Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2019, 09:00:04 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc  (Đọc 30027 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #100 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 08:36:41 PM »

        Như vậy, đến tháng 2 năm 1954, hình thái trên toàn chiến trường đã có những chuyển biến quan trọng. Vùng giải phóng của ta mở rộng hơn, vùng địch tạm chiếm bị thu hẹp nhiều trong thế cài xen giữa địch và ta, ta đứng chân ở những vị trí khá then chốt và thuận lợi cho việc tiến công địch. Nó phản ánh thế trận của ta đã phát triển vững chắc trên tất cả các địa bàn chiến lược. Kế hoạch Na-va đã bắt đầu bị phá sản. Số quân cơ động với 44 tiểu đoàn mà Na-va cố gắng tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ nay chỉ còn 20 tiểu đoàn. Mâu thuẫn cố hữu giữa giữ đất và cơ động, giữa phân tán và tập trung của mọi quân đội xâm lược ngày càng bộc lộ sâu sắc. Sự rệu rã, mệt mỏi, mất tinh thần của đội quân đánh thuê và tay sai là mầm mống thất bại không thể tránh khỏi của địch.
       
        Với phương pháp suy nghĩ chủ quan, siêu hình, đánh giá thấp đối phương của học thuyết quân sự tư sản phản động, Na-va liên tiếp mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác. Trong khi lực lượng cơ động chiến lược của ông ta đang bị ta căng ra khắp Đông Dương, đang lâm vào thế bị động đối phó thì Na-va vẫn mơ tưởng tới một cuộc tiến công chiến lược. Na-va quyết tâm tập trung quân cơ động ở năm địa điểm lớn là: Điện Biên Phủ, đồng bằng Bắc Bộ, Luông Pha-băng, Xê-nô và Tây Nguyên. Na-va quyết định chấp nhận giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ. Ông ta chủ trương tăng thêm lực lượng để biến Điện Biên Phử thành một "con nhím" khổng lồ, một cái bẫy để thu hút rồi nghiền nát chủ lực của ta.
       
        Tương kế tựu kế để đánh địch là một kinh nghiệm hay của ông cha ta. Sách Binh thư yếu lược nói "Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó: hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó; ... lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để làm cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa"1. Địch chọn Điện Biên Phủ làm nơi thu hút lực lượng ta hòng đánh quỵ chủ lực ta, rồi phát triển tiến công đánh chiếm các vùng chiến lược của ta trên toàn chiến trường Đông Dương. Về phía ta thì tuy có khó khăn về vận chuyển tiếp tế, song tác chiến ở vùng rừng núi này căn bản có lợi cho ta, phù hợp với khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực ta. Cách đối phó bị động của địch đã trúng kế của ta: chúng đã bị điều đến nơi ta có khả năng và thế lợi để tiêu diệt chúng; ở đó ta có hậu phương rộng lớn. Các lực lượng dự bị chiến lược của ta được lệnh bí mật điều lên khép chặt địch vào thung lũng Mường Thanh. Khí thế tiêu diệt giặc, tinh thần quyết chiến quyết thắng đã dâng cao. Nhân dân ta ở vùng tự do, vùng mới giải phóng, vùng sau lưng địch đã dồn sức người sức của cho chiến dịch. Công tác chuẩn bị chiến trường, bảo đảm hậu cần của chúng ta đã được tiến hành với cố gắng cao nhất.
       
        Đắc chí với những tính toán cho kế hoạch chiến lược lâu dài, Na-va ra sức đôn đốc củng cố Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố vào bậc nhất Đông Dương, một "pháo đài bất khả xâm phạm". Các quan chức và tướng lĩnh cao cấp của cả Pháp lẫn Mỹ đều hết sức tán dương chủ trương quyết chiến của Na-va và huênh hoang: cái “tập đoàn cứ điểm đáng sợ" này sẽ là "một Véc-đoong2 thứ hai ở Viễn Đông".
       
        Với nhận định chủ quan cho rằng đối phương khó có đủ sức tiến công vào Điện Biên Phủ, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va cho quân đổ bộ vào Tuy Hòa, mở đầu chiến dịch Át-lăng, một bộ phận chủ yếu trong kế hoạch chiến lược của ông ta. Quân và dân Liên khu 5, quán triệt phương hướng chiến lược của Trung ương Đảng, chỉ để lại một bộ phận nhỏ đối phó với địch, còn đại bộ phận vẫn tiến công lên Tây Nguyên là hướng quan trọng mà địch tương đối sơ hở. Để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân ta đánh mạnh ở khắp các chiến trường khác. Na-va tiếp tục dấn sâu vào thế bị động. Sau khi buộc phải phân tán lực lượng lần thứ hai ở Trung Lào, ông ta lại phải bị động phân tán lực lượng cơ động lần thứ ba ở Hạ Lào, lần thứ tư ở Tây Nguyên và lần thứ năm ở Thượng Lào. Ở đồng bằng ta cũng đánh mạnh, giam chân địch ở khắp nơi. Nhưng khi thấy cuộc tiến công của ta trên chiến trường Thượng Lào dừng lại ở Mường Sài và Luông Pha-băng, Na-va vội cho là "sức tiến công của đối phương đã đạt đến điểm cao nhất", liền tiếp tục đợt hai của chiến dịch Át-lăng, cho quân đổ bộ vào Quy Nhơn.

        Một cuộc đọ mưu, đọ sức quyết liệt đã diễn ra với sự nỗ lực cao nhất của ta và của địch. Thế trận của ta lúc này phát triển rất thuận lợi. Ta có thế hiểm trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên toàn chiến trường, nhờ đó mà thực hiện được mưu lừa địch và kế điều địch, căng địch ra mà đánh cả ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược là rất hiểm, rất bất ngờ đối với một kẻ địch vốn rất chủ quan, ỷ vào binh khí kỹ thuật, đánh giá thấp đối phương. Địch định dùng mưu lừa ta, ta lại dùng mưu của nó để lừa lại nó. Trong cuộc đọ sức ở Điện Biên Phủ, ta có nhiều khó khăn nhưng ta hoàn toàn có thể khắc phục được những khó khăn đó bằng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, bằng nghệ thuật chỉ đạo chiến lược và tổ chức, chỉ huy chiến dịch tài giỏi. Bộ đội chủ lực của ta lại phát huy được sở trường và khả năng tác chiến trên địa bàn rừng núi. Trúng kế của ta, lực lượng cơ động chiến lược của địch bị căng ra khắp các chiến trường Đông Dương, bị trói chân trói tay và bị tiêu hao, tiêu diệt, không sao ứng cứu được cho nhau và cũng không có khả năng ứng cứu cho Điện Biên Phủ bị cô lập.
       
----------------
1. Binh thư yếu lược, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 183.

2. Véc-đoong (Verdun), một tỉnh của nước Pháp. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), quân Pháp đã phòng ngự và đánh tan quân Đức ở đây.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #101 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 08:39:52 PM »

        Như vậy, sự phát triển của thế trận chung trên toàn chiến trường đã tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi cho ta tập trung một bộ phận lớn lực lượng chủ lực cơ động tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch ở Điện Biên Phủ, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Song để đạt được mục tiêu ấy, nghệ thuật quân sự còn phải giải quyết thành công nhiều vấn đề về tổ chức, chỉ huy chiến dịch.
       
        Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương, với tổng số quân là 16.200 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, phần lớn là quân tinh nhuệ bậc nhất của địch, với trên 40 khẩu pháo, 10 xe tăng, được sự chi viện của 80 phần trăm lực lượng không quân của Pháp ở Đông Dương. Chúng bố trí trong 49 cứ điểm, tổ chức thành 8 cụm, mỗi cụm là một hệ thống hỏa lực nhiều tầng có thể yểm hộ đắc lực cho nhau.
       
        Vì vậy, chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch tác chiến hợp đồng binh chủng có quy mô lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ta phải sử dụng phương pháp tác chiến trận địa, tiến hành một loạt các trận đánh kế tiếp nhau để giải quyết những cứ điểm và cụm cứ điểm rắn chắc trong một hệ thống phòng ngự có chuẩn bị và tổ chức chặt chẽ. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là "đánh chắc thắng”, phương châm tác chiến chiến dịch của ta đã được thay đổi rất kịp thời và chính xác từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang “đánh chắc tiến chắc”, dù phải khắc phục nhiều khó khăn. Bộ đội ta phải có tinh thần quyết chiến quyết thắng rất cao, phải sử dụng sáng tạo cách đánh: kết hợp đột phá chính diện trên nhiều hướng với thọc sâu chia cắt, bao vây chặt, kiên quyết bóp nghẹt nguồn tiếp tế duy nhất của địch bằng đường không, giành thắng lợi từng bước, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, kiên quyết thọc thẳng vào trung tâm chỉ huy của địch, giành thắng lợi hoàn toàn.
       
        Ngày 13 tháng 3 năm 1954, ta nổ súng tiến công mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong đợt đầu chúng ta đã tập trung sức mạnh hợp đồng binh chủng đánh chiếm các cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo là những vị trí kiên cố vào bậc nhất của địch ở phía bắc và đông-bắc. Mất ba trung tâm đề kháng quan trọng che chở cho tập đoàn cứ điểm, quân địch bị một đòn choáng váng, và nỗi kinh hoàng nhanh chóng lan từ Điện Biên Phủ đến các sở chỉ huy địch ở Hà Nội và Sài Gòn, báo hiệu sự thất bại cua chúng là không thể tránh khỏi. Nhưng địch vẫn còn trên một vạn quân và hơn ba chục vị trí, phần lớn đều nằm tập trung giữa cánh đồng Mường Thanh. Trên địa hình bằng phẳng, địch có thể phát huy ưu thế về pháo binh, xe tăng, máy bay.
       
        Với quyết tâm cao và cách đánh mưu trí sáng tạo, quân ta tiếp tục mở đợt tiến công thứ hai, đột phá các cao điểm khống chế ở khu đông tập đoàn cứ điểm, đồng thời đưa lực lượng thọc sâu đánh chiếm sân bay cắt đứt dạ dày của địch, chia cắt địch giữa phân khu nam và phân khu trung tâm, siết chặt quân địch trong vòng vây lửa của một hệ thống chiến hào ngang dọc dài hàng trăm ki-lô-mét. Phát huy hiệu quả của cách đánh gần, bắn ngắm trực tiếp, pháo binh ta với số lượng ít hơn đã hoàn toàn áp đảo pháo binh, xe tăng địch, điều mà kẻ địch hoàn toàn bị bất ngờ và không sao hiểu nổi. Sự xuất hiện và hiệu lực của pháo binh ta đã gây nên mối kinh hoàng cho giặc Pháp ở Điện Biên Phủ đến nỗi ngay trong đêm đầu tiên ta mở cuộc tiến công, viên trung tá chỉ huy pháo binh địch đã phải tự sát vì thấy mình bất lực. Còn bộ binh ta, với những cách đánh hết sức dũng cảm, sáng tạo như đánh lấn, bắn tỉa, vây hãm quân địch cả ở mặt đất và trên không, cài xen áp sát địch… đã làm cho địch càng thêm khốn quẫn, trận địa phòng ngự của chúng ngày càng thu hẹp, hỏa lực và khả năng tiếp tế, ứng cứu bằng không quân của địch trở thành vô hiệu.
       
        Trước tình hình nguy ngập của Điện Biên Phủ, hy vọng được đế quốc Mỹ cứu nguy bằng kế hoạch ném bom "Diều hâu” cũng đã tiêu tan, Na-va chỉ còn cách ra lệnh cho Đờ Ca-xtơ-ri mở một đường máu tháo chạy về phía tây. Nhưng đã muộn! Chiếc thòng lọng đã xiết chặt vào cổ chúng. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ta đã mở đợt công kích cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngọn cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tung bay trên nóc sở chỉ huy địch. Tướng Đờ Ca-xtơ-ri và toàn bộ tham mưu địch bị bắt sống, gần một vạn quân địch còn sống sót đã đầu hàng. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng hết sức vẻ vang.

*

*       *
       
        Chiến thắng đông-xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh hùng hồn rằng Đảng ta không những có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, mà còn đạt tới trình độ rất cao trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự cách mạng, trong đó có nghệ thuật mưu kế và lập thế trận.
       
        Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa ở thế kỷ XX. Từ sau Điện Biên Phủ, nhân dân ta lại viết tiếp những trang sử huy hoàng mới với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với chiến thắng tháng 2 năm 1979 đánh bại quân bành trướng Trung Quốc xâm lược.
       
        Với tinh thần quật cường bất khuất và tài thao lược được tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử, ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta nhất định sẽ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #102 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 08:46:34 PM »

       
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
       
        Điểm lại lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu, giao chiến với biết bao kẻ thù xâm lược trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần dám đánh đã ăn sâu vào máu thịt của mỗi người dân nước Việt, truyền từ đời này sang đời khác. Bởi, trước hết họ hiểu được giá trị của độc lập tự do, họ đã nếm trải nỗi cay đắng của người làm nô lệ, dân nước thuộc địa. Tất nhiên, ý thức giải phóng và tự giải phóng ấy chỉ có thể được phát huy dưới ngọn cờ chính nghĩa và được phát huy triệt để hơn khi cuộc cách mạng và chiến tranh do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhưng cái gốc chính là ý thức dân tộc, ý thức của những người dân mà lịch sử của nó rất độc đáo: Nước nông nghiệp lạc hậu, nền kinh tế kém phát triển, nước nhỏ luôn phải đương đầu với những thế lực xâm lược lớn hơn mình gấp bội, cả về số lượng và chất lượng vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự. Chiến tranh và hòa bình, chiến đấu và xây dưng đối với dân tộc ta gần như đan xen trong hàng ngàn năm lịch sử.
       
        Tinh thần và ý chí dám đánh là điều cũng có thể hiểu được vì nếu họ không tự bảo vệ thì họ sẽ mất tự do, nhưng điều không dễ cắt nghĩa là ở chỗ vì sao trong cuộc chiến tranh ấy họ có thể đánh bại được những kẻ xâm lược khổng lồ, hiện đại bậc nhất nhì thế giới.
       
        Nghiên cứu nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng nhằm góp phần giải đáp những vấn đề trên.

*

*      *
       
        Xét về bản chất, mọi cuộc chiến tranh mà quân xâm lược gây ra đối với dân tộc Việt Nam đều là phi nghĩa, nhằm cướp đi nền độc lập tự do mà dân tộc ta đã giành được trong hàng ngàn năm lịch sử. Chúng muốn nô dịch, khuất phục nhân dân ta làm nô lệ cho chúng. Nhưng thực tế lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta đã khẳng định chân lý bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Vì thế, nền độc lập tự do ấy luôn luôn được giữ vững bằng tinh thần dám đánh, biết đánh và biết thắng, bằng ý chí nghị lực, bằng sự nỗ lực phi thường, bằng cuộc kháng chiến chính nghĩa, bằng sức mạnh của cả một dân tộc chưa một lần chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào.
       
        Nghệ thuật quân sự Việt Nam không tự nhiên hình thành. Nó là kết quả của truyền thống lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Nó là kết tinh chủ yếu của những yếu tố sức mạnh chính trị tinh thần, quan điểm đường lối lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, của cách đánh Việt Nam. Nghệ thuật quân sự mang đậm dấu ấn truyền thống bởi sự kế thừa đồng thời chứa đựng yếu tố hiện đại bởi sự phát triển sáng tạo trong quá trình đấu tranh để chiến thắng.
       
        Cuộc kháng chiến chống Mỹ có liên quan chặt chẽ với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Mỹ vào Việt Nam thực chất là thay thế Pháp. Khi chủ nghĩa thực dân cũ thất bại thì chủ nghĩa thực dân mới được thay thế để khuất phục dân tộc nhỏ bé này. Tính kế thừa và phát triển của hai cuộc kháng chiến này thể hiện khá rõ trong 3 lĩnh vực: chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.
       
        Mặc dù quân đội Mỹ thế chân quân đội Pháp trận chiến trường Việt Nam, trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh có hiện đại hơn, phương thức quy mô tiến hành chiến tranh có phát triển nhưng cuộc chiến tranh mà hai quân đội tiến hành đều cùng mục đích và bản chất là xâm lược phi nghĩa. Nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm quý báu của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhưng đặc biệt có kế thừa những kinh nghiệm nóng hổi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi nghiên cứu, nhận thấy nội dung nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có những điểm tương đồng với những cuộc kháng chiến khác đồng thời thấy được sự phát triển mới về chất của nó.
       
        Có rất nhiều yếu tố chi phối đến sự hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng. Trong đó nổi lên những yếu tố hết sức cơ bản sau: Một là, tương quan so sánh lực lượng địch, ta. Hai là, đối tượng tác chiến, phương thức thủ đoạn tác chiến. Ba là, khả năng đạt tới mục tiêu.
       
        Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, xét một cách tổng thể trên bình diện chiến lược chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh trong điều kiện địch mạnh hơn ta về trang bị vũ khí, kỹ thuật, về số lượng quân chủ lực, chính quy tham chiến trên chiến trường chính. So với quân Pháp, quân Mỹ có những điểm mạnh hơn hẳn, nhất là nghệ thuật tác chiến ở quy mô binh chủng hợp thành. Sức mạnh kinh tế là bệ đỡ để cho quân đội Mỹ tiến hành một cuộc chiến tranh với quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh xâm lược. Mỹ hy vọng với sức mạnh to lớn về vật chất kỹ thuật như vậy sẽ đè bẹp được tinh thần đấu tranh của dân tộc nhỏ bé vừa thoát ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm với nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, khi trên cơ thể còn đầy vết thương chiến tranh, sức lực chưa có điều kiện hồi phục (!). Mỹ hy vọng trong cuộc chạy đua vũ trang này kẻ có kinh tế mạnh, lắm tiền nhiều của sẽ thắng. Nhân dân Việt Nam lại phải một lần nửa chấp nhận cuộc chiến tranh chống xâm lược trong điều kiện ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn. Đó là hoàn cảnh bắt buộc đã từng diễn ra từ nhiều cuộc chiến tranh trước đây giờ lại lặp lại trong cuộc chiến tranh này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #103 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 08:48:50 PM »

        Tuy có những điểm giống nhau nhưng quân đội Mỹ đang là đế quốc hùng mạnh lúc đó. Với bản chất của chủ nghĩa đế quốc nhưng là chủ nghĩa thực dân mới nên những phương thức, thủ đoạn tác chiến và tiến hành chiến tranh của Mỹ đã có bước phát triển xa so với quân đội Pháp. Việc đó cũng là do vũ khí phương tiện tiến hành chiến tranh thay đổi, phát triển. Mức độ quy mô chiến tranh rộng lớn hơn, tính chất chiến tranh ác liệt hơn, kể cả sự nham hiểm cũng như sức tàn phá và hủy diệt của nó. Tư tưởng khai hóa văn minh được núp dưới vỏ bọc “mị dân" tinh vi hơn nhiều, không chỉ đánh bằng đòn quân sự, Mỹ còn đánh ta bằng đòn tâm lý chiến, ngoại giao, kinh tế vặn hóa. Một kiểu chiến tranh toàn diện trên toàn bộ đất nước ta. Một cuộc chiến tranh rất hiện đại với sức hủy diệt chưa từng có sau chiến tranh thế giới thứ hai. Mỹ muốn dùng khoa học kỹ thuật, quân sự hiện đại, sức mạnh của vũ khí hiện đại để hủy diệt, để khuất phục dân tộc Việt Nam.
       
        Trong quá trình thực hiện chiến tranh, mục tiêu chiến lược cuối cùng của bất kỳ kẻ xâm lược nào cũng đều nhằm khuất phục dân tộc Việt Nam.
       
        Thực dân Pháp muốn bóp chết thành quả cách mạng Việt Nam ngay trong trứng nước; ngay sau khi lời Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch còn nóng hổi; khi bản Hiệp định sơ bộ ngày6 tháng 3 năm 1946 giữa ta và Pháp còn chưa ráo mực. Thực dân Pháp đâu có nghĩ rằng chúng phải sa lầy ở Việt Nam 9 năm rồi mới rút khỏi cuộc chiến tranh trong tư thế kẻ bại trận. Mỹ cũng vậy, đã có mặt tại Việt Nam ngay từ khi thực dân Pháp còn đang chiếm đóng. Khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Mỹ đâu nghĩ đến tình huống phải giam chân, phải sa lầy ở chiến trường miền Nam hàng chục năm trời. Có thể bài học thất bại của Pháp đã giúp Mỹ tỉnh táo hơn đôi chút; Mỹ cố chia chiến tranh thành từng giai đoạn, ứng phó với nó là những mục tiêu chiến lược cụ thể. Với những nấc thang chiến tranh vừa chủ động định sẵn, vừa bị động hình thành trong quá trình tiến hành chiến tranh, Mỹ rất tin vào khả năng giành thắng lợi của mình. Một cuộc chiến tranh qua mấy đời tổng thống leo thang chiến tranh từ thấp đến cao cũng không cứu vãn được kết cục "ngã đau” của các nhà lãnh đạo Lầu năm góc.
       
        Nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Mỹ thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân dân, chính nghĩa, cách mạng và tiến công, thể hiện quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân.
       
        Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ độc đáo trước hết bởi đó là một cuộc chiến tranh nhân dân. Muốn có cuộc chiến tranh như vậy thì bản chất cuộc đấu tranh đó phải là chính nghĩa-giành độc lập tự do cho nhân dân, giải phóng họ khỏi ách áp bức của đế quốc Mỹ-Diệm. Cuộc đấu tranh ấy là không ngừng, luôn lấy tiến công làm tư tưởng chủ đạo, tiến công địch một cách toàn diện. Để giải quyết những mâu thuẫn về tương quan so sánh lực lượng địch, ta, về khả năng cơ động, về hỏa lực, về trang bị vũ khí kỹ thuật, về mục tiêu cần phải đạt tới và khả năng thực tế… cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân trên cái nền móng vững chắc là thế trận chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân. Đường lối và phương châm kháng chiến của ta là: Chiến tranh chính nghĩa toàn dân, toàn diện, kháng chiến lâu dài tự lực cánh sinh. Ta không thể bắt đầu cuộc kháng chiến bằng việc đánh to hoặc chỉ có độc nhất hình thức tác chiến chính quy mà phải từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy và đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn hai hình thức tác chiến này trong thế trận chiến tranh nhân dân. Và cũng chỉ có thế trận chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân mới tạo điều kiện để chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy phát huy hết sức mạnh "tự có"-sức mạnh nội tại của nó.
       
        Những quan điểm và tư tưởng này tưởng chừng như không có gì mới vì đã từng tồn tại trong thực tế lịch sử. Nhưng đến thời đại Hồ Chí Minh, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những nội dung của nó đã có sự biến đổi sâu sắc về chất. Sự phát triển đó đã đáp ứng được yêu cầu của cuộc kháng chiến đối với một đối tượng mới, hùng mạnh như Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam tuy sống dưới hai chế độ nhưng đều là dân một nước, cảnh chia cắt chỉ là tạm thời. Việc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đâu chỉ là nhiệm vụ của nhân dân miền Nam. Trái lại, nhân dân miền Bắc với tư cách là thành trì xã hội chủ nghĩa, là hậu phương lớn họ đã góp phần quyết định việc giành độc lập dân tộc, thống nhất giang sơn. Đã có lúc đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, hậu phương giờ lại thành tiền tuyến. Sự khác nhau chỉ là cách thức tiến hành chiến tranh. Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể ấy nếu nghệ thuật quân sự không hàm chứa những tư tưởng quan điểm trên chắc khó có thể giành được thắng lợi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #104 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 08:51:20 PM »

        Ông cha ta đã từng tổng kết: toàn dân đồng lòng, cả nước góp sức, khoan thứ sức dân làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng vậy. Tư tưởng và quan điểm trên chính là cơ sở thực tiễn để mong muốn trở thành hiện thực. Chỉ có sức mạnh nhân dân mới có đủ khả năng "dời non lấp biển". Chỉ có thế trận chiến tranh nhân dân mới căng kéo, phân tán, chia cắt địch thành từng mảng, làm cho địch đông mà hóa ít, mạnh mà hóa yếu, cơ động mà bị động, không tập trung được lực lượng và sức mạnh vào chỗ mà chúng muốn. Nghệ thuật quân sự còn độc đáo là ở chỗ kết hợp chặt chẽ yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại. Toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, đàn bà đàn ông, người già, trẻ nhỏ đều có thể tham gia. Đánh giặc bằng tất cả những gì có được trong tay dù là vũ khí thô sơ nhất. Đánh giặc bằng lòng dũng cảm, sức chịu đựng phi thường trước mọi gian khổ, hy sinh. Đánh giặc bằng sức mạnh của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Tất cả yếu tố đó có thể được coi là truyền thống. Kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy trên quy mô chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến đấu. Đi từ chiến tranh du kích lên chính quy, để cuối cùng đánh bằng tác chiến binh chủng hợp thành, lấy hiện đại thấp thắng hiện đại cao, lấy nghệ thuật thắng kỹ thuật, lấy sức mạnh tổng hợp thắng sức mạnh cục bộ.
       
        Nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ coi trọng tư tưởng đánh thắng đối phương bằng mưu kế và thế, thời.
       
        Do phải giải quyết những mâu thuẫn về số lượng quân, trang bị vũ khí, kỹ thuật quân sự, mà cách đánh trong nghệ thuật quân sự mang đậm dấu ấn của ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn. Thành công lớn của nghệ thuật quân sự là sự đảo ngược thế trận, thay đổi tương quan lực lượng, tạo thời cơ thuận lợi, đòn tổng hợp quân sự, chính trị, ngoại giao… kết thúc chiến tranh thắng lợi vào thời điểm có lợi nhất.
       
        Muốn vậy, vấn đề là cần phải "trường kỳ kháng chiến" để có thời gian chuyển hóa yếu thành mạnh, ít thành nhiều, tìm được những hình thức tác chiến thích hợp. Chiến tranh phải kéo dài, cuộc kháng chiến phải gian khổ, phải đi từ nhỏ đến lớn, từ thô sơ đến hiện đại, từ yếu đến mạnh, ít đến nhiều. Song nghệ thuật tác chiến cơ bản vẫn là thiên về đánh bằng mưu mẹo, không dùng lực chọi lực, cứng chọi cứng mà kết hợp cả trí và lực, cứng và mềm.
       
        Đạt được điều đó chính là biết lừa địch vào kế và thế của ta. Chỉ khi nào nắm được quy luật hoạt động tác chiến của địch, biết được điểm mạnh, yếu, sở trường, sở đoản của địch mới có thể lừa được chúng. Từ đó giành quyền chủ động điều khiển được đối phương, đẩy chúng vào thế bị động.
       
        Cả ba chiến dịch khởi đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ: chiến dịch Bình Giã (từ 2-12-1964 đến 7-3-1965), chiến dịch Đồng Xoài (từ 10-5 đến 22-7-1965) và chiến dịch Ba Gia-Bắc Quảng Ngãi (từ 29-5 đến 20-7-1965) đều thắng lợi giòn giã. Một trong những nguyên nhân cơ bản là do thực hành được cách đánh chiến dịch chính xác: Đánh điểm diệt viện, đánh địch ngoài công sự là chính. Cách đánh đó không mới vì nó đã từng được áp dụng khá triệt để trong kháng chiến chống Pháp, nhưng đánh Mỹ có nhiều điểm khác. Quân Mỹ có sức cơ động cao hơn, căn cứ phòng thủ kiên cố vững chắc hơn, có kỹ thuật tác chiến hiện đại và linh hoạt hơn. Đánh điểm diệt viện trong thời kỳ đầu cuộc chiến tranh giải phóng là chủ trương chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và lối đánh thích hợp đúng đắn, là yếu tố cơ bản trong nghệ thuật làm chuyển hóa từng bước tương quan lực lượng chiến đấu. Nó là một bộ phận của nghệ thuật lấy ít đánh nhiều, nhỏ thắng lớn về lực lượng vũ trang tập trung, yếu chống mạnh về binh khí kỹ thuật hiện đại và bảo đảm vật chất hậu cần tiếp tế. Quá trình thực hành chiến dịch là quá trình vận dụng chiến thuật trước đã từng có như phục kích, tập kích… và sáng tạo nên những hình thức chiến thuật mới như vận động tiến công kết hợp chốt…
       
        Cuối những năm 1965 đầu năm 1966 giữa ta và địch lúc này có sự chênh lệch lớn về số quân tập trung, trang bị kỹ thuật hiện đại, cũng như về tiềm lực kinh tế quân sự. Đặc biệt lúc này chúng ta mới thực sự đánh Mỹ. Lần đầu tiên chạm trán với quân Mỹ ở quy mô hiệp đồng quân binh chủng hiện đại mà đối phương tiến hành. Các chiến dịch PlâyMe (Tây Nguyên) từ 19-10 đến 26-11-1965, chiến dịch tiến công Bầu Bàng-Dầu Tiếng (Đông Nam Bộ) từ 1-11 đến 27-11-1965, chiến dịch tây Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) từ 20-2 đến 20-4-1966, chiến dịch Sa Thầy (Tây Nguyên) từ 18-10 đến 6-12-1966, chiến dịch Đắc Tô (bắc Tây Nguyên) từ ngày 3 đến 23-11-1967… liên tiếp và đan xen nhau đã giải đáp được câu hỏi trên. Bước đầu chúng ta có cơ sở thực tiễn để trả lời câu hỏi: Ta có thể đánh được Mỹ và thắng được Mỹ không? Trong mùa khô 1965-1966 và 1966-l967, ta đã đánh bại quân Mỹ không chỉ trong loại hình chiến dịch tiến công mà cả chiến dịch phản công. Đây được coi là những trận chạm trán nẩy lửa, trực tiếp với quân Mỹ nhưng được bắt đầu bằng những trận đánh quân ngụy để thu hút quân cơ động Mỹ đến ứng cứu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #105 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 08:53:58 PM »

        Chiến dịch PlâyMe (Tây Nguyên) từ 19-10 đến 26-11-1965 là chiến dịch đầu tiên của bộ đội chủ lực mặt trận Tây Nguyên, chiến dịch đầu trực tiếp đánh quân Mỹ trên chiến trường miền Nam trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của chúng. Chiến dịch diễn ra trên một không gian rộng khoảng 1.600 km2 (từ Bầu Cạn-PlâyMe đến Đức Cơ-Ia Đrăng). Ta thực hiện vây điểm, đánh viện; trước đánh ngụy, sau diệt Mỹ; kéo quân Mỹ ra xa căn cứ của chúng, đi sâu vào các vùng núi hiểm trở để tiêu diệt địch. Với cách đánh chiến dịch “Vây điểm diệt viện" ta đã chọn PlâyMe là điểm vây để nhử quân Mỹ đến. Ta chọn thung lũng Ia Đrăng dưới chân núi Chư Pông (cách Plây Me khoảng 25 km về phía tây) làm điểm quyết chiến đánh trận then chốt và lực lượng kỵ binh không vận Mỹ lần đầu tiên xuất hiện ở Tây Nguyên. Trận này ta tiêu diệt gần hết tiểu đoàn quân Mỹ đầu tiên.
       
        Trong chiến dịch này, mưu hay của ta là mưu lừa địch, kế giỏi của ta là kế nhử quân Mỹ vào đúng điểm quyết chiến ta chọn. Điều ấy thể hiện một bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch của ta trong cuộc thử sức đầu tiên với quân chiến đấu Mỹ trên quy mô tác chiến chiến dịch.
       
        Đến chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng (Đông Nam Bộ) tháng 11-1965, ta thực hiện phương án đánh điểm ở chi khu Dầu Tiếng để kéo viện ra diệt. Trong chiến dịch này có hai trận then chốt. Trận tập kích Bầu Bàng, tiêu diệt quân Mỹ, mở màn chiến dịch. Ta thắng nhanh gọn, giòn giã giành được thế chủ động chiến dịch ngay từ đầu đánh địch ngoài công sự. Lần đầu tiên ta sử dụng lực lượng tập trung sư đoàn vào một trận tập kích với điều kiện thời gian chuẩn bị chiến đấu gấp, đánh ban ngày với đối tượng mới là quân Mỹ.
       
        Chiến dịch này là chiến dịch tiến công đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, trước hết là đánh vào đối tượng quân chiến đấu Mỹ thuộc lực lượng được đánh giá là tinh nhuệ nhất của các sư đoàn bộ binh Mỹ trong lúc chúng đang trong thế ra quân "tìm diệt" rất hung hăng. Điều đáng chú ý mà nghệ thuật tập trung lực lượng đánh những trận then chốt, nhất là trận tập kích rất táo bạo vào đội hình địch ở Bầu Bàng. Cách đánh về chiến thuật cũng rất sáng tạo và linh hoạt: Tập kích quy mô lớn vào quân địch tạm dừng trú quân và phục kích-vận động tiến công vào quân địch đang hành quân di chuyển.
       
        Nét đặc sắc của nghệ thuật đánh Mỹ là biết dùng mưu hay, kế hiểm để kéo quân Mỹ đến chiến trường ta đã lựa chọn, đưa chúng vào sâu trong thế trận hiểm hóc của ta, phá thế trận của địch, điều hành linh hoạt việc chuyển hóa thế trận của ta, buộc chúng phải chấp nhận giao chiến ở những nơi bất lợi cho chúng một cách bị động. Ta đã xây dựng nên một thế trận mà ở đó có thể đánh được địch ở cả trước mặt và sau lưng, tổ chức khu quyết chiến, nhử địch vào đó và tạo ra tình huống và thời cơ tiêu diệt chúng. Ta thường tập trung đánh quân Mỹ ở ngoài công sự, xa căn cứ, như thế ta sẽ thực hiện được nghệ thuật "điệu hổ ly sơn".
       
        Nghệ thuật đó còn là nghệ thuật điều quân địch theo mưu kế của ta, buộc không phải giao chiến với ta ở địa bàn mà chúng không muốn, ta lợi còn chúng bất lợi. Điều này, nhiều nhà quân sự Mỹ đã phải thừa nhận chúng bị động về cách đánh, bị ta điều khiển nhiều hơn.
       
        Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã tạo nên một tình thế mới trên chiến trường. Những chiến dịch liên tiếp sau đó như chiến dịch Quảng Trị năm 1972, chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972, chiến dịch Lộc Ninh-Bình Long năm 1972 đều nổi bật lên tính chủ động tiến công, chủ động điều khiển thế trận địch, ta trong tác chiến chiến lược, chiến dịch. Dự báo sát tình huống chiến lược cũng như chiến dịch. Trên cơ sở đó chọn hướng địa bàn mở chiến dịch bằng những trận then chốt chiến dịch rất trúng đích ngay từ đầu. Nghệ thuật lừa địch, điều động quân Mỹ ra chiến trường Khe Sanh cũng là giỏi. Ở đó ta có lợi thế về địa hình và cơ động tập trung được lực lượng hơn địch ở thời khắc quyết định chiến dịch. Bị quân ta vây hãm khốn quẫn và bị tiêu hao, bị sát thương nặng, cuối cùng các đơn vị sừng sỏ của quân đội Mỹ gồm lính thủy đánh bộ và kỵ binh bay phải tháo chạy khỏi Khe Sanh để tránh một "Điện Biên Phủ” như tổng thống Mỹ lo ngại.
       
        Ở chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972, địch cũng bị ta nghi binh, lừa, tha hút sự chú ý của chúng về KonTum để ta tổ chức đánh Đắc Tô-Tân Cảnh trước. Vì lừa địch nên việc đánh Đắc Tô-Tân Cảnh của ta diễn ra khá thuận lợi và đạt kết quả khá triệt để.
       
        Trong xử trí các tình huống chiến dịch, ý định và kế hoạch tác chiến của ta dự kiến trước với thực tế diễn biến chiến sự trên chiến trường khá ăn khớp. Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tránh chỗ cứng đánh chỗ mềm, đó là cách đánh được vận dụng khá nhuần nhuyễn trong cả chiến lược và chiến dịch. Nó được xem như miếng võ hiểm mà phải mất thời gian khá lâu, bằng nghệ thuật khá tinh xảo và luôn biến hóa thì mới thắng được đối phương.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #106 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 08:56:57 PM »

        Cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975, với trận đột phá khẩu Buôn Ma Thuột cho thấy nghệ thuật đấu trí đấu lực về chiến lược giữa ta và địch đã phát triển cao, làm cho địch không nhận ra chiến dịch mở màn sẽ là cao nguyên miền Trung, hay là Tây Nguyên, do vậy chúng không thể dự kiến nổi khả năng ta chọn Buôn Ma Thuột làm điển đột phá đầu tiên. Đó là cả một quá trình "lao tâm khổ trí" của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, các nhà chỉ đạo chiến tranh và cán bộ chiến sĩ. Thành công của chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975 và các chiến dịch kế tiếp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, nghệ thuật quân sự mà trong đó đặc biệt là nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật "phát triển đến trình độ cao": Tạo được thế chiến lược, chiến dịch và chiến đấu; tạo được thời cơ, tập trung lực lượng-sức mạnh quyết định hơn địch vào hướng, địa bàn ta đã lựa chọn để đè bẹp được địch. Đánh vào một điểm yếu chí tử rung toàn bộ hệ thống phòng ngự chiến lược địch, làm đảo lộn thế chiến lược địch, là cách đánh được hình thành rất công phu, được chắt lọc từ kinh nghiệm của biết bao cuộc kháng chiến, bao chiến dịch và bao nhiêu trận chiến đấu.
       
        Cách đánh chiến lược trong nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là dùng chiến tranh nhân dân tác chiến cài xen kẽ với địch, buộc địch phải phân tán, chia cắt, phải bị động đối phó khắp nơi. Trên cơ sở đó mà chủ động nhử địch, điều địch đến nơi ta muốn. Mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung, chiếm đóng và cơ động là mâu thuẫn cố hữu mà quân xâm lược không thể giải quyết được. Khoét sâu mâu thuẫn đó chỉ có thể bằng việc tiến hành cuộc chiến tranh du kích phát triển rộng khắp trong thế trận chiến tranh nhân dân, phải phát triển lối đánh cả chính quy và du kích, đánh bằng ba thứ quân, bằng sức mạnh tổng hợp của nhiều đòn. So với cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn đánh nhỏ, đánh du kích có ngắn hơn. Giai đoạn đánh chính quy ở trình độ thấp xuất hiện sớm hơn, vì ta có quân đội chính quy và kinh nghiệm tác chiến chính quy. Thực tế cho thấy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhiều loại hình tác chiến mới đã xuất hiện ở quy mô chiến dịch (chiến dịch phản công, tiến công và phòng ngự).
       
        Chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Gian-Xơn Xi-ty (từ ngày 22-2-1967 đến 15-4-1967) đã đánh bại cuộc hành quân lớn nhất trong suốt quá trình nửa triệu quân Mỹ tham chiến ở miền Nam Việt Nam, nhằm tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và sư đoàn 9 bộ đội chủ lực Miền. Trong chiến dịch phản công này, về lực lượng so sánh hai bên, số lượng chủ lực ta chưa bằng 1 phần 3 lực lượng địch, kém hẳn địch về pháo binh, ta lại không có thiết giáp và không quân. Để phản công đánh trả cuộc hành quân quy mô lớn như vậy, ta đã khéo tổ thức các cơ quan quân, dân, chính, Đảng thành những đơn vị du kích, tự vệ, bộ đội địa phương đánh địch tại chỗ và rộng khắp tạo nên thế chiến tranh nhân dân ở địa bàn hầu như không có dân để phân tán căng kéo địch. Ta khéo sử dụng chủ lực tác chiến ở vòng ngoài tạo những quả đấm mạnh tập trung bên sườn và sau lưng, tiêu diệt và gây thiệt hại cho các cụm quân Mỹ. Thế chiến tranh nhân dân do ta tạo nên ở địa bàn không có dân là điều bất ngờ lớn đối với địch. Đó là nét đặc sắc về nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng chiến dịch phản công của ta.
       
        Trong năm 1971, nổi bật lên thắng lợi của chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của quân ngụy Sài Gòn trên chiến trường Đường số 9-Nam Lào, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch phản công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
       
        Chiến dịch này diễn ra giữa hai khối chủ lực tương đối mạnh-cả hai bên đều được trang bị hiện đại hoặc tương đối hiện đại diễn ra trên một khu vực chiến trường rất nhạy cảm về chính trị, đều gần hậu phương của mình. Lực lượng ta-kể cả khối chủ lực cơ động và Lực lượng tại chỗ đều đã triển khai sẵn.
       
        Đây là chiến dịch khởi đầu thời kỳ quân đội ta mở các chiến dịch đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Đây không phải là sự kế tiếp chiến dịch phòng ngự mà chỉ có kết hợp với phòng ngự về chiến thuật (chốt chặn), là nghệ thuật lập thế ta phá thế địch, kết hợp rất nhịp nhàng và hiệu quả giữa hai lực lượng: chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ trên địa bàn rừng núi thưa dân. Với phương pháp tác chiến hay là vừa vây hãm vừa bẻ gãy từng cánh quân địch để chủ động kết thúc chiến dịch một cách đúng lúc. Hai chiến dịch phản công đầu tiên ấy thật là độc đáo. Nó đã đánh bại chiến lược tiêu diệt của Mỹ, làm cho hy vọng thắng lợi của Mỹ thật xa vời.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #107 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 09:00:24 PM »

        Sau những chiến dịch này, ta đã buộc địch rơi vào tình thế mà chúng không muốn: phòng ngự, không dám tiến công ra ngoài phòng tuyến, chuyển vào phòng ngự chiến lược. Nhất là việc Mỹ rút hết quân cả bộ binh và không quân. Sau năm 1972 và nhất là năm 1973 và năm 1974 ta đã ở vào thế chủ động tiến công, tiếp tục mở rộng vùng giải phóng và phòng ngự ở sông Thạch Hãn. Đây là những điều kiện rất cơ bản để năm 1975 ta tổ chức thực hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Ở quy mô chiến thuật (đánh điểm diệt viện, đánh địch trong công sự kiên cố, đánh địch đang vận động, bao vây tiến công liên tục, vận động tiến công kết hợp chốt chặn...). Đáng chú ý là bao giờ cũng kết hợp với quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều mức độ khác nhau. Cách đánh chính quy và bằng lực lượng chủ lực là chủ yếu nhưng phải có bộ dội địa phương và dân quân du kích hỗ trợ thì các đòn chính quy mới có hiệu quả.
       
        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đối tượng tác chiến chiến dịch rất phức tạp. Ngoài quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn còn có các đội quân chư hầu được sự yểm trợ trực tiếp rất lớn của hỏa lực không quân, hải quân Mỹ. Mặt khác, do vũ khí trang bị phương tiện kỹ thuật quân sự phát triển mà hình thức tác chiến, cách đánh chiến dịch cũng rất phong phú linh hoạt. Trong giai đoạn nào của chiến tranh thì ta vẫn phải kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy. Nhưng đòn cuối cùng vẫn phải dùng lực lượng chủ lực làm quả đấm quyết định. Chiến lược chung của ta phải trên nền của chiến tranh du kích mới có thể thắng lợi được. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng diễn ra rất phù hợp với nguyên lý đó, theo đúng quy luật đó.
       
        Bước sang thời kỳ chống Mỹ, có những giai đoạn cả hai miền đều có chiến tranh. Đối tượng tác chiến thay đổi. Quân đội và nhân dân ta không chỉ phải đương đầu với một lực lượng, một quân đội Mỹ, quân ngụy mà có nhiều lực lượng khác, quân đội khác dưới sự nuôi dưỡng của Mỹ. Chủ nghĩa thực dân mới thay thế chủ nghĩa thực dân cũ cũng có nghĩa là loại hình chiến tranh, phương thức thủ đoạn tiến hành chiến tranh, quy mô chiến tranh, điều kiện chiến tranh đã có sự thay đổi lớn.
       
        Trên cơ sở xác định rõ đối tượng, chỉ ra bản chất của cuộc chiến tranh, Đảng và Bác Hồ đã kịp thời chỉ đạo quân đội thay đổi cách đánh cho phù hợp với đối tượng tác chiến, thích nghi với đặc điểm chiến trường, dân cư, địa lý, chính trị-xã hội. Việc tổ chức lại các đơn vị cấp chiến lược, chiến dịch, chiến đấu để tác chiến có hiệu quả trước thế bố trí chiến lược của quân Mỹ và quân ngụy được thực hiện kịp thời. Ở quy mô chiến lược, tư tưởng chỉ đạo về cách đánh của Bác Hồ và Đảng ta là đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch. Tư tưởng ấy được quán triệt rất sâu sắc trong quá trình chiến tranh. Chúng ta đã lần lượt đánh bại ba chiến lược chiến tranh lớn của Mỹ: chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến lược chiến tranh cục bộ và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Mỗi lần thay đổi chiến lược là mỗi lần Mỹ lại yếu thế và lực đi một phút. Bởi lẽ chiến lược sau nỗ lực hơn chiến lược trước nhưng đều sinh ra trong thế bị động nên các chiến lược ấy gặp rất nhiều mâu thuẫn không thể dễ dàng giải quyết được.
       
        Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1968 đã để lại cho chúng ta những bài học về chiến lược rất sâu sắc trên cả hai khía cạnh thành công và chưa thành công. Điều đáng chú ý là qua sự kiện này Trung ương Đảng, Bác Hồ cũng như toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân ta thấy được khả năng thắng Mỹ-ngụy là hiện thực, nhưng phải giữ vững nguyên tắc: không nôn nóng đốt cháy giai đoạn; cần phải tìm được cách đánh thích hợp hơn, nhất là hội đủ những điều kiện khách quan và chủ quan cho thắng lợi chiến lược. Bác có viết:
       
        "Đầu xuân năm nay, quân và dân miền Nam anh hùng đã tiến công địch liên tục, đều khắp, đánh rất giỏi, thắng rất to.
       
        Giặc Mỹ đã thua nặng. Nhưng chúng vẫn chưa bỏ dã tâm xâm lược, chưa chịu rút quân ra khỏi nước ta.
       
        Vậy ta phải tiếp tục đánh mạnh, đánh đau, đánh cho đến khi Mỹ, ngụy thất bại hoàn toàn, cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng"1.
       
        Với đòn tiến công và nổi dậy Xuân 1968 ta chưa đánh bại hoàn toàn được ý chí xâm lược của Mỹ nên chúng vẫn còn ở trên đất nước ta. Muốn đuổi được Mỹ phải đánh mạnh đánh đau. Tư tưởng chiến lược rất sâu sắc của Bác Hồ đã đi vào thực tiễn chiến đấu. Sự hình thành nhiều binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược, sự phân chia chiến trường, tổ chức và sử dụng lực lượng vũ trang hợp lý trên cơ sở nghiên cứu cách bố trí lực lượng chiến lược của địch nặng hai đầu, sơ hở quãng giữa để ta lựa chọn địa bàn Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu mở màn cho cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 là kết quả quá trình vận dụng tư tưởng chỉ đạo cách đánh của Trung ương Đảng và Bác Hồ.
       
-----------------------
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1989, tr. 774.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #108 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 09:04:44 PM »

        Bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, bằng công sức trí tuệ của tập thể các "công trình sư" chúng ta đã thiết kế được thế trận chiến lược sắp đặt mưu kế khoa học hợp lý, tạo nên thời cơ chiến lược vô cùng quan trọng. Nhìn một cách tổng thể dễ dàng nhận thấy chủ lực cơ động của ta chiếm ưu thế hơn địch ở chỗ ta tự do cơ động và chủ động tiến công, còn địch phải phân tán ra chiếm đóng và chiếm giữ, phòng thủ ở các địa bàn chủ yếu. Hơn thế lực lượng tiến công của ta cũng ưu thế hơn địch.
       
        Mưu của ta là căng địch ra ở hai đầu chiến tuyến, tạo nên quãng giữa sự sơ hở và mỏng yếu.
       
        Đầu chiến tuyến phía Bắc gồm Huế và Đà Nẵng. Ở đó ta và địch đều tập trung lớn lực lượng. Đầu chiến tuyến phía Nam là Sài Gòn-thủ đô của địch. Ở đây hai bên cũng đều tập trung quân của mình tương đối lớn. Điều đáng lưu tâm là với nghệ thuật bày binh bố trận tài tình ta đưa được một quân đoàn ém sẵn bên nách Sài Gòn chừng 50-60km. Làm được điều đó coi như ta đã gí súng được vào gáy đối phương. Cho đến giờ cũng nhiều binh gia: nhà quân sự còn khó cắt nghĩa cho sự kiện thật kỳ lạ và lý thú trên. Bởi, về nguyên tắc quân sự, để cho đối phương tạo nên tình huống trên là không thể chấp nhận được.
       
        Tạo được thế trận chiến lược "đòn gánh nặng hai đầu” Bắc-Nam, tất nhiên quãng giữa miền Trung phải sơ hở. Ở đây địch chỉ còn lại lực lượng của quân khu 2, quân đoàn 2 thật mỏng, yếu. Sau khi lập được thế trận lợi hại, ta chủ trương tổ chức đòn chiến lược thứ nhất nhằm phá vỡ quãng giữa chiến tuyến của địch. Đánh vào đây thật hiểm xét theo cả chiều ngang và chiều sâu, làm cho thế trận chiến lược của địch bị phá vỡ nhanh chóng, tạo nên thế chia cắt chiến lược vô cùng lợi hại. Địch không thể ứng cứu được nhau vì bị ghìm chân ở 2 đầu Bắc, Nam. Vì thế khi ta ra đòn chiến lược thứ 2 kế tiếp liên tục thì địch không còn thời gian và lực lượng để tổ chức đối phó có hiệu quả.
       
        Vấn đề đột phá chiến dịch mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên có ý nghĩa rất quan trọng. Vì đó là việc "vạn sự khởi đầu nan". Thắng hay bại trận này có tác động tâm lý rất lớn với cả hai bên tham chiến.
       
        Trước khi đánh Buôn Ma Thuột vẫn có hai loại ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho là nên đánh PlâyCu, bởi đây là đầu não quân sự với sở chỉ huy tiền phương của quân khu 2 và quân đoàn 2 ngụy Sài Gòn, nếu đánh vào đó mà thắng lợi thì tự khắc các nơi khác địch cũng sẽ tan rã. Đó là sự thật, nhưng so với Buôn Ma Thuột, PlâyCu là căn cứ mạnh hơn, khó có thể thắng địch dễ dàng vì lực lượng của địch tập trung ở đây khá đông. Muốn bao vây PlâyCu cũng khó bởi địa hình, nhất là khó hình thành được mũi vu hồi hiểm hóc từ phía đông sang, bởi địch bố trí lực lượng dày đặc từ PlâyCu đến Kon Tum. Trái lại Buôn Ma Thuột là căn cứ quân sự ở trong đô thị, so với PlâyCu, yếu hơn nhiều. Lực lượng địch tập trung ở đây chỉ có một trung đoàn bộ binh, trung đoàn pháo, trung đoàn xe tăng thiết giáp, mấy tiểu đoàn bảo an. Đây chỉ là hậu cứ của sư đoàn 23 ngụy, nhưng lại là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế quan trọng của cao nguyên miền Trung. Từ đây có thể phát triển đòn tiến công chọc xuống đồng bằng ven biển Nha Trang để cắt ngang đồng bằng ven biển miền Trung uy hiếp phía bắc Sài Gòn mạnh hơn. Từ cao nguyên miền Trung này đánh vào bắc Sài Gòn cũng thuận lợi. Đánh Buôn Ma Thuột, ta có thể bao vây ở cả 4 mặt, ta có thể tổ chức thực hiện được những đòn tiến công hiểm với cách đánh táo bạo bất ngờ, triển khai lực lượng dễ hơn vì địa hình thuận lợi. Ngoài ra, đầu năm 1974 sau khi giải phóng Ya Súp cánh cửa ở bắc Buôn Ma Thuột coi như đã được mở sẵn.
       
        Đòn Buôn Ma Thuột đã tạo ra sự bùng nổ chiến thuật, đột biến chiến dịch đưa đến sụp đổ dây chuyền và phá vỡ chiến lược làm đảo lộn thế chiến lược của địch. Đòn Buôn Ma Thuột không những chỉ rung động Tây Nguyên, không những buộc địch phải rút chạy khỏi PlâyCu, rút bỏ Tây Nguyên để lui về giữ vùng ven biển miền trung mà còn có tác động toàn bộ thế chiến lược của địch. Thừa thế, quân ta truy đuổi và tiêu diệt hết quân địch rút chạy, đánh chiếm các tỉnh ven biển miền Trung, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi, tạo ra thế chiến lược uy hiếp Sài Gòn.
       
        Buôn Ma Thuột đã làm được một điều hay là: Sức dùng một nửa mà công được gấp đôi.
       
        Trong cuốn sách “Tường trình của một quân nhân”, tướng Oét-mo-len, tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở Việt Nam viết: "sự sụp đổ ở Nam Việt Nam bắt đầu từ lúc tướng Phú ra lệnh mà không ai giải thích nổi là phải rút tức khắc khỏi các tỉnh Kon Tum và Plây Cu”1 và "Bằng cách tập trung ở cao nguyên Trung phần-nơi mà Tướng Giáp từ lâu trong các bài viết của mình đã coi là chìa khóa để giải quyết "vấn đề Nam Việt nam"-Quân Bắc Việt Nam dễ dàng đánh thọc sườn phần lớn lãnh thổ Nam Việt Nam và quân đội Nam Việt Nam. Trong bối cảnh đó, sự sụp đổ của quân bảo vệ, cho dù họ có nhiều kinh nghiệm hơn và được sự lãnh đạo tốt hơn mức người Nam Việt Nam đã có, là điều có thể đoán trước được”2.

--------------
1,  2. A Soldier Reports (Tường trình của một quân nhân), NXB Daubleday and Company inc Garden City, New York 1976-Thư viện Quân đội sao lục năm 1978, bản đánh máy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #109 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 09:06:45 PM »

        Để có được một Buôn Ma Thuột, một Tây Nguyên thắng lợi to lớn như vậy là cả một quá trình chuẩn bị vô cùng công phu của quân và dân ta dưới sự chỉ đạo tài tình khoa học của bộ thống soái tối cao. Phải lừa được địch, điều được địch một cách chủ động. Bằng những hoạt động tác chiến cụ thể, bí mật khôn khéo ta đã thực hiện thành công nghệ thuật nghi binh ở cả tầm chiến lược chiến dịch và chiến đấu. Điều ấy khẳng định một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật biết đánh.
       
        Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở cả ba chiến trường: Trị-Thiên, Đông Nam Bộ và Bắc Tây Nguyên đã giành được thắng lợi to lớn. Cùng với việc đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không chủ yếu bằng máy bay B52 của Mỹ ở miền Bắc, ta đã giành thắng lợi to lớn về quân sự và thắng lợi to lớn về chính trị, ngoại giao… để cuối cùng là bản Hiệp định Pa-ri đã được ký. Nếu trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 ta đã rất hiểu Mỹ cả về thế và lực, đồng thời đã làm lung lay ý chí của Mỹ thì đến thời điểm này ta đã đánh thắng Mỹ-hoàn thành một phần nhiệm vụ quan trọng mà lịch sử và Bác Hồ chỉ dẫn cả về tư tưởng và cách đánh chiến lược: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Ta đã đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" khi Mỹ đã leo thang đến mức cao nhất, làm đảo lộn thế chiến lược của Mỹ ở miền Nam, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri. Trong đó phải đặc biệt kể đến đòn thắng lợi chiến lược đối với không quân Mỹ cuối năm 1972. Chiến thắng đó đã có tác dụng quyết định đến việc ký Hiệp định Pa-ri. Điều đó chứng tỏ thắng lợi quân sự trên chiến trường đã góp phần quyết định thắng lợi về chính trị, ngoại giao trên bàn hội nghị.
       
        Nét độc đáo của nghệ thuật quân sự không chỉ là những cách đánh cụ thể mà nó bao hàm cả tư tưởng chỉ đạo thông qua tư duy chiến lược trong đó có nhận định, phán đoán và dự báo, hoạch định mục tiêu, giới hạn cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể cho mỗi chiến dịch và trận đánh. Đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch là tư tưởng được quán xuyến rất sâu sắc trong nghệ thuật quân sự. Đánh cho Mỹ cút, đó cũng là mục tiêu của cách mạng, của cuộc kháng chiến. Mục tiêu ấy dựa trên tư duy khoa học về so sánh lực lượng địch ta. Đạt mục tiêu ấy là đánh trúng và đánh đúng chỗ yếu chí tử của đối phương là nghệ thuật hay, giỏi. Nếu đặt mục tiêu cao hơn hay thấp hơn cũng có nghĩa là đánh sai, đánh không trúng và sẽ phải trả giá vì nghệ thuật kém. Mỹ cút ngụy ắt nhào.
       
        Trên cơ sở thắng lợi về quân sự trên thực tế chiến trường mà dự báo khả năng kết thúc thắng lợi chiến tranh có nhiều cơ sở khả thi hơn, sớm hơn dự kiến ban đầu. Quả nhiên năm 1973, chúng ta đã liên tiếp giành thắng lợi trên toàn chiến trường miền Nam trong những điều kiện mới thuận lợi hơn trước đó. Trên cơ sở của các đòn tạo thế, nghi binh lừa địch, điều động địch, ta tập trung được lực lượng để đánh đòn then chốt kết thúc thắng lợi chiến dịch. Quân đội ta có bề dày về nghệ thuật chiến dịch với những "đường nét” rất đặc sắc ở các loại hình tiến công, và phản công. Trong hàng chục chiến dịch lớn nhỏ của cuộc kháng chiến chống Mỹ cho thấy bộ đội ta trưởng thành rất nhanh về cách đánh chiến dịch. Sau vài chiến dịch đầu, bộ đội ta từ quen đánh Mỹ đến có khả năng thắng Mỹ rồi liên tiếp thắng Mỹ trong nhiều chiến dịch gối đầu nhau ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Đó là do ta đã vận dụng sáng tạo cách đánh truyền thống, triệt để lợi dụng yếu tố địa hình tự nhiên để hạn chế khả năng cơ động và sức mạnh hỏa lực địch, nhất là việc bày đặt thế trận đưa địch vào kế và thế của ta.
       
        Muốn thắng địch trong hoàn cảnh luôn phải "ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn" thì hình thức chiến thuật phải rất linh hoạt và phong phú. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ cho thấy hàng chục hình thức chiến thuật mang đậm nét truyền thống nhưng đã tiếp cận được cách đánh hiện đại-đánh bằng trí tuệ cao ra đời. Từ thực tiễn đánh Mỹ-ngụy mà sáng tạo nên những chiến thuật phù hợp với địa hình, thế trận và thực lực quân sự của ta. Ứng với các chiến thuật của địch như trực thăng vận, thiết xa vận nhảy cóc... của Mỹ là những chiến thuật mới của ta được hình thành. Vừa đánh vừa rút kinh nghiệm để xây dựng hoàn chỉnh cách đánh trong đó yếu tố chiến thuật rất được đề cao.
       
        Cách đánh trong nghệ thuật quân sự xét ở góc độ nào đó chính là cách đánh của cả một dân tộc, bằng sức mạnh tổng hợp của cả nước, toàn dân. Có nghĩa là lực lượng vũ trang không chỉ đánh bằng súng đạn, vũ khí mà còn bằng cả đòn chính trị... một cách đánh giàu trí tuệ. Đấu tranh chính trị tuy không nằm trong nghệ thuật tác chiến nhưng đó cũng là một trong những đòn chiến lược vô cùng lợi hại mà trong suốt những năm đánh Mỹ, Đảng ta, quân và dân ta thực hành rất có hiệu quả, nhất là những năm đầu chống Mỹ.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM