Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Tám, 2019, 09:00:29 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc  (Đọc 28131 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #50 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:26:20 PM »

        Chiến thắng Núi Thành (28-5-1965), lần đầu tiên, lực lượng vũ trang ta diệt gọn một đại đội Mỹ trên chiến trường miền Nam. Trận Núi Thành là trận mở đầu thắng lợi, tuy có quy mô không lớn nhưng đó là bài học kinh nghiệm đánh Mỹ để từ đó phát triển một khẩu hiệu hành động: Tìm Mỹ mà diệt.
       
        Sau Núi Thành đến tháng 10-1965 trận Plâyku-Iađrăng nổi tiếng, lần đầu tiên trên chiến trường ta tiêu diệt 1 tiểu đoàn Mỹ của Sư đoàn kỵ binh bay số 1-một phát minh mới nhất của Mỹ trên thế giới.
       
        Trong một Hội nghị cán bộ của Đảng, phân tích chỗ mạnh và chỗ yếu của quân Mỹ. Hồ Chí Minh nói: "Đời sống của một tên lính Mỹ, nào bánh, thịt, thuốc lá, kẹo cao su đủ thứ, một tên lính Mỹ đi đánh so với một tên lính ngụy tốn gấp 15 lần… Lính Mỹ to xác, trang bị đủ thứ, kềnh càng, nặng nề; còn quân giải phóng của ta tuy nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn… Ta thấy chỗ mạnh của nó, vũ khí của nó mới, tiền của nó nhiều nhưng ta cũng biết những khuyết điểm của nó mà là khuyết điểm lớn, cơ bản"1. Người nhấn mạnh: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân. Tư tưởng quyết đánh, biết đánh và biết thắng của Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp lại được phát huy sáng tạo trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
       
        Các trận đánh phủ đầu quân Mỹ với chiến thắng Núi Thành, Vạn Tường, Bầu Bàng-Dầu Tiếng và khách sạn Mêtrôpôn tỏ rõ quân và dân miền Nam hoàn toàn có thể đánh bại được đội quân viễn chinh Mỹ ở ngoài căn cứ, ở nông thôn, đồng bằng, miền núi và ở cả trong đô thị.
       
        Bị thiệt hại nặng bởi những trận đánh phủ đầu giữa năm 1965 Mỹ cho rằng vì mùa mưa xứ nhiệt đới, quân đội của chúng chưa phát huy được sức mạnh của binh khí kỹ thuật và sức cơ động, nên chúng quyết định mở cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 trên hướng trọng điểm là miền Đông Nam Bộ và khu V.
       
        Nhân dân ta quyết tâm thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch trong cuộc họp Bộ Chính trị (9-1964) khi quyết định đẩy mạnh hoạt động của bộ đội chủ lực ở Nam Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên: “Ta phải đánh lâu dài 10 năm đến 20 năm, phải đề phòng địch có hành động điên cuồng dù chúng bị cô lập phải có kế hoạch phòng khi đột biến. Miền Nam phải mở rộng chiến tranh du kích, xây dựng chủ lực thành quả đấm mạnh, gọn, nhanh”2. Bằng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc hiểm hóc, linh hoạt, với phương châm "tìm Mỹ mà diệt, bám lấy thắt lưng địch mà đánh, còn cái lai quần vẫn đánh", kết hợp chặt chẽ với những "quả đấm" của chủ lực và những trận đánh kiên cường, quân và dân ta đã đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 của địch.
       
        Giữa lúc này cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của quân và dân miền Bắc cũng diễn ra ác liệt. Miền Bắc tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không chưa từng có trong lịch sử. Toàn dân đánh máy bay địch, vừa phòng tránh để sản xuất, xây dựng kinh tế phục vụ quốc phòng, chi viện cho miền Nam, vừa tham gia chiến đấu.
       
        Trong chiến lược chiến tranh nhân dân phòng không này, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến lực lượng nòng cốt là bộ đội phòng không và không quân. Người còn trực tiếp đến từng đơn vị để xem xét động viên. Sự sáng suốt của Người là ngay từ năm 1965, Người đã cho tổ chức bộ đội tên lửa phòng không để đến năm 1972 ta mới có "Điện Biên Phủ trên không" ở Hà Nội, Hải Phòng, đánh bại cuộc tiến công hỏa lực đường không của địch, buộc Mỹ phải rút khỏi miền Nam.
       
        Đến thăm đoàn không quân Sao Đỏ, Người căn dặn: “Tổ tiên ta từ xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông trên biển... Ngày nay chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi, trách nhiệm ấy trước hết là của các chú"3.
       
        "Vừa qua địch chủ quan bay thấp nên ta bắn được. Lần này nếu địch đánh lại, nó sẽ thay đổi thủ đoạn. Địch cũng biết rút kinh nghiệm, ta cũng phải biết rút kinh nghiệm. Chú ý từ việc ngụy trang máy bay đến cách đánh. Các chú hãy học tập quân giải phóng miền Nam: phát huy lối đánh gần, bám thắt lưng địch mà diệt chúng"4.
       
        Đến thăm đoàn xung kích và đại đội I, đoàn Tam Đảo phòng không đang chuẩn bị đi chiến đấu bảo vệ tên lửa ra quân trận đầu, Người căn dặn: "Phải làm sao đánh tiêu diệt được chúng. Vừa qua súng của ta không phải ít nhưng chưa đánh tiêu diệt được... Không phải ta thiếu cảnh giác. Vấn đề là ở chỗ tinh thần con người phải truyền qua súng, tức là phải làm sao phải có kỹ thuật giỏi... Muốn bắn trúng, bắn rơi máy bay, ngay từ loạt đạn đầu tiên, phải tập luyện thật công phu. Có bắn trúng, bắn rơi ngay từ loạt đạn đầu thì mới bắn rơi được tại chỗ. Những yêu cầu đó liên hệ mật thiết với nhau. Bắn trúng từ loạt đạn đầu tiên, bắn rơi tại chỗ sẽ tiết kiệm được đạn… Bộ đội phòng không không quân có nhiều binh chủng hợp thành, lúc đánh phải hiệp đồng cho tốt… phải tin tưởng vững chắc là ta nhất định thắng, Mỹ nhất định phải thua... Phải khẳng định rằng: Dù đế quốc Mỹ có lắm súng. nhiều tiền, dù chúng có B.57, B.52 hay "B" gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đánh là nhất định thắng"5.
       
----------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.14.

2. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, Hồ sơ H25, C4/19.

3. Người cha thân yêu, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr.114.

4. Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, t.2, Sđd, tr.381.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 466-467.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #51 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:36:22 PM »

        Đối với cả nước, Người ra lời kêu gọi (ngày 17-7-1966): “Gần đây, giặc Mỹ điên cuồng leo thang thêm một bước rất nghiêm trọng: chúng bắn phá ngoại ô Hà Nội và Hải Phòng. Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thú bị thương nặng, giãy giụa một cánh hung tợn trước hơi thở cuối cùng"1.
       
        “Giônxơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ? Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”2.
       
        Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, quân và dân miền Bắc đã kiên cường chiến đấu, bình tĩnh chủ động đánh trả các đợt tiến công của không quân và hải quân địch. Điển hình trận đánh lập thành tích kỷ niệm ngày sinh nhật Bác 19-5-1967, các lực lượng phòng không ba thứ quân phối hợp với bộ đội tên lửa và không quân đã bắn rơi tại chỗ 10 máy bay Mỹ. Với chiến công này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất cho quân và dân Hà Nội và gửi thư khen ngợi. Người còn gửi lẵng hoa, tặng quà và cả tiền tiết kiệm cho bộ đội phòng không có thêm tiền uống nước trong những ngày chiến đấu nắng nóng. Sự quan tâm của Bác đã làm xúc động sâu sắc cán bộ, chiến sĩ, tiếp thêm niềm tin và sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng.
       
        Trên chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị đã đề ra 6 phương châm tác chiến chiến lược cho Đông-Xuân 1966-1967 là:
       
        1. Mở các chiến dịch vừa và lớn dưới hình thức tiến công hoặc phản công tiêu diệt lớn quân địch.
       
        2. Đẩy mạnh chiến tranh du kích lên trình độ cao, tiêu hao phân tán, ghìm chân địch đập tan các cuộc càn quét, đánh bại âm mưu bình định của chúng, uy hiếp các đô thị.
       
        3. Đánh phá các căn cứ hậu cần kho tàng, sân bay, bến cảng.
       
        4. Triệt phá các đường giao thông thủy bộ quan trọng của địch, tạo thế chia cắt, bao vây địch, buộc chúng phải đi vào phòng ngự.
       
        5. Đẩy mạnh hoạt động ở đô thị, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.
       
        6. Tác chiến kết hợp với binh vận làm tan rã ly khai, gây binh biến trong hàng ngũ địch.
       
        Chiến trường đã được chuẩn bị, trên cơ sở thế trận tiến công được củng cố vững chắc, quân và dân ta chủ động bước vào Đông-Xuân 1966-1967 với một niềm tin vào sức mạnh to lớn.
       
        Còn với địch, sau thất bại cuộc phản công mùa khô 1965-1966 và Hè Thu 1966, Mỹ quyết định tăng quân lên gấp đôi: khoảng 389.000 tên Mỹ và quân chư hầu có 52.000 tên của Nam Triều Tiên, Ôxtrâylia, Niu Dilân và các phương tiện chiến tranh hùng hậu. Mỹ quyết định mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai mùa khô 1966-1967 với các cuộc hành quân vào miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Bộ. Điển hình là cuộc hành quân Gianxơn Xity nhằm đánh chiếm chiến khu Dương Minh Châu để tiêu diệt cơ quan đầu não và chủ lực ta trong kế hoạch “tìm diệt" của chúng.
       
        Đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã kiên trì thực hiện phương châm 3 bám: cán bộ bám dân, dân bám làng xã chiến đấu và sản xuất, bộ đội và du kích bám địch để đánh, đồng thời vận dụng linh hoạt thế trận chiến tranh nhân dân ba thứ quân, ba mũi giáp công, tìm ra nhiều cách đánh phong phú như: bám địch đánh tiêu hao, tiêu diệt nhỏ; bí mật thọc sâu tiêu diệt địch; tiến công kết hợp với chốt; tiến công kết hợp với bao vây công kích, v.v. Kết quả Mỹ-Ngụy đã thất bại cả về quân sự và chính trị trong kế hoạch "tìm diệt" của chúng, buộc phải lui về thế phòng ngự.
       
        Sau khi đập tan cuộc hành quân Gianxơn Xity, lợi dụng thời cơ địch đang lúng túng bị động về chiến lược, ta liên tiếp mở nhiều đợt hoạt động tiến công địch trên khắp các chiến trường từ Nam Bộ đến khu V. Điển hình trong thời gian này là chiến dịch Đắc Tô-Tân Cảnh. Bộ đội chủ lực Tây Nguyên đã dùng mưu kế lừa địch, lợi dụng ý định "tìm diệt" của chúng để điều chúng đến nơi ta lựa chọn tiêu diệt. Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, ta đã dùng mưu lừa được 1 lữ đoàn Mỹ và 1 lũ đoàn thiếu quân ngụy ra nơi ta định dử để đánh bại chiến lược "tìm diệt" của Mỹ. Kết quả ta đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 173 Mỹ-lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ, làm cho quân Mỹ rất e ngại tiến sâu vào khu căn cứ của ta.
       
        Đến cuối năm 1967, quân ta đánh lớn ở La Vang, Đông Hà (Trị Thiên), làm chủ các địa bàn vùng ven Sài Gòn-Gia Định và chiến thắng Đắc Tô I đã mở đầu tạo đà cho cuộc tổng tiến công mùa Xuân 1968.
       
        Như vậy, Mỹ-Ngụy từ thế chuẩn bị phản công buộc phải quay về phòng ngự bị động trên hai hướng chính: xung quanh Sài Gòn và Trị Thiên.

-------------
1. Hồ Chí Minh: Vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.282.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1996, t.12, tr.108.


Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #52 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:39:53 PM »

        Từ tình hình đó tháng 12-1967, Bộ Chính trị họp nhận định: "Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược và đi đến quyết định "động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc đấu tranh của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định".
       
        Mục tiêu tổng công kích, tổng khởi nghĩa là: Dùng đòn nghi binh thu hút giam chân lực lượng chiến lược ở đường 9, Khe Sanh để đánh đòn tiến công chiến lược vào các thành phố, thị xã trên toàn miền, kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở nông thôn và đô thị. Mở đầu cho tổng công kích tổng khởi nghĩa lấy chiến trường chính là Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn. Thời gian tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa được chọn vào dịp Tết Nguyên Đán Mậu Thân 1968, đây là thời gian có nhiều yếu tố bất ngờ nhất với địch.
       
        Từ đêm 30 rạng 31-1-1968, các lực lượng vũ trang cách mạng đồng loạt tiến công đánh ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, căn cứ quân sự, cơ quan đầu não của Mỹ-ngụy, đã tiêu diệt nhiều sinh lực và phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Quần chúng nổi dậy đập tan bộ máy chính quyền trên nhiều vùng nông thôn rộng lớn, bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt địch, mở rộng vùng giải phóng. Thắng lợi lớn của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ ngay khi có mặt của gần nửa triệu quân Mỹ và chư hầu với gần một triệu quân ngụy cũng phải lúng túng, bất lực đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam không điều kiện từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và ngồi đàm phán với ta tại Hội nghị Pari, buộc phải rút một lực lượng lớn quân Mỹ và các quân chư hầu về nước. Nhân chào mừng thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Người chỉ rõ: "Thắng lợi đầu xuân của quân và dân miền Nam đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến một tình thế mới rất có lợi. Không có gì cứu vãn nổi sự sụp đổ hòan toàn của giặc Mỹ và tay sai"1. Ngay lúc đó, với nhãn quan chiến lược vô cùng sáng suốt, Người nhận định: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi nó thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt để có thời gian suy nghĩ chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội"2. Đó là lời căn dặn của Người với đồng chí Tư lệnh quân chủng phòng không-không quân khi Người được báo cáo về tình hình chiến đấu đầu năm 1968.
       
        Người còn khẳng định thêm: Mỹ thua đã rõ ràng... Tuy vậy đế quốc Mỹ chết thì chết, nết không chừa, chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm lược… 31 triệu đồng bào ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng". Bị thất bại thảm hại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam, chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ đã rơi vào đường hầm không lối thoát. Song chúng vẫn ngoan cố hiếu chiến ra sức tăng cường quân ngụy và duy trì một bộ phận quan trọng quân Mỹ ở miền Nam hòng kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược với hình thức chiến lược mới gọi là "Việt Nam hóa chiến tranh".
       
---------------
1. Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967. Tài liệu lưu trữ Viện LSQSVN.

2. Xem Tạp chí LSQS tháng 12-1987.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #53 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:47:43 PM »

     
        Đánh thắng "Việt Nam hóa chiến tranh"
       
        Đánh cho Mỹ cút
       
        Bị thất bại sau đòn tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tập đoàn cầm quyền ở Mỹ thêm phân hóa và dao động. Giônxơn đành phải tuyên bố không ra tranh cử nhiệm kỳ hai và đồng thời ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nước Mỹ mất lòng tin khi sự có mặt của hơn 50 vạn quân Mỹ và gần một triệu quân ngụy mà cũng không bảo đảm an toàn cho Sài Gòn, Huế thì cuộc chiến tranh này không thể thắng được. Do đó phải tìm phương thức khác để rút quân Mỹ về nước một cách danh dự và chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pari.
       
        Về phía ta, tuy giành được thắng lợi trong đợt đầu của cuộn tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là rất lớn và có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Nhưng tiếp đến tiến công đợt 2, do bị mất các yếu tố bất ngờ, nên mặc dù rất cố gắng mà hiệu quả chiến đấu vẫn bị kém đi. Đây cũng là bài học do chưa nắm vững được quy luật về khởi nghĩa trong chiến tranh. Hơn nữa tổng khởi nghĩa đã không diễn ra, trong khi đó vẫn kéo dài tiến công vào các đô thị, bỏ lỏng vùng nông thôn. Khi địch tập trung phản kích quyết liệt, ta bị tổn thất lớn, vùng giải phóng bị thu hẹp, nhiều cơ sở bị lộ, bị vỡ, thế chiến tranh nhân dân bị suy giảm. Lực lượng chủ lực phần lớn phải tạm ra đứng chân vùng biên giới Lào và Campuchia. Riêng ở Khe Sanh quân ta thắng lớn, quân Mỹ phải rút chạy. Điều đó chứng tỏ quân Mỹ không thể chiếm lĩnh được một số địa bàn vùng rừng núi xa căn cứ, xa các đô thị. Nhân dịp này Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi: "Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam từ đầu xuân đến nay. Cùng với những thắng lợi của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa"1 .
       
        Nhận rõ kẻ thù, những khó khăn và thuận lợi của ta, nhân ngày 20 tháng 7, Người ra "Lời kêu gọi" đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Dân tộc Việt Nam ta đang tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lợi ích phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của cả loài người tiến bộ, chúng ta đang chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù hung ác nhất trên thế giới. Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và bạo tàn"2 .
       
        Đúng như Người đã nhận định, đế quốc Mỹ rất xảo quyệt, miệng nói "hòa bình", "thương lượng" nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta.
       
        Kế nhiệm Giônxơn tháng 1-1969, Tổng thống Mỹ Níchxơn vội vàng thay thế chiến lược toàn cầu "phản ứng linh hoạt" đã bị phá sản bằng một chiến lược mới gọi là "Răn đe thực tế".
       
        Ở Việt Nam, Níchxơn chủ trương vừa leo thang chiến tranh về chiến thuật, chiến dịch để "răn đe", vừa xuống thang bằng cách rút dần quân Mỹ, mà nuôi dưỡng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".
       
         “Việt Nam hóa chiến tranh” thực chất là sử dụng quân ngụy với vũ khí, trang bị và chỉ huy của Mỹ, tập hợp liên minh phản động khu vực, làm cho ta suy yếu, tiêu diệt cách mạng Việt Nam, từng bước rút quân về nước, nhưng phải giành được thế mạnh trên chiến trường để kết thúc chiến tranh bằng thương lượng theo điều kiện của Mỹ.
       
        Ở miền Bắc, Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá, nhưng tình hình chiến sự vẫn còn căng thẳng, nhân dịp này, Người ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó mới chỉ là thắng lợi bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt… Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyệt chiên quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta. thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi"3 .
       
        Qua một năm chiến đấu quyết liệt, thực tế cách mạng đã bổ sung và hoàn thiện hơn về lý luận cách mạng, nhân dịp đầu xuân 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng năm mới tới đồng bào và chiến sĩ cả nước:
       
                “Năm qua thắng lợi vẻ vang,
                Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
                Vì độc lập vì tự do,
                Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
                Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào,
                Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn”.

       
        Bài thơ Xuân của Người vừa là lời nhắn nhủ chiến lược tới đồng bào cả nước, vừa thể hiện tư tưởng nhất quán về phương sách giành thắng lợi từng bước để đi đến thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh giải phóng.

----------------
1. Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.489.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.373-374.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1996, t.12, tr. 407, 426.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #54 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:53:04 PM »

        Khi thấy sức khoẻ ngày càng giảm sút, không thể đi thăm đồng bào miền Nam được nữa, Người đã yêu cầu bố trí để Người được gặp các đoàn đại biểu cán bộ, đồng bào và chiến sĩ miền Nam. Trong các buổi gặp đó, Người đã có lời dặn dò mang tính chiến lược:
       
        “… Phải nhanh chóng củng cố phát triển cơ sở chính trị, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông hội, công đoàn ở nông thôn và thành thị. Trong chống phá âm mưu bình định của định, phải luôn luôn nắm vững phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, kết hợp ba thứ quân trên ba vùng chiến lược. Phải xây dựng lực lượng vũ trang địa phương cho mạnh. Lực lượng bổ sung chưa kịp thì cũng phải huấn luyện cho tinh, phải quan tâm đến việc ăn ở phòng bệnh cho bộ đội. Phải trên cơ sở củng cố và phát triển các đoàn thể nhân dân mình phát triển chiến tranh nhân dân rộng rãi, chống phá bình định, giữ và làm chủ nông thôn. Phải báo cáo kịp thời, chính xác, chỉ huy chỉ đạo phải đi sát dưới"1 .
       
        “… Phải làm tốt nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, coi đó là "nhiệm vụ hàng đầu”. Phải xây dựng quân đội có chất lượng cao, tiết kiệm sức người sức của. Bộ đội phải hết lòng giúp dân tham gia củng cố hậu phương vững mạnh. Cán bộ cố gắng học tập và luôn luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng. Toàn thể cán bộ chiến sĩ phải nhớ rằng chỉ khi nào quét sạch hết giặc Mỹ ra khỏi đất nước, đánh đổ bọn Việt gian bán nước, thì nhân dân ta mới có hòa bình và tự do thực sự”.
       
        "… Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế lợi thì lực nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được vật nặng hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực...”2 .
       
        "Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng, nhưng chúng còn rất ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta"3 .
       
        “… Bất cứ tình huống nào cũng phải bám phắc lấy dân, dựa vào dân để mà tồn tại. Đó là cái chìa khóa của mọi thắng lợi"4 .
       
        Lâm bệnh nặng, Người còn để lại Di chúc dặn dò:
       
        "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

                Còn non, còn nước, còn người
                Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dụng hơn mười ngày nay!

       
        Dù gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất; đồng bào Nam Bắc nhất định sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc"5 .
       
        Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, qua đời. Nhưng tư tưởng quân sự của Người trong đường lối chiến lược kháng chiến của Đảng và Nhà nước do Người lãnh đạo còn tỏa sáng mãi. Tư tưởng ấy đã tiếp tục được thể hiện trong hoạt động hết sức phong phú, sáng tạo của các nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, quân đội và của đồng bào chiến sĩ cả nước, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
       
        Tháng 1-1970 Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 18 họp đề ra nhiệm vụ trong giai đoạn mới là: “Động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh, đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam Việt Nam; làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo chuyển biến trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định, đánh cho Mỹ phải rút hết quân, đánh cho ngụy phải suy sụp, tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất đất nước”6 .
       
        Sau đó, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương đã họp (4-1970) thống nhất hành động tạo thành một liên minh chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, do vậy đã có sự phối hợp trên các chiến trường toàn Đông Dương đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ ngụy sang Lào và Campuchia, làm thất bại âm mưu đánh vào căn cứ hậu cần của ta. Điển hình trong năm 1971 ta đã đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" ở đường 9-Nam Lào và cuộc hành quân "Toàn thắng 171" Đông Bắc Campuchia, giáng những đòn chí mạng vào âm mưu của Mỹ định dùng quân ngụy Sài Gòn làm nòng cốt mở rộng chiến tranh trên bán đảo Đông Dương.
       
------------------
1. Người cha thân yêu, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr. 60-61.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t. 12, tr. 455.

3. Báo Quân đội nhân dân, ngày 23-5-1969.

4. Vũ Kỳ: Bác Hồ viết di chúc, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1989, tr. 75.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 490.

6. Xem Nghị quyết Trung ương lần thứ 18 (khóa III) của Đảng, tháng 1-1970.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #55 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:56:28 PM »

        Sau khi giành được thắng lợi trên chiến trường Đông Dương trong hai năm 1970-1971, để tạo điều kiện kết hợp chặt chẽ hơn nữa đấu tranh quân sự với chính trị, ngoại giao, ta đã quyết định mở cuộc tiến công chiến lược 1972 trên toàn miền Nam nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng, thay đổi cục diện cuộc chiến tranh ở miền Nam.
       
        Trong cuộc tiến công chiến lược này, ta chủ trương kết hợp ba đòn chiến dịch có ý nghĩa chiến lược: tiêu diệt địch trên chiến trường lựa chọn; tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn chống phá bình định; đấu tranh chính trị ở thành thị, kết hợp đấu tranh quân sự-chính trị-ngoại giao, giành thắng lợi chiến lược ở miền Nam.
       
        Về quân sự, ta tiến hành đồng thời các chiến dịch tiến công của bộ đội chủ lực trên ba hướng: đường số 9-Trị Thiên, bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, hướng chủ yếu là đường số 9-Trị Thiên, cùng các chiến dịch tiến công tổng hợp ở đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng ven biển khu V, hình thành một cuộc tổng tiến công toàn miền để tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng.
       
        Đối với miền Bắc, Mỹ trắng trợn vi phạm điều cam kết ngừng ném bom bắn phá và các hành động chiến tranh khác, đánh phá đường vận chuyển chiến lược của ta. Hơn nữa chúng còn đẩy mạnh "chiến tranh đặc biệt" ở Lào và mở rộng chiến tranh sang Campuchia.
       
        Về phía ta, tuy thắng lợi lớn trên các chiến trường ba nước Đông Dương trong năm 1971, nhưng chưa có chuyển biến gì lớn trên chiến trường chính miền Nam nước ta. Mặc dù còn gặp một số khó khăn về bố trí lực lượng và tổ chức chiến trường, nhưng ta đã có những cố gắng vượt bậc, quyết tâm giành thắng lợi. Bởi vậy cuộc chạy đua giữa ta và địch trong năm 1972 là một cuộc đọ sức có ý nghĩa quan trọng để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến một bước ngoặt quan trọng.
       
        Trên chiến trường miền Nam, địch phán đoán và chờ ta tiến công vào dịp Tết Nhâm Tý (1972). Nhưng ta lại tỏ ra không có hoạt động gì lớn.
       
        Đột nhiên, ngày 30-3-1972, quân ta đồng loạt nổ súng tiến công dồn dập vào tuyến phòng thủ của địch ở đường số 9 bắc Quảng Trị, bắc Tây Nguyên, đông Nam Bộ, tiếp đó là đồng bằng ven biển khu V và đồng bằng sông Cửu Long.
       
        Cuộc tiến công chiến lược này bắt đầu với ba chiến dịch tiến công binh chủng hợp thành quy mô tương đương cấp quân đoàn, cùng một lúc đột phá mãnh liệt vào phòng tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch trên ba hướng chiến lược.
       
        Địch hoàn toàn bị bất ngờ về thời điểm, hướng chủ yếu và cả quy mô, cường độ cuộc tiến công của ta.
       
        Trên hướng chủ yếu, chiến dịch tiến công Trị Thiên, ngay sau ba ngày mở đầu chiến dịch, ta đã đập vỡ hoàn toàn vỏ cứng của tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Bằng cường độ tiến công mãnh liệt, liên tục nhiều đợt, với sự phối hợp của các hướng khác sau gần ba tháng, quấn ta đã làm chủ một vùng rộng lớn từ Đông Hà-Ái Tử, La Vang, nam sông Thạch Hãn đến bắc sông Mỹ Chánh, uy hiếp Huế-Đà Nẵng.
       
        Trên hướng phối hợp, chiến dịch bắc Tây Nguyên, đây là khu vực mà địch phán đoán sẽ là hướng tiến công chính của ta trong năm 1972. Quyết tâm chiến dịch của ta là chưa đột phá ngay vào tuyến phòng thủ mà kéo địch ra ngoài để tiêu diệt chúng trong vận động. Trước đó ta giả làm một con đường cách Bắc thị xã Kon Tum khoảng 30 km để nghi binh thu hút địch. Sau đó ta bí mật mở một con đường quân sự làm gấp vòng về phía đông Đắc Tô. Vào thời điểm phối hợp với hướng chính Trị Thiên, ta bất ngờ tiến đánh Đắc Tô-Tân Cảnh từ phía đông là nơi địch sơ hở ít phòng bị nên chỉ trong vòng 1 ngày ta đã chiếm được Đắc Tô-Tân Cảnh. Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, ta tiêu diệt được một căn cứ trung đoàn tăng cường có sở chỉ huy nhẹ sư đoàn trên tuyến phòng thủ vững chắc của địch. Phát huy thắng lợi, tiếp đó ta giải phóng được một vùng rộng lớn bắc Kon Tum, tạo thế đứng cho chủ lực của ta trên cao nguyên.
       
        Gần như đồng thời với bắc Tây Nguyên, ta mở chiến dịch Nguyễn Huệ ở miền Đông Nam Bộ. Đây là một hướng phối hợp quan trọng. Lần đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ ta tiến hành một chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng quy mô lớn cấp quân đoàn tăng cường với một không gian rộng gồm 4 tỉnh: Bình Long, Phước Long, Tây Ninh và Bình Dương thuộc hướng phòng ngự chủ yếu của địch ở miền Đông Nam Bộ. Với cách đánh linh hoạt, nghi binh tạo thế trên đường số 22 để hướng chủ yếu đột phá chi khu Lộc Ninh, đánh điểm, diệt viện trên đường số 13, chốt chặn kết hợp với vận động tiến công…, ta đã đập tan tuyến phòng thủ phía trước trên vòng cung bắc Sài Gòn dọc biên giới, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng khu vực có ý nghĩa chiến lược, tạo thế đứng chân cho chủ lực miền, uy hiếp hướng phòng thủ của địch ở phía bắc Sài Gòn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #56 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:58:52 PM »

        Cùng với ba đòn chiến dịch lớn là các chiến dịch tiến công tổng hợp ở đồng bằng ven biển khu V và đồng bằng Nam Bộ, Mỹ-Ngụy hoàn toàn bị bất ngờ, sụp đổ từng mảng, suy yếu nghiêm trọng.
       
        Lúng túng, bị động, Mỹ dùng cả không quân, hải quân trở lại đánh phá quyết liệt cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam. Việc "Mỹ hóa" này càng cho thấy sự thất bại của "Học thuyết Níchxơn". Những cố gắng về ngoại giao của Mỹ tưởng chừng như thuận lợi, nhưng cũng chẳng đạt được gì trước sức tiến công mạnh mẽ của quân và dân miền Nam, cũng như sự chi viện ngày càng có hiệu quả của quân và dân miền Bắc.
       
        Bị thua đau, từ tháng 5-1972, Níchxơn đã ra lệnh mở chiến dịch không quân Lainơbếchcơ I (tiền vệ) dùng B52 trút hàng ngàn tấn bom đạn hòng ngăn chặn sự chi viện mạnh mẽ của miền Bắc cho miền Nam. Ta có chỉ thị nghiên cứu cách đánh loại máy bay này. Đến tháng 9-1972, tài liệu "Cách đánh B52" sau nhiều lần bổ sung, hoàn chỉnh đã góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu của bộ đội. Đặc biệt ngày 22-11-1972, ta bắn hạ một B52 ở tây Nghệ An, máy bay rơi gần căn cứ Utapao (Thái Lan). Tuy không bắn rơi máy bay tại chỗ, nhưng lý thuyết sáng tạo bước đầu đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
       
        Thực hiện âm mưu đen tối, Mỹ ráo riết chuẩn bị thành lập bộ chỉ huy hợp nhất không quân chiến lược bao gồm căn cứ Utapao (Thái Lan), căn cứ Anđécxơn (Giam) tập trung quá nửa số B52 của không quân Mỹ và căn cứ Subích (Philippin) bố trí máy bay tiếp dầu, trinh sát gây nhiễu điện tử...
       
        Cuối cùng với hy vọng của một kẻ hiếu chiến, tàn bạo, nhiều tiền của, Mỹ liều lĩnh tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng hạn chế thắng lợi của ta, buộc ta phải chấp nhận điều kiện của Mỹ trong đàm phán, kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ.
       
        Ngày 18-12-1972 Níchxơn ra lệnh bắt đầu chiến dịch Lainơbếchcơ II, dùng máy bay chiến lược B52 và máy bay cường kích F111 tiến công Hà Nội. Trên vịnh Bắc Bộ có năm tàu sân bay đang hoạt động.
       
        Từ đó cho đến suốt 12 ngày đêm, Mỹ huy động gần 200 máy bay chiến lược B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật các loại đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Hơn 10 vạn tấn bom đạn trút xuống các trường học, bệnh viện, các khu phố đông dân... đã gây nên tội ác chồng chất đốt với nhân dân ta.
       
        Quyết đánh và quyết thắng, với những cách đánh mưu trí, dũng cảm, sáng tạo của hệ thống lưới lửa gồm những tên lửa phòng không, súng pháo phòng không các loại, có sự phối hợp của không quân và dân quân tự vệ với một mạng lưới trinh sát của rađa được bố trí bất ngờ, hiểm hóc, kết hợp giữa hiện đại và thô sơ, vừa tối ưu, vừa rất Việt Nam, chỉ trong 12 ngày đêm, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay hiện đại thuộc không quân chiến lược và không quân chiến thuật Mỹ phần lớn rơi tại chỗ, trong đó có 34 máy bay chiến lược B52 chiếm tỷ lệ tổn thất tới gần 18% là vượt quá sức chịu đựng về chiến lược của Mỹ.
       
        Ở đây ta lại thấy tầm nhìn xa trông rộng rất sáng suốt của Hồ Chủ Tịch trong lãnh đạo quân sự. Năm 1964 Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc, thì năm 1965 Hồ Chủ Tịch đã cho tổ chức bộ đội tên lửa phòng không, Người thấy được tầm quan trọng của hỏa lực đường không của địch trong điều kiện chiến tranh mới. Sau các năm 1967-1969 bộ đội tên lửa phòng không tập đánh B52. Có một ít kinh nghiệm nên đến năm 1972, khi địch tập trung B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng thì ta mới có đủ kỹ thuật đánh thắng B52 được.
       
        Chiến công hiển hách này xứng đáng với tầm vóc được gọi là một trận "Điện Biên Phủ trên không", tên do chính báo chí phương Tây đưa ra.
       
        Uy thế của không lực Hoa Kỳ bị sụp đổ. Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" cùng với những thắng lợi to lớn của ba đòn tiến công trên bộ có ý nghĩa chiến lược năm 1972 đã buộc Mỹ phải ký hiệp định Pari, rút hết quân Mỹ và quân các nước chư hầu Mỹ ra khỏi Việt Nam. Sau 18 năm kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã thực hiện được lời dạy của Bác Hồ kính yêu là "Đánh cho Mỹ cút". Còn quân chủ lực của ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên so sánh lực lượng mới có lợi cho ta.
       
        Từ những đòn tiêu diệt có ý nghĩa chiến lược như vậy làm cho ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ bị đập tan.
       
        Ngày 23-3-1973 Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ. Trên đất nước ta quân đội xâm lược nước ngoài cơ bản bị quét sạch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #57 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 10:01:02 PM »

       
        Đánh cho ngụy nhào
       
        Hai tháng sau Hiệp định Pari, Bộ Chính trị họp mở rộng nhận định tình hình: Tuy quân Mỹ đã rút, nhưng lực lượng quân sự Mỹ vẫn có mặt trong khu vực: Đông bắc Thái Lan, Guam, Philippin và trên Hạm đội 7. Mỹ lại đang chi viện ồ ạt để quân ngụy mạnh lên, hòng đẩy lùi cách mạng, thực hiện miền Nam trở thành một nước phụ thuộc Mỹ. Đối tượng tác chiến lúc này là quân ngụy. Phương châm tác chiến ở miền Nam là kết hợp đánh chính quy và đánh du kích, tác chiến với binh vận, chiến đấu với xây dựng, tiêu diệt gắn với giành dân, xây dựng cơ sở. Nhiệm vụ quân sự của miền Bắc là kết hợp kinh tế với quốc phòng, tăng cường chi viện miền Nam và giải quyết các vấn đề quân sự ở Lào và Campuchia.
       
        Trong lúc này, bản chất phản động và ngoan cố của địch ngày càng lộ rõ. Chúng đang ra sức thực hiện một kế hoạch "bình định" dưới chiêu bài "tái thiết nông thôn" nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng, khống chế quần chúng, lấn chiếm vùng giải phóng, phá thế "da báo", khủng bố các gia đình kháng chiến. Do đó khả năng thành lập Chính phủ liên hiệp ba thành phần, thực hiện hòa bình, hòa hợp dân tộc là không thể thực hiện được.
       
        Về phía ta lúc này cũng không ít khó khăn, nhiều đơn vị thiếu quân số, đạn dược, lương thực vì không kịp bổ sung. Có xuất hiện tư tưởng hữu khuynh muốn nghỉ ngơi, ảo tưởng, thậm chí có nơi sợ đánh trả địch là vi phạm Hiệp định Pari.
       
        Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã họp mở rộng (tháng 5-1973) đề ra chủ trương: Trong khi địch dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý. Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại mọi hành động vi phạm của địch. Nhờ đó, nhìn chung trên toàn chiến trường miền Nam, trước sức phản công và tiến công của quân và dân ta, các hoạt động của địch dần bị chững lại và lâm vào thế bị động, chúng không xóa được thế "da báo", mà sức chiến đấu bị giảm sút rõ rệt. Thế bố trí chiến lược của chúng bị phân tán, căng kéo, khó có thể đối phó được cuộc tiến công lớn của ta.
       
        Đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 của Đảng, con đường cho cách mạng miền Nam đã được khẳng định: "Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình huống nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công".
       
        Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã đánh trả quyết liệt, chặn đứng được phần lớn các cuộc 'bình định" lấn chiếm của quân ngụy. Ở nhiều nơi đã khôi phục được thế đứng trước ngày ký Hiệp định Pari như khu V, VIII, IX. ở Tây Nguyên, ta không những quét sạch các cứ điểm địch còn cố đóng trong vùng giải phóng, mở rộng hoàn chỉnh khu căn cứ vùng giải phóng mà còn mở rộng hành lang nối liền với Nam Bộ.
       
        Hậu phương lớn miền Bắc dồn sức người sức của ra tiền tuyến. Các đơn vị được bổ sung quân số và binh chủng kỹ thuật. Đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn được thông suốt; hàng vạn tấn đạn dược vũ khí, xăng dầu đã tới chiến trường tiếp thêm sức mạnh cho chiến tranh nhân dân miền Nam tăng lên gấp bội. Khi Mỹ rút đi, ta càng mạnh, thế và lực của cách mạng miền Nam lúc này mạnh hơn bao giờ hết. Bây giờ còn lại là vấn đề thời cơ.
       
        Đầu năm 1974, Bộ Chính trị họp mở rộng bàn kế hoạch nắm bắt thời cơ cho cách mạng miền Nam. Các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh quán triệt tư tưởng quân sự của Người đã đánh giá rất chính xác về tình thế cách mạng lúc này: Thế giới đang ở thế cân bằng, Mỹ muốn quay trở lại Việt Nam cũng không phải dễ, ngay cả trong trường hợp ta đánh mạnh phá được "thế cân bằng" trên chiến trường. Vấn đề là phải đẩy mạnh đấu tranh toàn diện, phát huy thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao, tạo ra thời cơ, khi đã có thời cơ thì phải nắm ngay giành thắng lợi.
       
        Cách mạng Việt Nam lại bừng lên trong một khí thế mới. Các cuộc họp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương liên tiếp được mở ra để chỉ đạo, lãnh đạo cho từng bước phát triển của cách mạng.
       
        Tạo lực
       
        Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo kế hoạch vận chuyển cho chiến trường cả mùa mưa 1974 và mùa khô 1974-1975; hoàn chỉnh các mạng đường chiến dịch và chiến lược, phát triển đường ống dẫn dầu xuống phía Nam; xây dựng cơ sở hậu cần tại chỗ dọc đường 559 và trong các vùng giải phóng; hoàn thành kế hoạch tuyển quân năm 1974 và đợt 1 năm 1975; đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, củng cố bộ đội chủ lực, nhất là khối chủ lực cơ động chiến lược.
       
        Để tạo nên so sánh lực lượng có lợi cho ta, chúng ta đã tổ chức thành lập các quân đoàn: Quân đoàn 1 (24-10-1973), Quân đoàn 2 (17-5-l974), Quân đoàn 4 (20-7-1974), được triển khai vững chắc từ Trị Thiên đến Nam Bộ, đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang nhân dân ta. Công tác tư tưởng quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng cũng được tiến hành trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhằm tổ chức động viên mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân tiến lên giành thắng lợi cuồl cùng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #58 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 10:04:04 PM »

       
        Tạo thế
       
        Năm 1974, tình hình diễn biến trên chiến trường đã phát triển ngày càng có lợi cho ta. Các cuộc hành quân lấn chiếm của địch đều bị đánh bại nên đã thưa dần. Chúng phải quay về lo giữ các vùng xung yếu. Nhiều đồn bốt nhỏ phải rút chạy, co cụm lại quanh các căn cứ lớn. Thế bị động của địch diễn ra phổ biến trên khắp các chiến trường. Giữa tháng 7-1974, ta mở cuộc tiến công vào phòng tuyến vòng ngoài của địch suốt từ Trị Thiên đến Nam Bộ giành được thắng lợi ở Nông Sơn, Tiên Phước, Minh Long (khu V), giải phóng Đắc Pét, Iusúp, Măng Bút, Măng Đen (Tây Nguyên), Tánh Linh (khu VI), Nha Bích, Tống Lê Chân (Đông Nam Bộ), bị thua đau, địch không còn đủ sức phản kích chiếm lại.
       
        Nổi bật là chiến thắng Phước Long ngày 6-1-1975, một đòn trinh sát có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Lần đầu tiên ở miền Nam, một tỉnh nằm ngay gần Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng. Nó đánh dấu một bước suy sụp mới của quân ngụy, chúng không còn khả năng phản kích đánh chiếm lại một địa bàn ngay trên tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn-Gia Định. Nó còn chứng tỏ Mỹ không có khả năng trở lại can thiệp bằng quân sự ở miền Nam, khi người phát ngôn Nhà Trắng tuyên bố. "Tổng thống Pho không có ý định vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc hội Mỹ) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam".
       
        Chiến thắng Phước Long là một nhân tố mới để Hội nghị Bộ Chính trị (mở rộng - đang họp) điều chỉnh lại quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam với yêu cầu cao hơn: Hướng tiến công chiếu lược chủ yếu là Nam Tây Nguyên, mục tiêu mở đầu là Buôn Ma Thuột; miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng của cuộc tiến công trong năm 1975. Bộ Chính trị ra Nghị quyết lịch sử: "Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn. Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam để tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc". Cả nước ra trận, tất cả vì miền Nam ruột thịt.
       
        Thế trận
       
        “Căng địch ra mà đánh-Trói địch lại mà diệt" đó là mưu kế chiến lược đánh định bằng các binh đoàn chủ lực trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao mà Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành công đánh trận quyết chiến Điện Biên Phủ trong chiến cục Đông-Xuân 1953-1954 bằng cách phân tán địch ra khắp chiến trường Đông Dương. Nay các học trò trung thành và xuất sắc của Người đã vận dụng mưu kế chiến lược đó trong điều kiện mới bằng cách "căng địch ra hai đầu chiến tuyến" làm cho địch bị sở hở quãng giữa để ta tiêu diệt.
       
        Trong chiến cục Xuân 1975, thế trận chiến lược của ta là căng địch ra hai đầu Nam-Bắc chiến tuyến (ở Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn) để hở quãng giữa (miền Trung và Tây Nguyên). Ta kìm giữ địch ở Huế-Đà Nẵng bằng Quân đoàn 2 và Quân đoàn 1 là tổng dự bị chiến lược ở đằng sau Quân đoàn 2. Ta cũng kìm địch ở Sài Gòn bằng Quân đoàn 4, đứng chân ở phía Bắc Sài Gòn. Do ta bố trí ba quân đoàn như thế ở hai đầu Nam-Bắc chiến tuyến, nên địch cũng đặt Sư đoàn dù và Sư đoàn thủy quân lục chiến là lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn để sẵn sàng đối phó.
       
        Địch thường xuyên và tập trung mọi chú ý vào Quân đoàn 2 của ta ở phía tây thành phố Huế, Quân đoàn 1 của ta ở bờ bắc sông Bến Hải và Quân đoàn 4 của ta ở phía bắc, tây bắc Sài Gòn. Đó là các tập đoàn chiến lược có ảnh hưởng tới sự sống còn của chúng. Còn ở Tây Nguyên ta chỉ có một tập đoàn chiến dịch gồm 2-3 sư đoàn thì địch chỉ chú ý một cách vừa phải.
       
        Khi địch đã bị kìm giữ chặt ở Huế và Sài Gòn, ta điều Sư đoàn 316 và Sư đoàn 968 vào Tây Nguyên một cách đột ngột. Ở Tây Nguyên, từ một tập đoàn chiến dịch bỗng nhiên trở thành một tập đoàn chiến lược gồm 5 sư đoàn (các sư 10, 320, 316, 968), Sư 3 Sao Vàng quân khu V và các trung đoàn độc lập cùng bộ đội địa phương các tỉnh.
       
        Đây là thế trận mạnh, hay và hiểm hóc. Tây Nguyên sơ hở và yếu, trở thành nơi hiểm yếu, khi ta chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu mở đầu thì trận đột phá tiến công trở thành một cú điểm huyệt.
       
        Ngay trên chiến trường Tây Nguyên, ta lại dùng mưu kế lừa địch bằng các hoạt động nghi binh như: mở đường ở phía bắc hướng vào thị xã Kon Tum, bí mật di chuyển Sư 10 và Sư 320 từ Kon Tum về Buôn Ma Thuộc nhưng để lại toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc; cắt đường 19, 21 để cô lập Plâyku, Kon Tum với các tỉnh ven biển miền Trung. Đồng thời ta sử dụng Sư 968 đánh nghi binh vào phía Nam Plâyku. Bởi vậy địch cho rằng ta sẽ tiến công vào KonTum-Plâyku và Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở đó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #59 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 10:14:08 PM »

       
        Thời cơ
       
        Thế trận đã giăng tạo ra tình huống chín muồi là thời cơ hành động. Thời cơ để ta hạ quyết tâm "tiến công Buôn Ma Thuột theo phương án địch chưa phòng ngự dự phòng" đã đến.
       
        Với sức mạnh của ba sư đoàn tăng cường, ngày 10-3-1975 quân ta từ bốn phía tiến công Buôn Ma Thuộc nhằm vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 và những mục tiêu quan trọng. Sau hai ngày chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây, giải phóng Buôn Ma Thuộc.
       
        Bị mất Buôn Ma Thuộc, Sư đoàn 23 ngụy sẽ phải đi phản kích chiếm lại. Nhưng đường 14 đã bị ta cắt. Sư đoàn 23 ngụy muốn phản đột kích chỉ còn cách chuyển quân bằng máy bay trực thăng. Thực hiện mưu kế lừa địch, buộc chúng phải đổ quân vào nơi ta dự kiến. Thế trận đã bầy, vừa bủa vây vừa hành tiến chỉ trong 5 ngày Sư đoàn 23 ngụy cơ bản bị xóa sổ, hy vọng cuối cùng của địch bị dập tắt.
       
        Diễn biến chiến dịch đến đây đã xảy ra đột biến. Địch hết các biện pháp (đánh phản kích của Sư đoàn 23 bị thất bại, trong khi đó các lực lượng cơ động chiến lược đang bố trí ở Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn bị bó chân không thể đi ứng cứu được), Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu quyết định bỏ Tây Nguyên với hy vọng mong manh cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung. Ở Plâyku-Kon Tum địch vội vã rút chạy theo đường số 7 một cách hỗn loạn "tùy nghi di tản". Quân ta cả chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã kịp thời chặn đánh và truy kích tiêu diệt toàn bộ số quân rút chạy trên đường số 7 đến tận thị xã Tuy Hòa. Thừa thắng trên đường số 21, quân ta phát triển xuống đồng bằng, giải phóng các tỉnh từ Phú Yên tới Nha Trang, Cam Ranh.
       
        Với khí thế chiến thắng ở Tây Nguyên, biến thắng lợi chiến dịch thành thắng lợi chiến lược, ngày 21-3-1975 ta mở kế tiếp chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Quân ta được lệnh tiến công thọc sâu vào các căn cứ của địch, kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương và phong trào nổi dậy của quần chúng. Địch bị tan vỡ từng mảng trong từng ngày một cách nhanh chóng, liên tiếp ta giải phóng từ Huế-Đà Nẵng đến Bình Định. Sau hai chiến dịch kế tiếp nhau, hệ thống phòng ngự của địch ở miền Trung và Tây Nguyên đến tận Khánh Hòa đã sụp đổ hoàn toàn. Diễn biến của các sự kiện này càng làm sáng rõ một quy luật và một nguyên lý mà Hồ Chí Minh đã viết:
     
          “Lạc nước hai xe đành bỏ phí,
     
           Gặp thời một tốt cũng thành công".

       
        "Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế có lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực”.
       
        Nguyễn Trãi cũng từng nói: "Được thời có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời không thế, mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy; sự vật thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay". "Bỏ chỗ vững, đánh chỗ chắc, bỏ chỗ thực, đánh chỗ hư thì sức dùng một nửa mà công được gấp đôi".
       
        Còn Trần Hưng Đạo nói: "Bỏ chỗ thực đánh chỗ hư, đó là cái diệu của việc binh".
       
        Sau hai chiến dịch Tây Nguyên và Huế-Đà Nẵng, ta mở chiến dịch chiến lược thứ ba-chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là đòn chiến lược thứ ba, đòn quyết chiến chiến lược để giải phóng Sài Gòn và giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc .
       
        Để chuẩn bị mở chiến dịch Hồ Chí Minh, ta có một đợt hoạt động đêm để địch không kịp tổ chức phòng ngự và ta có điều kiện điều động, bố trí lực lượng.
       
        Trên đà chiến thắng từ tháng 4-1975 nhân dân cả nước đã sống trong những ngày hết sức sôi động và hào hùng. Các binh đoàn chủ lực của ta hành tiến với khí thế 'thần tốc, bất ngờ, táo bạo, chắc thắng". Ngày 9-4 ta đập tan cánh cửa thép Xuân Lộc phía đông Sài Gòn. Ngày 16-4 giải phóng Ninh Thuận, quần đảo Trường Sa. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ngày càng quyết liệt. Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu-17 giờ ngày 26-4-1975, năm cánh quân của ta gồm 4 quân đoàn chủ lực và đoàn 232 trong thế bao vây Sài Gòn, từ vị trí xuất phát tiến công được lệnh vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài, tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. Với sức mạnh của 15 sư đoàn, 10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975 xe tăng của ta tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ Bộ thống soái của địch. Ở các tỉnh miền tây Nam Bộ, lực lượng vũ trang ta cùng nhân dân nổi dậy tiến công quét sạch địch. Đến ngày 2-5-1975 thì bộ máy ngụy quân, ngụy quyền ở miền Nam hoàn toàn tan rã và sụp đổ.
       
        Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân 1975. Hoàn thành nhiệm vụ chiến lược thiêng liêng mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" giải phóng miền Nam-thống nhất đất nước-kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc.

*

*       *
       
        Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng cách mạng tiên tiến và sáng tạo. Tư tưởng quàn sự đó dựa vào sức mạnh của quần chúng, của nhân dân lao động và sự vận động, phát triển của chiến tranh, vào thực tiễn đấu tranh vũ trang của hai bên đối địch với quan điểm biện chứng.
       
        Người đã vận dụng phương pháp về lãnh đạo chiến tranh, biết kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy.
       
        Lúc đầu chiến tranh ta còn nhỏ bé nên Người chủ trương chiến tranh du kích là chính. Đến lúc chuẩn bị tổng phản công Người chủ trương thành lập các đại đoàn (sư đoàn) để đánh tập trung, đánh lớn. Đến kháng chiến chống Mỹ, sức mạnh không quân của Mỹ là con chủ bài, thì Người đã theo kịp thời đại tổ chức ra không quân, hải quân và phòng không để đối phó với lực lượng không quân hùng mạnh của địch, một yếu tố ngày càng trở nên có tính chất quyết định trong chiến tranh hiện đại công nghệ cao ở các nước có trình độ hiện đại tinh xảo. Đặc biệt trong lực lượng phòng không, Người đã cho tổ chức tên lửa phòng không và chính nó đã làm nên "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM