng ra mà đánh ở mọi nơi, trong mọi lúc, đồng thời tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch ở nơi hiểm yếu, nơi địch sơ hở, trên chiến trường ta lựa chọn. Chính dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân đã bày sẵn mà năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đưa hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào miền Nam hòng tạo ra bước ngoặt căn bản về so sánh lực lượng có lợi cho chúng, quân và dân ta ở miền Nam vẫn giữ vững và không ngừng phát triển thế tiến công quân địch.
       
        Giặc Pháp và giặc Mỹ tuy có số quân đông, được trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, lại chiếm giữ được một số vùng và địa bàn chiến lược, nhưng đụng vào thế trận chiến tranh nhân dân của ta, chúng đều đã thất bại. Cả giặc Pháp lẫn giặc Mỹ đều sa vào thế trận không có lợi cho chúng: càng đánh chúng càng bị hãm vào thế phòng ngự bị động, bị bao vây chia cắt, chỗ mạnh của chúng bị kiềm chế, chỗ yếu của chúng bị khoét sâu, muốn tập trung mà phải phân tán, có quân đông mà vẫn thiếu, vẫn sơ hở, liên tiếp bị tiêu hao và tiêu diệt.
       
        Cậy có tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự của một nước có số dân đông, có kỹ thuật hiện đại, đế quốc Mỹ đã dốc mọi khả năng chúng có thể huy động hòng phá vỡ thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Chúng đã đưa số quân của chúng lên tới mức gấp gần 10 lần số quân của ta. Những thành tựu mới nhất về vũ khí kỹ thuật chiến tranh, chỉ trừ vũ khí hạt nhân, đã được chúng sử dụng vào chiến trường Việt Nam. Nhưng tất cả những cố gắng đó không giúp chúng thoát khỏi thế bị động, thế phòng ngự. Như các tướng lĩnh Mỹ đã thú nhận, khi quân Mỹ ở chiến trường miền Nam đạt tới con số cao nhất thì cũng là lúc số quân phải làm nhiệm vụ phòng thủ có tỷ lệ đông hơn số quân cơ động tới 8 lần.
       
        Thế trận chiến tranh nhân dân của ta vô cùng nguy hiểm đối với kẻ thù, song lại tạo điều kiện rất thuận lợi cho lực lượng chủ lực cơ động của ta luôn luôn có khả năng đánh địch trên thế mạnh. Thế trận chiến tranh nhân dân là cái nền vững chắc cho tổ chức các thế trận chiến đấu, chiến dịch và tác chiến chiến lược để thực hành quyết chiến, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi quyết định cho toàn cuộc chiến tranh.
       
        Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, thế trận chiến tranh nhân dân đã tạo cơ sở cho ta bố trí nhiều thế trận tác chiến chiến lược rất hay, rất độc đáo. Thế trận tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vừa là thế trận tiếp tục phát triển thế chủ động về chiến lược của ta, vừa là thế trận đập tan cuộc phản công chiến lược bằng kế hoạch Na-va của Pháp-Mỹ, giành thắng lợi quyết định, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chứng thực dân Pháp. Thế trận trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam xuân 1968 đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật đánh bất ngờ, đánh hiểm của quân và dân ta. Thế trận tiến công chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã đạt tới đỉnh cao của việc làm chuyển biến nhanh nhất so sánh lực lượng giữa ta và địch về mặt chiến lược, của nghệ thuật tiến công thần tốc.
       
        Nghệ thuật lập thế trận chiến dịch của ta đã đạt được nhiều thành công trong việc xây dựng và điều khiển thế trận chiến dịch tiến công. Thế trận chiến dịch của chiến tranh nhân dân trong hai cuộc kháng chiến vừa qua của quân và dân ta chủ yếu là thế trận chiến dịch tiến công. Cũng có một số chiến dịch được tiến hành bằng thế trận phản công như chiến dịch Đường số 9-Nam Lào. Thế trận chiến dịch phòng ngự cũng có nhưng rất ít.
       
        Thế trận chiến dịch tiến công được thể hiện cụ thể ở việc chuẩn bị và thiết bị chiến trường, bố trí lực lượng, sắp xếp đội hình theo phương án tác chiến đã định, lựa chọn các hướng tiến công và định các bước, các giai đoạn của chiến dịch, dự kiến và chuẩn bị đối phó với các tình huống phát triển trong chiến dịch. Trong thế trận chiến dịch, hình thành những thế khác nhau như thế công, thế vây, thế cắt, thế kìm, thế diệt, trong các thế đó lại có trạng thái của thế nổi và thế chìm. Trong thế trận chung của một chiến dịch tiến công, có thể hình thành một số hoặc toàn bộ các thế đó. Một thế trận càng gồm đầy đủ các thế đó bao nhiêu thì càng tạo cho ta có sức mạnh áp đảo địch bấy nhiêu. Nói chung, thế trận chiến dịch tiến công của ta bao giờ cũng có thế công, thế diệt và đây là những thế cơ bản nhất. Vì có tạo được thế công, thế diệt mới bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch, giành thắng lợi cho chiến dịch.
       
        Các thế của một thế trận có quan hệ hữu cơ với nhau. Có thế công, thế cắt, thế vây, thế kìm mới tạo được thế diệt. Thế diệt càng mạnh, càng được phát huy tốt và sớm thì càng có tác động nhanh tới các thế khác. Nhìn chung trong một thế trận, nếu các thế đều vận động, phát triển tốt, kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau thì sức mạnh và tính vững chắc của chiến dịch tiến công càng được nhân lên gấp bội, có khi không lường hết được. Vì vậy, trong nghệ thuật thế trận, cần coi trọng vai trò của các thế, củng cố giữ vững và phát triển các thế trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Làm được như vậy thì thế trận mới mạnh và vững, bảo đảm mỗi chiến dịch đều có thể “sức dùng một nửa mà công được gấp đôi", như tổ tiên ta đã từng vận dụng thành công trong các cuộn đánh Tống, diệt Nguyên, trừ Minh và phá Thanh thuở trước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #75 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 05:00:04 PM »

       
II NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ LẬP THẾ TRẬN
       
        Khi lập thế trận chiến dịch hay thế trận chiến đấu, đều phải xuất phát từ các căn cứ: tình hình địch, tình hình ta, điều kiện khí tượng-thủy văn, địa hình và tình hình nhân dân, tức là các điều kiện trước đây thường gọi là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Đó là những yếu tố cơ bản để lập thế trận trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào. Nắm vững những yếu tố đó để lập thế trận và đặt kế hoạch tác chiến đã trở thành một nguyên tắc của bất cứ nền khoa học quân sự nào, ở bất kỳ thời đại nào.
       
        Nghiên cứu để nắm vững các yếu tố nói trên là điều mà ai cũng thấy được là cần thiết và phải làm. Nhưng phân tích một cách toàn diện, khách quan, khoa học các yếu tố đó, phát huy được tác dụng tổng hợp của chúng để tạo nên thế trận hay lại là một nghệ thuật rất cao.
       
        Khi nghiên cứu các yếu tố tạo thành thế trận, cần vận dụng phương pháp tư duy biện chứng, phân tích cụ thể, toàn diện, sâu sắc từng yếu tố trong mối liên hệ với các yếu tố khác và trong sự vận động có tính quy luật của chúng, xem xét tác động tổng hợp của các yếu tố đó đối với chiến dịch hay trận chiến đấu để có quyết tâm chính xác và vạch ra cách đánh cụ thể; từ đó định ra cách bố trí thế trận phù hợp, bảo đảm cho cách đánh. Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu tổng hợp các yếu tố, lại phải tìm ra trong từng trường hợp cụ thể, yếu tố nào nổi lên hàng đầu và có tác dụng chủ yếu trong việc bố trí thế trận và trong nghệ thuật đánh địch. Cho nên, phải nắm vững và nghiên cứu toàn diện các yếu tố, nhưng lại phải thấy đầy đủ vị trí, tác dụng của từng yếu tố trong những điều kiện cụ thể.
       
        Dưới đây là nội dung của một số yếu tố và sự vận dụng các yếu tố trong nghệ thuật lập thế trận.
       
        1. Yếu tố về địch.
       
        Biết địch một cách đầy đủ, sâu sắc là một yếu tố rất cơ bản để lập thế trận. Biết địch không phải chỉ cần biết số quân, vũ khí, trang bị, cách bố trí của chúng, mà còn phải biết rõ mặt chất lượng, tinh thần, kỷ luật, trình độ tác chiến, sở trường, chỗ mạnh, chỗ yếu và cả tính nết người chỉ huy của chúng. Đặc biệt là phải biết rõ âm mưu, thủ đoạn và quy luật hành động của địch. Có như vậy mới có cơ sở chính xác để đánh giá thế trận của địch có gì mạnh, yếu, khi bị ta đánh thì cả thế và lực của địch sẽ biến đổi thế nào.
       
        Biết địch là để đánh địch. Biết chỗ mạnh của địch là để tìm cách phá cái mạnh, biết chỗ yếu là để khoét sâu cái yếu của chúng, lấy cái mạnh của ta đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch. Do đó, trong việc tìm hiểu địch phải hết sức tỉnh táo, khách quan, không để địch đánh lừa, song phải luôn luôn có ý chí, quyết tâm tiến công tiêu diệt địch, giành thắng lợi trong cuộc đọ sức, đọ tài với chúng. Từ đó mới có sự quan sát tinh tường, phán đoán sắc bén, phát hiện ra những sai lầm của địch hoặc tìm cách lừa địch, bố trí thế trận có thật có giả, dẫn địch đến chỗ phạm sai lầm để đánh bại chúng.
       
        Có thể lấy trận Can xảy ra năm 216 trước công nguyên làm thí dụ về điều đó. Tướng Ha-ni-ban chỉ huy quân Các-ta-giơ có 5 vạn quân, hạ trại cố thủ ở cánh đồng gần thành Can. Đối thủ của Ha-ni-ban là tướng Va-rôn chỉ huy quân La Mã có gần 7 vạn quân. Cậy có số quân đông, Va-rôn bố trí đội hình thành thế trận tập trung dày đặc có chiều sâu để đột phá bằng sức mạnh vào quân Các-ta-giơ. Với con mắt tinh tường và tài suy xét sắc sảo, Ha-ni-ban đã đánh giá đúng thế mạnh về đột phá của đối phương, đồng thời cũng phát hiện được sai lầm của đối phương là bố trí thế trận quá dày đặc trên chính diện hẹp nên khó cơ động và dễ bị bao vây từ hai bên sườn. Ha-ni-ban đã bố trí thế trận hình móng ngựa lồi về phía địch với lực lượng vừa đủ chống với lực lượng đột phá của địch, còn lực lượng mạnh thì bố trí ở hai bên sườn để cơ động bao vây vu hồi, đánh vào sau lưng quân địch và phá vỡ thế trận của chúng. Kết quả là chưa trọn một buổi, quân Các-ta-giơ ít hơn đã đánh bại hoàn toàn quân La Mã có số lượng đông gần gấp rưỡi, diệt 40.000, bắt 10.000 tên địch mà chỉ bị thương vong 6.000 người.
       
        Thắng lợi của quân Các-ta-giơ là thắng lợi của nghệ thuật biết địch, biết mình, thắng lợi của nghệ thuật lập thế trận tài giỏi.
       
        Trong lịch sử chiến đấu chống xâm lược của dân tộc ta, các võ công oanh liệt Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa... đều là những thắng lợi của mưu sâu kế hiểm trong nghệ thuật lập thế trận của tổ tiên ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #76 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 05:04:47 PM »

        Thế trận tiêu diệt gọn 10 vạn quân Minh do Liễu Thăng chỉ huy là một trong những điển hình của nghệ thuật lập thế trận sâu hiểm mà mạnh của nghệ thuật quân sự Việt Nam thời trước. Đây là trận đánh diễn ra trong thời kỳ kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Lúc đó quân địch đã bị bao vây và đang cụm lại cố thủ trong các sào huyệt của chúng. Để tiếp ứng cho đạo quân chiếm đóng, nhà Minh tổ chức một đội quân viễn chinh lớn chia làm hai đạo tiến vào nước ta theo hai đường: một đạo do Liễu Thăng chỉ huy gồm 10 vạn tên tiến sang theo đường Quảng Tây; một đạo do Mộc Thạnh chỉ huy gồm 5 vạn tên, tiến sang theo đường Vân Nam. Với lực lượng cố thủ còn khá đông và vẫn chiếm giữ nhiều địa bàn chiến lược quan trọng, nhà Minh hy vọng với 15 vạn quân mới sang sẽ có thể tiến hành một cuộc phản công chiến lược, trong đánh ra ngoài đánh vào để chuyển bại thành thắng.
       
        Như vậy, thế của địch không phải không có mặt mạnh; so sánh lực lượng xét về quân chủ lực tập trung thì địch có số lượng đông hơn ta. Song về cơ bản, địch đã ở thế yếu, thế thua không sao cứu vãn nổi. Bọn địch đang bị vây hãm không đủ sức phá vỡ vòng vây, bọn mới kéo sang chỉ hùng hổ bên ngoài. Mộc Thạnh vừa tiến vừa thăm dò; đối với đạo quân này, ta có thể kìm giữ chúng rồi tiêu diệt sau. Còn Liễu Thăng thì hung hăng kiêu ngạo, nắm trong tay một đạo quân lớn, nhưng như bộ thống soái nghĩa quân đã vạch rõ, Liễu Thăng tiến quân sâu vào nước ta sẽ không thể không bị “hãm vào thế trong miệng cọp".
       
        Nghĩa quân quyết định lập thế trận "vây thành diệt viện" trên quy mô chiến lược, tập trung lực lượng chủ yếu tiêu diệt đạo quân lớn nhất, mạnh nhất của địch do Liễu Thăng trực tiếp chỉ huy từ đường Quảng Tây tiến vào nước ta. Thế trận lập ra để tiêu diệt đạo quân Liễu Thăng được Nguyễn Trãi gọi là thế trận "phục binh giữ hiểm đập gãy tiên phong". Nếu so sánh lực lượng quân chủ lực tập trung thì trong trận này, địch có 10 vạn, còn nghĩa quân có 5 vạn. Nhưng thế trận của ta là lấy thế mạnh đánh địch đông mà yếu, tận dụng thế hiểm của địa hình, liên tục tiến công tiêu diệt từng bộ phận quân địch bằng các trận mai phục, tiến lên tiêu diệt hoàn toàn quân địch.
       
        Như ta đã biết, nghĩa quân đã liên tiếp tiêu diệt từng bộ phận quân Liễu Thăng bằng các trận Chi Lăng, Cần Trạm, Xương Giang. Trong các trận Chi Lăng, Cần Trạm ta dựa vào thế hiểm của địch để lập thế trận mai phục tiến công. Trong trận Xương Giang, ta lập thế trận bao vây quân địch đã ở thế bị cô lập, tướng mất, quân thua sau mấy trận liên tiếp. Kết quả là với nghệ thuật nắm địch, phân tích chính xác mặt mạnh, mặt yếu của địch, nắm vững tính nết của từng tên tướng chỉ huy của chúng, nghĩa quân Lam Sơn đã lập thế trận giỏi, dùng 5 vạn quân ta diệt 10 vạn quân địch gồm cả các tướng lĩnh chỉ huy của chúng.
       
        Ngày nay, nguyên tắc phải "biết địch" không khác nhưng nghệ thuật nắm địch và phán đoán về địch thì đã phát triển rất nhiều.
       
        Trong chiến dịch, biết địch không chỉ hạn chế trong phạm vi địa bàn tác chiến mà còn phải biết địch từ gốc, tức là hiểu sâu cả âm mưu, chủ trương chiến lược, thủ đoạn tác chiến cũng như quy luật hành động của địch tại chiến trường. Như vậy ta mới có đầy đủ cơ sở để phán đoán và dự kiến được đường đi, nước bước của địch, từ đó mà bày mưu tính kế, bố trí thế trận hiểm hóc để tiêu diệt chúng.
       
        Cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở đường số 9-Nam Lào của địch bắt đầu ngày 31 tháng 1 năm 1971 , nhưng do nắm chắc âm mưu và chủ trương chiến lược của địch nên ta đã sớm phán đoán trước ý đồ của chúng mở cuộc hành quân này. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1970, ta đã tiến hành công tác chuẩn bị chiến trường, tổ chức lực lượng và hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến dịch. Vì vậy, trước khi quân địch bắt đầu hành quân vượt biên giới Việt-Lào, ta đã cùng với các lực lượng bạn triển khai xong thế trận. Kết quả là cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch nhằm đánh phá hậu cần, cắt đường tiếp tế chiến lược của ta, đã bị đánh bại hoàn toàn.
       
        Trong chiến dịch Sa Thầy ở mặt trận Tây Nguyên tháng 10-11 năm 1966, ta đã nắm vững quy luật hoạt động của quân Mỹ là: mỗi khi phát hiện lực lượng của ta, chúng thường dùng trực thăng đổ quân "nhảy cóc" vào phía sau lưng ta hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng của ta. Từ đó, ta đã bố trí thế trận ở khu vực sông Sa Thầy, tiến hành nghi binh lừa địch, dụ chúng vào những khu quyết chiến ta đã chuẩn bị sẵn để tiêu diệt chúng. Kết quả là trong chiến dịch này, ta đã tiêu diệt 2.400 tên địch (có hơn 2.000 Mỹ), góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của giặc Mỹ.
       
        Những ví dụ trên cho thấy: biết địch càng rộng, càng sâu, càng cụ thể, chính xác bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho ta có cách đánh hay, lập thế trận tốt và điều khiển được địch để tiêu diệt chúng dễ dàng, thuận lợi bấy nhiêu.
       
        Đi đôi với biết địch, còn phải chú ý không để địch biết ta, kể cả những điều ta biết được về chúng. Phải triệt để giữ bí mật và dùng mọi biện pháp nghi binh, ngụy trang để bưng tai, bịt mắt địch, hướng chúng vào những hoạt động sai lầm và qua đó bộc lộ thêm những sơ hở, những chỗ yếu khiến ta có điều kiện nhanh chóng tiêu diệt chúng.
       
        Trong chiến tranh hiện đại, việc nắm địch chính xác, kịp thời càng trở nên quan trọng và phức tạp. Ngày nay các phương tiện vô tuyến điện được sử dụng rộng rãi trong các lực lượng vũ trang, cuộc chiến đấu trên làn sóng điện, được gọi là chiến tranh vô tuyến điện tử, đã và đang phát triển mạnh. Để biết đầy đủ về địch, cần sử dụng tốt các phương tiện trinh sát điện tử kết hợp chặt chẽ với các biện pháp nắm địch cổ truyền. Có như vậy mới có khả năng nắm địch kịp thời, biết địch đầy đủ, chính xác và có biện pháp tốt để phá trinh sát địch, giữ bí mật của ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #77 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 05:11:27 PM »

        
        2. Yếu tố về ta.
        
        Biết ta là một yếu tố cơ bản quyết định việc hình thành thế trận. Biết ta là để tổ chức, sắp xếp, bố trí lực lượng đúng, nhằm phát huy được sở trường chiến đấu và sức mạnh cao nhất của các lực lượng vũ trang ta.
        
        Nắm tình hình ta phải đầy đủ, chính xác cả về số lượng và chất lượng trên các mặt: tinh thần, tư tưởng, tổ chức, trang bị, vũ khí, trình độ tác chiến của tất cả các lực lượng, nhất là trình độ lãnh đạo, chỉ huy của cán bộ các cấp. Trên cơ sở đó đánh giá một cách thật khách quan chỗ mạnh, chỗ yếu và khả năng tiêu diệt địch của từng lực lượng, từng đơn vị. Nắm cho được thực chất tình hình ta về mọi mặt đúng với yêu cầu đó là cả một nghệ thuật.
        
        Nắm tình hình ta có nội dung rất phong phú và phải trải qua một quá trình, trong đó người chỉ huy triển khai toàn bộ các hoạt động đối với đơn vị: nuôi quân, quản lý, giáo dục rèn luyện bộ đội, tổ chức chỉ huy đơn vị công tác, chiến đấu. Đó cũng là quá trình cán bộ, chiến sĩ cùng nhau chung sức xây dựng đơn vị, đoàn kết gắn bó với nhau, hiểu nhau, trên dưới một lòng, tin tưởng lẫn nhau, hiệp đồng ăn ý, cùng nhau khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.
        
        Nghệ thuật nắm tình hình ta còn thể hiện ở chỗ ngay trong quá trình luyện quân đã xây dựng và tăng cường từ sự nhất trí về tư tưởng, quyết tâm, phương châm tác chiến, vận dụng chiến thuật, kỹ thuật đến sự hòa hợp về tâm tư, tình cảm trong sinh hoạt hàng ngày của bộ đội.
        
        Như vậy, nắm tình hình ta không phải chờ đến lúc ra quân mới làm. Tất nhiên khi bước vào chiến đấu, cần nắm chắc lại một lần nữa tình hình về mọi mặt, xem xét những vấn đề mới phát sinh, những vấn đề còn tồn tại mà quá trình rèn luyện chưa kịp giải quyết, những vấn đề phải đến khi ra quân mới có điều kiện đánh giá như: lực và thế của ta thế nào, chỗ nào còn yếu cần khắc phục; những mặt cần thiết phải giải quyết? So sánh giữa thế ta và thế địch ra sao? v.v.
        
        Năm 1789, vua Quang Trung từ Phú Xuân tiến quân ra bắc đánh quân Thanh, khi dừng lại ở Thọ Hạc (Thanh Hóa) làm lễ "thệ sư" (một hình thức động viên quân sĩ) đã truyền cho nghĩa quân tinh thần quyết chiến quyết thắng và niềm tin mãnh liệt. ông ra lệnh: "Bớ chư quân! Phàm ai bằng lòng chiến đấu thì hãy vì ta giết sạch quân giặc. Nếu ai không muốn thì hãy xem ta giết vài vạn người trong một trận. Đó không phải là chuyện lạ đâu”. Sách Lê quý ký sự mô tả quang cảnh lúc đó như sau: "Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đổi màu. Rồi chiêng trống đồng thời khua vang, quân lính gấp đường ra bắc”. Vốn tự mình xây dựng, rèn luyện quân đội, Quang Trung nắm quân rất chắc và hết lòng tin tưởng vào tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội. Song ngay trong quá trình hành quân ra bắc (khoảng một tháng), bằng những cố gắng lớn lao Quang Trung không ngừng tiếp tục bổ sung, chấn chỉnh, nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của quân đội, tạo nên những điều kiện chính trị, quân sự cần thiết để chiến thắng quân địch bằng những đòn tiến công sấm sét.
        
        Với nghệ thuật luyện quân và cầm quân tài giỏi, với lòng tin sắt đá ở quân đội thuộc quyền mình, Quang Trung khẳng định mạnh mẽ: "Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh" (Hoàng Lê nhất thống chí), và hạ quyết tâm dứt khoát: đánh tan quân giặc, giải phóng thành Thăng Long trước ngày mồng sáu tháng giêng để ngày mồng bảy sẽ mở tiệc mừng chiến thắng giữa kinh thành.
        
        Sở dĩ Quang Trung nắm quân chắc, điều khiển quân giỏi là do ông có quan điểm đúng đắn về xây dựng quân đội: "Quân đội chỉ cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”, và thắng bại trong chiến tranh "không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít" (Tây Sơn bang giao tập).
        
        Trên cơ sở nắm vững chất lượng, bản lĩnh chiến đấu của quân đội cùng với tài nghệ chỉ huy của mình, trong suốt cuộc đời chinh chiến lúc vào nam, khi ra bắc, hết dẹp Trịnh, Nguyễn đến diệt Xiêm, phá Thanh, lần nào Quang Trung cũng bày được thế trận lợi hại và cũng chỉ bằng một trận quyết chiến đã tiêu diệt và đánh bại quân thù có số lượng lớn hơn mình gấp bội.
        
        Phương pháp đánh giá so sánh lực lượng giữa ta và địch một cách tổng hợp, cả thế và lực, cả số lượng và chất lượng... là nét nổi bật, xuyên suốt của lý luận khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Nó xuất hiện từ rất sớm. Tổ tiên ta xưa kia vận dụng phương pháp ấy tuy còn thô sơ nhưng đã có những thành công xuất sắc. Ngày nay, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã nắm vững và phát huy phương pháp đó lên một trình độ mới. Phương pháp ấy rất khác biệt với học thuyết về "binh số” (ưu thế về số lượng) của nhiều nhà lý luận quân sự nước ngoài thời xưa cũng như thời nay.

        Trong lịch sử phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam, Tổ tiên ta có lý luận khác với thuyết dùng binh của Tôn Tử: "Gấp mười thì mới vây diệt được địch" còn "ít mà đánh địch đông thì không tránh khỏi bị địch diệt và bắt làm tù binh". Tổ tiên ta khẳng định: "Sức dùng một nửa mà công được gấp đôi". Tất nhiên từ xưa tới nay, lý luận quân sự Việt Nam cũng rất coi trọng số lượng. Chúng ta không đánh giá thấp mặt mạnh của những kẻ địch xâm lược có số lượng đông, có trang bị vũ khí nhiều và hiện đại hơn ta. Để khắc phục chỗ mạnh đó của địch, dựa vào tính chất chính nghĩa của chiến tranh, chúng ta động viên toàn dân tham gia giết giặc thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ. Lực lượng cầm vũ khí được tổ chức, huấn luyện, trang bị thích hợp, được chuẩn bị chu đáo, có tinh thần quyết đánh và biết đánh thắng địch.
       
        Do đó, khi nghiên cứu tình hình ta, phải tính toán đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng, song trên cơ sở số lượng nhất định, bao giờ cũng phải xem trọng yếu tố chất lượng, lấy chất lượng cao của ta thắng số lượng đông của địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #78 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 05:23:15 PM »

       
        3. Một số yếu tố địa lý quân sự.
       
        Trước đây ta thường gọi yếu tố này là "thiên thời, địa lợi". Ngày nay, qua quá trình phát triển của khoa học quân sự, các hiểu biết về trời, về đất đối với quân sự đã được tổng hợp lại thành môn khoa học về địa lý quân sự.
       
        Mỗi trận đánh, mỗi phiến dịch bao giờ cũng diễn ra trong không gian và thời gian cụ thể nhất định. Muốn bố trí thế trận, không thể không dựa vào một yếu tố cơ bản là yếu tố địa lý quân sự. Do đó, phải nghiên cứu cụ thể các điều kiện địa lý tác động đến quân sự để vận dụng cách đánh và bố trí thế trận cho phù hợp.
       
        a) Khí tượng-thủy văn:
       
        Khí tượng-thủy văn là những hiện tượng trong thiên nhiên diễn ra có quy luật như: mưa nắng, nóng lạnh, gió bão, sương mù, băng tuyết, hạn, lụt, thủy triều… Các hiện tượng trên ít nhiều đều có tác động trực tiếp tới hoạt động quân sự. Trong việc bố trí thế trận, phải hết sức tránh tác hại do các hiện tượng tự nhiên gây ra cho ta, đồng thời nghiên cứu lợi dụng nó để tăng cường thế trận của ta, làm yếu thế trận của địch.
       
        Trước đây, Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đều đã lợi dụng yếu tố thủy văn, bày trận trên sông Bạch Đằng để đánh thắng thủy quân của giặc. Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, chúng ta cũng thường lợi dụng đêm tối, sương mù để triển khai thế trận tiếp cận địch, để bày trận tập kích, phục kích và cũng thường lợi dụng thời tiết mùa khô để tổ chức các chiến dịch tiến công.
       
        Muốn lợi dụng thiên nhiên, phải nắm cho được quy luật của thiên nhiên và hành động đúng với quy luật đó mới tận dụng được thế lợi do thiên nhiên tạo ra để bày thế trận tiêu diệt.
       
        b) Địa hình:
       
        Địa hình là một yếu tố cơ bản chi phối trực tiếp tới thế trận. Thế trận không thể tách khỏi địa hình. Ta phải nghiên cứu các mặt lợi hại của địa hình, khai thác, cải tạo địa hình, tận dụng thế hiểm của địa hình để tăng thêm sức mạnh và tính vững chắc cho thế trận của ta. Ở Việt Nam có rất nhiều loại địa hình: rừng núi, đồng bằng, làng mạc, sông ngòi, ven biển, thành phố, thị xã... mỗi loại có đặc điểm riêng. Mỗi loại địa hình có nhiều dạng khác nhau, mỗi địa bàn lại thường có nhiều loại địa hình xen kẽ với nhau.
       
        Chiến đấu ngày nay không chỉ diễn ra trên mặt đất mà cả ở trên không, trên mặt nước và dưới nước. Song giữ vai trò quyết định là chiến đấu trên mặt đất. Bởi vì chiến đấu trên không, trên biển nếu không có chỗ dựa trên mặt đất thì cũng không có thế vững và không có lực chi viện mạnh. Tất nhiên trong chiến tranh cũng có những trận chiến đấu và chiến dịch độc lập trên biển, trên không, nhưng thắng lợi của chiến tranh cuối cùng cũng phải giải quyết trên mặt đất.
       
        Chúng ta rất coi trọng yếu tố địa hình và đã rất sáng tạo trong việc lợi dụng thế lợi của địa hình để bày trận. Trong Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đầu năm 1953, Trung ương Đảng phân tích hình thái chiến trường toàn quốc và chỉ rõ: đại bộ phận quân địch tập trung ở Bắc Bộ nên các chiến trường khác có nhiều sơ hở; ở Bắc Bộ, lực lượng địch lại tập trung lớn ở đồng bằng. Trong tình hình chiến trường đồng bằng có nhiều thuận lợi cho địch, chúng ta chỉ có thể giành và giữ được xu thế lực lượng và chủ động tiến công địch trong điều kiện tác chiến ở rừng núi. Trên cơ sở đó, Trung ương Đảng đã xác định phương hướng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó với ta trên những hướng xung yếu; từ đó tạo ra những điều kiện thuận lợi mới cho ta diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng. Nắm vững phương hướng chiến lược đó, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng xác định chủ trương tác chiến Đông-Xuân 1953-1954 là: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở (Tây Bắc Việt Nam) và phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào mở hướng đánh địch ở Lào; đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh vào vùng tự do của ta, đi đôi với việc đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch. Khi phát hiện quân ta tiến lên Tây Bắc, địch vội cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Sau khi đã cân nhắc thận trọng, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn tiêu diệt tập đoàn cứ điểm quan trọng này.
       
        Ở Điện Biên Phủ, địch có lực lượng mạnh và tổ chức phòng ngự chặt chẽ, nhưng có nhiều bất lợi về mặt địa hình. Về phía ta, ta có thể lợi dụng địa hình vùng núi cao bao quanh lòng chảo Điện Biên Phủ để xây dựng thế trận lợi hại, khống chế, bao vây chặt quân địch để tiêu diệt chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #79 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 05:25:50 PM »

       
        4. Yếu tố nhân dân.
       
        Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "... thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết"1.
       
        Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo là chiến tranh nhân dân. Trong suốt cuộc chiến tranh cũng như trong mỗi chiến dịch, mỗi trận chiến đấu, bao giờ cũng có sự tham gia về nhiều mặt của nhân dân. Yếu tố nhân dân đã trở thành một yếu tố quyết định trực tiếp đối với toàn bộ quá trình và kết cục của chiến tranh, chiến dịch và trận chiến đấu. Yếu tố nhân dân có quan hệ và tác động về nhiều mặt tới các lĩnh vực của nghệ thuật quân sự, trong đó có thế trận. Chính vì vậy, thế trận của ta có một đặc điểm nổi bật là tính nhân dân; nghệ thuật lập thế trận của ta luôn luôn coi trọng việc phát huy yếu tố nhân dân trong bố trí thế trận.
       
        Yếu tố nhân dân tạo cho chiến tranh, chiến dịch và trận chiến đấu của ta có sức mạnh hết sức to lớn về lực và thế, góp phần làm thay đổi về căn bản so sánh lực lượng giữa lực lượng vũ trang ta với quân xâm lược. Với sự tham gia, phối hợp, giúp đỡ của nhân dân, một đại đội, tiểu đoàn của ta có thể đương đầu với từng trung đoàn, sư đoàn địch.
       
        Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua cho thấy, khi đã hình thành phong trào toàn dân đánh giặc, khi đã có lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân hợp đồng chiến đấu chặt chẽ với nhau thì về chiến lược, chiến dịch và trong từng trận chiến đấu, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta có thế trận rất mạnh và lợi hại, cài xen vào trận tuyến của địch và vây chặt lấy địch, tạo ra các thế mạnh như thế công, thế vây, thế cắt, thế kìm, thế diệt và thế nổi, thế chìm. Thế trận đó càng khoét sâu mâu thuẫn của địch giữa tập trung và phân tán, giữa tiến công và phòng thủ, làm cho thế trận của địch có nhiều nhược điểm, sơ hở. Còn ta thì do có yếu tố nhân dân, ta thực hiện được sự thống nhất chặt chẽ giữa tác chiến tại chỗ và tác chiến cơ động, đánh địch kịp thời bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào, làm cho lực lượng cơ động của ta có thể chủ động và nhanh chóng đánh vào những nơi hiểm yếu và sơ hở trong thế trận chiến lược, chiến dịch của địch. Phát huy được yếu tố nhân dân trong nghệ thuật lập thế trận, lực lượng vũ trang ta khi còn thưa đủ sức tập trung thành đơn vị lớn cũng như khi đã mạnh, đều có thể bố trí thế trận có lợi để tiêu diệt địch. Lực ta càng mạnh thì thế trận của ta càng lợi hại.
       
        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã chứng minh điều này. Dựa vào sức mạnh của toàn dân của cả nước, các binh đoàn chủ lực cơ động của ta đã đồng thời triển khai tiến công địch trên toàn tuyến từ Trị-Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng đến Tây Nguyên, từ Xuân Lộc Biên Hòa đến Tây Nam Sài Gòn và suốt tuyến đường số 4 từ Sài Gòn đến Cà Mau. Các binh đoàn chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương hình thành thế trận tiến công rộng lớn và tạo nên lực lượng tiến công tổng hợp với thế tiến công thần tốc, mạnh mẽ, hiểm hóc, nhanh chóng phá vỡ và làm đảo lộn tuyến phòng thủ chiến lược của địch, khiến lực lượng chúng đông mà ở đâu cũng bị cắt, bị kìm, không thể tập trung được lực lượng đủ mạnh để ứng cứu cho nhau.
       
        Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay, chúng ta phải tiếp tục không ngừng củng cố, tăng cường thế trận toàn dân đánh giặc trên cả nước cũng như ở từng địa phương và cơ sở, không ngừng củng cố, phát triển lực lượng vũ trang tại chỗ, cả bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ. Những việc đó chỉ có thể làm được khi ta có cơ sở chính trị vững mạnh trong nhân dân, khi nhân dân được giáo dục, chuẩn bị tốt cả về tinh thần, ý chí chiến đấu và về tổ chức tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Hoạt động xây dựng và tác chiến của quân đội có quan hệ mật thiết với việc củng cố, tăng cường thế trận toàn dân đánh giặc. Quân đội càng làm tốt nhiệm vụ là nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, càng hiệp đồng và phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang quần chúng và nhân dân trong xây dựng và chiến đấu thì càng có điều kiện thuận lợi để phát triển lực lượng của mình và bố trí thế trận mạnh để đánh địch.
       
        Nắm vững tình hình nhân dân, góp phần bồi dưỡng sức dân và phát huy khả năng to lớn của nhân dân tham gia đánh giặc là một yếu tố tạo thành sức mạnh lớn lao của thế trận chiến đấu, thế trận chiến dịch và cho toàn cuộc chiến tranh. Đó là một trong những yếu tố cơ bản quyết định thắng lợi, là một nội dung sáng tạo trong nghệ thuật quân sự của dân tộc ta.

--------------
1. Hồ Chí Minh, Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr. 168.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM