Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Mười, 2019, 01:14:42 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc  (Đọc 29113 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #40 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:01:51 PM »

       
       
III. NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ: CÁCH ĐÁNH THÍCH HỢP-MỘT PHƯƠNG CHÂM CHIẾN LƯỢC TRONG KHỞI NGHĨA VŨ TRANG VÀ CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG
       
        Hồ Chí Minh từ một người con yêu nước của dân tộc Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước, trở thành nhà cách mạng kiệt xuất, nhà văn hóa lớn của thời đại. Trí tuệ của Người là sự kết tinh truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, là sự kết hợp những tinh hoa từ các nền văn hóa Đông-Tây, Kim-Cổ.
       
        Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã tìm ra con đường cứu nước: "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình". Người quyết tâm thực hiện cho bằng được ý nguyện là: "Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập"1.
       
        Từ đó tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được hình thành trên những cơ sở lý luận về thực tiễn cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có viết: "Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện trong các tác phẩm quân sự, các bài nói, bài viết của Người, mà còn thể hiện trong thực tiễn chỉ đạo khởi nghĩa và chiến tranh, trong đường lối, chủ trương kháng chiến của Đảng và Nhà nước do Người lãnh đạo . Tư tưởng ấy còn được thể hiện trong lực lượng quân sự hết sức phong phú, sáng tạo của các đồng chí lãnh đạo của Đảng-những học trò trung thành của Người và của đồng bào và chiến sĩ cả nước trong cuộc chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của dân tộc"2.
       
        A. KHỞI NGHĨA VŨ TRANG
       
        Từ thực tiễn cách mạng, tuân theo luận điểm Lênin: "Không có lý luận cách mạng, thì không có phong trào cách mạng", nên ngay khi về nước năm 1941, đồng thời với việc lãnh đạo cách mạng, Người đã trực tiếp biên soạn và chỉ đạo biên soạn nhiều tác phẩm lý luận, nghệ thuật quân sự có giá trị nhằm bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong buổi đầu cách mạng.
       
        "Con đường giải phóng” là tác phẩm đầu tiên trong số đó, Người xác định cuộc khởi nghĩa vũ trang sẽ nổ ra ở Việt Nam phải là một cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc, do toàn dân tiến hành, lấy công nhân và nông dân làm lực lượng chủ yếu.
       
        "Con đường giải phóng" đặt vấn đề tổ chức mặt trận đoàn kết dân tộc thống nhất rộng rãi kể cả ba nước Đông Dương cùng chống kẻ thù thung và nêu lên những kinh nghiệm khởi nghĩa vũ trang trong lịch sử nước ta và cácnước trên thế giới.
       
        Trong tác phẩm này, Người nói rất rõ rằng: Khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy, dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước, đoạt lại chính quyền. Đó là cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc làm quan trọng, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại. Tác phẩm cũng nêu lên những điều kiện bảo đảm thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc ở nước ta khi:
       
        1. Lực lượng đế quốc thống trị lung lay bối rối không đủ sức giữ địa vị của chúng như trước nữa.
       
        2. Có một cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng. Dân chúng đói khổ, căm tức tới cực điểm, quyết hy sinh nổi dậy tranh đấu với đế quốc đến cùng vì hiểu rằng ngồi yên cũng chết.
       
        3. Có một chính Đảng cách mạng lãnh đạo, chính Đảng ấy phải có một đoàn thể cách mạng kiên quyết, có một chính sách đúng, có một lực lượng khá để lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và được dân chúng tin cậy.
       
        Trong tác phẩm, Người còn phân tích về những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương trong lúc này là chưa chín muồi.
       
        Vừa chuẩn bị lý luận, vừa tiến hành lãnh đạo tổ chức cách mạng, tháng 5-1941, Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị lần thứ tám của Đảng. Hội nghị đã đề ra chiến lược cách mạng Việt Nam trong thời kỳ này là chuyển hướng từ hình thức đấu tranh chính trị, tiến lên đấu tranh vũ trang và chuẩn bị lực lượng cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang.
       
        Để "tạo lực" và "tạo thế" cho cuộc khởi nghĩa vũ trang trong cả nước, theo đề nghị của Người ngay sau Hội nghị lần thứ tám, ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh được thành lập. Các tổ chức trong Mặt trận đều tổ chức thành hội cứu quốc, trong đó có Đội tự vệ cứu quốc Việt Nam. Đây là nhân tố hết sức quan trọng đối với sự phát triển của cách mạng, là một trong những sáng tạo kiệt xuất của Người về vấn đề "tạo lực" cho sự nghiệp khởi nghĩa vũ trang của dân tộc.
       
        Chính Người đã trực tiếp chỉ đạo việc phát triển Mặt trận Việt Minh và phong trào tự vệ cứu quốc. Đội du kích Bắc Sơn được thành lập trước đó, nay đổi tên thành Cứu quốc quân cho phù hợp với nhiệm vụ mới. Đến cuối năm 1941, Mặt trận Việt Minh và các đội vũ trang được thành lập ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn và từng bước phát triển ra khắp các địa phương trong cả nước.

-----------------
1. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, 1995, t. 1 , tr. 192.

2. Võ Nguyên Giáp. Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.192.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #41 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:07:17 PM »

        Do nhu cầu cấp thiết về vấn đề huấn luyện quân sự, trong thời kỳ này, Người đã tự tay biên soạn hoặc chỉ đạo biên soạn một số tài liệu như: Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Trung Hoa, Kinh nghiệm du kích Pháp, Phép dùng binh Tôn tử, Sách dạy làm tướng của Khổng Minh. Đây là những tác phẩm lý luận cơ bản đầu tiên xác định chiến thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang là chiến thuật du kích và lực lượng vũ trang nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
        
        Từ những tổ chức quần chúng rộng rãi, vững chắc mà xây dựng và phát triển thành những tổ chức chính trị, bán vũ trang và vũ trang với phương châm "người trước rồi súng sau”, "chính trị trọng hơn quân sự". Sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22-12-1944, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này, là một bước nhảy vọt về chất để “tạo lực" cho cách mạng Việt Nam, đã được thực hiện phương châm ấy.
        
        Song song với việc "tạo lực", việc "tạo thế" xây dựng căn cứ địa cách mạng chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược quân sự Hồ Chí Minh. Khi bàn về vấn đề này, Người nói: "Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang cách mạng, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ"1.
        
        Trong tác phẩm "Con đường giải phóng", Người cũng chỉ rõ: Khi du kích đã khá đông thì phải có căn cứ địa... Du kích dùng nơi đó làm chỗ đứng chân, tiến có thể đánh và phát triển lực lượng, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng. Từ đó Đảng ta đã ra sức xây dựng các căn cứ địa Việt Bắc, các khu du kích và căn cứ du kích trong đó đường giao thông liên lạc giữa các căn cứ địa phải ra sức giữ cho vững. Những căn cứ địa ấy là những bàn đạp cho cuộc tổng khởi nghĩa. Đây là nhân tố bảo đảm cho cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi.
        
        Vừa "tạo lực", vừa "tạo thế" trong tiến trình phát triển của cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng "thời cơ". Có những thời điểm khá thuận lợi như đầu năm 1943, quân đội Xô viết thắng lợi ở Stalingrat và chuyển sang phản công trên khắp các mặt trận; mâu thuẫn Nhật-Pháp ngày càng trở nên gay gắt; nhân dân ta bị hai tầng áp bức bóc lột, oán ghét Nhật-Pháp, tinh thần cách mạng ngày càng sôi sục. Trước tình hình đó Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng có nhận định: lúc này mới chỉ ở “vào tình thế khẩn cấp" và "chuẩn bị khởi nghĩa". Đến mùa Đông năm 1944, sau thắng lợi ở Vox Nhai, Cao-Bắc-Lạng sẵn sàng phát động khởi nghĩa vũ trang. Đang trong tình trạng căng thẳng và chờ đợi ngày giờ phát động cuộc chiến tranh du kích, thì Hồ Chí Minh về nước.
        
        Sau khi kiểm tra tình hình Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa vì: "Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao-Bắc-Lạng mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong toàn quốc, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục”, "Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự". Chủ trương sáng suốt của Người đã tránh cho Cao-Bắc-Lạng những tổn thất lớn.
        
        Đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới đang bước vào giai đoạn cuối, Nhật đảo chính Pháp. Tiếng súng đảo chính của phát xít Nhật vừa nổ thì lập tức tiếng súng chống Nhật cứu nước của các lực lượng vũ trang và nhân dân cũng vang lên. Đảng ta kịp thời ra Chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" nhằm phát động cao trào chống Nhật, cứu nước làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa một khi có đủ điều kiện.
        
        Trong lúc này, chiến tranh thế giới sắp đến hồi kết thúc. Phát xít Đức đầu hàng Đồng minh. Hồng quân Liên Xô tiến công vào đội quân Quan Đông của Nhật; sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Nhật chỉ còn tính từng ngày. Những điều kiện bảo đảm thắng lợi cho tổng khởi nghĩa được đề ra trong tác phẩm "Con đường giải phóng" đã có. Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo trong bối cảnh Người bị bệnh nhưng hết sức khẩn trương. Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp rằng: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"2., "Tích cực thì nắm được thời cơ, không tích cực thì thời cơ không chờ mình"3. Hồ Chí Minh đã vận dụng "lực-thế" và đặc biệt lúc này là nghệ thuật "thời cơ” một cách tài tình, nên đã đưa cuộc tổng khởi nghĩa đến thắng lợi nhanh chóng, ít tổn thất. Người theo dõi rất sát tình hình, ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô phát động cuộc tiến công đạo quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu. Ngày 13-8-1945, Hồng quân đánh vào trung tâm Mãn Châu. "Thời cơ đã chín muồi", biết quân Nhật đã đầu hàng Đồng minh vào 12 giờ trưa ngày 13-8-1945 thì 11 giờ đêm hôm đó Người đã cùng với Tổng bộ Việt Minh phát lệnh khởi nghĩa của ủy ban khởi nghĩa.

        Cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra khi quân Nhật đã mất hết tinh thần và sức chiến đấu, và lúc đó quân Đồng Minh chưa kịp tiến vào Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Đó là thời cơ thuận lợi nhất mà Người đã chọn để đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công và lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi quân Đồng minh vào. Nếu khởi nghĩa nổ ra chậm, khi quân Đồng minh đã vào và Chính phủ thân Đồng minh được lập ra thì ta khó bề xoay sở. Sau ngày 2-9-1945, khi quân Đồng minh vào ta đã có vị thế là một quốc gia độc lập-nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Chính phủ ra đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật như những khách mời tạm thời. Vận dụng thế thời trong tổng khởi nghĩa của Cách mạng Tháng Tám 1945 thật là tuyệt vời.
       
        Đó là nghệ thuật "thế", "thời" trong tiền khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám. Thắng lợi của tổng khởi nghĩa và Cách mạng Tháng Tám chứng minh sự sáng tạo, đúng đắn về nghệ thuật tạo lực-tạo thế và sự lựa chọn thời cơ của Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc. Thể hiện rõ phương pháp luận lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang là:
       
        - Đảng lãnh đạo trực tiếp là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.
       
        - Lấy dân làm gốc, đoàn kết toàn dân xung quanh mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy sức mạnh của toàn dân.
       
        - Chính trị quyết định đường lối quân sự, dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng.
       
        - Nắm vững thời cơ trên nguyên lý "lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều'.
       
        - Vận dụng nghệ thuật "thế, thời" một cách chuẩn xác.

-------------
1. Xem Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.367.

2. Võ Nguyên Giáp. Những chặng đường lịch sử, NXB Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 203.

3. Báo Nhân dân, ngày 8-5-1960.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #42 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:15:18 PM »

               
        B. CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG
       
        1. Thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược
       
        Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời không được bao lâu, thì buộc phải đứng trước những cơn thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Thực dân Pháp theo chân Đồng minh lăm le xâm lược nước ta một lần nữa. Cả nước ta lại phải bước vào cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp lần thứ hai. Khi quân và dân ta thực hiện trường kỳ kháng chiến, thì những vấn đề về lý luận quân sự về khởi nghĩa vũ trang vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Hồ Chí Minh tiếp tục viết những vấn đề lý luận, phương pháp luận về chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc để trang bị cho đảng viên, cán bộ và quần chúng. Ngoài các lời kêu gọi nhân dân, thư gửi đồng bào… Người có những chỉ đạo sát sao về những hành động cụ thể chống lại kẻ thù xâm lược, Người còn dành nhiều thời gian và tâm sức viết những vấn đề làm cơ sở tư tưởng và lý luận cho chiến lược kháng chiến. Trong số đó phải kể đến những luận văn quân sự của Hồ Chí Minh đăng trên báo "Cứu quốc" với các bút danh Q. Th và QT nhan đề như: "Hình thức chiến tranh ngày nay", "Chiến đấu vì chính nghĩa", "Chiến lược của quân ta và Pháp", "Phương pháp tác chiến"... Các luận văn quân sự này giới thiệu những tinh hoa quân sự thế giới, đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn của quân và dân ta trong hơn một năm kháng chiến và kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc. Chính những tác phẩm này đã bổ sung kho tàng lý luận và nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
       
        Trong các bài báo đó, về tính chất của chiến tranh, Hồ Chí Minh phân tích: "Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau cả ở trên không, cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể thắng lợi được"1. Về chiến lược quân sự, Người nhận định chiến lược của Pháp là chiến lược tiến công bằng sức mạnh của vũ khí và phương tiện hiện đại, đánh chớp nhoáng để chiếm cứ thật nhanh, hòng "nuốt trôi nước ta". Chúng định tiêu diệt quân chủ lực ta, ra tay khủng bố, chém giết, hòng bắt ta phải khuất phục. Bởi vậy, vấn đề quan trọng hơn hết là "làm thế nào bảo tồn cho được lực lượng, để chờ thời cơ diệt địch quân". 
       
        Người viết Chỉ thị "Công việc khẩn cấp bây giờ" để chỉ đạo kháng chiến cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân: "Ta phải hiểu và phải cho dân hiểu rằng: Cuộc kháng chiến sẽ rất gay go cực khổ.
       
        Dù địch thua đến 99%, nó cũng ráng sức cắn lại. Vì nó thất bại ở Việt Nam, thì toàn bộ cơ nghiệp đế quốc nó sẽ tan hoang… Nhưng ta phải hiểu: Lực lượng địch chỉ có chừng ấy thôi. Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn "chớp nhoáng" đó, thì "địch sẽ xẹp, ta sẽ thắng"2.
         
        Để giải đáp những vấn đề chiến lược quân sự trước toàn dân, Người nói: "Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại. Vậy ta dùng chiến lược trường kỳ kháng chiến, để phát triển lực lượng, tăng thêm kinh nghiệm. Ta dùng chiến thuật du kích, để làm cho địch hao mòn, cho đến ngày tổng phản công, để quét sạch lũ chúng"3. Phân tích bằng hình tượng: “hai hòn đá cùng chọi nhau thì hai hòn cùng vỡ, hai cái trứng cùng chọi nhau thì hai cái cùng vỡ. Phải một cái cứng một cái mềm thì khi chọi nhau một cái mới còn… Pháp có xe tăng đại bác, thì ta phá đường. Pháp có máy bay thì ta đào hầm. Pháp muốn đánh chớp nhoáng thì ta kéo dài. Nhất định ta thắng!”4. "Địch có tàu bay, tàu bò, tàu thủy nhưng nó có chừng nên nó muốn đánh chớp nhoáng. Sét đánh không trúng, chớp soi không thấu thì hết cơn sấm sét là yên. Nhưng trong khi sấm sét thì ghê gớm lắm. Nó có thể dùng viện binh để đánh ta. Nó có thể đánh tràn, nhưng số viện binh đó không thể tập trung vào một nơi… Nếu nó rải từ Nam Quan đến Cà Mau cũng chẳng làm gì được ta, ta càng dễ đánh... Ta trường kỳ kháng chiến thì ta thắng lợi… nó lấy vũ lực ta không sợ. Nó lấy chính trị, ta không mắc mưu. Nó lấy kinh tế phong tỏa thì ta lấy kinh tế ta đánh nó. Ta tăng gia sản xuất. Ta lợi hơn nó là nó không thể kéo dài được, mà ta thì có thể kéo dài"5.
       
        Bằng những hình tượng giản dị, lời nói dân dã, Người đã nhanh chóng truyền cảm được tư tưởng kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện đến mọi tầng lớp nhân dân để từ đó chuyển thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.
       
        Trường kỳ kháng chiến theo quan điểm Hồ Chí Minh là lấy thời gian để chuyển hóa lực lượng kiến tạo thời cơ trong sự vận động, không phải là kéo dài chiến tranh. Thực hiện nguyên lý truyền thống của dân tộc là: lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều.

------------------
1. Q.Th: "Hình thức chiến tranh ngày nay", Báo Cứu quốc, ngày 20-9-1946

2. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Sđd, t. 4, tr. 433.

3. Báo Cứu quốc, ngày 17-9-1946.

4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 55-56, 58.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #43 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:20:27 PM »

        Người giải thích: "Kháng chiến phải trường kỳ, vì đất ta hẹp, dân ta ít, nước ta nghèo, ta phải chuẩn bị lâu dài và phải có sự chuẩn bị về toàn diện của toàn dân. Chúng ta cũng phải luôn luôn nhớ rằng: giặc Pháp, so với ta, là một kẻ địch khá mạnh, chúng lại có Mỹ và Anh giúp. Giặc Pháp là "vỏ quít dày", ta phải có thời gian để mà mài "móng tay nhọn", rồi mới xé toang xác chúng ra"1. Trong thời gian này, Người trú ở Hang Bòng (Tuyên Quang) để lãnh đạo cuộc kháng chiến của dân tộc. Khác với các nhà hiền triết, Hồ Chí Minh đã bôn ba khắp thế giới vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng cam cộng khổ cùng dân tộc để làm cách mạng.Với nhãn quan chiến lược sâu sắc, Người đã cùng với Trung ương Đảng đề ra đường lối kháng chiến ngay từ những ngày đầu đầy cam go với một niềm tin tất thắng. Đức thánh hiền Hồ Chí Minh cũng giống như các đức thánh hiền khác nhưng Người còn chủ trương phải đấu tranh, dấn thân vào cuộc đấu tranh, cùng nhân dân đấu tranh và lãnh đạo nhân dân đấu tranh để xóa bỏ mọi áp bức bóc lột, đem lại tự do hạnh phúc thực sự cho nhân dân.
       
        Người tin tưởng: "Chiến lược ta đúng. Ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà”.
       
        "Đảng và Chính phủ ta đã nhận cuộc kháng chiến có ba giai đoạn:
       
        - Giai đoạn thứ nhất, thì ta cốt giữ vững và phát triển chủ lực. Giai đoạn này từ ngày 23-9-1945 đến hết chiến dịch Việt Bắc, Thu-Đông 1947.
       
        - Giai đoạn thứ hai, thì ta tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Giai đoạn này từ sau chiến dịch Việt Bắc 1947 đến nay.
       
        - Giai đoạn thứ ba, là tổng phản công"2.
       
        Từ cách phân chia thành các giai đoạn như vậy, Hồ Chí Minh chỉ đạo kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng, đảm bảo tính hiện thực, chắc thắng như lời khẳng định của Người: "Kháng chiến ắt phải gay go, phải trường kỳ, nhưng chắc chắn sẽ thắng lợi"3.
       
        Người phân tích về những giai đoạn đầu:
        "1. Trong giai đoạn tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công này, du kích chiến là chính. Vì vậy, dân quân phải phát triển mạnh, nhất là trong vùng địch tạm chiếm.
       
        2. Kháng chiến của ta là nhân dân chiến tranh. Vì vậy dân quân du kích cần phải hoạt động mạnh, phát triển mạnh, và phối hợp chặt chẽ với Vệ quốc quân"4.
       
        Người căn dặn: "Trường kỳ kháng chiến có liên hệ mật thiết đến việc chuẩn bị tổng phản công. Kháng chiến trường kỳ nên chuẩn bị tổng phản công cũng phải trường kỳ"5.
       
        Trong mỗi bước phát triển của cuộc kháng chiến Người vẫn thường nhắc nhở, động viên, đôn đốc và phân tích: "Cuộc thắng lợi to về ngoại giao đầu năm và cuộc thắng lợi to về quân sự cuối năm 1950 là chứng cớ rõ rệt.
       
        Đã tổng phản công chưa?
       
        Chúng ta vẫn đang chuyển mạnh sang tổng phản công chứ chưa phải đã thực hiện tổng phản công. Phải hiểu rõ chữ chuẩn bị chuyển mạnh sang…
       
        Khi nào chuẩn bị thật đầy đủ thì sẽ tổng phản công. Chuẩn bị càng đầy đủ, thật đầy đủ, thì thời giờ tổng phản công càng mau chóng, tổng phản công càng thuận lợi. Chúng ta không nên hấp tấp, vội vàng, không nên nóng nảy, sốt ruột "6.
       
        Đứng trước một cuộc chiến lớn của dân tộc như vậy, trí tuệ của Người luôn tỏa sáng, vững vàng đem lại niềm tin cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiến lên phía trước, Người căn dặn:
       
        "Quân đội, nhân dân, cán bộ, tất cả mọi người, tất cả mọi ngành đều phải ra sức thi đua chuẩn bị cho đầy đủ. Bao giờ chuẩn bị đầy đủ thì chúng ta sẽ tổng phản công và lúc đó tổng phản công nhất định sẽ thắng lợi"7.
       
        Người tin tưởng rằng, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi vào giai đoạn quyết định-giai đoạn tổng phản công. Nhưng đến khi nào thì tổng phản công. Đó là vấn đề tạo lực tạo thế và chọn thời cơ trong phương pháp luận lãnh đạo chiến tranh của Hồ Chí Minh.
       
--------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.6, tr. 164-165.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.6, tr. 164-195.

3, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 313. 598.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6. tr. 65.

6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr.165-166.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #44 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:26:21 PM »

       
        Tạo lực
       
        - Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân.
       
        Dân quân tự vệ lúc đầu là tổ chức vũ trang quần chúng do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc xây dựng và chỉ đạo, đến tháng 3-1947 được tổ chức lại trở thành lực lượng vũ trang địa phương. Đến cuối năm 1947 lực lượng dân quân tự vệ đã phát triển tới gần ba triệu người.
       
        Bộ đội địa phương chính thức được hình thành từ cuối năm 1948 theo chỉ thị "Xây dựng bộ đội địa phương và dân quân" của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, sau đó là Sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương với quy mô cấp đại đội và tiểu đoàn. Bộ đội địa phương là lực lượng cơ động của địa phương và là nguồn bổ sung xây dựng bộ đội chủ lực.
       
        Từ cuối năm 1949, Đại đoàn 308 được thành lập cùng với các Trung đoàn chủ lực trực thuộc Bộ, các trung đoàn trực thuộc liên khu. Bước vào Thu Đông 1950 ta có thêm Đại đoàn 304 và cho đến cuối 1951 ta xây dựng thêm năm đại đoàn chủ lực nữa. Đây là bước phát triển có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy, làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta.
       
        - Dựa vào dân, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc. Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi thi đua ái quốc để biến ưu thế chính trị, tinh thần thành lực lượng vật chất, biến đường lối quyết tâm kháng chiến của Đảng thành hành động chiến đấucách mạng của toàn dân tộc.
       
        Tạo thế
       
        - Ra sức xây dựng hậu phương, căn cứ địa ngày càng vững mạnh, toàn diện. Biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta.
       
        - Liên minh chặt chẽ với Lào và Campuchla, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế.
       
        - Xây dựng cách đánh, làm thất bại từng bước chiến lược quân sự của địch.
       
        Sau thắng lợi của cuộc phản công lớn ở Việt Bắc(1947) đánh bại chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của quân địch, vùng sau lưng chúng bộc lộ nhiều sơ hở, chúng ta đã ra sức đẩy mạnh chiến tranh du kích tại đó, khiến cho chúng lâm vào thế "tiến thoái lưỡng nan" ngày càng bị sa lầy sâu hơn trong cuộc chiến tranh xâm lược.
       
        Đến chiến dịch biên giới 1950, ta đã từng bước giành được thế chủ động mở cuộc tiến công quy mô cấp đại đoàn (sư đoàn) đạt được hiệu quả tiêu diệt địch lớn giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Tại chiến dịch này, Hồ Chủ Tịch đã trực tiếp tham gia chỉ đạo và vạch ra ý đồ tác chiến là "Nhử thú dữ vào tròng-khép vòng lưới thép" tiêu diệt chúng. Nhờ cách đánh hay, mưu kế giỏi nên ta đánh Đông Khê mà được cả Thất Khê và Cao Bằng, Lạng Sơn. Hệ thống phòng tuyến đường số 4, vành đai khép chặt biên giới mà địch đã dày công xây dựng bị phá vỡ tan tành. Từ đó, căn cứ địa cách mạng của ta được nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa và mở thông ra thế giới.
       
        Sau đó ta mở ba chiến dịch ở vùng trung du và đồng bằng. Tuy dùng lực nhiều, nhưng hiệu quả lại kém là do việc chọn hướng tiến công chiến lược thưa phù hợp . Bởi đấy là nơi địch còn mạnh và chúng phát huy được sức mạnh của hỏa lực và sức cơ động.
       
        Đến năm 1952, cũng chỉ với lực lượng như vậy, nhưng ta chọn hướng núi rừng Tây Bắc để tiến công thì đã mở ra một hướng chiến lược mới, hoàn toàn có thể phát huy được sức mạnh tiềm ẩn của ta về mọi mặt. Ta đã thực hiện đúng phương châm hoạt động: tích cực, chủ động, cơ động linh hoạt và nguyên tắc tác chiến: đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt. Chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh của Bộ chính trị và Hồ Chủ Tịch. Nhờ đó, chiến dịch Tây Bắc 1952 đã thu được thắng lợi to lớn. Uy hiếp tuyến phòng thủ của địch ở Thượng Lào làm cho vành đai phòng thủ của địch ở đồng bằng Bắc Bộ không còn tác dụng ngăn chặn chủ lực ta tràn xuống miền Trung và miền Nam Đông Dương.
       
        Thời cơ
       
        Sau 7 năm tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã bị thiệt hại hơn 30 vạn binh lính và sĩ quan. Các kế hoạch Đácgiăngliơ, Bôla, Pinhông, Rơve, Tátxinhi theo nhau bị phá sản. Người Pháp lúc nào cũng như phải làm lại từ đầu. Cuộc chiến tranh không trận tuyến của thế trận chiến tranh nhân dân làm cho quân Pháp mệt mỏi, suy yếu. Chính phủ Pháp dựng lên đổ xuống 17 lần. Năm viên cao uỷ và sáu viên tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương lần lượt bị triệu hồi. Trước những thất bại liên tiếp ở Đông Dương, dư luận Pháp ngày càng chán ngán cuộc chiến tranh này. Một cuộc thăm dò dư luận (vào tháng 5-1953) cho thấy chỉ có 15% số người được hỏi muốn tiếp tục cuộc chiến tranh, khiến Chính phủ Pháp phải tìm một lối ra trong danh dự.
       
        Ngày 7-5-1953 với sự thỏa thuận của Mỹ, Thủ tướng Pháp Rene Maye đã cử tướng Nava sang cầm đầu đạo quân ở Đông Dương. Cho dù lực lượng quân Pháp có chiếm ưu thế về số lượng so với ta (45 vạn/40 vạn) nhưng bức tranh do viên tư lệnh này vẽ ra là khá ảm đạm và phiêu lưu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #45 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:30:31 PM »

       
        Mưu kế
       
        Chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc năm 1952 như là điểm then chốt mở ra những khả năng mới về chiến lược. Về phía ta, chủ trương mở nhiều hướng tiến công về phía tây vừa tránh được chỗ mạnh khi địch đang tập trung lực lượng lớn ở đồng bằng, vừa phát huy được sở trường của ta, vừa phân tán lực lượng cơ động của địch. Như vậy ta có thể giải phóng được Tây Bắc, Bắc Tây Nguyên, cùng với bạn giải phóng Thượng-Trung và Hạ Lào, mở rộng căn cứ du kích ở Campuchia, tạo điều kiện tiến quân vào Nam đồng bằng Bắc Bộ tuy không phải tập trung chủ lực lớn cũng có thể giải phóng được.
       
        Về phía địch, mặc dù đang ở trong thế bị sa lầy bị động, nhưng với bản chất ngoan cố và dã tâm sâu xa, thực dân Pháp câu kết với Mỹ vẫn coi Tây Bắc là ngã tư chiến lược quan trọng phục vụ cho chính sách xâm lược của chúng ở Đông Nam Á. Bởi vậy, Nava từ sau khi nhận chức (tháng 12-1953) đã quyết định "tập trung cuộc phòng ngự Tây Bắc vào căn cứ không quân-lục quân Điện Biên Phủ hòng "nghiền nát" chủ lực ta tại đây.
       
        "Tương kế, tựu kế" cuộc đọ đầu lịch sử giữa ta và địch đã diễn ra ở Điện Biên Phủ.
       
        Thế trận
       
        "Căng địch ra mà đánh-trói địch lại mà diệt" đó chính là mưu kế chiến lược, là cách đánh Hồ Chí Minh. Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân, cuộc đấu tranh toàn diện trên các mặt trận sau lưng địch ở Nam Bộ, Trung Bộ đến đồng bằng Bắc Bộ đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng căn cứ du kích và ghìm giữ nhiều lực lượng địch. Đồng thời cuộc tiến công của ta ở các mặt trận Lai Châu Phong Xa Lỳ, Luông Prabăng-Trung-Hạ Lào, đến miền Đông và Đông Bắc Campuchia đã căng địch ra, tiến tới cô lập hơn nữa ở điểm quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Mưu kế này của Hồ Chí Minh được Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiểu rõ, Người đã thể hiện rất tài tình và thành công trong việt phân tán lực lượng cơ động của địch; đánh địch trên khắp chiến trường Đông Dương, mà chính tướng Nava cũng phải thú nhận rằng hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp đã bị phân chia ra các chiến trường Đông Dương. Và khi tiến công Điện Biên Phủ thì lực lượng cơ động không thể tập trung lớn để đối phó được nữa.
       
        Dưới lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng" của Hồ Chủ Tịch, quân đội ta đã kiên cường chiến đấu với phương châm "đánh chắc, tiến chắc", bằng các chiến thuật mưu trí dũng cảm, vừa đột phá, vừa vây lấn từng bước tiến tới "trói địch lại mà-diệt". Với niềm tin tưởng sâu sắc, trong tháng 4-1954, khi tiếp nhà báo Bớcsét, Người nói về diễn biến trận Điện Biên Phủ: "lật ngửa chiến mũ trên bàn, đưa mấy ngón tay quanh vành mũ, Người nói: Đây là rừng núi, nơi có lực lượng của chúng tôi. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ, ở đó là người Pháp với những đội quân tinh nhuệ nhất. Họ sẽ không bao giờ ra được, tuy có thể mất một ít thời gian"1.
       
        Chiến thắng Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đã giáng một đòn quyết định, đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký kết Hiệp định Giơnevơ, giải phóng được một nửa đất nước, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp lần thứ hai ở nước ta. Tuy vậy, Người ra lời kêu gọi đồng bào chiến sĩ cả nước hãy đề cao cảnh giác, thắng lợi giành được mới chỉ là bước đầu bởi: "Đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Để giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn chết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí... Chúng ta phải ra sức khôi phục và xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng của ta về mọi mặt, để thực hiện quyền độc lập hoàn toàn của nước ta"2.
       
--------------------
1. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.353.

2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, t.7, 1996, tr. 322-323

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #46 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:38:20 PM »

         
        2. Thời kỳ chống Mỹ cứu nước
       
        Đấu tranh tổng tuyển cử
       
        Từ sau năm 1954, cách mạng Việt Nam lại bước sang một thời kỳ mới. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và trở thành căn cứ địa chung của cả nước, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã lên cao. Nhưng chúng ta lại phải chống lại kẻ thù mới là đế quốc Mỹ được thực dân Pháp tiếp tay và chuyển giao khi cút khỏi Việt Nam. Người chỉ rõ: "Điện Biên Phủ là một thất bại đau đớn cho thực dân Pháp, càng là một thất bại nhục nhã cho bọn can thiệp Mỹ. Vì Mỹ định ra kế hoạch Nava, đã giúp tiền bạc và vũ khí để thực hiện kế hoạch ấy... Thế là Mỹ dần dần trở nên kẻ địch chính của quân đội và nhân dân ta"1, "Nam Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được… Chúng ta phải tỉnh táo đề phòng, phải kiên quyết chống âm mưu đế quốc Mỹ tăng cường can thiệp vào Đông Dương"2.
       
        Trong bối cảnh lúc này, Người nhắc nhở: “Chúng ta phải cảnh giác đối với âm mưu của bọn gây chiến; vì chủ nghĩa đế quốc hãy còn, thì còn có nguy cơ chiến tranh”, “Trong khi nhận định có khả năng thực hiện thống nhất bằng phương pháp hòa bình ở Việt Nam ta, chúng ta cần phải luôn luôn nhớ rằng kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng còn chiếm giữ một nửa đất nước ta và chúng đang chuẩn bị chiến tranh; vì vậy chúng ta cần phải luôn luôn nắm vững ngọn cờ hòa bình, nhưng đồng thời phải luôn luôn nâng cao đề phòng và cảnh giác”3.
       
        Sự thực Mỹ ngày càng can thiệp vào Đông Dương, dùng bọn tay sai phá hoại tổng tuyển cử tự do như Hiệp định Giơnevơ đã quy định. Trước tình hình đó Người viết thư kêu gọi đồng bào cả nước: "Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất"4.
       
        Trước tình hình mới của đất nước, nhiệm vụ mới của cách mạng cũng được đặt ra. Tại Hội nghị Trung ương Đảng, tháng Tám 1955, Đảng ta đã xác định kẻ thù cụ thể và trước mắt của chúng ta là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai và đề ra nhiệm vụ cho cách mạng: "Muốn thống nhất nước nhà điều cốt yếu là phải ra sức bảo vệ miền Bắc đồng thời phải giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam".
       
        Trong lúc ở miền Bắc, nhân dân ta bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, mang lại quyền lợi chính trị, kinh tế thiết thực cho nhân dân lao động, tạo nên nguồn sức mạnh mới, nâng cao tiềm lực kinh tế và quốc phòng thì ở miền Nam, Mỹ-Diệm áp đặt một chế độ thống trị thực dân kiểu mới với những hình thức kìm kẹp, đàn áp hết sức khốc liệt. "Quần chúng không còn con đường nào khác hơn là phải vùng lên, một sống một chết với bọn Mỹ-Diệm", trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng đã họp tháng 1-1959 để quyết định đường lối cách mạng ở miền Nam.
       
        Trong lời khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những ý kiến chỉ đạo: trong khi xác định đường lối và phương pháp cách mạng ở miền Nam, phải đặt miền Nam Việt Nam trong cách mạng chung của cả nước và cách mạng nước ta trong cách mạng thế giới. Người phân tích: Ta giương cao ngọn cờ hòa bình vì rất có lợi cho ta. Nhưng hòa bình không phải là không chuẩn bị lực lượng, nếu ta tổ chức chính trị cho tốt, khi cần vũ trang sẽ không khó5.
       
        Sau đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 đã thông qua Nghị quyết xác định: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam, nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ, phương pháp cách mạng miền Nam là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và dự kiến khả năng cách mạng miền Nam có thể phát triển thành một cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ"6.
       
        Như vậy, sau những năm tháng chúng ta hàn gắn vết thương chiến tranh, hướng tới hòa bình thống nhất nước nhà thì đế quốc Mỹ ngày càng lộ rõ bản chất xâm lược phản động của chúng, muốn chia cắt lâu dài đất nước ta, hòng biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới của chúng, làm bàn đạp để uy hiếp tiến công miền Bắc và phe xã hội chủ nghĩa, thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng.
       
        Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, cách mạng miền Nam thừa thắng xốc tới đẩy nhanh phong trào Đồng Khởi, miền Bắc tập trung xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa.

------------------
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.287-288, 429-430.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 156.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr.198.

5. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.57-96.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #47 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:53:54 PM »

        
        Hai nhiệm vụ chiến lược
        
        Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960) của Đảng, trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục đích của Đại hội Đảng lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà.
        
        Đại hội ra Nghị quyết nhất trí với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng giai đoạn mới: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà1.
        
        Tư tưởng về xây dựng căn cứ địa và hậu phương cách mạng của Hồ Chí Minh cũng đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết của Đảng, thấm nhuần lời dạy của Người: “Miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Cho nên mọi việc chúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc và miền Nam"2. Đây chính là tư tưởng chiến lược xuyên suốt trong tiến trình cách mạng thống Mỹ cứu nước nhằm tạo "thế" và "lực" chung cho cả nước, là niềm tin cho tương lai của toàn dân tộc, là vị thế để cho ta có điều kiện giữ vững và tăng cường đoàn kết với các nước anh em, dựa vào phe xã hội chủ nghĩa và phát huy cao nhất những điều kiện thuận lợi của sự ủng hộ quốc tế, của thời đại, để từ đó làm cơ sở vững chắc chi viện sức người, sức của cho miền Nam, thực hiện cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
        
        Đường lối quân sự của Đảng lấy tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh làm nòng cốt đã đưa "thế" và "lực" của cách mạng Việt Nam lên một sức mạnh mới.
        
        Trên miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu được thực hiện. Nhân dân miền Bắc ra sức phấn đấu đưa đất nước từ một nền nông nghiệp lạc hậu tiến lên nhằm mục tiêu phát triển nông nghiệp, công nghiệp ngày càng hiện đại, văn hóa và kỹ thuật tiên tiến. Về xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Quân đội ta phải là một quân đội nhân dân, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại"3.
        
        "Trang bị kỹ thuật thì phải tiến lên, nhưng sinh hoạt của bộ đội phải gần dân, đừng tách rời dân. Phải nhớ rằng chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, quân đội ta là quân đội nhân dân"4. Người thường nhắc nhở bộ đội luôn luôn nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và mức hiểu biết về khoa học kỹ thuật. Phải giữ gìn kỷ luật một cách rất nghiêm túc. Nâng cao cảnh giác, giữ gìn bí mật, luôn luôn sẵn sàng đập tan mọi âm mưu nham hiểm của định"5.
        
        Đồng thời với việc đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố quốc phòng toàn dân Đảng ta chú trọng tăng cường sức mạnh của lục quân, xây dựng bộ đội phòng không và phát triển không quân, hải quân; xây dựng chính quy hóa, tiến tới hiện đại hóa quân đội; bảo đảm có đầy đủ thành phần các binh quân chủng có sức chiến đấu cao, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam; trước mắt ra sức bổ sung xây dựng lực lượng vũ trang miền Nam. Để tăng cường chi viện cho cách mạng miền Nam, việc mở đường Trường Sơn và các đoàn vận tải quân sự Bắc Nam (Đoàn 559, 759) được thành lập.
        
        Đánh thắng chiến tranh đặc biệt
        
        Ở miền Nam, nhân dân sôi sục đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai với những hình thức hết sức phong phú, sáng tạo. Từ cuộc khởi nghĩa ở Trà Bồng (8-1959) đến "Đồng khởi" ở Bến Tre (1-1960), phong trào khởi nghĩa từng phần đã lan rộng ra vùng rừng núi Tây Nguyên và nông thôn miền Trung Trung Bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ sở chính trị, các căn cứ địa ở khắp toàn miền được từng bước xây dựng và phát triển. Từ thế giữ gìn lực lượng, cách mạng miền Nam đã chuyển sang thế tiến công, hình thái khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ đã dẫn tới những cuộc tiến công quân sự ngày càng phổ biến. Lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương đã có bước phát. triển nhảy vọt. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (12-1960) đã tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập (8-1961) là bước kế thừa và phát triển những kinh nghiệm đầy sáng tạo từ Mặt trận Việt Minh và Cứu quốc quân trong kháng chiến chống Pháp, đánh dấu sự hình thành hoàn chỉnh sự chỉ huy thống nhất ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.

--------------
1. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, t.20, tr.57-96.

2. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.21 , tr.486, 495-656.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.189.

4. Hồ Chí Minh: Những bài viết và Nói về quân sự, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, t.2, tr.354.

5. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.181.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #48 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:12:45 PM »

        Đến lúc này “thế và lực" của cách mạng ở miền Nam không ngừng phát triển mạnh mẽ, đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào cuộc khủng hoảng kéo dài có nguy cơ sụp đổ. Với viện trợ Mỹ, chiến lược "tố cộng, diệt cộng" mà bọn tay sai Ngô Đình Diệm đưa ra nhằm đàn áp tiêu diệt phong trào cách mạng của nhân dân ta bị phá sản. Thất bại này đã buộc Aixenhao phải rời khỏi Nhà Trắng, thay vào đó, tập đoàn Kennơđi-Giônxơn thắng cử lên cầm quyền ở Mỹ trong nhiệm kỳ 1961-1964. Hòng cứu vãn cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, Mỹ đã vận dụng "Chiến tranh đặc biệt' ở miền Nam, trong đó dùng quân ngụy làm lực lượng chủ yếu, Mỹ giữ vai trò cố vấn chỉ huy. Từ đó Mỹ-Diệm triển khai thực hiện rộng rãi trên toàn miền Nam chiến tranh gom dân lập "ấp chiến lược” nhằm triệt phá tận gốc cơ sở chiến tranh du kích với kế hoạch bình định trong 18 tháng.
       
        Nhưng trước sức mạnh của cách mạng miền Nam với những chiến thắng Phước Thành (miền Đông Nam Bộ), Tây Nguyên và đặc biệt là chiến thắng Ấp Bắc đã gây một tiếng vang lớn trong phong trào cách mạng của cả nước và trên thế giới. Nhân sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Trước khí thế quật cường của nhân dân, thì chiến thuật mới và vũ khí mới nhất của Mỹ cũng phải thua"1. Người biểu dương quân và dân miền Nam kiên quyết chiến đấu để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc. Người kêu gọi nhân dân miền Bắc ra sức thi đua xây dựng chữ nghĩa xã hội để ủng hộ đồng bào miền Nam…  Người nhắn nhủ nhà cầm quyền Mỹ: "Tổng thống Kennơđi phải hiểu lịch sử. Lịch sử đã chứng tỏ rằng một khi dân tộc đã đoàn kết nhất trí đấu tranh giành độc lập tự do, thì nhất định họ sẽ thắng lợi"2.
       
        Trong phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”, từ thực tiễn hoạt động ở các địa phương, ta đã phát hiện ra: ấp chiến lược mạnh ở vòng ngoài, sơ hở ở bên trong, ta đã bí mật đưa lực lượng vào bên trong sẵn sàng phối hợp với lực lượng quân sự, chính trị bên ngoài, thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào. Dùng lực lượng vũ trang đánh tiêu diệt đồn bốt và lực lượng càn quét rồi trụ lại tạo điều kiện cho quần chúng nổi-dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ. Chính phủ Mỹ cảm thấy nguy cơ bị thất bại, đã làm cuộc đảo chính lật đổ anh em Diệm-Nhu với hy vọng ổn đình được tình hình để đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược. Cùng lúc này Kennơđi bị ám sát, Phó Tổng thống Giônxơn lên thay, tiếp tục cuộc "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam và hung hăng hơn nữa là mở rộng các hoạt động phá hoại ra miền Bắc.
       
        Trước tình hình đó, tháng 3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Người chỉ rõ: Mỹ và tay sai đã đến bước đường cùng. Chúng càng đánh càng thua, càng thua càng bí. Người khẳng định cánh giải quyết đúng đắn nhất đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam là chấm dứt sự can thiệp của đế quốc Mỹ, rút quân đội và vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam để công việc nội bộ của miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết theo tinh thần cương lĩnh của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Người còn nhấn mạnh: nếu đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai liều lĩnh động đến miền Bắc thì chúng sẽ bị thất bại thảm hại. Nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh bại chúng, các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới sẽ hết sức ủng hộ ta, nhân dân Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ sẽ phản đối chúng. Tư tưởng này của Người đã trở thành chân lý mà phải tới 9 năm sau đế quốc Mỹ mới hiểu ra chân lý đó sau những thất bại nặng nề.
       
        Khi Nói chuyện với các nhà báo nước ngoài, Người phân tích: "Đế quốc Mỹ và tay sai" cũng giống như con cáo đã bị mắc kẹt hai chân trong bẫy, mà còn muốn nhảy vào một cái bẫy khác. Về việc "đưa chiến tranh ra miền Bắc", Mỹ và bọn bù nhìn của Mỹ nên hiểu rằng nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa có đủ sức mạnh và sẵn sàng chiến đấu, lại có nước bạn hùng cường giúp đỡ và những lực lượng hòa bình trên thế giới nhiệt tình ủng hộ"3. Về cuộc chiến tranh ở miền Nam, Người Nói: "Đế quốc Mỹ xem miền Nam Việt Nam là nơi thí điểm "chiến tranh đặc biệt" để đàn áp các dân tộc khác. Vì vậy cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi là để tự giải phóng mà cũng là một cống hiến vào cuộc đấu tranh giải phóng của các đần tộc châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và nhất là ở Đông Nam Á, để tự vệ chống lại sự xâm lược của bọn đế quốc hiếu chiến, đặc biệt là đế quốc Mỹ"4.
       
        Đúng như nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách của Giônxơn cũng giống như Kennơđi là nhằm giúp đỡ "Chính phủ Việt Nam cộng hòa giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh của họ chống lại mưu đồ của cộng sản được sự chỉ đạo và hậu thuẫn từ bên ngoài"5. Bằng cách tiếp tục tăng cường viện trợ, huấn luyện cho chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh "chiến tranh đặc biệt". Tiến xa hơn nữa Giônxơn chính thức phê chuẩn kế hoạch về hoạt động bí mật chống phá miền Bắc. Kế hoạch này bộc lộ rõ sau “sự kiện vịnh Bắc Bộ", để lấy cớ thông qua Quốc hội Mỹ cho phép Giônxơn giành được đặc quyền sử dụng lực lượng Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.

---------------
1. TL viết trên Báo Nhân dân, ngày 1-2-1963.

2. Hồ Chí Minh: Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội. NXB. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.252.

3. Báo Nhân dân, ngày 10-6-1964.   

4. Báo Nhân dân, ngày 11-9-1964.

5. Mc Namara: Nhìn lại quá khứ, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.113.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21460


« Trả lời #49 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 09:18:15 PM »

        Ngày 5-8-1964 không quân Mỹ mở đầu cuộc tập kích đường không đầu tiên ra miền Bắc đã bị lực lượng phòng không đánh trả đích đáng, bắn rơi 8 máy bay, bắt sống một giặc lái. Sau đó Mỹ đẩy mạnh kế hoạch ném bom đường vận tải Trường Sơn nhằm cắt đứt chi viện của hậu phương lớn, củng cố vị trí Mỹ và phái hữu ở Lào hòng cô lập cách mạng miền Nam.
       
        Trong khi đó trên chiến tranh miền Nam, cuộc tiến công Đông-Quán 1964-1965 và Hè-Thu 1965 mà đỉnh cao là các chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đã làm làm cho chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ bị phá sản, kế hoạch Giônxơn-Mc Namara bị thất bại. Các đòn tiến công với sức mạnh của ba thứ quân kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đã đánh bại quân ngụy trên khắp chiến trường miền Nam, đẩy chính quyền Sài Gòn ngày càng lún sâu vào cuộc khủng hoảng. Còn ở miền Bắc, các hoạt động phá hoại của không quân Mỹ bị quân và dân ta giáng trả mãnh liệt bắn rơi và bắn hỏng hơn 2000 máy bay Mỹ và bắt sống hàng trăm giặc lái. Đến giữa mùa Hè 1965, mặc dù Mỹ từng bước đẩy cuộc "chiến tranh đặc biệt" tới đỉnh cao, vượt quá mức dự kiến ban đầu, nhưng cũng chỉ chuốc thêm những thất bại ngày càng nặng nề. Để cứu vãn sự thất bại của chiến tranh đặc biệt, Mỹ buộc phải đưa quân Mỹ vào để tiến hành “chiến tranh cục bộ”. Ngày 8-3-1965 Mỹ đã đưa hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ vào Đà Nẵng. Đây là những đơn vị chiến đấu của Mỹ đầu tiên đến Việt Nam, nhân tố cho một cuộc chiến tranh cục bộ, minh chứng cho sự thất bại của "chiến tranh đặc biệt" đã rõ ràng. Cách mạng miền Nam ngày càng vững vàng trên thế chủ động.
       
        Đánh thắng chiến tranh cục bộ
       
        Qua hơn 6 tháng (từ 5-8-1964) ném bom miền Bắc, Mỹ không ngăn chặn được nhân dân miền Bắc chi viện cho miền Nam. Các cuộc tiến công của quân và dân miền Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ. Từ trận Bình Giã (1964) đến trận Ba Gia, Đồng Xoài thì Mỹ thấy "chiến tranh đặc biệt" thực sự phá sản. Cuộc tiến công Hè-Thu 1965 của quân và dân ta ở miền Nam đã đẩy hơn 50 vạn quân ngụy do Mỹ trang bị, huấn luyện và chỉ huy vào thế suy yếu nghiêm trọng.
       
        Nhưng do bản chất hiếu chiến. vì lợi ích chiến lược toàn cầu, mặc dù bị thua đau, Mỹ vẫn không chịu từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Tập đoàn Giônxơn lại có Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ cho phép Tổng thống có toàn quyền hành dộng, nên dù có khó khăn trên chiến trường Đông Dương, Mỹ vẫn ngoan cố và phiêu lưu, đẩy cuộc chiến tranh đặc biệt" lên mức cao hơn là "chiến tranh cục bộ".
       
        Giônxơn quyết định đưa một bộ phận quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam. mà trước đó ngày 8-3-1965 Mỹ đã đưa hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ vào Đà Nẵng, từng bước đưa quân các nước chư hầu vào tham chiến, đồng thời tăng cường đánh phá miền Bắc bằng hải quân và không quân.
       
        Trước tình hình leo thang chiến tranh cực kỳ nguy hiểm của Mỹ, ngày 2-3-1965, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 của Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xác định miền Bắc là hậu phương lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hội nghị quyết định chuyển toàn bộ nền kinh tế trên miền Bắc từ thời bình sang thời chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh ban sắc lệnh luật động viên thời chiến.
       
        Hưởng ứng lời kêu gọi "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cao trào cách mạng tiến công mới bùng lên trong cả nước.
       
        Ở miền Bắc, tâm sức và việc làm của mọi người dân tất cả vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước "mỗi người làm việc bằng hai”, vì miền Nam ruột thịt.
       
        Ở miền Nam "Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt" đã trở thành khẩu hiệu hành động ở khắp các địa phương. Đến giữa năm 1965, khi đạo quân viễn chinh Mỹ hùng hổ kéo vào miền Nam thì ta đang hình thành thế bố trí chiến lược vững chắc và đang ở thế thắng, thế chủ động. Trên cơ sở đó trong Hội nghị Trung ương 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn"1.
       
        Tại Hội nghị, Người Nói: "Chúng ta phải đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ; tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy phá tan ngụy quyền. Cụ thể là: đánh bại ý đồ bình định của địch ở Tây Nguyên, đồng bằng và xung quanh Sài Gòn"2. Người chỉ rõ: "Phải tính mặt nghịch, mặt khó do địch gây ra; đồng thời phải thấy Mỹ cũng có khó khăn không phải muốn làm gì thì làm”3. Đó là vì đối với Mỹ đây vẫn là một cuộc chiến tranh hạn chế, phương châm của ta là "hạn chế cuộc chiến tranh của địch và thắng địch trong cuộc chiến tranh hạn chế đó. Người chỉ thị: “Động viên toàn dân đoàn kết chống Mỹ, biến Nghị quyết của Đảng thành sức mạnh hành động. Quyết đánh Mỹ, ta nhất định thắng"4. Nắm vững tư tưởng tiến công của Đảng và Bác Hồ, các Đảng bộ miền Nam đã hạ quyết tâm: Cứ đánh, dám đánh thì sẽ tìm ra cách đánh để thắng Mỹ.

-----------------
1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1988, tr.150.

2, 3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội , 1988, tr. 150.

4. Tư liệu của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, quyển 15, Hồ sơ H25, C4/19.

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM