Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Một, 2019, 03:21:52 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)  (Đọc 10087 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #20 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:25:29 PM »

        Sau chiến thắng Bình Giã, đồng chí Nguyễn Chí Thanh lại cùng tập thể Bộ chỉ huy Quân giải phóng Miền ráo riết chuẩn bị chỉ đạo việc chuẩn bị chiến dịch mới. Mọi người đều tâm đắc với lời nhắc nhở chí lý của đồng chí Chính ủy Quân giải phóng miền Nam là "thỏa mãn dừng lại lúc này là có tội, phải thừa thắng xốc tới, quyết tâm đập tan chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của địch". Chính ủy Nguyễn Chí Thanh đã có nhiều đóng góp biến tư tưởng chỉ đạo chiến lược đó thành ý chí và hành động của cán bộ và chiến sĩ trên chiến trường. Vì vậy chỉ sau chiến dịch Bình Giã mấy tháng, vào trung tuần tháng 5 năm 1965, lại nổ ra chiến dịch lớn Đồng Xoài, lớn về mục đích yêu cầu, lớn về lực lượng tham gia, vè thời gian kéo dài của chiến dịch. Một sở chỉ huy tiền phương được thành lập, các anh Ba Long (Lê Trọng Tấn), anh Năm Thạch (Hoàng Cầm) trực tiếp đôn đốc kiểm tra, giúp đỡ các đơn vị tham chiến. Chính ủy Nguyễn Chí Thanh và Tư lệnh Trần Văn Trà ở chỉ huy sở cơ bản chỉ huy chung các hướng toàn Miền phối hợp với Đồng Xoài.

        Chiến dịch Đồng Xoài diễn ra trên địa bàn tỉnh Phước Long, không xa lắm về hướng bắc Sài Gòn. Chiến dịch lịch sử này đã tạo khả năng chiến đấu mới của chủ lực Miền và gây nỗi kinh hoàng mới cho ngụy quân, ngụy quyền. Trong chiến dịch này, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn chủ lực ngụy trong công sự vững chắc. Khi được tin này, cả chỉ huy sở cơ bản reo lên ầm ĩ. Anh Tư Chi vội vã hướng dẫn thảo điện báo cáo với Trung ương và Trung ương Cục. Anh Thanh thưởng cho mỗi người có mặt một điếu thuốc lá để mừng chiến thắng. Trong khi đó lại càng vui về tin quân và dân Khu 5 thắng lớn trong trận Ba Gia Ở Quảng Ngãi. Trong khí thế chiến thắng dồn dập trên khắp các chiến trường, ngay hôm sau, đồng chí Nguyễn Chí Thanh ngồi viết một mạch bài báo lấy tựa đề là "Ba Gia gọi Đồng Xoài" phân tích sâu sắc về hai chiến thắng vang dội này, với bút hiệu Trường Sơn. Bài báo đã được Đài phát thanh Giải phóng phát đi phát lại nhiều lần và gây được sự chú ý đặc biệt của cả dư luận trong nước và ngoài nước.

        Trong bài báo đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nêu bật một nhận định có ý nghĩa chiến lược của chiến thắng Ba Gia - Đồng Xoài cùng với thắng lợi đánh phá tơi bời chiến lược bình định gom dân lập ấp chiến lược của địch là biểu hiện sự phá sản hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" cua Mỹ, ngụy. Chiến thắng Ba Gia - Đồng Xoài chứng tỏ quân và dân miền Nam đã giành quyền chủ động trên chiến trường. Sau đó ít ngày, chính Mắc Na-ma-ra, BỘ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng phải công khai thú nhận: "Quyền chủ động trên chiến trường đã thuộc về tay Việt cộng". Sau đó, đồng chí còn viết tiếp một số bài nổi tiếng khác nêu ra nhiều ý kiến mới và sự phân tích sâu sắc như bài "Mỹ giàu nhưng không mạnh". Đối phương thừa nhận đồng chí Nguyễn Chí Thanh là một trong những đối thủ rất khó chịu của họ Ở Việt Nam. Còn đồng chí Nguyễn Chí Thanh rất quan tâm nắm bắt những âm mưu và hành động dù lớn, dù nhỏ của Mỹ.

        Tôi nhớ mãi một buổi tối đầu tháng 3 năm 1965, anh gọi tôi lên hỏi: "Chú có nghe tin gì vừa rồi không?". Tôi chưa kịp trả lời, anh nói ngay:

        - Các đài phương Tây vừa đưa tin hôm nay Mỹ đã cho hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến từ Ô-ki-na-oa đổ bộ vào Đà Nẵng rồi. Chắc nó còn tiếp tục đổ tiếp quân Mỹ vào nữa. Chú báo ngay cho bên tham mưu theo dõi sát, nắm kỹ tình hình, để Bộ chỉ huy Miền có cơ sở bàn biện pháp chủ động đối phó.

        Tôi nhìn lên tấm lịch treo ở cột nhà. Hôm đó là ngày 9 tháng 3 năm 1965. Trong buổi giao ban hôm sau ở chỉ huy sở, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã đưa ra tập thể Bộ chỉ huy bàn và đi đến kết luận là phải chuẩn bị thật tốt, bảo đảm chắc thắng như trong chiến dịch Đồng Xoài, đồng thời phải chuẩn bị ngay cuộc đọ sức trực tiếp với quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

        Sau đó anh đã dành nhiều thời gian đi xuống đơn vị chiến đấu và cơ sở gặp gỡ, trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân để mong tìm ra câu trả lời cho những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra, đặc biệt là việc xây dụng quyết tâm đánh Mỹ trong bước chuyển từ chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Hồi đó đồng chí Nguyễn Chí Thanh năm mươi tuổi, còn khỏe, rất xông xáo. Phương tiện đi lại duy nhất là xe đạp. Lại thường phải đi đêm, nhưng anh đạp chẳng thua kém gì chúng tôi. Bộ đồ hành quân quen thuộc của anh thường là bộ bà ba đen hoặc nâu, chiếc mũ tai bèo, một đôi bết ngắn để chống rắn choàm cạp và một khẩu súng ngắn bên sườn.

        Đến thăm một đơn vị chủ lực miền Đông, anh đã ngồi nói chuyện tay đôi rất lâu với chiến sĩ Ma Văn Thắng, người đã diệt được tên Mỹ đầu tiên trong trận đầu diệt Mỹ của đơn vị này tại Đất Cuốc. Anh Thanh hỏi Thắng:

        - Chú thấy đánh Mỹ có gì khác với đánh ngụy?

        - Có khác, Mỹ có súng bén, có nhiều máy bay, đại bác hơn ngụy.

        - Thế sao đơn vị mình vẫn diệt được Mỹ?

        - Vì ta có tinh thần cao, ta cũng có súng tốt, lại có nhiều kinh nghiệm chiến đấu hơn Mỹ.

        - Thắng nói thật nhé, lần đầu nhìn thấy lính Mỹ, chú ớn không?

        - Lúc đầu cũng ớn, thấy nó to cao, lông lá đầy ngưc, nhưng sau thấy nó vận động khù khờ quá, cháu bớt sợ, nổ liền mấy phát nó ngã ngay.

        Anh Thanh gặp một chiến sĩ khác chưa có dịp đánh Mỹ:

        - Có dám đánh Mỹ không?

        - Dám đánh ạ?

        - Có sợ bom, đạn Mỹ không?

        - Em không sợ? Má em đã bị pháo bầy của Mỹ bắn chết giữa lúc đang cấy ở ruộng. Em chỉ mong trả thù cho má!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #21 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:25:54 PM »

        Cơ sở xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, quyết thắng Mỹ bắt nguồn từ đây. Những khẩu hiệu "Tìm Mỹ mà đánh, thấy ngụy là diệt", "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh" không phải bỗng dưng mà có, mà cũng bắt nguồn từ tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, từ thực tế cuộc sống mà ra, được cô đúc lại và biến thành ý chí và hành động của toàn thể các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam thời đó. Phần đóng góp nổi bật nhất của đồng chí Nguyễn Chí Thanh ở chiến trường là ở chỗ đó.

        Cuối năm 1965, được sự chỉ đạo của Trung ương và Trung ương Cục, Quân ủy Miền triệu tập hội nghị mở rộng do đồng chí Nguyễn Chí Thanh chủ trì, để bàn gấp những vấn đề cấp bách đối với "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ. Hội nghị có ý nghĩa lịch sử này không làm ở chỉ huy sở của R, mà bí mật chuyển ra rẫy sản xuất của cơ quan. Rẫy này nằm ở gần biên giới, rất quang quẻ, thoáng mát. Thỉnh thoảng đồng chí Nguyễn Chí Thanh ra rẫy kết hợp vừa làm việc vừa nghỉ ngơi. Anh em vệ binh làm cho anh một cái nhà nhỏ giữa mấy khóm chuối, chung quanh là những hàng dừa, đu đủ, mía, vừa dọn cỏ, vun đất mới đỏ chói, trông rất vui mắt. Hội nghị Quân ủy Miền đã làm việc tại ngôi nhà này.

        Mở đầu hội nghị, anh Tư Chi (Trần Văn Trà) và anh Năm Thạch (Hoàng Cầm) trình bày tỉ mỉ diễn biến, kết quả và kinh nghiệm sốt dẻo qua những trận đầu tiên của Sư đoàn 9 của ta đọ sức với quân Mỹ.

        Hội nghị rất mừng vì Sư đoàn 9, sư đoàn chủ lực đầu tiên của Miền mà đồng chí Hoàng Cầm là Sư đoàn trưởng, đã đánh tốt và tiến bộ nhanh. Nhưng khi đi sâu vào nội dung chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ và những vấn đề mới về chiến dịch, chiến thuật của ta, thì có rất nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề "đánh Mỹ khác đánh ngụy thế nào?". Cuộc tranh luận kéo dài sôi nổi suốt cả ngày. Cuối cùng đều nhất trí với kết luận của đồng chí Nguyễn Chí Thanh là "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ Ở miền Nam đã sụp đổ hoàn toàn và Mỹ đã chuyển thành cuộc "Chiến tranh cục bộ". Ở miền Nam. Quân Mỹ đã lên tới 20 vạn tên. Mắc Na-ma-ra đang rêu rao về chiến lược hai gọng kìm: "tìm diệt" và "bình định". Chúng đang chuẩn bị tung ra cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) tập trung vào hai hướng chủ yếu là miền Đông Nam Bộ và Khu 5 nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực ta, giành lại thế mạnh về quân sự, hỗ trợ cho bình định có trọng điểm của chúng. Đối với thắc mắc "đánh Mỹ khác đánh ngụy thế nào?", đồng chí cũng nói thẳng vào vấn đề, không giấu giếm: "Thú thật với các đồng chí, hội nghị này chưa có đủ thực tiễn để giải đáp đầy đủ thắc mắc này. Đó là một vấn đề lớn rất quan trọng, tất cả chúng ta đều phải tìm được câu trả lời tốt nhất theo cương vị của mình. Nhưng theo tôi, cái cốt lõi bây giờ là dám đánh và quyết thắng Mỹ không đã. Các chiến sĩ mà tôi gặp đã tỏ thái độ dứt khoát, còn những người chỉ huy và lãnh đạo cần tỏ thái độ thế nào? Xin các đồng chí về đơn vị cùng bàn với chiến sĩ hãy cứ đánh, quyết tâm đánh Mỹ đã, đánh rồi ta sẽ tìm ra cách đánh Mỹ tốt nhất cả về chiến dịch, chiến thuật và chiến đấư". Cuối cùng đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhấn mạnh nhiệm vụ của công tác chính trị, tư tưởng lúc này là xây dựng cho được quyết tâm đánh Mỹ, quyết tâm đập tan kế hoạch phản công mùa khô 1965-1966 của địch. Trước khi kết thúc, Hội nghị Quân ủy Miền nhất trí phát động phong trào dám đánh và quyết thắng Mỹ với những khẩu hiệu đầy sức sống đã thành câu nói cửa miệng của quần chúng: Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt, bám thắt lưng Mỹ mà đánh, v.v...

        Không mấy chốc phong trào giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt ngụy" khởi đầu từ T4 (Đặc khu Sài Gòn - Gia Định) nhanh chóng phát triển thành cao trào rộng lớn toàn Miền không sức gì cản nổi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #22 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:26:23 PM »

        Nhiệm vụ nặng nề của chiến trường đã làm đồng chí Nguyễn Chí Thanh xuống sức. Đầu năm 1967, anh được BỘ Chính trị triệu tập ra Hà Nội bàn chiến lược chung của cả nước và kết hợp kiểm tra sức khỏe.

        Sau chiến thắng vang dội của quân và dân ta trong chiến dịch Gian-xơn Xi-ty của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ, đồng chí Nguyễn Chí Thanh điện vào Bộ chỉ huy Miền cho anh Hoàng Cầm và tôi mang tài liệu ra báo cáo, làm việc xong lại vào.

        Chúng tôi về tới Thủ đô Hà Nội giữa lúc Mỹ tăng cường chiến tranh phá hoại, không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc hàng ngày.

        Mặc dù công việc khẩn trương, đồng chí Nguyễn Chí Thanh vẫn dành thời gian cho chúng tôi gần gũi gia đình.

        Một ngày đầu tháng 7 năm 1967, đồng chí Nguyễn Chí Thanh gọi tôi và anh Cầm vào làm việc ở Tổng cục Chính trị. Anh báo kế hoạch trở về B2 và nói rõ thời gian cụ thể là ngày 7 tháng 7 năm 1967 anh sẽ đi trước với bác sĩ Thuận bằng đường riêng. Một tuần sau anh Cầm và tôi đi tiếp theo đường cũ của chúng tôi. Tối ngày 6 tháng 7 năm 1967, tôi và vợ tôi đến thăm anh và chị Cúc là vợ anh. Hai anh chị rất vui vẻ tiếp chúng tôi. Anh cho biết sức khỏe của anh rất tốt, không có vấn đề gì. Tôi cũng nghĩ như thế.

        Sáng ngày 7 tháng 7 ăm 1967, tôi vào Tổng cục Chính trị làm việc với anh Song Hào như đã hẹn. Tôi bước lên cầu thang thì thấy anh Hào đang từ trên gác vội vã đi xuống. Nhìn thấy tôi, anh nói ngay:

        - Anh Thanh phải cấp cứu rồi. Ta vào Viện quân y 108 ngay xem thế nào.

        Tôi giật thót người, đứng sững lại ít phút, rồi mới chạy vội ra xe. Khi qua nhà anh, thấy chị Cúc đang đứng thờ thẫn ở sân, tôi rẽ vào hỏi chị:

        - Tình hình của anh thế nào chị?

        Chị lắc đầu:

        - Nguy lắm. Tôi vừa ở dưới ấy về, các bác sĩ không muốn tôi ở luôn dưới đó. Anh cho tôi đi cùng với.

        Tôi đưa chị ra xe.

        Khi tới nơi, các đồng chí lãnh đạo và nhiều người khác đứng đông chật ở cửa buồng mổ. Bên trong chỉ có hội đồng bác sĩ đang làm việc. Không khí nặng nề quá. Tôi lách qua đám đông nhìn vào, thấy anh Thanh đang nằm trên bàn mổ để bơm ô-xy vào người.
        Tôi quay ra thì đồng chí Võ Nguyên Giáp vừa đến. Một bác sĩ đưa anh một áo choàng trắng. Anh vào một lúc lâu khi ra anh ngập ngừng nói với một số đồng chí đứng gần đó.

        - Anh em bác sĩ rất cố gắng, nhưng khó lắm rồi.

        Vừa lúc ấy, bác sĩ Thuận ra, len tới ôm lấy tôi nói trong nước mắt:

        - Chúng ta mất anh Thanh rồi!

        Lúc đó là 8 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 7 năm 1967.

        Bệnh nhồi máu cơ tim đã cướp mất đồng chí Nguyễn Chí Thanh của chúng ta, trong lúc sự nghiệp cách mạng và kháng chiến rất cần những nhà chiến lược xuất sắc toàn diện và những người lãnh đạo tài, đức toàn vẹn như anh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #23 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:27:35 PM »


MỘT LẦN GẶP ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH

Đại tướng LÊ VĂN DŨNG       

        Ngày 27 tháng 11 năm 1965, sau khi Trung đoàn 1 chúng tôi tiêu diệt gọn Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 ngụy tại làng 14, sở cao su Dầu Tiếng, Bến Cát, tỉnh Bình Dương, thì được lệnh rút quân về khu vực căn cứ Dương Minh Châu đóng quân ở hai bờ sông Sài Gòn. Tiểu đoàn 3 chúng tôi đứng chân ở bến Nha Thức trong một khu rừng già gần chân núi Cậu. Bến Nha Thức là bến vượt sông Sài Gòn của giao liên đưa đón cán bộ và bộ đội từ căn cứ Dương Minh Châu đến Chiến khu Đ và ngược lại. Hiện nay khu vực này nằm trong lòng hồ Dầu Tiếng. Bến Nha Thức nằm trong tầm pháo của địch ở Dầu Tiếng, Bến Cát Lai Khê, tỉnh Bình Dương và Dương Minh Châu thuộc tỉnh Tây Ninh.

        Đầu giờ chiều ngày 25 tháng 12 năm 1965, đại đội trưởng thông báo có thủ trưởng cấp trên đến thăm. Đại đội 12 chúng tôi tập trung ra một khu đất trống là hội trường dã chiến, có hai dãy ghế làm bằng những cây gỗ đường kính 8cm dài 3m được ken lại, mỗi ghế là bốn cây gỗ mỗi dãy là 15 hàng ghế, Ở giữa để khoảng trơng độ một mét đi lại, phía trên là một chiếc bàn cũng được ghép những cây gỗ nhỏ bằng ngón tay để đùng cho cán bộ mỗi khi lên lớp.

        Chúng tôi vừa tập hợp xong thì một đoàn cán bộ khoảng bảy, tám người, đi đầu là đồng chí Hoàng Thế Thiện - Phó chính ủy, kiêm Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 9 (chúng tôi biết đồng chí Hoàng Thế Thiện vì một vài lần đồng chí đến thăm đại đội). Đi sau đồng chí Phó chính ủy là một người dong dỏng cao, nước da ngăm đen, đôi mắt sâu, rất sáng. ông mặc bộ quần áo bà ba màu xanh Ô liu, đội mũ nan có trùm vải dù nguy trang, đi đôi dép râu. Đoàn không đi theo đường lớn dẫn vào đơn vị mà đi một lối mòn nhỏ vào thẳng đại đội chúng tôi. Đại đội 12 là một tập thể chiến đấu dũng cảm đã lập thành tích xuất sắc trong trận đánh ở làng 14 Dầu Tiếng, diệt và bắt được nhiều tù binh địch nên sư đoàn chọn đại đội 12 để đoàn đến thăm và kiểm tra các mặt. Đoàn đến thẳng đại đội, không qua tiểu đoàn, không qua trung đoàn. Các đồng chí đi đến chỗ đơn vị tập trung. Đồng chí đại đội trưởng chạy lại phía đồng chí Hoàng Thế Thiện. Đồng chí Hoàng Thế Thiện chỉ sang người mặc quần áo bà ba đã đứng tuổi. Đại đội trưởng hiểu ý liền quay sang người mặc áo bà ba: Báo cáo Thủ trưởng! Đơn vị đã tập trung đông đủ, kính mời Thủ trưởng nói chuyện!

        Người mặc áo bà ba liền bước lên phía chiếc bàn không có ghế ngồi và tự giới thiệu:

        - Tôi là Sáu Di, hôm nay thay mặt Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền đến thăm các đồng chí.

        Rồi đồng chí hỏi anh em chúng tôi một cách mộc mạc và chân thành:

        - Đồng chí nào tuổi từ hai mươi lăm trở xuống giơ tay?

         Hầu hết đại đội giơ tay.

        Chúng tôi tuổi đời mười chín đôi mươi, trừ cán bộ đại đội tập kết về tuổi lớn hơn.

        Đồng chí Sáu Di nói:

        - Như thế là đại đội các đồng chí đều là thanh niên cả. Đồng chí nào quê ở đồng bằng sông Cửu Long giơ tay.

        Hai phần ba đại đội giơ tay.

        Đồng chí hỏi tiếp:

        - Các đồng chí ai quê ở Đông Nam Bộ giơ tay.

        Một số cánh tay giơ lên.

        Đồng chí Sáu Di nói rất giản dị:

        - Như vậy đại đội các đồng chí chủ yếu là anh em ở Nam Bộ.

        Sau đó hỏi tiếp:

        - Các đồng chí có bao nhiêu người có vợ?

        Một vài cánh tay giơ lên.

        - Thế đồng chí nào có vợ và đã có con?

        Lại một hai đồng chí giơ tay.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #24 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:28:13 PM »

        Đồng chí nói:

        - Số có gia đình và có con cũng ít.

        Đồng chí Sáu Di hỏi ba điều về tuổi tác, về địa phương và hoàn cảnh gia đình của cán bộ và chiến sĩ đại đội. Sau đó đồng chí đột ngột hỏi:

         - Các đồng chí học được những vấn đề gì về quân sự, chính trị?

        Anh em giơ tay, đồng chí chỉ định từng người, chứ chúng tôi không được trả lời tập thể. Có khi đồng chí chỉ người ngồi hàng đầu, có khi đồng chí chỉ người ngồi ở giữa và có khi đồng chí chỉ người ngồi hàng cuối. Đồng chí Sữa, người cùng thôn với tôi cũng được hỏi. Đồng chí Sữa trả lời:

        - Thưa Thủ trưởng, chính trị chúng em học được 10 bài cách mạng Việt Nam.

        Đồng chí Sáu Di lại hỏi:

        - Bài một đồng chí học là gì?

        - Thưa Thủ trưởng, bài một về con người và đất nước Việt Nam!

        - Thế đồng chí hiểu thế nào?

        - Thưa Thủ trưởng, đất nước Việt Nam ta giàu và đẹp, dân tộc Việt Nam ta cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn và căm thù giặc ngoại xâm sâu sắc.

        Đồng chí Sáu Di chỉ tôi đứng lên rồi hỏi:

        - Thế học kỹ thuật, thì các đồng chí học những gì?

        Tôi trả lời:

        - Thưa Thủ trưởng, chúng em học ngữ đại kỹ thuật.

        - Ngũ đại kỹ thuật là những môn gì?

        - Thưa Thủ trưởng, ngũ đại kỹ thuật là bắn súng, đâm lê ném lựu đạn, công sự ngụy trang và gói buộc thuốc nổ.

        Tôi nói xong, đồng chí khen: Tốt! Và đồng chí hỏi tất cả mọi người:

        - Các đồng chí học đất nước Việt Nam rồi, bây giờ tôi hỏi những con sông lớn từ Bắc vào Nam là nhưng con sông nào?

        Nhiều cánh tay giơ lên, đồng chí chỉ một người đứng lên nói:

        - Thưa Thủ trưởng, Việt Nam ta nếu tính từ Bắc vào Nam thì có những con sông lớn: sông Hồng, sông Mã, sông Lam, sông Gianh, sông Bến Hải, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Đà Rằng, sông Đồng Nai, sông Bé và hệ thống sông Cửu Long ạ.

        Đồng chí khen anh em trả lời tốt và có hệ thống. Rồi đồng chí giải thích:

        - Sông lớn là sông không những có chiều rộng mà phải có chiều dài, chảy qua nhiều nước, nhiều tỉnh, như sông Hồng, sông Cửu Long. Các đồng chí thấy không, gọi là sông Bé mà đâu có bé, nó chảy qua nhiều tỉnh rồi nhập vào sông Đồng Nai trước khi đổ ra biển phải không?

        Khi đồng chí Sáu Di hỏi bờ biển Việt Nam dài bao nhiêu ki-lô-mét, thì nhiều người trả lời trật. Đồng chí liền giải thích, bờ biển của Việt Nam chạy dài từ Móng Cái đến Hà Tiên dài hơn 3.200 cây số.

        - Thế các đồng chí đã học lịch sử Việt Nam mình chưa? Đồng chí nào cho biết vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất?

        Nhiều người tranh nhau trả lời. Có người nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, đồng chí xua tay:

        - Tôi hỏi người anh hùng dân tộc nào trong lịch sử chống ngoại xâm cơ mà?

        Một vài người nói: Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo Đồng chí nói:

        - Đúng, các vị anh hùng dân tộc đó cũng rất đặc biệt, nhưng tôi muốn hỏi các đồng chí anh hùng dân tộc nào vừa đặc biệt lại vừa độc đáo, tiêu biểu cho các thời đại?

        Tôi mạnh dạn đứng lên nói:

        - Thưa Thủ trưởng, đó là Quang Trung có phải không ạ?

        - Vì sao?

        - Quang Trung từ Tây Sơn, Bình Định hành quân thần tốc ra Thăng Long, đại phá 20 vạn quân Thanh vào đúng dịp Tết Nguyên Đán ạ.

        Nghe tôi nói xong, đồng chí gật đầu: "Đúng! Đúng! Đúng!". Rồi đồng chí giải thích:

        - Quang Trung đưa quân tới Tam Điệp ngày 20 tháng Chạp. Biết quân Thanh dự định trong ngày 6 tháIlg Giêng âm lịch sẽ từ Thăng Long xuất quân, ông hạ lệnh cho quân sĩ ăn Tết trước và tuyên bố. "Ngày mùng 7 sẽ vào Thăng Long mở tiệc ăn Tết khai hạ!'. Mờ sáng ngày mùng 5 nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm đồn Ngọc Hồi - một trong những đồn lũy quan trọng nhất của quân Thanh được phòng thủ kiên cố. Quang Trung cho hơn 100 voi tiến trước, quân Thanh không địch nổi, bỏ đồn xéo lên nhau mà chạy. Chiến thắng lịch sử đại phá 20 vạn quân Thanh diễn ra cực kỳ nhanh chóng và mãnh liệt. Chiến thắng vĩ đại ấy được xây dựng trên tinh thần chiến đấu quả cảm của quân sĩ, nhiệt tình tham gia ủng hộ của nhân dân và thiên tài quân sự xuất sắc của Quang Trung.

        Mọi người chú ý, lắng nghe những lời đồng chí giải thích. Nói rồi, đồng chí quay sang nói như tâm sự: "Các đồng chí ăn cơm có no không?", "Có thiếu muối không?". Anh em thưa, có lúc cũng khó khăn do địch khống chế các cửa khẩu, tiếp tế không kịp, nhưng thường xuyên ăn đủ no.

        Đồng chí bảo:

        - Chiến trường các đồ gần vựa thóc lớn là đồng bằng sông Cửu Long cung cấp lương thực cho chiến trường Nam Bộ, kết hợp chi viện ở miền Bắc vào. Nhưng miền Bắc chủ yếu chi viện súng đạn chứ lương thực chưa nhiều đâu Đôi khi vận chuyển không kịp là do địch ngăn chặn chứ lương thực mình không đến nỗi thiếu. Mình vẫn đủ gạo cung cấp cho bộ đội. Còn muối, bờ biển mình dài, đồng chí nào kể cho tôi nghe một vài đồng muối ở Nam Bộ?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #25 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:28:50 PM »

        Lúc đó anh em chúng tôi chỉ biết sơ sơ mấy đồng muối Ở Phan Thiết, Ba Tri, Bình Đại kéo dài đến chân núi Lớn, Bạc Liêu.

        Đồng chí nói:

        - Như vậy, muối mình không thiếu, gạo mình không thiếu phải không?

        Bất ngờ đồng chí hỏi:

        - Các đồng chí có lãng phí không?

        Mấy anh em chúng tôi nhanh nhảu:

        - Báo cáo Thủ trưởng chúng em cũng rất tiết kiệm vì nhân dân mình còn nghèo.

        - Các đồng chí nói chỗ này là chưa đúng. Tôi đi đường thấy có nơi bộ đội vẫn bỏ lại cơm vắt, có nơi muối rơi vãi dọc đường. Nhân dân nlình còn nghèo mà các đồng chí lãng phí là có lỗi với dân.

        Đồng chí hỏi đến mặc:

        - Ai có hai bộ quần áo giơ tay?

        Đại bộ phận có từ hai bộ trở lên, có người hai bộ nhưng có bộ rách còn may vá lại được. Đồng chí nói:

        - Hiện nay đại bộ phận các đồng chí là hai bộ, vải của mình thô, chiến trường thì ẩm ướt cho nên các đồng chí phải biết giữ gìn làm sao có đủ mặc, đủ ấm, có võng, màn chống muỗi.

        Đồng chí Sáu Dì hỏi tiếp:

        - Sau mỗi trận đánh các đồng chí về huấn luyện được bao nhiêu ngày?

        Tôi đứng lên trả lời:

        - Sau mỗi trận đánh có từ bảy đến mười ngày luyện quân rút kinh nghiệm, sau đó lại ra chiến trường đánh tiếp Kết thúc mỗi mùa chiến dịch thì đơn vị rút về củng cố, xây dựng huấn luyện khoảng hai tháng lại bắt đầu một chiến dịch mới ạ.

        - Sau một trận đánh, sau một chiến dịch phải luyện quân, rút kinh nghiệm bình chỉ huy, bình chiến đấu là tốt.

        Đồng chí khen những việc làm đó. Dừng một lát, đồng chí Sáu Di nói với đồng chí Hoàng Thế Thiện cho gọi hai người trẻ nhất trung đoàn là Nguyễn Văn Thắng (15 tuổi) con của anh Ba Hà, chính trị viên phó tiểu đoàn và Nguyễn Văn Trừ (15 tuổi), chiến đấu rất dũng cảm có huân chương. Khi Thắng và Trừ đến, đồng chí Sáu Di ân cần bắt tay, hỏi thăm sức khỏe, tình hình chiến đấu. Nhưng tôi nhớ nhất đồng chí Sáu Di hỏi Thắng:

        - Mình có đánh thắng Mỹ không?

        - Thưa Thủ trưởng, mình đánh thắng ạ!

        - Tại sao? Cậu giải thích cho mình nghe.

        - Thưa Thủ trưởng, em đi tải gạo thấy bộ đội mình nhiều lắm, súng lớn ba bốn người khiêng, nhất định mình thắng Mỹ.

         Lúc này anh Ba Hà và một số cán bộ trung đoàn đã có mặt. Quay sang Nguyễn Văn Trừ, đồng chí hỏi:

        - Theo cậu, mình có đánh thắng được Mỹ không?

        - Dạ, thưa Thủ trưởng, thắng ạ.

        - Vì sao mình thắng Mỹ, cậu nói tôi nghe coi?

        - Dạ, thưa Thủ trưởng, chiến tranh của mình thuộc chiến tranh chính nghĩa được toàn dân ủng hộ và tham gia kháng chiến. Hai, chiến tranh Việt Nam là chính nghĩa nên được nhân dân thế giới ủng hộ thì mình nhất định thắng, Mỹ nhất định thua.

        Đồng chí Sáu Di quay sang anh Ba Hà nói:

        - Ông Hà thấy không, lính "Triều đình" Ở tiểu đoàn bộ đâu được huấn luyện, đâu được giáo dục đến nơi, đến chốn nên trình độ chính trị còn non. Cậu Trừ là lính chiến đấu, được học tập rất kỹ nên trình độ khác hẳn. Ta thắng Mỹ không phải nhiều súng đạn, cuộc chiến tranh của ta chính nghĩa, cái đó quyết định để dân tộc Việt Nam mình thắng giặc Mỹ xâm lược.

        Cuối buổi nói chuyện đồng chí Sáu Di kêu hai chiến sĩ trẻ đứng hai bên chụp ảnh kỷ niệm.

        Tôi xin nói thêm, sau đó vài năm anh Trừ hy sinh trong chiến đấu, anh Thắng chuyển về đơn vị biệt động Sài Gòn, chiến đấu rất dũng cảm và đã hy sinh oanh liệt.

        Cuối cùng đồng chí Sáu Di nói, đại ý:

        - Hôm nay thay mặt Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền, tôi đến thăm đại đội 12 để tìm hiểu đời sống sinh hoạt, hoàn cảnh gia đình, tình hình học tập quân sự, chính trị của cán bộ, chiến sĩ đại đội. Tôi rất hài lòng về tinh thần hăng say học tập, ý chí vươn lên, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của các đồng chí. Tôi hoan nghênh thành tích của đại đội 12, mong rằng các đồng chí tiếp tục phát huy truyền thống, lập nhiều chiến công mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho.

        Mấy ngày sau, chúng tôi được đại đội trưởng thông báo đồng chí Sáu Di chính là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, hiện tại là Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam.

        Tôi không ngờ một vị Đại tướng, một vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, của quân đội mà ra tận chiến trường gặp gỡ chiến  sĩ như vậy Vị trí đóng quân của đại đội tôi nằm trong tầm  pháo của địch, chúng có thể bắn đến bất cứ lúc nào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #26 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:30:08 PM »

         Sau này, khi trưởng thành tôi có điều kiện tìm  hiểu, nghiên cứu những bài viết, bài nói của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tôi càng cảm phục và mến mộ đồng chí. Trước khi chạm trán với Mỹ, Đại tướng có chủ trương tất cả các đơn vị bộ đội chủ lực đưa trinh sát, đơn vị nào không có trinh sát thì đưa một bộ phận bộ đội xuống các địa phương học dân quân, du kích, xem họ đánh Mỹ thế nào để rút kinh nghiệm mà đánh. Khi Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam nhiều người băn khoăn: Liệu ta có đánh được Mỹ không và đánh bằng cách nào ? Đại tướng Nguyễn Chí Thanh giải thích thắc mắc ấy bằng câu nói rất đơn giản: Chưa biết đánh Mỹ thì hãy đánh Mỹ đi, cứ đánh rồi khắc tìm ra cách đánh.

        Nghĩ lại lời của Đại tướng tôi thấy không có gì chúng ta không biết mà chúng ta chỉ chưa biết mà thôi. (Lời nói đã trở thành phương châm hành động của tôi: Cứ làm rồi sẽ biết cách làm). Câu nói của Đại tướng không chỉ đúng trong đánh Mỹ mà trong cuộc đời mình cũng thế. Cái gì cứ làm rồi sẽ làm được. Đại tướng còn nói: Chúng ta biết đánh Mỹ, thì chúng ta khắc biết cách thắng Mỹ. Muốn hạn chế phi pháo của Mỹ, đồng chí chỉ đạo cách đánh cho Quân giải phóng chúng tôi: Bám thắt lưng Mỹ mà đánh.

        Đánh giá về địch năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho rằng: Việc Mỹ ồ ạt đưa vào miền Nam gần 20 vạn quân viễn chinh trong năm 1965, có nghĩa là Mỹ đã phải thú nhận là 50 vạn quân nguy không còn có thể đương đầu với cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam nước ta. Như thế cũng có nghĩa là chiến tranh nhân dân ở miền Nam nước ta đã thắng "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, trong giai đoạn mà chúng lấy quân ngụy làm chỗ dựa chủ yếu.

        Từ câu hỏi: Làm thế nào để quân và dân miền Nam đánh thắng mấy chục vạn quân Mỹ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phân tích một cách sâu sắc và khẳng định chắc chắn rằng ta hoàn toàn có thể thắng Mỹ, với những lý do :

        Một là, quân Mỹ được trang bị hiện đại, bảo đảm hậu cần của chúng rất tốt, nhưng qua thử lửa với Quân giải phóng ở Vạn Tường, Plây Me, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Đất Cuốc Chúng ta thấy rõ quân Mỹ hoàn toàn ở thế bị động, không những chúng không thể tiến công mà trái lại đang bị ta tiến công liên tục. Vì vậy, quân Mỹ đã thua đậm một số trận đầu ra quân là điều tất nhiên, không có gì khó hiểu cả.

        Hai là, quân Mỹ là quân đội có nhiều binh chủng hợp thành, có nhiều phương tiện cơ động. Nhưng vì tinh thần chúng kém, vì chiến tranh nhân dân và các lực lượng vũ trang của ta có tinh thần tiến công mạnh, có trình độ chỉ huy khá hơn Mỹ, có nghệ thuật quân sự riêng biệt, có sự chỉ huy chiến lược, chiến thuật chủ động sáng tạo và độc đáo hơn Mỹ. Trên một chiến trường như miền Nam nước ta, với địa hình ấy, thì việc huấn luyện, trang bị, cách đánh của Mỹ theo các điều lệnh tác chiến và huấn luyện của chúng chẳng khác nào "lấy râu ông nọ cắm vào cằm bà kial', do đó lục quân Mỹ không thể thoát khỏi bị động. Mặc dù lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam không coi thường quân địch, nhưng nhất định quân xâm lược Mỹ sẽ bị tiêu hao và tiêu diệt.

        Ba là, bộ chỉ huy quân đội Mỹ đang vướng một loạt vấn đề chưa và không thể ổn định, như chiến lược đánh nhanh hay đánh lâu dài? Chiến thuật tức là cách đánh thế nào là phù hợp? Do đó trên cả một loạt vấn đề về tổ chức, trang bị, huấn luyện, các tướng Mỹ còn đang phân vân về chiến thuật thực tế chứng tỏ không những về chính trị và chiến lược mà cả về chiến thuật Mỹ cũng đang khủng hoảng. Vì vậy, dù Mỹ có tăng thêm bao nhiêu quân mà không giải quyết được chiến lược và chiến thuật thì chúng cũng không thể nào tránh khỏi thất bại.

        Cuối cùng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh khẳng định: Chỉ trong vòng chín tháng, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 15 nghìn quân Mỹ, trong đó có hàng chục đại đội, mấy tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt. Điều đó chứng tỏ khả năng của chiến tranh nhân dân, của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam có đủ sức đánh và đánh thắng quân Mỹ. Những phân tích và nhận định đó đã tạo thêm lòng tin cho quân và dân miền Nam tiến lên, kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

        Trong bài "Lửa chiến tranh nhân dân đốt cháy mùa khô giặc Mỹ", Đại tướng Nguyễn Chí Thanh lấy bút danh Trường Sơn, có một câu tôi rất tâm đắc: "Không có lực lượng cơ động nào nhanh hơn lực lượng tại chỗ". Quân tại chỗ là nền của chiến tranh nhân dân. Quân Mỹ cơ động bằng trực thăng, bằng cơ giới, xe tăng thiết giáp nhưng cũng không thể nhanh hơn lực lượng tại chỗ đã cài sẵn thế trận. Trong chiến dịch Gian-xơn Xi-ty, Bộ Chỉ huy Miền, cơ quan Bộ Chỉ huy Miền cũng tổ chức du kích, cả chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều đánh kiểu du kích; thì đúng là thiên la địa võng đối với quân Mỹ, làm cho chúng không kịp trở tay và chịu thất bại thảm hại.

        Chỉ trong một thời gian ngắn trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên chiến trường miền Nam, với một tầm nhìn chiến lược và với một phương pháp tư duy khoa học, chính xác, luôn luôn bám sát thực tiễn, gắn chặt giữa thực tiễn với lý luận, dùng lý luận soi sáng thực tiễn, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đánh giá kịp thời và chính xác về địch trong những năm từ năm 1965 đến nàm 1967, đã góp phần rất quan trọng để Bộ Chính trị và Bác Hồ hạ quyết tâm trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phát triển lên một bước mới, chuẩn bị cho việc tiến lên giành thắng lợi quyết định.

        Hình ảnh đồng chí Nguyễn Chí Thanh - một vị Đại tướng vô cùng giản dị, vô cùng thân thiết, những kỷ niệm đẹp đẽ, sâu sắc đầy tình người, tình đồng chí, những cử chỉ ân cần, săn sóc, những lời động viên, khuyến khích, chỉ dẫn, giáo dục của đồng chí luôn in đậm trong lòng cán bộ, chiến sĩ quân đội ta. Với tôi, dù chỉ một lần được gặp Đại tướng, nhưng lần ấy là một kỷ niệm sâu sắc, mãi mãi không bao giờ mờ phai trong ký ức cuộc đời.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #27 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:31:49 PM »

       
NHỚ VÀ NGHĨ VỀ NAM BỘ - "B2"

TƯ TIÊN       

        Thời niên thiếu tôi đi học trường làng. Học sách giáo khoa tôi chỉ biết: Nước Việt Nam có hình cong như chữ "S", kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, được chia thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Tôi lại được nghe bố mẹ kể rằng: Ở làng tôi có một số người nhà nghèo, ham cờ bạc, khi mang công mắc nợ cùng đường phải ký "Công-tờ-ra" với Sở Mộ phu đi Nam Kỳ. Chuyện đi Nam Kỳ làm phu cạo mủ cao su cho Tây ghê rợn lắm !... Rừng thiêng nước độc lao dịch cực hình, đã đi thì khó trở về. ông nội tôi là một trong số những người như vậy. Đến nay con cháu chỉ lấy ngày ông đi "mồng 8 tháng Giêng" để cúng giỗ. Ấn tượng đầu tiên của tôi về xứ Nam Kỳ xa xưa là như vậy...

        Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta không gọi là Nam Kỳ nữa. Chữ "Kỳ" được đổi thành chữ "Bộ" để phân biệt thời nô lệ mất nước với thời đã giành lại được độc lập tự do (tôi tự nghĩ như vậy). Ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi lúc này là ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp núp bóng quân Anh, Ấn trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

        Với khí thế sục sôi, thanh niên tình nguyện Nam tiến để hợp lực cùng đồng bào chiến sĩ Nam Bộ chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Phong trào tình nguyện Nam tiến có tới hàng triệu con người. Không thể chia phần cho tất cả, nên cũng có kẻ ở người đi... Tôi là người không được may mắn như nhiều bạn khác nên phải ở lại. Chẳng bao lâu nữa, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chiến tranh lại diễn ra ngay trên đất Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội - Thủ đô của cả nước. Thế là tất cả mọi người đều xung trận...

        Cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chín năm sau giành được thắng lợi. Với Hiệp nghị Giơ-ne-vơ tạm thời phân chia hai miền, tập kết quân đội để chờ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Quân dân miền Bắc được đón tiếp các cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc. Từ lâu nghĩ về miền Trung, miền Nam của Tổ quốc tôi chỉ hình dung trong cái vòng cong của hình chữ "S"; nay được tay bắt mặt mừng với những con người đại diện cho đồng bào chiến sĩ miền Trung, miền Nam ra tập kết, xúc động biết bao khiến tôi không cầm nổi nước mắt.

        Khi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bội ước phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam; miền Bắc lại có phong trào Nam tiến lần thứ hai. Lần này tôi được vào tham gia chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên "B3". Tôi vẫn chưa được đến với đồng bào chiến sĩ Nam Bộ "B2". Tôi ước mơ có dịp đi đến tận cùng đất nước để tận mắt nhìn thấy mũi Cà Mau, mảnh đất thiêng liêng mà mình đã từng ấp ủ trong tim từ thời niên thiếu...

        Bị thất bại thảm hại sau 20 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai buộc ký Hiệp định Pa-ri. Lúc này tôi được cấp trên giao nhiệm vụ dẫn đoàn cán bộ vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ - "B2". Mong ước của tôi đã được toại nguyện. Tôi cùng anh em hăm hở lên đường. ước gì lúc này mình biến thành mũi tên để bay nhanh đến đích. Đang phấn chấn trong lòng, bỗng nhiên có chuyện đột xuất. Mẹ tôi bất ngờ lâm bệnh nặng hôn mê bất tỉnh. Lòng tôi lại rối như tơ vò. Theo kế hoạch, ngày mai đã lên đường. Tôi phụ trách, nắm toàn bộ kế hoạch công tác của ngành trong giai đoạn mới và kế hoạch dẫn đưa đoàn cán bộ hành quân miền Nam tiến. Người thay thế tức thời lúc này không dễ gì chuẩn bị kịp. Trước tình hình đó, tổ chức cũng hơi khó xử. Tôi nói: Nhiệm vụ cách mạng dù hoàn cảnh nào cũng có lúc thử thách hy sinh. Lúc này Tổ quốc là trên hết? Tôi có thể tự thu xếp công việc gia đình để thực hiện đúng kế hoạch đã định. Tổ chức cũng thấy yên lòng với quyết tâm của tôi. Trước tình hình nước sôi lửa bỏng của đất nước, anh em chúng tôi ngồi trao đổi tâm tình với nhau bên giường mẹ đang hấp hối. Tất cả đều nhất trí, động viên tôi lên đường và hứa hẹn: Việc chăm lo cho mẹ ở nhà chúng em xin gánh vác chu toàn. Mong anh yên tâm lên đường thuận buồm xuôi gió. Tôi chào mẹ lần cuối cùng. Mẹ ơi! Con vì nghĩa nặng tình sâu với dân với nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam nên phải xa mẹ vào lúc này, mong mẹ hiểu và tha thứ cho con! Mẹ tôi không nói được nữa, nhưng nước mắt cứ trào ra. Anh em chúng tôi mọi người đều khóc, hòa chung với dòng nước mắt của mẹ. Thế là tôi đã vượt qua được một thử thách đau lòng để lên đường. Sau này tôi nhận được điện báo tin: Mẹ đã qua đời sau khi tôi ra đi được một tuần...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #28 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:32:34 PM »


        Trải qua gần ba tháng hành quân bộ, từ Đông Trường Sơn vượt qua Tây Trường Sơn, rồi từ Tây Trường Sơn lại trở về Đông Trường Sơn, cuối cùng cả đoàn đã vào tới đích. Đặt chân lên đất Nam Bộ "B2", tôi thấy nhiều điều mới lạ. Từ cảnh vật đến con người, sao nó cứ vời vợi, bâng khuâng... Tôi nhớ đến lời Bác Hồ: "Miền Nam đi trước về saư' - "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi"... Bác Hồ vởi miền Nam cũng như cả nước với miền Nam... Sông có thể cạn, đá có thể mòn... Song không một sức mạnh nào có thể ngăn cách được tình cảm ruột thịt Bắc - Nam...

        Đi sâu vào đất Lộc Ninh, trước mặt bỗng xuất hiện một rừng cây... Anh em reo lên: ôi! Rừng cao su đây rồi... Những hàng cây thẳng tắp, giữa mùa khô lá rụng cành trơ. Những dải đất ba-dan đỏ ngầu phủ kín cỏ cây ven đường giống như một lớp sơn màu gạch. Mắc võng nằm nghỉ dưới gốc cây sao su, tôi chợt nhớ lời bố mẹ nói ngày nào, mà hình dung thấy sự lam lũ vất vả thời xa xưa của những người phu cạo mủ. Nghĩ đến ông nội, tôi bùi ngùi thương cảm: ông ơi? Người ta đã vùi lấp ông ở nơi nào? Để cháu tìm đến với ông cho đỡ cô quạnh? Thầm nghĩ trong óc mà nước mắt cứ tuôn trào...

        Buổi ra mắt đầu tiên với các đồng chí đồng đội ở Nam Bộ "B2", anh phụ trách buổi tiếp đón hỏi tôi: Anh Tiên là anh thứ mấy trong gia đình? Tôi thưa: Nếu chỉ tính con trai thì tôi là trưởng, dưởi tôi còn bốn chú em nữa. Tính cả con gái thì trên tôi còn hai người chị.

        Anh phụ trách nói: Theo tính cách của Nam Bộ thì anh có chị Hai, chị Ba... Còn anh là thứ Tư. Nam Bộ không có "trưởng" hay "cả" và không phân biệt trai hay gái, người con đầu là thứ hai... Xin được giới thiệu anh là anh "Tư". Đấy là thủ tục nhập tịch của tôi khi tới chiến trường Nam Bộ "B2" và từ đó tôi được anh em đồng chí đồng đội gọi là anh "Tư", đôi khi để tránh trùng lặp thứ tự với các anh em khác cũng là thứ "Tư" thì anh em cũng dùng cả "thứ" và "tên" gọi tôi là anh "Tư Tiên". Được mang cái tên anh "Tư" hay "Tư Tiên" tôi cảm thấy mình gắn bó với Nam Bộ "B2" như anh em trong nhà. Tôi tự thấy yêu mình hơn Từ đó, mỗi khi viết văn, viết báo, tôi cũng lấy bút danh là "Tư Tiên" để giữ lấy kỷ niệm chiến trường thắm đậm tình thương nhớ.

        Những ngày công tác ở chiến trường Nam Bộ "B2", khi thâm nhập vào các xóm, ấp, ăn ở trong nhân dân, hoặc khi xuống các đơn vị chung sống cùng đồng chí đồng đội, trong giao tiếp ứng xử nghe những tiếng xưng hô: cụ Hai, ông Hai, bà Hai, bác Hai, dì Hai, cô Hai, cậu Hai, anh Hai, cô út cậu út, thật là đầm ấm như con một mẹ, anh em một nhà, chung sống với nhau thuận hòa, ưu ái, chia ngọt sẻ bùi, sống chết bên nhau... Tôi rất ngưỡng mộ cách thức biểu hiện tình cảm của đồng bào, đồng chí Nam Bộ "B2"...  Sao nó hiền hòa, gợi thương, gợi nhớ đến thế... Khi nóng nó có thể đem lại luồng gió mát cho con người, khi lạnh nó lại sưởi ấm lòng người, khiến người ta có thể dễ quên đi nỗi buồn phiền, để tâm hồn mình thanh thản... Người ta dễ xua tan đi nỗi tức giận trong lòng để đến với nhau bằng tình vị tha độ lượng, như cây cao bóng cả che mát cho đời.

        Biết ơn tổ tiên ông cha ta, đã mang dòng huyết thống của cha Lạc Long Quân với mẹ âu Cơ, sinh con cùng một bọc, chia nhau xuống biển, lên non để xây dựng nên cơ đồ Đất Việt có hình cong như chữ "S" biết ơn tư tưởng Đại đoàn kêt của Bác Hồ kính yêu, để lớp lớp cháu con ngày nay có được nếp sống "đẹp" tuyệt trần: kết hợp hài hòa giữa cá nhân với cộng đồng, trong cái "nôi" của mẹ bọc trăm con. Không thấy có sự phân chia cách biệt thái quá nào giữa những người con với gia đình, giữa họ hàng với làng nước. Đó là bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam cần được bảo tồn và phát huy, để tôn cao hơn nữa lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam trước nhân loại.

Tháng 11 năm 1998         
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #29 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:34:03 PM »

       
TÔI TRỞ VỀ NAM

TRƯƠNG THÀNH HỶ       

        Năm 1954 tập kết ra Bắc, chúng tôi được tập trung về Tổng cục Chính trị. Quân đội chưa có ngành điện ảnh, nên lần lượt anh em điện ảnh trong Nam ra chuyển về xưởng phim thuộc Bộ Văn hóa. Chỉ còn là một nhóm nhỏ gồm Vũ Ba, Phạm Tranh, Việt Hiền, Đoàn Tý và tôi ở lại quân đội công tác cho Bảo tàng Quân đội, các báo Hình ảnh quân đội và Quân đội nhân dân.

        Năm năm sau, năm 1959, quân đội mới thành lập xưởng phim và tôi được trở về công tác ngành quay phim, nghề cũ của tôi. Ban giám đốc Xưởng phim phân công quay phim tư liệu. Phim tư liệu nhằm vào những đề tài còn bí mật chưa được đưa ra công khai, đòi hỏi người quay phim có phẩm chất, đồng thời biết giữ bí mật. Những anh em còn trẻ không mấy gì thích loại đề tài này.

        Thế là tôi lần lượt đi Lào hết đợt này đến đợt khác. Khi thì đi phụ quay cho anh Như Ái, về sau tôi đi độc lập. Bộ đội Việt - Lào giải phóng Cánh Đồng Chum, địch núng thế, ta phát huy thắng lợi giải phóng tỉnh Văng Viêng. Tôi được phép nhận về nhửng chiến lợi phẩm thuộc ngành chuyên môn như máy chiếu và phim 16mm.

        Từ năm 1961, Sư đoàn 338 trở thành hậu cứ huấn luyện, tập kết và tổ chức đưa anh em trở về miền Nam. Địch gọi đây là căn cứ "biệt kích 338". Xưởng phim Quân đội tổ chức một đoàn làm phim về các hoạt động của sư đoàn này, gồm anh Trần Việt - đạo diễn Trưởng đoàn, Phùng Đệ và tôi quay phim, đồng chí Tấn lái xe. Làm phim này quả thật không thú vị gì. Đây là hậu phương lớn lo người, lo của cho tiền tuyến lớn, chuyện quốc gia đại sự bí mật chết người. Từ quay phim, tráng phim đến thành phẩm đều có bảo vệ đi kèm từng công đoạn một. Hết đoàn này tập trung huấn luyện lên đường về Nam lại đến đoàn khác. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều đến thăm đoàn, từ bác Tôn Đức Thắng, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Phạm Hùng.

        Do nhu cầu công tác, đồng chí Trần Việt được rút về nhận phim khác. Còn lại tôi, Phùng Đệ và Tấn lái xe phải lẽo đẽo theo hoài. Tự nhiên, dù không muốn, trong con người tôi vẫn tích lũy quá nhiều "bí mật quốc gia", cứ đà này thì còn lâu mới có điều kiện về Nam!

        Tháng 10 năm 1962, nhân kỷ niệm 45 năm Cách mạng tháng Mười Nga, Liên Xô gửi tặng Hải quân nhân dân Việt Nam một đội hải thuyền. Tư liệu đặc biệt này lại đến tay anh Bằng và tôi. Nhưng đây cũng là duyên may cho tôi khi được bố trí đi trên chiếc hải thuyền chiến lợi phẩm do dân quân du kích miền Nam bắt từ tay giặc Pháp và được gặp Trung tướng Trần Văn Trà. Tôi đã nhiều lần hân hạnh gặp và thu hình ảnh Trung tướng tại Sư đoàn 338, khi đồng chí đến thăm và tiễn đưa các đoàn quân bí mật trở về Nam. Chưa kịp chào hỏi thì đồng chí đã hỏi ngay:

        - Xưởng phim Quân đội đã cử đội quay nào vào Nam chưa?

        - Thưa đồng chí, Xưởng phim đã chọn 5 đồng chí người miền Nam đưa đi đào tạo và đã lên đường cùng với bên dân sự do anh Hiền Liên (Cao Thành Nhơn) và Trần Nhu, căn cứ vào thời gian xuất phát thì nay đã đến.

        - Riêng đồng chí Hỷ, đồng chí có muốn đi không?

        Câu hỏi trúng ngay "tim đen" của tôi rồi, tôi tranh thủ dịp may hiếm có, khi tàu chạy trên vịnh Hạ Long đã đề đạt với Trung tướng một số vấn đề về công tác tổ chức điện ảnh cho Quân giải phóng miền Nam và nhờ đồng chí có ý kiến với Tổng cục Chính trị để tôi được đi mà không ràng buộc vì tư liệu quốc gia.

        Sau chuyến đi hải quân về ít lâu, một hôm, Chi ủy và Ban giám đốc Xưởng mời tôi lên. Bước vào phòng, tôi đã thấy các đồng chí ngồi đầy đủ cả. Đồng chí Bí thư phổ biến cho đồng chí Trần Anh Trà và tôi: một người về Quân khu 5, một người về Nam Bộ. Tôi đã đoán trước nội dung buổi họp nên không có gì ngạc nhiên.

        Thế là công tác ở Xưởng phim Quân đội chỉ được ba năm, tôi đã âm thầm rời xưởng không một lời chào hỏi tiễn đưa với những người đáng bậc thầy, bậe đàn anh, có người ít tuổi hơn nhưng tài năng sắc sảo tôi thường lưu ý học tập. Sau khi chiến tranh kết thúc, không bao giờ tôi gặp lại anh Bằng vì anh đã hy sinh trên chiến trường Quảng Trị năm 1972.

        Những năm tháng tuy ngắn ngủi ở Xưởng phim Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng thắm thiết tình đồng chí và thật quý giá cho trình độ nghề nghiệp của tôi. Số nhà 17 Lý Nam Đế, Xưởng phim Quân đội nơi tôi và anh em phát triển nghề nghiệp, và cũng chính là cái nôi cho Xưởng phim Quân giải phóng B2 mà tôi phụ trách sau này.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM