Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Hai, 2019, 09:15:46 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc  (Đọc 30133 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #60 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 10:20:39 PM »

       
IV. ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ-NGOẠI GIAO NHẰM PHỐI HỢP VỚI ĐẤU TRANH QUÂN SỰ
       
        Chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta thường phải chống lại những kẻ xâm lược lớn mạnh hơn mình. Từ đó nghệ thuật quân sự truyền thống của chúng ta thường vận dụng nguyên lý: Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều. Bởi vậy biểu hiện của chiến tranh nhân dân phải là toàn dân, toàn diện, như Hồ Chí Minh đã khẳng định:

        "Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được"1 .
       
        Tư tưởng quân sự của Người luôn nêu cao ngọn cờ chính nghĩa, đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của toàn dân kết hợp với sức mạnh của thời đại, tiến công vào kẻ địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế văn hóa tư tưởng.
       
        Phối với đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị cũng là hình thức cơ bản cốt lõi của chiến tranh nhân dân. Bởi theo Người: "Chiến tranh chỉ là thủ đoạn để đạt được mục đích chính trị"2 .
       
        Đường lối chính sách của Đảng, của Mặt trận mà Hồ Chí Minh dày công vun đắp nhằm phát triển rộng rãi lực lượng chính trị để lãnh đạo và tập hợp quần chúng đấu tranh với địch dưới nhiều hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp được diễn ra ở khắp nơi.
       
        Đấu tranh chính trị của ta là làm cho quần chúng hiểu rõ mục đích kháng chiến nhằm giành và giữ nền độc lập dân tộc để nhân dân ta có thể sống trong hòa bình, hạnh phúc, tự do; từ đó động viên tinh thần toàn dân kháng chiến, tổ chức xây dựng lực lượng kháng chiến, làm phân tán lực lượng đối phó của địch; thực hiện binh địch vận, làm tan rã lực lượng của địch nhằm phối hợp với sự phát triển trên mặt trận quân sự. Tuỳ theo tình hình cụ thể mà tiến hành đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự song song hay coi trọng hình thức nào.
       
        Đấu tranh ngoại giao cũng là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược phối hợp chặt chẽ với các mặt trận quân sự, chính trị trong chiến tranh. Nhìn chung trong chiến tranh nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: "Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến"3 , để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chính trị.
       
        Các mặt trận đấu tranh ngày càng rõ nét từ sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
       
        Chúng ta ở trong tình thế hết sức khó khăn: Bộ máy Nhà nước, lực lượng, quân đội còn non trẻ, tài chính kiệt quệ, dân ta bị nạn đói khủng khiếp đe doạ, các đảng phái phản động hoành hành, Pháp âm mưu bắt tay với Tưởng và đưa quân theo chân quân Đồng Minh-Anh, Ấn tiến vào Nam Bộ.
       
        Vận mệnh Tổ quốc lúc này như "ngàn cân treo sợi tóc". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Trung ương Đảng dẫn dắt dân tộc vượt qua những thác ghềnh hiểm họa, Người đã thể hiện thiên tài trên tất cả các mặt hoạt động: chính trị, quân sự ngoại giao, kinh tế, văn hóa tư tưởng.
       
        Khi đối phương chủ trương gây chiến muốn cướp nước ta một lần nữa, Người tìm mọi cách ngăn chặn, cố gắng đẩy lùi cuộc chiến tranh.
       
        Tháng 2-1946, Hồ Chí Minh gặp tướng Pháp Raun Xalăng, Người nói rõ: "chúng tôi muốn sống tự do, muốn có những quan hệ rộng hơn nữa về văn hóa (với nước Pháp). Nhưng chúng tôi phải làm chủ trên đất nước chúng tôi"4 .
       
        Người gửi thư cho Tổng thống Mỹ Truman yêu cầu nước Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, bức thư có đoạn viết: “...mục đích của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác hoàn toàn với Mỹ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để cho nền độc lập và sự hợp tác đó có lợi cho toàn thế giới!”5 .
       
        Nhưng chính quyền Pháp và Mỹ vẫn làm ngơ trước những yêu cầu chính đáng và thiện chí của nhân dân ta.
       
        Tình hình đất nước ngày càng nguy kịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mau chóng cùng với Thường vụ Trung ương Đảng ở Hà Nội quyết định chủ trương "hòa để tiến", dẫn đến việc ký hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 giữa Việt Nam và Pháp.
       
        Tiếp đến các cuộc thương thuyết Việt-Pháp tại Pari, Hồ Chủ Tịch luôn tỏ rõ thiện chí hòa bình và nguyện vọng bình đẳng thân thiện của nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp. Đồng thời Người cũng kiên trì khẳng định lập trường đòi hỏi về những vấn đề cơ bản là độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.
       
        Trong thời gian ở Pháp, Người đã gặp nhiều yếu nhân, đảng phái, đoàn thể, nhiều tổ chức, nhà báo Pháp và quốc tế để nói rõ quan điểm hòa bình, độc lập thống nhất của nhân dân Việt Nam; muốn hữu nghị đoàn kết với tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Bức màn bưng bít của chủ nghĩa đế quốc vây quanh nước Việt Nam mới bị phá vỡ. Việt Nam đã được thế giới biết đến. Nhân dân Việt Nam càng thêm bạn, bớt thù. Dù ở trong hay ngoài Hội nghị, Người đều gạn chắt lấy cơ hội hòa bình, chí ít cũng là hòa hoãn dù là nhỏ nhất. Nhưng thực tế cho thấy nhà cầm quyền Pháp cố tình để cho cuộc thương thuyết bị tan vỡ.

--------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4. tr. 298.

2. Q.Th: "Đặt kế hoạch tác chiến", Báo Cứu quốc, ngày 7-6-1946.

3. Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 204.

4. Báo Quân đội nhân dân, ngày 14-3-1986.

5. Giôdép A. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr 148.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #61 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 10:27:52 PM »

        Khả năng chiến tranh bùng nổ trên quy mô toàn quốc ngày càng tăng, Chủ tịch Hồ chí Mih đã ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946, nhờ đó đã giành thêm cho ta thời gian tối thiểu để củng cố lực lượng trước một cuộc chiến tranh gần kề.
       
        Chuẩn bị về nước, Người nói với các đồng chí cùng đi: "Dầu có được một hòa ước với Chính phủ Pháp, con đường của nhân dân ta để giành độc lập, tự do thật sự cũng phải là con đường chiến đấu”1
       
        Khi không còn con đường nào khác là phải dùng chiến tranh chính nghĩa để chống lại chiến tranh phi nghĩa, Người đã kêu gọi toàn quân, toàn dân quyết chiến đấu với thắng lợi cuối cùng. Trong thư "Gửi đồng bào Nam Bộ", Người khích lệ tinh thần quyết chiến: "Thà chết tự do hơn sống nô lệ"2. Nam Bộ thì ra sức kháng chiến, Trung Bộ và Bắc Bộ thì ra sức giúp đồng bào Nam Bộ và ra sức đề phòng. Người còn phân tích với đồng bào rằng, cần phân biệt giữa nhân dân Pháp với thực dân Pháp và căn dặn: "Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù, tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước".
       
        Ngay sau khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo tăng cường hơn nữa các hoạt động tiến công chính trị-ngoại giao. Người gửi thư, điện đến Quốc hội, Chính phủ nhân dân Pháp, Người tiếp các đại diện Anh, Mỹ, Trung Quốc và phóng viên thông tấn báo chí quốc tế. Người vạch rõ: Chính sách "phản bội các thỏa hiệp", chính sách "việc đã rồi" và chính sách vũ lực mà các đại diện Pháp ở Đông Dương vẫn áp dụng từ trước tới nay, đã bắt buộc nhân dân Việt Nam phải võ trang tự vệ. "Trước bạo lực của thực dân phản động Pháp, chúng tôi cần phải tự vệ. Nhưng đối với nhân dân Pháp, chúng tôi vẫn giữ chính sách cộng tác thật thà"3.
       
        Người cho rằng: "Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng nước Việt Nam sẽ lại hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc nhắn sẽ mất hết và sẽ biến khỏi cõi Á châu”4. Người vẫn kiên trì đề nghị chấm dứt chiến tranh: Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này, hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc.
       
        Giữa vòng vây đế quốc, tiếng nói chính nghĩa của nhân dân Việt Nam vẫn vang đi khắp năm châu, tạo thành một mũi tiến công có ý nghĩa chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
       
        Kết hợp với tác chiến, địch vận làm tan rã lực lượng địch cũng là một mũi giáp công rất quan trọng nhằm phối hợp chặt chẽ với sự phát triển của mặt trận quân sự. Hồ Chí Minh nói: “sách quân sự có câu: Đánh mà thắng địch là giỏi, không đánh mà thắng lại càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng địch là nhờ địch vận". Người rất coi trọng chính sách khoan hồng nhân đạo với tù binh và binh lính bỏ hàng ngũ địch theo ta.
       
        Với binh lính Pháp, Người khuyên nhủ: "Giữa các bạn và chúng tôi, không có thù ghét gì cả, chỉ vì quyền lợi ích kỷ mà bọn thực dân phản động khơi ra những xung đột. Lợi lộc chỉ họ hưởng, chết chóc thì các bạn cam chịu, những huy chương thắng trận thì về phần bọn quân phiệt. Nhưng đối với các bạn và gia đình các bạn, chỉ là sự đau khổ khốn cùng"5. Người kêu gọi binh lính Pháp: "Trở lại với chúng tôi, các bạn sẽ được tiếp đãi như bạn của chúng tôi"6.
       
        Người còn gửi thư tới những thân nhân Pháp có người nhà đi lính sang Việt Nam, trong đó có đoạn "... Tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh mến Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau”7. Người kêu gọi các bà mẹ Pháp: "... hãy giúp chúng tôi ngăn chặn những sự hiểu lầm và mau chóng gây dựng mối tình hữu nghị và tinh thần hòa hợp giữa các con em chúng ta. Và các bà sẽ nhận được tấm lòng biết ơn của người con không chỉ của thanh niên Pháp mà cả của thanh niên Việt Nam"8.
       
        Với lính ngụy, Người nói rõ chính sách khoan hồng của Chính phủ và kêu gọi: "Ngụy binh cũng là con dân nước Việt, nhưng vì dại mà đi lầm đường, cho nên tôi và Chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi và quay về với đại gia đình kháng chiến”9.
       
        Sau này, trong cuộc kháng chống Mỹ cứu nước Người còn viết nhiều bài báo để làm công tác địch vận, như bài: "Thư gửi binh sĩ thuộc chính quyền miền Nam" ký tên Chiến sĩ, Người viết: "Chắc anh em đều có lương tâm với Tổ quốc. Vì bị đế quốc Mỹ và lũ tay sai lừa bịp và bắt ép mà anh em cầm súng chống lại đồng bào. Nếu từ nay giác ngộ, quay về với nhân dân, thì anh em cũng xứng đáng với Tổ quốc"10.
       
        Trước tính chất khốc liệt của cuộc chiến tranh và âm mưu xảo quyệt tàn ác của kẻ địch, Người căn dặn các đồng chí Phạm Hùng và Hoàng Văn Thái khi vào miền Nam chiến đấu: " Trong chống phá âm mưu bình định của địch, phải luôn luôn nắm vững phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với chính trị, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, kết hợp ba thứ quân cả ba vùng chiến lược”11.
       
        Mũi giáp công, binh, địch vận đã góp phần không nhỏ làm tan rã lực lượng địch đã giúp đắc lực cho đấu tranh quân sự của ta.
       
----------------
1. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C15/23.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 27-28.

3, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.118, 119.

5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 483.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 303, 304.

8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 303, 304.

9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 306.

10. Báo Nhân dân, ngày 14-1-1994.

11. Xem: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam-Bộ Quốc phòng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 403.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #62 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 10:46:29 PM »

        Đấu tranh chính trị-ngoại giao Hồ Chí Minh còn là sự kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước, là nét đặc sắc về sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị-ngoại giao của dân tộc ta. Như đầu thế kỷ XV, trong cuộc chiến tranh giải phóng cứu nước của nghĩa quân Lam Sơn chống lại quân Minh, Nguyễn Trãi cho rằng chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh giải phóng cứu nước là chính nghĩa và tin tưởng rằng chính nghĩa thuộc về nhân dân-chính nhất định thắng tà.

                "Rút cuộc, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn,

                Lấy chí nhân mà thay cường bạo"
.
        
        “Vì thế một khi cờ nghĩa mới phất, bốn phương nổi dậy như ong, mà giặc Ngô liền bị bại diệt”1.
        
        “Bởi chúng chỉ biết cướp nước bằng bạo mà không biết vỗ về bằng ân. Tuy ta lấy đại nghĩa mà được lòng người nhưng cũng bởi trời chán ghét giặc mà phó thác cho ta vậy”2.
        
        Ông cũng khẳng định các điều thua của quân nhà Minh trong lá thư dụ Vương Thông:
        
        "Nay tính hộ ông thì có sáu điều phải thua:
        
        -Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cơ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất.
        
        -Đường Thái bắt Kiến Đức mà Thế Sung ra hàng. Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân và voi đồn giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.
        
        -(Ở nước các ông) quân mạnh ngựa tốt, nay đóng cả ở miền Bắc để phòng bị quân Nguyên, không dõi nhìn đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba.
        
        -Luôn động can qua, liên tiếp đánh đẹp, người sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều thua thứ tư.
        
        -Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình sinh biến. Đó là điều thua thứ năm.
        
        -Nay ta dấy binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng vừa đánh giặc, quân sĩ trong thành thì đều mệt mỏi, tự chuốc diệt vong. Đó là điều phải thua thứ sáu”3.
        
        Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống dân tộc, Người còn phát huy sức mạnh của thời đại. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Người luôn tranh thủ được nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Báo chí trong nước và quốc tế luôn là những diễn đàn đấu tranh chính trị và ngoại giao của Người. Trong bài "Nói và nghe dân Mỹ chống chiến tranh", Người viết: Đế quốc Mỹ ra sức gây chiến song nhân dân Mỹ thì muốn hòa bình... Ý dân là ý trời. Đế quốc Mỹ làm trái ý dân, ý trời, cho nên chúng sẽ bị thất bại"4. Trong bài "Hai mươi năm đấu tranh thắng lợi của cách mạng Việt Nam" đăng trên Báo Thời Mới (Liên Xô), Người viết: "Nhân dân Việt Nam đoàn kết triệu người như một, kiên quyết đứng vững trên tiền tuyến của phong trào đấu tranh vĩ đại của nhân dân toàn thế giới chống Đế quốc Mỹ"5. Trong bài "Mặt trận thống nhất phản đế giữa nhân dân Việt-Mỹ", Người viết: "Mặt trận này tuy chưa xây dựng về hình thức, nhưng thực tế đã hình thành bằng hành động về tinh thần… Nhân dân Mỹ đã giác ngộ, họ đang vùng dậy đấu tranh chống bọn hiếu chiến Mỹ, nhân dân Mỹ đánh từ trong ra, nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua"6.
        
        "Mặt trận số 1 chống đế quốc Mỹ là Việt Nam.
        Mặt trận số 2 ở ngay tại nước Mỹ”7.
        
        Như một "Quân trung từ mệnh tập", Người viết thư trả lời Tổng thống Mỹ L.Giônxơn: "Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, phá hoại hòa bình và chống lại loài người... Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam, thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược. Chính phủ Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam; phải thừa nhận mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; phải để nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ cửa mình"8. Đến thư trả lời Tổng thống Mỹ R.Níchxơn, Người khẳng định: "Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình"9.
        
        Trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Người hết sức chú trọng chỉ đạo mặt trận chính trị-ngoại giao, một mặt trận nhằm cô lập và phân hóa kẻ thù, thức tỉnh lương tri, kêu gọi loài người tiến bộ ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Mặt khác, Người đặc biệt quan tâm xây dựng khối liên minh đoàn kết chiến lược trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung Việt Nam-Lào-Campuchia. Người còn hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc, Người coi sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam vừa là sự nghiệp của chính mình, vừa là góp phần vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình chống chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ, Người viết bài: "Tình hữu nghị vô sản thắng lợi" đăng trên Báo Tin Tức (Liên Xô) trong đó có đoạn viết: "Bọn thực dân Pháp, trước khi cút về nước, đã dâng miền Nam nước chúng tôi cho bọn đế quốc Mỹ và bọn này cố biến miền Nam nước chúng tôi thành thuộc địa và căn cứ quân sự của chúng.

        Như vậy là ở Đông Nam Châu Á, chúng tôi đã đứng ở tiền đồ của mặt trận dân chủ và hòa bình toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh"10.
       
        Đến tận những giờ phút cuối đời, trong Di chúc thiêng liêng, Người đã để lại niềm tin tất thắng cho toàn dân tộc:
       
        "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.
       
        Đó là một điều chắc chắn".
       
        “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

                Còn non, còn nước, còn người,
 
                Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

       
        Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà"11.
       
        Trong hai cuộc kháng chiến, nhân dân ta phải chống lại hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Từ kinh nghiệm truyền thống dân tộc "lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều', Người đã khéo lợi dụng mâu thuẫn phân hóa kẻ thù, nhằm vào kẻ thù chính. Người chủ trương "vừa đánh, vừa đàm", "đánh là chủ yếu đàm là hỗ trợ", lấy "thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi cho chính trị", thắng lợi chính trị sẽ làm cho thắng lợi quân sự to lớn hơn"12. Kết quả của Hội nghị Giơnevơ và Hội nghị Pari về Việt Nam là những minh chứng về sự phối hợp giữa đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự trong thời đại Hồ Chí Minh.
       
--------------
1, 2. Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.198.

3. Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 134.

4. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, HG-C5/23.

5. Xem: Báo Nhân Dân các ngày 24-10-1956, 24-10-1965, 19-8-1966 và 22-3-1967.

6, 7, 8, 9. Xem : Báo Nhân Dân các ngày 24-10-1956, 24-10-1965, 19-8-1966 và 22-3-1967.

10. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 301.

11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12. 1996, tr. 509, 498-499.

12. Xem: Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 204.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #63 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:15:33 PM »

               
V. YÊU QUÝ-TRỌNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN TÀI
       
        Gắn liền với cách mạng của dân tộc, tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục, giác ngộ quần chúng, đem sức mạnh của quần chúng thực hiện mục tiêu của cách mạng.
       
        Trong khối đại đoàn kết toàn dân, Người dành sự quan tâm đặc biệt đối với nhân tài của đất nước. Người thường nhấn mạnh: "Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta"1.
       
        Từ rất sớm Hồ Chí Minh-Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm, chăm sóc, đào tạo các thế hệ thanh niên yêu nước nhiệt huyết với cách mạng. Người đã chọn lọc những người ưu tú làm hạt nhân, chuẩn bị các nhân tố quan trọng cho việc thành lập một chính đảng ở Việt Nam.
       
        Hồ Chí Minh hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc) từ năm 1924, làm nhiệm vụ của Quốc tế cộng sản. Trong thời gian này, Người được cụ Phan Bội Châu khâm phục và tin tưởng giao cho các đầu mối cơ sở của Cụ. Nhiều người con ưu tú của đất nước được Người kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925) như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong. Người còn tranh thủ tối đa các điều kiện có thể để cử cán bộ đi học quân sự ở Liên Xô và Trường quân sự Hoàng Phố nơi Người tham gia giảng dạy. Cũng tại Quảng Châu, năm 1926, Người khéo tổ chức ra Trường huấn luyện chính trị và nó được xem là một phân hiệu của Trường quân sự Hoàng Phố. Tại đây nhiều cán bộ do Người lựa chọn được trang bị kiến thức cơ bản về chính trì và quân sự đã trở thành những nhà cách mạng ưu tú như: Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng… Từ lớp người này đến lớp người khác, Người chăm lo đào tạo nhân tài cho đất nước.
       
        Khi tình hình thế giới và Đông Dương phát triển ngày càng có lợi cho ta, năm 1941, tại một địa điểm gần biên giới Việt Trung, Người mở lớp cấp tốc huấn luyện đào tạo nhiều cán bộ cho công cuộc giải phóng đất nước. Tài liệu bài giảng cho lớp huấn luyện này về sau được in thành cuốn sách "Con đường giải phóng". Người trở về nước trong khi tình hình thế giới đang ở giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Còn trong nước tình thế cũng rất khẩn trương. Mặc dù vậy với nhãn quan nhìn xa, trông rộng, để chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho cách mạng, Người đã cử các đồng chí Hoàng Văn Thái, Đàm Quang Trung, Vũ Nam Long, Vũ Lập, Hoàng Minh Thảo... đi học Trường quân sự ở Liễu Châu-Trung Quốc. Trước khi đi học các đồng chí được Người căn dặn: Phải học tập sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí hiện có của các nước trong phe Đồng minh, của cả đối phương nữa. Sẽ đến lúc mình phải sử dụng tới2.
       
        Là lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đào tạo, yêu quý và trọng dụng nhân tài, song Người luôn luôn nhấn mạnh việc tu dưỡng đạo đức là gốc. Bởi chính Người là một tấm gương tiêu biểu cho đạo đức cách mạng. Người rất coi trọng tài năng, vì phải có tài năng, có tri thức mới hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhưng theo Người: "Có tài mà không có đức là hỏng”. Người chỉ rõ đạo đức của chúng ta là đạo đức mới, đạo đức cách mạng; nó tiếp thu, kế thừa truyền thống đạo đức dân tộc như "Lòng yêu nước, thương dân", “tinh thần tương thân, tương ái", v.v..
       
        Đánh giá những cống hiến cách mạng, trước hết, Người xem đạo đức cách mạng là cái gốc, là nền tảng của người cách mạng.
       
        Người nhấn mạnh: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?"3.
       
        “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang"4.
       
        Đối với công tác cán bộ, Người chỉ rõ: "Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém"5.
       
        “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ... đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước"6.
       
        Với sự uyên bác và độ lượng, Người biết rằng các chí sĩ, các nhà khoa học hàng đầu đều có lòng yêu nước, chân thành, đức độ, trọng danh dự và lẽ phải. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Người đã cảm hóa được nhiều nhân tài cho đất nước như các ông: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Phan Anh. Tiếp đến là các nhà khoa học: Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Lương Đình Của, thiếu tướng anh hùng giáo sư Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của Bazôca Việt Nam đã làm khiếp vía kẻ thù trên mặt trận. Các vị đó đều là những người con yêu nước của dân tộc, dám từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý để đi theo kháng chiến, có đóng góp rất lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

        Trên thế giới cũng có những hiện tượng tương tự như vậy: Nga có V.Ramencô, Cuốcsatốp. Nhờ đó Nga có thể tuyên bố: Tên lửa của Nga có thể đi đến bất cứ một nơi nào và "chọc thủng" bất kỳ hệ thống phòng thủ nào hiện có. Còn Trung Quốc có: Tiền Học Sâm (từ Mỹ về), Vương Kiến Xương (từ Đức về) Tiền Tam Cường (từ Pháp về), họ đều là những nhân tài chế tạo ra vệ tinh, tên lửa, vũ khí hạt nhân làm nên sức mạnh quân sự cho đất nước họ.
       
        Yêu quý, trọng dụng và phát triển nhân tài là nội dung cốt lõi về con người và sử dụng con người trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
       
        Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, vừa xây dựng một xã hội ngày càng giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, vừa phải sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cần phải có quyết sách về việc sử dụng nhân tài và đào tạo nhân tài cho đất nước.

----------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 237.

2. Bác của chúng ta, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 85, 86.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1996, t. 5, tr.252-253.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1996, t. 9, tr.283.

5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr.283, 276.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #64 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:18:26 PM »

       
*

*       *

        Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống  đánh giặc giữ nước của dân tộc, kết hợp và tiếp thu những tinh hoa quân sự của thế giới, lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh để giải phóng dân tộc bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng.
       
        Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được hình thành phát triển trong quá trình hoạt động và đấu tranh cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành cơ sở của đường lối quân sự của Đảng ta, đưa cách mạng Tháng Tám đến thành công và hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đến thắng lợi.
       
        Ngày nay xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Muốn làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phải ra sức phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa, giáo dục lối sống lành mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời cũng phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ vững an ninh, củng cố quốc phòng, phát triển nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới.
       
        Về an ninh, chúng ta không để xảy ra bạo loạn lật đổ, ly khai, đề cao cảnh giác chống diễn biến hòa bình. Muốn vậy phải làm cho dân thực sự tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Bằng cách ta phải thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cho tốt, Đảng ở cơ sở, chính quyền ở cơ sở phải gắn chặt với dân. Dân với Đảng và chính quyền cơ sở là một. Phải giáo dục sâu sắc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bằng thực tiễn cuộc sống. Nêu cao gương "người tốt, việc tốt" như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường quan tâm. Đồng thời phải chăm lo đến đời sống của các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt việc xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi để cho dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, có nhà ở, được học hành.
       
        Mặt khác phải chống thoái hóa biến chất, tham nhũng, tự diễn biến. Có như vậy thì bọn cơ hội phản động chính trị khó bề hoạt động, lôi kéo dân, kích động dân.
       
        Lấy dân làm gốc đó là nội dung cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đó cũng là cơ sở truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta như Trần Hưng Đạo đã từng nói: "khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”1.
       
        Về quốc phòng, chúng ta phải thường xuyên xây dựng và củng cố lực lượng quân sự, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu trong trường hợp xảy ra chiến tranh.
       
        Chiến tranh ngày nay là chiến tranh vũ khí công nghệ cao; chiến tranh bằng hỏa lực và điện tử; bằng hỏa lực đường không, bằng tên lửa kết hợp với tiến công của lục quân cơ giới. Không quân và tên lửa có nhiều ưu việt: nó khắc phục được mâu thuẫn giữa hỏa lực với địa hình và thống nhất được tình huống với thời cơ; nó đánh vào chỗ nào cũng được, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian; nó đánh rất nhanh và hỏa lực rất mạnh, cơ động thay đổi rất bất ngờ.
       
        Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của ta là cuộc chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược, vẫn phải lấy tinh thần làm cơ sở, vẫn phải là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống dân tộc tài thao lược, phải có mưu kế và thế trận. Ta kém địch về vũ khí thì phải vận dụng phương châm lấy hiện đại thông thường có một ít tinh xảo đánh lại hiện đại tinh xảo với truyền thống 'lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, tinh thần và ý chí con người vẫn có vai trò là quyết định. Chiến tranh ngày nay vẫn là chiến tranh nhân dân ba thứ quân kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Cái mới khác trước là tác chiến trên không trên bộ. Kẻ đi xâm lược thường dùng máy bay và tên lửa để đánh đối phương và chi viện cho bộ đội ở mặt đất. Và cuối cùng phải chiếm lĩnh được mặt đất mới giải quyết được chiến tranh. Ta phải tìm một phương pháp mới, trong điều kiện mới để đánh bại quân xâm lược. Đó là phương pháp luận bộ-không. Ta phải đánh mạnh cả trên bộ và trên không, đánh tiêu diệt ở trên bộ và đánh đau ở trên không, địch bị thiệt hại nhiều, bị lún sâu vào sa lầy, không hy vọng vào thắng lợi thì chúng mới bị đánh bại về ý chí xâm lược.
       
        Tinh thần tư tưởng bao giờ cũng là cơ sở của sức mạnh chiến đấu. Dám chiến đấu, quyết chiến đấu thì sẽ tìm ra cách đánh thích hợp để chiến đấu và chiến thắng. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh dường như một kho tàng vô tận và quý báu để chúng ta không ngừng nghiên cứu bổ sung để rút ra được những bài học thực tiễn trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc và sẵn sàng chiến đấu chống lại bất kỳ kẻ xâm lược nào.
       
--------------
1. Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, t. 2, tr. 79.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #65 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:21:20 PM »

        
PHẦN THỨ BA

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN TRANH
GIẢI PHÓNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
       
        
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
       
        Nghệ thuật quân sự Việt Nam bao gồm nghệ thuật chỉ đạo điều hành chiến tranh của cơ quan lãnh đạo tối cao, nghệ thuật tác chiến ở tầm chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến đấu.
        
        Từ khi có Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam có bước phát triển mới, trong đó đặc biệt là trình độ và nghệ thuật tác chiến. Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ròng rã 30 năm đã hội tụ đủ những nội dung để chúng ta có một nền nghệ thuật quân sự hoàn chỉnh. Tuy vậy việc nghiên cứu, tổng kết và phát triển nghệ thuật quân sự ngày nay vẫn phải được tiếp tục.
        
        Đến nay, chúng ta có thể nêu lên những nét đặc sắc nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam.
        
        Nghệ thuật của chiến tranh chính nghĩa, toàn dân, toàn diện, lâu dài với ý thức tự lực tự cường cao:
        
        Trong chiến tranh sức mạnh của một dân tộc, của một quân đội không chỉ là sức mạnh của vũ khí trang bị và tác chiến quân sự, mà còn là sức mạnh chính nghĩa, toàn dân, toàn diện của cả một dân tộc với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Đó chính là sức mạnh to lớn nhất, quyết định nhất của mọi cuộc kháng chiến. Chính nghĩa là cái gốc sức mạnh chính trị của chiến tranh. Toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực tự cường từ yếu đến mạnh, từ nhỏ đến lớn là cái gốc sức mạnh vật chất của chiến tranh. Mối quan hệ giữa các yếu tố đó là biện chứng, cái này là tiền đề cho cái kia và thúc đẩy nhau phát triển. Cả hai cái gốc đó đều phải có, phải vững thì thắng lợi mới trở thành hiện thực.
        
        Xét về góc độ ấy, nghệ thuật quân sự chính là nghệ thuật khai thác, tập hợp sức mạnh một cách cao độ và triệt để. Nhờ có sức mạnh ấy mà các cuộc kháng chiến của ta đã được sự giúp đỡ rất nhiều của bạn bè quốc tế, cả về vật chất và tinh thần. Thiếu điều đó, chúng ta hẳn sẽ khó khăn hơn trong sự nghiệp giải phóng đất nước. Ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn, thô sơ chọi với hiện đại là quy luật phổ biến của mọi cuộc chiến tranh mà chúng ta đã tiến hành. Ứng với quy luật ấy phải có nghệ thuật tạo sức mạnh, chuyển hóa tương quan lực lượng địch, ta để giành thắng lợi. Nghệ thuật quân sự đó đã khơi dậy được truyền thống hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, lòng yêu nước, yêu tự do độc lập của nhân dân, cùng đứng lên với tinh thần "giặc đến nhà, đàn bà, trẻ già đều đánh".
        
        Quân và dân ta đã đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí có trong tay dù là thô sơ nhất, đánh giặc bằng cả sức mạnh chính trị tinh thần trên mọi lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, văn hóa... Đem sức ta mà giải phóng cho ta, đó là thể hiện ý thức tự lực tự cường của dân tộc. Nhưng vì ta đi từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh. từ thô sơ đến hiện đại, nên điều kiện để chuyển hóa sức mạnh là vô cùng quan trọng. Một trong những điều kiện ấy là nhân tố thời gian. Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đều phải kéo dài hàng chục năm mới đi đến thắng lợi, từ thắng lợi giải phóng nửa nước đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước.
        
        Nghệ thuật dám đánh, biết đánh và biết thắng:
        
        Dám đánh giặc, nhất là dám đánh những kẻ lớn mạnh hơn mình gấp bội, dựa trên cơ sở biết địch, biết ta, hiểu rõ đối phương ở nhiều góc độ một cách toàn diện là nghệ thuật quân sự truyền thống của quân và dân ta. Có dám đánh thì mới có thể tìm ra cách đánh và đánh thắng. Ngay từ buổi đầu dựng nước, hào khí Diên Hồng, hội nghị Bình Than, lời đồng thanh quyết đánh thể hiện bằng hai chữ “Sát Thát" đã ăn vào da thịt người chiến binh vẫn còn đó, nó đã trở thành dòng máu của các thế hệ Việt Nam.
        
        Khi quân đội nhân dân ta mới được thành lập, còn nhỏ bé, trang bị thô sơ, đã phải đương đầu với đế quốc sừng sỏ là thực dân Pháp xâm lược. Trong 9 năm kháng chiến, do nghệ thuật tổ chức chỉ đạo chiến tranh tài tình của Đảng ta và Bác Hồ, chúng ta đã xây dựng được lực lượng chủ lực tương đối mạnh, bên cạnh đó là lực lượng hùng hậu gồm bộ đội địa phương và dân quân du kích. Với nghệ thuật phân tán chia cắt địch trên khắp các chiến trường trong toàn quốc, chúng ta đã điều một bộ phận quan trọng lực lượng địch đến chiến trường rừng núi, Điện Biên Phủ, để thực hành trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Chọn địa bàn tác chiến chiến lược chính xác, với sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý, có hiệu quả cao của các chiến trường khác trong cả nước, nên đã tạo được thế chiến lược rất thuận lợi cho ta. Chủ lực địch thì phân tán như bàn tay xòe thành 5 ngón, còn lực lượng ta thì tụ lại như bàn tay nắm chặt thành quả đấm quyết định tại chiến trường Điện Biên Phủ.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Năm, 2016, 04:48:41 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #66 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:22:51 PM »

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta cũng lại là một cuộc chiến tranh không cân sức. Một lần nữa dân tộc ta quân đội ta lại phải lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, với tinh thần quyết đánh quyết thắng. Vì thế quân đội đã trưởng thành vượt bậc, về chất lượng cũng như trình độ tác chiến. Những đơn vị chủ lực mạnh ra đời, thực hiện được quy mô tác chiến hợp đồng binh chủng, quân chủng. Lực lượng ba thứ quân đã hình thành vững chắc trên nền thế trận chiến tranh nhân dân. Với nhiều hình thức chiến thuật phong phú linh hoạt ra đời với thắng lợi liên tiếp của nhiều chiến dịch ở các loại hình đạt hiệu quả cao, ta đã lần lượt đánh bại từng nấc thang chiến tranh, từng chiến lược của Mỹ-ngụy.
       
        Cả hai cuộc kháng chiến nổi bật lên một vấn đề độc đáo, đó là nghệ thuật coi trọng tư tưởng đánh thắng đối phương bằng mưu kế và thế thời; là nghệ thuật đánh bằng mưu mẹo, không dùng lực để chọi lực, cứng chọi cứng mà phải kết hợp cả trí và lực, cứng và mềm nhằm đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận và tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch. Việc tổ chức và sử dụng lực lượng trong những chiến dịch cụ thể nhất là trong chiến cuộc mùa Xuân 1975 thể hiện rất rõ nghệ thuật điều động địch ra hai đầu chiến tuyến, tạo sơ hở về chiến lược ở quãng giữa miền Trung để ta tổ chức đòn tiến công đầu tiên đạt hiệu quả cao. Chiến dịch Tây Nguyên với trận đột phá khẩu Buôn Ma Thuộc, giành thắng lợi chiến lược quan trọng, đã làm vỡ toang một mảng chiến trường, đi đến làm rung chuyển toàn bộ thế trận, làm suy giảm lực lượng địch và nhất là đánh một đòn mạnh vào ý chí và tinh thần quân đội Mỹ-ngụy.
       
        Có được thế trận chiến lược tuyệt đẹp như mùa Xuân 1975, có được lực lượng mạnh ở những hướng chiến lược, mục tiêu chiến lược quan trọng là cả một quá trình tạo thế, tạo lực ta, phá thế địch, tiêu hao lực lượng địch. Quá trình chuyển hóa để lực lượng ta ít hóa nhiều, nhỏ hóa lớn, yếu hóa mạnh phải trải qua nhiều năm chiến đấu rất công phu gian khổ của quân và dân ta. Khi đã hội đủ các yếu tố cơ bản: thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì đòn chiến lược kết thúc chiến tranh được thực hiện. "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", là thể hiện nghệ thuật chiến thắng. Quân và dân ta đã thực hiện thành công tư tưởng chỉ đạo ấy của Bác Hồ. Quả nhiên khi Mỹ đã rút quân về nước, khi kẻ xâm lược đã bị đánh bại về các biện pháp và ý chí, khi chủ đã bị thất sủng thì tớ cũng phải quy hàng.
       
        Nghệ thuật của cách đánh giàu trí tuệ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật và nghệ thuật:
       
        Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong những cuộc kháng chiến vừa qua là nghệ thuật sử dụng nhuần nhuyễn 5 đặc điểm cơ bản sau: Một là, đối tượng tác chiến trong chiến tranh là thế lực hùng mạnh nhất hoàn cầu, một cuộc chiến tranh của số ít chống lại số nhiều, yếu chống lại mạnh. Hai là: sự trưởng thành của quân đội từ thô sơ đến hiện đại, luôn phải lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao, không chỉ là lấy sức mạnh của vũ khí mà còn kết hợp được cả sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân để thắng địch. Ba là, địa hình Việt Nam có những hiểm hóc, chi phối rất nhiều đến việc tổ chức sử dụng lực lượng và các phương pháp tác chiến của cả hai phía. Bốn là, cách đánh Việt Nam mang đậm dấu ấn cách đánh truyền thống phương Đông, trọng mưu hơn trọng lực. Năm là, trên nền cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng ba thứ quân để chiến đấu mà cách đánh hình thành phong phú, linh hoạt, sáng tạo.
       
        Trang bị vũ khí và kỹ thuật quân sự là một trong những yếu tố quyết định phương thức, thủ đoạn tiến hành chiến tranh. Mỗi khi đối phương sử dụng những loại vũ khí nào hoặc cách đánh nào là buộc ta phải có những vũ khí và cách đánh lại chúng một cách hữu hiệu.
       
        Kỹ thuật quân sự tác động rất mạnh đến tâm lý chiến đấu của người lính. Để giải quyết những khó khăn trên, một mặt chúng ta đã tìm cách hạn chế sức mạnh của binh khí kỹ thuật của đối phương, chủ yếu là bằng cách tìm ra quy luật hoạt động tác chiến của đối phương, ta đã sáng tạo ra những cách đánh có hiệu quả dựa trên nguyên lý kỹ thuật kết hợp với chiến thuật; vũ khí kết hợp với tinh thần. Mặt khác, ta đã triệt để lợi dụng những yếu tố địa hình, thời tiết, khí hậu, phát huy triệt để cách đánh tổng hợp của cả ba thứ quân trong mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch cụ thể. Khả năng thiên biến vạn hóa về mặt chiến thuật của ta đã buộc địch phải bị động, sa lầy trong trận đồ bát quái mà ta đã bày đặt sẵn, bị ta nghi binh, lừa và điều động vào những địa bàn tác chiến và thời điểm tác chiến bất lợi cho chúng. Mọi nỗ lực tột bậc của Mỹ ở cả hai chiến trường miền Nam và miền Bắc, dù ở trên bộ, trên không trên biển cũng đều bị phá sản. Điều đó chứng tỏ tính có hạn của kỹ thuật quân sự cao khi gặp phải đối phương có nghệ thuật quân sự giỏi.
       
        Chúng ta thắng Mỹ không chỉ bằng kỹ thuật, mà còn bằng nghệ thuật; không chỉ bằng phần cứng mà còn bằng cả phần mềm. Điều kỳ diệu này, chỉ có một dân tộc luôn vì chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do", vì chính nghĩa, giàu trí tuệ mới làm được.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #67 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:25:46 PM »


*

*       *
       
        Bối cảnh quốc tề và trong nước hiện nay có nhiều thay đổi, tình hình diễn biến hết sức phức tạp và mau lẹ. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới đã đưa đến những tiến bộ vượt bậc trong đời sống kinh tế-xã hội, đem lại cho con người chất lượng sống cao hơn trước đây gấp nhiều lần. Xu hướng hòa bình, hợp tác hữu nghị giữa nhiều nước đang trở thành xu thế của thời đại. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn mưu toan chống lại chủ nghĩa xã hội, lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa, gây chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang ở nhiều nơi. Điều này càng đòi hỏi nền nghệ thuật quân sự của chúng ta phải được nâng lên để đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
       
        Nghệ thuật quân sự của chúng ta ngày nay không thể thoát ly được nền nghệ thuật quân sự truyền thống với những quy luật đã từng vận động trong chiến tranh và được chiến tranh giải phóng dân tộc kiểm chứng. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay, nghệ thuật quân sự hàm chứa một nhiệm vụ rất quan trọng là tham gia vào việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, giữ vững hòa bình và ổn định chính trị, phát triển kinh tế đất nước.
       
        Để tiếp tục có một nền nghệ thuật quân sự luôn phát triển vững chắc, cần dựa trên một số tư tưởng chỉ đạo cơ bản sau:
       
        Nắm vững quy luật chiến tranh:
       
        Quy luật phổ biến của nước nhỏ chống lại nước lớn là lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao vẫn luôn tác động đến nền nghệ thuật quân sự. Vì lẽ đó nền nghệ thuật quân sự vẫn phải quán triệt sâu sắc tư tưởng xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng ba thứ quân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cách đánh toàn dân, toàn diện với ý chí tự lực tự cường, với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do”.
       
        Trước một đối phương mạnh hơn ta về tiềm lực vật chất kỹ thuật, về kinh tế và quân sự thì khả năng có thể là đánh kéo dài. Chỉ có như vậy ta mới giành được ưu thế. Phải làm cho đối phương bị sa lầy, còn ta thì chuyển hóa được lực lượng, tìm được cơ hội giành thắng lợi trong những thời điểm có lợi nhất thì mới giành được chiến thắng. Đối phương bao giờ cũng muốn đè bẹp chúng ta trong một thời gian ngắn nhất bằng sức mạnh cao nhất. Nếu đánh bại được ý đồ đó thì khả năng ta đánh thắng chúng sẽ là hiện thực.
       
        Nghệ thuật quân sự cần phải giải quyết tốt nguyên lý: tiến hành chiến tranh du kích toàn dân thì địch không thể đánh bại được, nhưng chỉ tiến hành chiến tranh du kích thì khó có thể đánh bại được địch. Do vậy, phải kết hợp tốt cả hai loại hình chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy mới có khả năng giành thắng lợi. Vận dụng sự kết hợp này không thể rập khuôn máy móc, mà phải chủ động, sáng tạo. Muốn vậy, những người lãnh đạo và thực hành chiến tranh phải có quan điểm biện chứng, có phương pháp luận khoa học, nắm được quy luật chiến tranh và luôn biết sáng tạo trong lãnh đạo để tìm cách giải quyết mâu thuẫn trong thực tiễn chiến tranh.
       
        Phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự trong điều kiện mới:
       
        Nghệ thuật quân sự trong thời bình chứa đựng những nội dung mới so với nghệ thuật quân sự trong chiến tranh. Nhiệm vụ đặt ra cho nghệ thuật quân sự ngày nay là phải được phát triển vượt bậc về trình độ khoa học công nghệ trong quân sự và nghệ thuật tác chiến trong điều kiện chiến tranh mới, để chống lại vũ khí công nghệ cao. Những cuộc chiến tranh vừa qua cho thấy phương tiện chiến tranh phát triển nhanh chóng, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, nghệ thuật tác chiến thay đổi rất mau lẹ. Đó là tác chiến linh hoạt, nhanh, gọn, dựa vào sức mạnh vũ khí và tính "tinh khôn" của vũ khí là chính. Để đối phó với thực tế ấy, nghệ thuật quân sự cần phải chú trọng vào cải tiến trang thiết bị vũ khí và kỹ thuật quân sự. Lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ phải được nâng cao trình độ tác chiến và sử dụng vũ khí theo xu hướng hiện đại hóa.
       
        Việc xây dựng thực lực quân sự mạnh, vũ khí trang bị, huấn luyện bộ đội theo hướng chính quy, hiện đại trong tình hình kinh tế nước ta hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, cho nên cần phải có sự thống nhất cao về nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới ở cấp vĩ mô mới có thể biến khả năng thành hiện thực được.
       
        Ngoài ra, cũng phải rất chú ý đến việc xây dựng bản lĩnh chính trị, khả năng chiến đấu của quân sự. Đó là tố chất hàng đầu trong phẩm chất người quân nhân. Trong đó cũng phải đặc biệt chú ý đến việc xây dựng phần mềm-tố chất căn bản của người lính để hoàn thành nhiệm vụ trong những điều kiện chiến tranh rất phức tạp và đa dạng. Phần mềm đó được hiểu là nghệ thuật mà chỉ con người khi đấu trí trong chiến tranh mới thể hiện rõ. Nếu phần mềm được trang bị đầy đủ thì họ sẽ có lòng tin và khả năng chiến đấu tốt.
       
        Mưu cao, kế sâu, mẹo hiểm đều là những biểu hiện cụ thể của tài thao lược, trí thông minh, lòng dũng cảm trong nghệ thuật quân sự. Đó là thể hiện tài trí của cả người chiến sĩ và người chỉ huy cần phải có. Đánh địch bằng mưu kế, thắng địch bằng cả thế và thời là truyền thống vẫn cần được phát huy triệt để trong điều kiện mới để thích ứng với những loại chiến lược và chiến tranh kiểu mới như: "Chiến thắng không cần chiến tranh" hoặc "Cuộc chiến tranh không có mùi khói súng".
       
        Tin tưởng vào tinh thần quật cường, bất khuất của dân tộc và tài nghệ quân sự, cũng như tinh hoa truyền thống của dân tộc, chúng ta nhất định sẽ bảo vệ vững chắc đất nước để xây dựng thành một nước giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #68 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:28:40 PM »

        
NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG
       
        Diễn biến của cuộc chiến tranh cũng như một cuộc khởi nghĩa vũ trang là quá trình diễn ra những cuộc đọ sức giữa những lực lượng đối địch trên một khoảng không gian và trong một khoảng thời gian nhất định, dẫn đến kết quả chung cuộc là phân định bên thắng, bên bại, kết thúc cuộc khởi nghĩa vũ trang hoặc cuộc chiến tranh đó. Đây cũng là quá trình vận động của nhân tố lực lượng trong nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng. Sử dụng lực lượng thích ứng hay không thích ứng với những điều kiện cụ thể, khách quan trong đấu tranh giữa hai bên đối địch, điều đó quyết định sự phát huy hay suy giảm hiệu quả của lực lượng.
        
        V. I. Lênin đã chỉ rõ vai trò và vị trí của nghệ thuật sử dụng lực lượng trong khởi nghĩa vũ trang và trong chiến tranh. Lênin đã nói, chìa khóa của chiến thắng nằm ở chỗ: "Có ưu thế áp đảo trong giờ phút quyết định, ở điểm quyết định". Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng".
        
        Nhìn lại các cuộc chiến tranh mà quân và dân ta đã tiến hành để giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, có thể thấy rõ nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng là một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong quá trình lịch sử quân và dân Việt Nam đã đánh thắng nhiều đạo quân xâm lược đông và mạnh hơn mình gấp bội. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của thắng lợi là chúng ta đã nắm vững và vận dụng linh hoạt quy luật về tổ chức và sử dụng lực lượng.
        
        Để tiến hành chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính nước ta, khi bắt đầu chiến tranh, kẻ thù luôn tập trung ưu thế về lực lượng quân đội và trang bị, vũ khí. Những đạo quân xâm lược lúc đầu chủ yếu gồm quân sự chính quy của chính quốc, rồi sau đó tùy theo phạm vi lãnh thổ mà chúng chiếm đóng được, cùng với thời gian của sự chiếm đóng đó, chúng tổ chức ngụy quyền và xây dựng ngụy quân làm lực lượng hỗ trợ. Trong mọi trường hợp, nòng cốt của lực lượng địch vẫn là đạo quân viễn chinh.
        
        Trước kẻ thù đông hơn, mạnh hơn, cực kỳ hung hăng và thâm hiểm, để tiến hành khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tổ tiên ta đã theo dòng thời gian hàng ngàn năm lịch sử xây dựng nên một nền nghệ thuật quần sự Việt Nam độc đáo, trong đó có nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng kết hợp chặt chẽ với thế và thời đưa sức mạnh toàn dân tộc ra đánh giặc.
        
        Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống quân sự của tổ tiên, Đảng ta đã đưa nền nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung, nghệ thuật sử dụng lực lượng nói riêng lên một bước phát triển mới.
        
        Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, sự phát triển của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 của ta trên cả nước đã đưa đến cục diện Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của địch và của ta, nơi tất yếu phải diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa hai bên. Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định chính xác đây chính là nơi và là lúc quyết định số phận của kế hoạch Na-va, quyết định thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược và của toàn cuộc kháng chiến. Chính vì thế, những cố gắng cao nhất của toàn quân, toàn dân đã được huy động để giành toàn thắng cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Các chiến trường trên cả nước đã tác chiến phối hợp nhịp nhàng với Điện Biên Phủ, theo một chủ trương chiến lược, một kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất. Bị cầm giữ và chịu đòn ở khắp các nơi chúng dừng chân hay điều quân đến, Na-va không còn khả năng tăng viện cho lực lượng của chúng tại Điện Biên Phủ, nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược định đoạt số phận cuộc chiến tranh xâm lược của chúng tại ba nước Đông Dương.
        
        Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, lực lượng kháng chiến đã được huy động và chiến đấu trên không gian cả nước từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, được tổ chức thành ba thứ quân phối hợp tác chiến chặt chẽ, hình thành lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị hỗ trợ nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, cuộc đấu tranh của nhân dân ta vượt quá không gian đất nước, diễn ra trong bối cảnh thế tiến công mạnh mẽ của ba dòng thác cách mạng trên thế giới, được những lực lượng cách mạng và cả nhân loại tiến bộ cổ vũ, giúp đỡ. Tại điểm quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, sức mạnh của quân đội ta được đặt trên nền tảng thế nước, thế thời đại, được sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Đảng và nhiều nhân tố cơ bản thuận lợi khác nhân lên gấp bội. Lực lượng của chúng ta đã chiếm ưu thế áp đảo so với lực lượng của định tại nơi quyết định là chiến trường Điện Biên Phủ, vào lúc quyết định là những tháng đầu năm 1954-thời điểm diễn ra hội nghị Giơ-ne-vơ bàn về cuộc chiến tranh Đông Dương. Chính vì thế, sau khi quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của định tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 đã được ký kết, dẫn đến kết quả một nửa nước Việt Nam được hoàn toàn giải phóng.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Năm, 2016, 04:49:05 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22000


« Trả lời #69 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 04:29:57 PM »

        Cuộc Tổng tiến công và nôi dậy Xuân 1975 đánh dấu một đỉnh cao mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam mà nghệ thuật sử dụng lực lượng là một yếu tố rất cơ bản. Vào lúc đó quân đội ta đã có những binh đoàn cơ động lớn với các thành phần binh chủng kỹ thuật hiện đại, nhất là các binh đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo binh, phòng không, có khả năng tiến hành các chiến dịch hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang ta đã nâng lên trình độ tác chiến hợp đồng quân, binh chủng hiện đại cỡ quân đoàn và cụm quân đoàn. Các khối quân chủ lực của ta-những quả đấm thép-đã đứng vững chân trên những địa bàn chiến lược then chốt, có khả năng cơ động nhanh chóng để đánh vào những điểm yếu mà sơ hở trong hệ thống phòng ngự của địch. Đồng thời, chúng ta lại có sẵn những quả đấm thép khác là lực lượng dự bị chiến lược đặt trên tư thế sẵn sàng nhận lệnh bước vào chiến đấu khi giờ quyết định đã điểm.
       
        Trong khi đó, tại vùng địch kiểm soát chúng ta đã xây dựng được một hệ thống cơ sở chính trị sâu rộng ở trong tư thế sẵn sàng nổi dậy. Cũng ngay trong lòng địch, chúng ta đã duy trì và phát triển các lực lượng vũ trang địa phương được trang bị ngày càng tốt hơn và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, đồng thời ém sẵn nhiều đơn vị đặc công, biệt động. Trong thế trận chiến tranh nhân dân, sức mạnh của bộ đội chủ lực, của lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị của quần chúng kết thành sức mạnh tổng hợp to lớn làm nghiêng cán cân lực lượng về phía ta. Vấn đề được đặt ra là sử dụng lực lượng đó để chiếm ưu thế áp đảo so với lực lượng địch vào lúc và nơi quyết định, nhằm phá vỡ một mảng xung yếu trong thế trận phòng thủ của kẻ thù, dẫn đến đập tan toàn bộ thế trận đó.
       
        Thời cơ chiến lược đã xuất hiện vào đầu Xuân 1975. Sau khi quân đội viễn chinh Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, trước thế tiến công của ba dòng thác cách mạng trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, đế quốc Mỹ phải đối phó với hàng loạt vấn đề gay cấn cả về đối nội lẫn đội ngoại. Đây là những sợi dây buộc chân, trói tay chính quyền Oa-sinh-tơn, khiến chúng khó có thể trở lại dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới tại miền Nam Việt Nam để cứu vãn chế độ ngụy quyền Sài Gòn trước nguy cơ sụp đổ. Sau khi "Mỹ cút" ngụy quyền, ngụy quân mất chỗ dựa quân sự của đạo quân viễn chinh Mỹ, lâm vào tình trạng bối rối về tinh thần, đảo lộn về thế trận và suy yếu về lực lượng, nên càng lún sâu trong thế bị động chiến lược. Trong khi đó, eác đơn vị chủ lực ngụy lại bị dàn mỏng trong thế trận “phòng thủ diện địa" nặng ở hai đầu và sơ hở ở quãng giữa, các lực lượng dự bị chiến lược của chúng vừa phải đối phó với quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam, vừa bị đặt trên tư thế sẵn sàng đối phó với những cuộc đảo chính âm ỉ trong nội bộ ngụy quyền. Chiếc chăn đã ngắn lại hẹp, bị Mỹ-ngụy co kéo để cố che kín cả đầu lẫn chân thì lại để hở sườn. Chỗ hở sườn đó là địa bàn Tây Nguyên.
       
        Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã phân tích chính xác thời cơ chiến lược đó và hạ quyết tâm lịch sử giải phóng miền Nam. Chiến trường Tây Nguyên vừa là địa bàn xung yếu vừa là nơi sơ hở của thế trận địch, được chọn làm hướng tiến công chủ yếu, trong đó Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở đầu. Đánh vào Buôn Ma Thuột, chúng ta đã điểm đúng tử huyệt của thế trận phòng thủ của địch trên toàn chiến trường Tây Nguyên. Ở đây, lực lượng chủ lực của ta đã được tập trung với ưu thế áp đảo về số lượng. Trong khi đó, quân địch ở Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập. Lực lượng của địch ở Tây Nguyên và trên khắp chiến trường bị ta căng ra và giam chân ở mọi nơi, khiến chúng không còn khả năng ứng cứu cho Buôn Ma Thuộc. Vì vậy trong trận mở đầu chiến dịch, chúng ta đã tập trung được ưu thế lực lượng đánh đúng vào nơi quyết định, vào lúc quyết định tại chiến trường. Lực lượng đã chiếm ưu thế lại được yếu tố bất ngờ, cách đánh tài giỏi tinh thần dũng cảm và kỹ thuật chiến đấu của cán bộ và chiến sĩ ta nhân lên gấp bội để trở thành áp đảo, nên đã đè bẹp nhanh chóng sự kháng cự của địch, phá vỡ một mảng xung yếu trong thế trận phòng thủ Tây Nguyên của chúng, buộc địch phải rút khỏi vùng cao nguyên chiến lược này, mở đầu cho sự sụp đổ “dây chuyền" của toàn bộ thế trận địch ở miền Nam.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM