Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Chín, 2021, 12:42:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước  (Đọc 78387 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #80 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2016, 10:00:34 pm »


CHƯƠNG IV
CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC VÀO NAM

Có được thời cơ, có được nhiều phương cách đánh địch, nhưng ra quân như thế nào, từ căn cứ Chí Linh - Lam Sơn xuất phát thì đánh vào đâu trước, để chắc thắng, mở đường cho những thắng lợi sau. Xác định đúng hướng chiến lược để ra quân là một việc rất quan trọng, quyết định sự phát triển của phong trào trong giai đoạn tới, các lãnh tụ nghĩa quân không thể không cân nhắc, nghiên cứu thận trọng và trao đổi rộng rãi với các tướng lĩnh.

Đem mấy nghìn nghĩa quân ra bày binh bố trận, dàn thành trận địa đánh với đại quân của Phương Chính đương đóng án ngữ gần căn cứ Chí Linh - Lam Sơn, thì phần thắng địch không thể bảo đảm. Nếu chỉ đánh tập kích thì lực lượng nhỏ của nghĩa quân không thể đẩy lùi được đại quân của Phương Chính, và kế hoạch ra quân, rời khỏi căn cứ địa không thể thực hiện được. Ví thử, bằng cách nào đó, ra khỏi được căn cứ địa, thì tiến quân theo phương hướng nào, đánh vào đâu để chắc thắng. Đem quân tiến đánh Tây Đô, nơi tập trung lực lượng lớn của địch thì rất khó thắng. Lại đưa quân lên hoạt động ở miền Tây Bắc Thanh Hoá thì tức là lại đi vào cái vòng luẩn quẩn của 5 năm chiến đấu trước rất không lợi và bây giờ lại càng không lợi, sẽ bị địch từ hai mặt Đông Quan và Tây Đô đánh kẹp lại. Vì nhiều cuộc khởi nghĩa đã bị dập tắt, địch được rảnh tay dồn hết lực lượng từ các ngả tới để tiêu diệt nghĩa quân. Hơn nữa, lùi sâu mãi vào trong rừng trong núi, không phải là một phương hướng hoạt động lâu dài, nó không thể cho phép phong trào mở rộng phạm vi ra toàn quốc. Muốn mở rộng phong trào, không thể thủ hiểm mãi trong rừng núi mà phải đánh xuống trung nguyên, xuống đồng bằng, mới thu được đất đai, giành được sức người sức của, lập được chính quyền, xây dựng được hậu phương vững chắc, để tiến tới đánh bại hẳn địch.

Trước tình hình bố trí lực lượng của địch và trước yêu cầu phát triển của chiến tranh cứu nước, Nguyễn Trãi và nghĩa quân Lam Sơn đã vận dụng phương châm tác chiến "tránh mạnh đánh yếu, bỏ chỗ vững đánh chỗ núng, tránh chỗ thực đánh chỗ hư”, nhằm đánh vào nơi sơ hở nhất của địch, đồng thời cũng nhằm thực hiện một mục tiêu cơ bản của chiến đấu là đánh vào chỗ nào chiếm được nhiều đất, giành được nhiều dân, vừa xây dựng hậu phương vững chắc, như Nguyễn Trãi đã nói, vừa làm bàn đạp đánh mạnh ra các nơi khác. Nghĩa quân căn cứ vào hai yếu tố đó để chọn hướng chiến lược. Trong tất cả các hướng, kể từ căn cứ địa Chí Linh - Lam Sơn xuất phát, thì phía nam, tức từ nam phần Thanh Hóa vào tới Diễn Châu, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa là những nơi địch có nhiều sơ hở hơn cả, vì càng xa những căn cứ chính Đông Quan, Tây Đô, thì lực lượng địch càng mỏng, càng yếu. Như vậy, đánh xuống phía nam, phần thắng có thể chắc. Đánh xuống phía nam cũng tức là đánh xuống đồng bằng, tạo thêm điều kiện cho phong trào phát triển lớn mạnh hơn. Đó là hướng chiến lược đúng đắn nhất, thích hợp với thời cơ và hoàn cảnh chiến đấu lúc ấy, đúng như Nguyễn Trãi đã nói:

      Nghĩa kỳ nhất hướng trung nguyên chỉ
      Miếu toán tiên tri đại sự thành

                                       (Hạ quy Lam Sơn - bài thứ hai)

      (Cờ nghĩa một khi hướng về trung nguyên mà tiến
      Thì biết trước việc lớn của nước nhà thế nào cũng thành).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #81 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2016, 10:12:26 pm »


Xác định được hướng chiến lược, nghĩa quân quyết định ra quân. Toàn bộ nghĩa quân từ căn cứ địa Chí Linh - Lam Sơn tiến ra Lô Sơn1. Tại đây, trước khi mở những cuộc tiến công đầu tiên theo hướng chiến lược đánh xuống miền đồng bằng phía nam, các lãnh tụ Lam Sơn đã cùng các tướng lĩnh hội bàn để xác định một lần nữa từng bước tiến trình cụ thể cho cuộc hành quân này và bàn kỹ xem "nên đánh thành nào trước"2, tức đánh vào đâu trước để bảo đảm chiến thắng đầu tiên và có lợi nhất cho cuộc hành quân xuống phía nam. Đánh xuống miền đồng bằng đông nam Thanh Hóa, lấy đó làm bàn đạp đánh xuống Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, hay đánh thẳng xuống miền đồng bằng Nghệ An, rồi từ đó sẽ đánh tỏa ra các nơi khác. Đánh xuống miền đồng bằng phía nam Thanh Hóa rồi dừng lại thì chưa chắc đã tốt vì phía nam Thanh Hóa còn gần các căn cứ chính của địch. Địch có thể từ Tây Đô, Đông Quan và Nghệ An cùng tiến đánh được, nghĩa quân có thể có nguy cơ bị vây hãm tại đó. Tiến thẳng xuống miền đồng bằng Nghệ An, xa các căn cứ lớn của địch, nhưng tiến theo đường nào. Tiến theo đường đồng bằng vào Nghệ An thì sẽ phải vượt qua nhiều căn cứ quân sự của địch, nhất là qua thành Diễn Châu có quân Minh đóng giữ. Như vậy, tiến vào được đến Nghệ An cũng gặp nhiều chật vật, khó khăn. Tiến theo đường thượng đạo, tức đường núi để vào Nghệ An, thì đây là một con đường độc đạo, hiểm trở, nếu bị kẹt tại đó thì lại rơi vào tình trạng như ở miền núi Tây Bắc Thanh Hóa những năm xưa. Cho nên việc này cần phải bàn bạc rộng rãi với các tướng lĩnh để lấy ý kiến cụ thể của những người thật am hiểu vùng Nghệ An và nam Thanh Hóa.

Trong cuộc hội bàn, tướng Nguyễn Chích, một lãnh tụ nông dân, từng hoạt động nhiều năm ở miền giáp giới Thanh Hóa - Nghệ An, đã trình bày ý kiến:

"Nghệ An là nơi hiểm yếu: đất rộng người đông, tôi đã từng qua lại Nghệ An, nên rất thông thuộc đường đất. Nay ta nên trước hãy đánh lấy Trà Long chiếm giữ bình định cho được Nghệ An để làm chỗ đất đứng chân, rồi dựa vào đấy mà lấy tiền tài, sức lực, sau sẽ quay cờ trẩy ra Đông Đô thì có thể tính xong được việc dẹp yên thiên hạ"3.

Ý kiến của Nguyễn Chích có giá trị lớn về mặt chiến lược và cả về mặt kế hoạch tác chiến thực tiễn. Ý kiến đó phù hợp với hướng chiến lược và phương châm tác chiến "tránh chỗ thực đánh chỗ hư" của nghĩa quân, đồng thời nó đề xuất một kế hoạch tiến quân bao gồm nhiều điểm rất cụ thể và xác đáng:

1. Tiến thẳng vào đánh chiếm lấy đất Nghệ An, vì đó là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông, có thể xây dựng thành hậu phương vững chắc làm bàn đạp đánh ra các nơi khác, đúng với yêu cầu hướng chiến lược mà các lãnh tụ nghĩa quân đã đề ra là đánh xuống đồng bằng.

2. Tiến vào Nghệ An, không theo đường đồng bằng, qua Diễn Châu, mà theo đường thượng đạo qua Trà Long4. Theo kinh nghiệm thực tiễn của Nguyễn Chích thì đường thượng đạo là con đường núi xung yếu; hành quân theo đường này được che chở kín đáo và có thể đối phó dễ dàng với quân địch ở cả hai mặt trước và sau.


3. Nên trước đánh lấy thành Trà Long trên con đường thượng đạo vào Nghệ An và đánh chắc thắng, vì thành Trà Long chỉ có ngụy quân đóng giữ và do một tên ngụy quan người thiểu số là Cầm Bành cầm đầu. Đi đường thượng đạo, đánh thành Trà Long, có khả năng tiến vào Nghệ An nhanh chóng hơn theo đường đồng bằng, phải đánh thành Diễn Châu5 có quân Minh đóng giữ.

Nguyễn Trãi và các lãnh tụ Lam Sơn nhất trí tán thành, chấp nhận ý kiến và kế hoạch của Nguyễn Chích. Nghĩa quân bắt đầu lên đường, tiến vào Nghệ An theo kế hoạch đó.
___________________________________
1, 2. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch. t. VIII, tr. 19.
3. Theo câu dịch trong Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, t. VIII, tr. 19. Câu nói của Nguyễn Chích được chép trong ba sách: Việt sử thông giám cương mục, Kiến văn tiểu lụcĐại Việt thông sử. Trong hai sách Kiến văn tiểu lụcĐại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, câu nói của Nguyễn Chích đại thể cũng giống như Việt sử thông giám cương mục, nhưng thiếu một ý quan trọng là đánh chiếm đất Nghệ An làm bàn đạp đánh ra các nơi khác. Trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn chép câu nói của Nguyễn Chích như sau: "Tôi đã từng lặn lội ở Nghệ An, biết được hết những nơi hiểm trở, nơi bình dị. Nên vào chiếm giữ trại của Cầm Bành, châu Trà Lân, nếu họ thuận theo thì vỗ về yên ủi, nếu trái lệnh thì đánh, thu lấy người ngựa, rồi sau sẽ dần dần tiến ra Đông Đô, thì việc lớn có thể thành được". Trong sách Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn cũng chép tương tự: "Tôi từng đi khắp đất Nghệ An, biết rõ nơi hiểm yếu, nơi bình dị. Nên vào chiếm giữ trại của Cầm Bành, nếu thuận theo thì vỗ về, nếu chống lại thì đánh lấy, rồi sẽ dần dần tiến ra Đông Đô, thì việc nước có thể thành được".
4. Trà Long hay Trà Lân là tên địa phương, sau là huyện Tương Dương, nay là huyện Con Cuông.
5. Nay là huyện Diễn Châu, phía bắc Nghệ An.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #82 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2016, 09:56:06 pm »


NHỮNG CHIẾN THẮNG ĐẦU TIÊN

ĐÁNH ĐỒN ĐA CĂNG
VÀ PHÁ VIỆN BINH ĐỊCH

Đồn quân địch đầu tiên mà nghĩa quân Lam Sơn sẽ gặp trên đường hành quân là đồn Đa Căng1 do ngụy quân đóng giữ và tên ngụy quan tham chính Lương Nhữ Hốt chỉ huy. Ngày 12 tháng 10 năm 1424, tức 20 tháng 9 năm Giáp Thìn, nghĩa quân tiến tới Đa Căng, cùng voi chiến đánh tập kích đồn này. Bị đánh bất ngờ, địch không kịp trở tay. Hơn một nghìn địch bị diệt2, đồn Đa Căng bị hạ. Tên tướng ngụy Lương Nhữ Hốt bỏ đồn chạy thoát thân. Sau khi thu hết quân lương, khí giới trong đồn, nghĩa quân đã thiêu huỷ đồn này. Được tin đồn Đa Căng bị đánh, một cánh quân Minh do đô chỉ huy sứ Hoa Anh cầm đầu vội tới cứu viện, nhưng tới nơi thì đồn Đa Căng đã bị triệt hạ. Quân cứu viện hoang mang, bị nghĩa quân đánh cho đại bại. Hoa Anh phải đem tàn quân chạy vào thành Tây Đô. Bắt được vợ con của địch, nghĩa quân không giết một ai, thả cho về hết.

Nghĩa quân lưu lại ở Đa Căng ít ngày. Những chiến thắng đầu tiên mới thu được đã đem lại cho nghĩa quân một niềm tin tưởng mạnh mẽ ở phương hướng chiến lược đúng đắn và ở khả năng đánh thắng của mình. Những chiến thắng ấy đã làm nức lòng mọi người và được nhân dân địa phương nhiệt liệt hoan nghênh. Các trai tráng trong vùng tình nguyện tòng quân rất đông. Do đây, hàng ngũ nghĩa quân được tăng cường nhanh chóng, trước khi bước những bước tiến mới trên con đường hành quân vào Nam.
_____________________________________
1. Việt sử thông giám cương mục chép: nghĩa quân Lam Sơn tới Lô Sơn rồi mới tới Đa Căng và chú thích Đa Căng và Lô Sơn đều thuộc Quan Hóa ở đông bắc Thanh Hóa. Gần đây có ý kiến cho rằng: nghĩa quân đánh Đa Căng rồi mới tới Lô Sơn và cả hai địa điểm này đều ở phía nam Thanh Hóa. Đa Căng là Bất Căng thuộc huyện Thọ Xuân, Lô Sơn thuộc huyện Thường Xuân. Theo trình tự bình thường của cuộc hành quân về phía nam, thì nhận định này có thể hợp lý. Nhưng những sách sử cũ hơn Cương mục, như Đại Việt sử ký toàn thưLam Sơn thực lục, tuy không nói rõ Đa Căng ở đâu, song lại viết rằng sau khi thua ở Đa Căng, Hoa Anh chạy vào thành Tây Đô. Theo tinh thần câu văn "chạy vào thành Tây Đô" thì có thể hiểu là Đa Căng ở gần Tây Đô, hoặc ngang với Tây Đô, hoặc trên Tây Đô, tức ở phía bắc Thanh Hóa chứ không phải phía nam. Vì ý kiến còn phân vân như vậy, nếu hai địa điểm này chờ nghiên cứu thêm mới xác định được.
2. Lam Sơn thực lục chép: "Giặc bị giết và chết đuối hơn nghìn người” - Chưa rõ địa thế thành Đa Căng như thế nào, gần sông nào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #83 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2016, 09:58:07 pm »


TRẬN BỒ ĐẰNG

Nghĩa quân Lam Sơn chuyển hướng chiến lược đánh vào Nam là một đòn bất ngờ cho địch. Các đồn quân địch từ phía nam Thanh Hóa trở vào đều bị động đối phó. Được tin nghĩa quân đương tiến theo đường núi vào Nghệ An, các tướng lĩnh cao cấp của địch là bọn Trần Trí, Phương Chính, Thái Phúc vội đem quân chạy theo đường hành quân của nghĩa quân. Tướng địch ở Nghệ An là Sư Hựu, và các tướng ngụy là tri phủ Cầm Bành ở Trà Long và tri phủ Cầm Lạn ở Quỳ Châu cũng được lệnh đem quân phối hợp đón đánh nghĩa quân. Mưu đồ của địch là từ hai mặt đánh dồn lại để tiêu diệt nghĩa quân ngay trên con đường tiến vào nam của nghĩa quân. Bọn Trần Trí, Phương Chính đánh phía sau lưng. Bọn Sư Hựu, Cầm Bành, Cầm Lạn đánh phía trước mặt. Không để cho địch thực hiện được mưu đồ của chúng, nghĩa quân Lam Sơn quyết định chặn đánh từng đạo quân địch, lần lượt bẻ gãy cả hai gọng kìm, đập tan âm mưu thâm độc của địch.

Từ hai mặt, quân Minh đã tiến tới gần. Nghĩa quân dừng lại ở Bồ Đằng1, một nơi núi rừng hiểm trở, chia quân làm nhiều toán, đem voi vào rừng bố trí phục kích, đón đánh đạo quân địch đương từ phía sau lưng tiến tới. Vừa lúc chiều tối, địch tới nơi, lọt vào giữa trận địa phục kích. Nghĩa quân từ trong rừng xông ra, đánh rất mạnh. Một tướng địch là Trần Trung và hơn 2.000 quân địch bị giết tại trận. Hơn 100 ngựa bị bắt. Bọn Trần Trí, Phương Chính thua to phải lùi quân lại phía sau, không dám bám sát nghĩa quân.

Trận đánh đã diễn ra nhanh chóng, như Nguyễn Trãi nói trong Bình Ngô đại cáo: "Trận Bồ Đằng sấm ran chớp giật" và nghĩa quân đã thắng lợi hoàn toàn. Trận địa phục kích Bồ Đằng oanh liệt vẫn còn để lại dấu tích cho tới ngày nay. Trên miền núi Bồ Đằng (nay thuộc thôn Thanh Nga, xã Hạnh Thiết, huyện Quỳ Châu) còn thấy dấu vết nhiều hầm hào bằng đất, đào đắp từ trận phục kích đó. Tại miền núi Bù Xam Pơn, gần núi Bồ Đằng, còn thấy dấu vết một hầm lớn, khá sâu, dài rộng vài trăm mét vuông, nhân dân địa phương thường gọi là "hầm mả giặc Ngô".

Sau khi đánh bại đạo quân Trần Trí, nghĩa quân Lam Sơn lại tiếp tục tiến quân. Ngày hôm sau, nghĩa quân tiến công bất ngờ vào doanh trại của bọn Sư Hựu tại trang Trịnh Sơn, thuộc châu Trà Long. Địch đóng ở đây có 5.000 quân, không thể đương nổi trận tập kích như vũ bão của nghĩa quân. Hơn 1.000 địch và một tướng địch là Trương Bản bị giết tại trận. Quân lương, khí giới trong trại địch đều bị thiêu hủy. Tướng địch Sư Hựu phải đem tàn quân tháo chạy. Hai gọng kìm của địch đều bị bẻ gãy.

Sau chiến thắng ở Trịnh Sơn, nghĩa quân tiến lên sách Mộc. Ở phía sau, bọn Trần Trí vẫn muốn tiến theo nghĩa quân. Nhưng khi tới núi Trạm Hoàng, bọn Trần Trí do dự, không dám tiến. Sử cũ nói là vì chúng đã nhiều lần thua đau, nên không dám tiến sâu thêm. Nhưng có lẽ vì bọn Trần Trí không thấy quân của Sư Hựu chặn đánh nghĩa quân ở phía trước, như kế hoạch đã định, và có thể chúng đoán đạo quân Sư Hựu đã bị nghĩa quân đánh tan. Kế hoạch gọng kìm đã thất bại, bọn Trần Trí thấy đuổi theo nghĩa quân tới Trà Long chưa chắc đã thu được kết quả gì, thành Nghệ An thiếu lực lượng phòng thủ, có nguy cơ sẽ bị nghĩa quân đánh chiếm, nên chúng vội đem quân rẽ theo đường khác vào Nghệ An trước (có lẽ là đường Quỳ Châu qua Diễn Châu vào Nghệ An), để giữ thành và tìm cách đón chặn nghĩa quân tiến vào.

Phía trước phía sau đều không có địch, nghĩa quân thẳng đường tiến tới thành Trà Long.
________________________________________
1. Bồ Đằng là một ngọn núi ở vùng Quỳ Châu, trên con thượng đạo từ Thanh Hóa vào Nghệ An, nhân dân địa phương gọi theo tiếng địa phương là Bù Đờn. Bồ Đằng còn có những tên cũ là Bồ Cứ, Bồ Lạp. Gần Bồ Đằng, nay còn một bản nhỏ là Bản Liệp, có thể đó là vết tích của tên núi gọi là Bồ Lạp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #84 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2016, 10:16:20 pm »


HẠ THÀNH TRÀ LONG

Trà Long là vùng dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào Tày. Thành Trà Long, dựng lên từ thời Trần, trong một khu vực rừng rậm, núi non chi chít, địa thế hiểm trở, là một vị trí xung yếu, án ngữ miền biên giới phía tây Nghệ An, đồng thời khống chế việc qua lại trên con đường thượng đạo từ Thanh Hóa, Quỳ Châu vào Nghệ An. Thành xây kiên cố chu vi khoảng 4 ki-lô-mét, tường thành khá cao, có chỗ cao tới 15 mét1 do tên ngụy quan Cầm Bành và hơn 1.000 ngụy quân đóng giữ.

Khoảng tháng 12 năm 1424 (tháng 11 năm Giáp Thìn), nghĩa quân Lam Sơn tới trước thành Trà Long. Nghĩa quân cho người dụ hàng Cầm Bành. Tên ngụy quan này, tuy có ít quân, nhưng cậy có thành cao hào sâu và tin rằng đây là một vị trí xung yếu, thế nào quân Minh cũng tăng cường lực lượng để giữ cho bằng được, nên hắn đã cố thủ trong thành và cho người đi Nghệ An cầu cứu viện binh. Hắn không hiểu rằng Trần Trí đã bỏ dở không đuổi theo nghĩa quân tới Trà Long mà đi ngay vào Nghệ An để phòng thủ thành Nghệ An thì việc làm đó đã hàm cái ý là Trần Trí sẵn sàng chịu mất thành Trà Long, để giữ thành Nghệ An. Như vậy, Cầm Bành có cầu cứu cũng khó mà có quân tới cứu.

Thấy bọn Cầm Bành trong thành Trà Long cố thủ không hàng để chờ viện binh, nghĩa quân Lam Sơn quyết định một mặt vây thành, một mặt thu lấy đất đai châu Trà Long, chiêu dụ nhân dân và chuẩn bị đối phó với viện binh của địch. Lực lượng nghĩa quân được tăng cường, viện binh của địch không tới cứu được thành Trà Long, thì bọn Cầm Bành trong thành không thể thoát khỏi vòng vây, tất phải đầu hàng.

Nhân dân vùng Trà Long được nghĩa quân giải phóng khỏi ách thống trị của địch, vô cùng cảm kích và phấn khởi, đã nhiệt liệt hưởng ứng nghĩa quân và góp nhiều công sức vào việc vây hãm thành Trà Long. Theo nhân dân truyền tụng, trong số nhân dân các xã tích cực tham gia đánh thành, nhân dân xã Tiên Kỳ có nhiều công lao nhất, nên về sau Lê Lợi đặt tên xã là Tiên Kỳ (tức lá cờ đầu)2. Trong khi vây thành, nghĩa quân Lam Sơn cũng đồng thời xây dựng những trại nông binh để sản xuất3, vừa thực hiện tự túc lương thực một phần, vừa xây dựng tinh thần cần kiệm liêm khiết trong toàn quân. Do đấy nghĩa quân không đụng chạm, tơ hào đến tài sản của nhân dân.
___________________________________
1. Thành Trà Long thời ấy rộng bằng thành Hà Nội thời Nguyễn sau này và còn cao hơn thành Hà Nội thời Nguyễn nhiều lần. Thành Hà Nội từ thời Minh Mạng cho tới khi Pháp sang xâm lược, chỉ cao khoảng 5 mét.
2. Nay là thôn Tiên Kỳ, xã Tiên Đồng, huyện Nghĩa Đàn. Trong vùng này còn có miếu thờ Trương Hán, người xã Tiêu Kỳ, đã có nhiều công lao trong việc đánh thành Trà Long.
3. Những năm gần đây, tại vùng sông Con còn thấy vết tích những trại nông binh của thời kỳ này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #85 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2016, 10:23:24 pm »


Thấy nghĩa quân quyết tâm hạ thành Trà Long và tích cực chuẩn bị đánh lại viện binh, các tướng địch ở thành Nghệ An phân vân không biết nên xử trí như thế nào: có đem quân đi cứu nguy cho thành Trà Long hay không, chúng vẫn lúng túng chưa quyết. Trong khi đó, Sơn Thọ từ triều đình nhà Minh sang tới nơi. Sơn Thọ ở Việt Nam đã lâu, đã tham gia và trực tiếp chỉ huy những cuộc hành quân đàn áp ở Việt Nam. Sơn Thọ đã thấy đối với nghĩa quân Lam Sơn, quân Minh khó có thể thắng được bằng quân sự nên hắn vẫn chủ trương hòa hoãn và dụ hàng. Mấy tháng trước đây, Sơn Thọ về triều chào mừng vua Minh Nhân Tôn lên ngôi và có lẽ cũng là để xin chỉ thị cụ thể của vua mới về vấn đề chiến tranh ở Việt Nam. Sơn Thọ khẳng định với vua Minh là nghĩa quân Lam Sơn có thể dụ hàng được và hắn xin đảm nhiệm công việc đó. Vua Minh đồng ý, cho Sơn Thọ sang Việt Nam, mang sắc phong Lê Lợi làm tri phủ Thanh Hóa và chỉ dụ của vua Minh ân cần vỗ về Lê Lợi để dụ hàng1. Sơn Thọ sang tới Việt Nam là lúc nghĩa quân Lam Sơn đương vây thành Trà Long. Trước tình hình đó và để chấp hành chỉ thị dụ hàng của vua Minh, Sơn Thọ chủ trương không nên cho viện binh đi đánh cứu thành Trà Long, mà nên dùng biện pháp ngoại giao, thương lượng cầu hòa để giải vây cho Cầm Bành. Chủ tướng Trần Trí, ngay từ khi vua Minh mới lên ngôi, đã nhận được sắc lệnh của nhà vua là nên khéo vỗ về chiêu dụ nghĩa quân Lam Sơn, mà bản thân Trần Trí cũng đã từng nhiều lần bị nghĩa quân đánh cho thất bại thảm hại, nên cũng ngại những cuộc giao tranh quân sự với nghĩa quân, Trần Trí tán thành biện pháp ngoại giao cầu hòa của Sơn Thọ.

Bấy giờ đã là những ngày đầu năm 1425, Cầm Bành đã bị vây khốn hơn một tháng. Để mau chóng cứu nguy cho Cầm Bành, bọn Trần Trí, Sơn Thọ quyết định trả những sứ giả của nghĩa quân là Trần Vận, Lê Trăn mà chúng đã giam giữ từ giữa năm 1424, và cho người của chúng là Nguyễn Sĩ đưa Trần Vận, Lê Trăn và mang thư cầu hòa của chúng tới đại bản doanh của nghĩa quân tại Trà Long.

Thấy địch tới cầu hòa, các lãnh tụ nghĩa quân chủ trương: "Sứ giặc dụ ta, ta nhân hở của nó mà dùng nó"2.
_____________________________________
1. Minh sử, An Nam truyện, q. 321.
2. Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #86 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2016, 10:25:56 pm »


Nguyễn Trãi viết thư chấp nhận đề nghị giảng hòa của Sơn Thọ. Lời thư nhún nhường mà cương quyết: sẵn sàng thương lượng hòa hoãn nhưng cũng sẵn sàng đánh địch khi cần thiết. Trong thư có đoạn viết:

"Đạo trong thiên hạ, trọng không gì bằng trung nghĩa, quý không bằng danh tiết. Ghét chết thích sống tránh nhục tìm vinh. Đó là thường tình của người ta. Tôi đây nhất sinh thích danh tiết mà trọng trung nghĩa, ghét kẻ tiêu nhân mà dấn mình hoạn nạn, tuy ở trong cảnh gian nan nguy hiểm mà không nhụt chí bình sinh...

Nay nghe thấy ngài mới ở Kinh sang, để xét rõ duyên cớ mang tội, chỉ bảo con đường tái sinh, chúng tôi nghe tiếng, trẻ già đều vui mừng khôn xiết..."
1.

Sơn Thọ lại cho người mang sắc thư của vua Minh phong Lê Lợi làm tri phủ Thanh Hóa tới đưa cho Lê Lợi2 và yêu cầu Lê Lợi rút quân trở về Thanh Hóa nhận chức tri phủ. Giảng hòa giao hảo của địch rõ ràng không phải là để trả lại đất nước cho nhân dân ta, mà chỉ là để củng cố quyền thống trị của chúng và thủ tiêu ý chí đấu tranh của nhân dân ta bằng những biện pháp mua chuộc, lừa bịp xảo quyệt hơn. Cái sắc phong tri phủ Thanh Hóa chỉ là cái bùa dụ hàng lãnh tụ nghĩa quân ra làm ngụy quan, tay sai cho địch, thủ tiêu phong trào, giải tán nghĩa quân, và trước mắt, cái bùa dụ hàng ấy đưa ra lúc này là để giải vây cho Trà Long, cứu nguy cho Cầm Bành. Biết rõ ý đồ của giặc và muốn nhân kế giặc để trị giặc, nghĩa quân Lam Sơn vẫn tiếp tục đàm phán. Lê Lợi nhận sắc phong tri phủ Thanh Hóa và cho viết thư3 trả lời bọn Trần Trí, Sơn Thọ là sẵn sàng trở về Thanh Hóa nhậm chức, nhưng vì Cầm Bành đóng quân ngăn chặn mất đường về, không thể đi được cho nên cần phải có lệnh cho Cầm Bành ngừng chiến, giao hảo thì việc hòa giải mới thành được. Các tướng địch ở Nghệ An vội cho người của chúng là Trần Đức Nhị tới Trà Long hạ lệnh cho Cầm Bành phải ngừng chiến đấu, không được cố thủ trong thành, phải cùng nghĩa quân hòa giải.
____________________________________
1. Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, bản dịch, tr. 20.
2. Minh sử, q. 321.
3. Đại Việt sủ ký toàn thư ghi rằng: Thư viết rồi thả bè trôi sông cho xuống tới thành địch (ở Nghệ An). Chúng tôi nghĩ rằng: địch lúc này đương cầu hòa, sự giao dịch, thư từ, qua lại giữa ta với địch là đường hoàng, chính thức, việc gì phải làm như vậy. Có thể Toàn thư đã ghi không đúng chi tiết này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #87 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2016, 10:27:32 pm »


Thành Trà Long bị vây đã vài tháng: lương thực cạn hết viện binh, tiếp tế không có, quân lính hoang mang cực độ, nhiều kẻ vượt thành trốn ra đầu hàng. Thế giặc ngày càng khốn quẫn. Được tin không có viện binh, lại được lệnh ngừng chiến, Cầm Bành tuyệt vọng, mở cửa ra hàng.

Nghĩa quân tiến vào thành, tha tội cho Cầm Bành và mọi người trong thành. Với việc đánh chiếm thành Trà Long, thanh thế nghĩa quân càng lớn mạnh và lan rộng khắp miền Nghệ An, Diễn Châu và vùng biên giới Ai Lao. Nhân dân và các tù trưởng thiểu số ở những vùng gần Trà Long đều nhiệt liệt hoan nghênh nghĩa quân. Hơn 5.000 trai tráng đã tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang. Nguyễn Vĩnh Lộc, một hào kiệt đất Diễn Châu, đem nghĩa binh tới Trà Long xin theo nghĩa quân Lam Sơn để diệt giặc. Các thủ lĩnh những toán nghĩa binh đang hoạt động ở Ngọc Ma là Phan Liêu, Lộ Văn Luật cũng đem quân tới xin gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Nhiều tù trưởng Ai Lao ở vùng gần biên giới cũng cho người tới chào mừng nghĩa quân và để tỏ tình liên kết, đã tình nguyện ủng hộ nghĩa quân về nhiều mặt. Các lãnh tụ nghĩa quân cử Phan Liêu và Lộ Văn Luật ra Bắc hoạt động ở các châu Gia Hưng, Quốc Oai1, tuyên truyền vận động nhân dân ngoài Bắc hưởng ứng nghĩa quân Lam Sơn, chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho việc nghĩa quân tiến ra Bắc sau này.

Cuộc hành quân vào Nam tới đây mới được 5, 6 tháng, mà đã đạt nhiều thắng lợi to lớn, tạo thành một sự chuyển hóa lực lượng rất mạnh cho nghĩa quân và chứng minh rõ thêm việc chuyển hướng chiến lược vào Nam của nghĩa quân Lam Sơn là đúng đắn và sáng suốt.

Việc hạ thành Trà Long cũng là một bằng chứng cụ thể xác nhận sự kết hợp tiến công quân sự với tiến công ngoại giao và địch vận của nghĩa quân là đúng đắn. Việc hạ thành Trà Long còn đem lại cho nghĩa quân Lam Sơn một kinh nghiệm chiến đấu mới: muốn đánh lấy thành địch, không nhất thiết phải tiến công quân sự, phá thành giết địch, mà có thể vây hãm thành kết hợp với địch vận gọi hàng, hoặc vây hãm thành kết hợp với đấu tranh ngoại giao khiến địch ở cấp trên phải hạ lệnh cho tướng giữ thành bỏ vũ khí không được chiến đấu, như trường hợp hạ thành Trà Long. Đây là một kinh nghiệm quý báu, có giá trị lớn về chiến lược, nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục vận dụng trong nhiều trường hợp đánh thành sau này.
___________________________________________
1. Minh sử, q. 321. Châu Gia Hưng và châu Quốc Oai bao gồm một dải đất chạy dài từ phía nam tỉnh Hà Tây ngày nay lên tới phía nam tỉnh Sơn La.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #88 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2016, 10:30:49 pm »


NHỮNG TRẬN ĐÁNH
NHƯ SẤM RAN CHỚP GIẬT
Ở KHẢ LƯU, BỒ ẢI


Thấy nghĩa quân chiếm giữ thành Trà Long và Cầm Bành đã đầu hàng nghĩa quân, các tướng lĩnh nhà Minh ở thành Nghệ An biết âm mưu giảng hòa của chúng thất bại. Nhưng chúng vẫn muốn cố thuyết phục dụ hàng nghĩa quân, vì bọn Sơn Thọ trực tiếp nhận trách nhiệm của vua Minh và đã hứa với vua Minh là nếu không dụ hàng được nghĩa quân, hắn xin chịu tội. Tổng binh Trần Trí cũng ngại đánh, nên vẫn ủng hộ chủ trương của Sơn Thọ coi đó là chủ trương của triều đình, không thể trái mệnh. Dù có tên tướng nào thấy chủ trương như thế lúc này là sai, cũng không dám phản đối, không dám làm khác. Các lãnh tụ nghĩa quân biết tình thế của địch như vậy nên cũng muốn lợi dụng sự hòa hoãn đó, cho sứ qua lại thành Nghệ An, để tìm hiểu thêm tình hình địch tại đây. Có thể là bên địch đã khuyên Lê Lợi trở về Thanh Hóa nhận chức tri phủ và trả lại thành Trà Long cho chúng. Vì thế, nghĩa quân đã nói thẳng cho địch biết là nghĩa quân không trở về Thanh Hóa và cũng không bỏ thành Trà Long, nhưng nghĩa quân đã trả lời khéo, lấy cớ Lê Lợi có thù với tên ngụy quan Lương Nhữ Hốt ở Thanh Hóa, nên không thể về nhậm chức tri phủ Thanh Hóa, vậy có thể cải bổ làm tri phủ châu Trà Long.

Địch biết không thể dụ hàng được nữa, nhưng vẫn lúng túng không biết nên xử sự như thế nào. Dụ hàng thì không được, đánh thì trái với sắc chỉ của nhà vua, mà đánh chưa chắc đã thắng. Trong khi còn đương phân vân không biết hành động cách nào, thì có lệnh của vua Minh truyền sang, khiển trách bọn Trần Trí để thua trận, mất thành và bắt buộc bọn Trí phải dẹp yên cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong mùa xuân năm 1425. Bây giờ đã là giữa mùa xuân, lệnh mới của nhà vua không thể không thi hành ngay. Sở dĩ có lệnh mới đó, vì sau khi mất Trà Long, Trần Hiệp là Binh bộ thượng thư, đứng đầu hai ty Bố chính, Án sát của địch ở Việt Nam đã mật tâu về triều cấp báo tình hình và xin lệnh đánh. Đại ý Trần Hiệp đã tâu về triều: "Lợi tuy xin hàng mà trong lòng vẫn phản. Đã chiếm châu Trà Long, lại kết với thổ quan Ngọc Ma và tù trưởng Lão Qua để cùng làm ác. Trước nói chờ mùa thu trời mát sẽ đến nhậm thức, nay đã quá thu, lại nói rằng có oán với tham chính Lương Nhữ Hốt, xin cải bổ cho ở châu Trà Long. Lại khiến bọn nghịch đảng Phan Liêu và Lộ Văn Luật đến các châu Gia Hưng, Quốc Oai chiêu tập đồ đảng, thế càng ngày càng lan rộng. Xin hạ lệnh cho tổng binh phải tiêu diệt gấp”1.

Trần Hiệp đã nhận định đúng tình hình, nhưng vẫn ngoan cố đeo đuổi chiến tranh, cố tình chiếm đóng lâu dài đất nước ta, thấy được cái thế mạnh của ta mà không thấy được cái thế bại của chúng.

Có lệnh của triều đình phải đánh, bọn Trần Trí, Phương Chính không thể trì hoãn việc quân được nữa. Chúng mưu tính đem toàn bộ quân thủy lục hiện có ở Nghệ An mở một cuộc phản công lớn lên Trà Long.
______________________________________
1. Minh sử, q. 321.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11421



« Trả lời #89 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2016, 10:41:56 pm »


Về phía nghĩa quân, tuy gượng nhẹ duy trì giao dịch với địch, nhưng vẫn dự đoán những cuộc giao tranh lớn với địch nhất định sẽ xảy ra và chắc chắn địch sẽ đem toàn lực ra chiến trường để hòng tiêu diệt nghĩa quân. Cho nên nghĩa quân vẫn tích cực chuẩn bị chiến đấu, quyết đánh bại địch và mở rộng vùng giải phóng ra cả đất Nghệ An. Thấy địch cắt đứt quan hệ, không tiếp nhận sứ của ta, nghĩa quân biết địch sắp huy động quân đội lên đánh Trà Long. Không chờ đánh địch tại đây, nghĩa quân quyết định tiến xuống phía thành Nghệ An, đánh địch ngay trên đường hành quân của chúng.

Từ thành Nghệ An lên Trà Long có hai đường: một là đường theo dọc sông Lam, hai là đường thượng đạo đi qua Đỗ Gia. Nếu địch tiến quân theo cả hai đường thì sẽ tạo thành hai gọng kìm khép chặt lấy nghĩa quân. Để phá thế nguy hiểm ấy và giữ vững quyền chủ động tiến công địch, các lãnh tụ nghĩa quân cử tướng Đinh Liệt đem hơn 1.000 quân theo đường thượng đạo đi nhanh tới chiếm lấy Đỗ Gia, để khống chế các mũi tiến quân của địch theo hướng này1. Đỗ Gia là một huyện ở sát thành Nghệ An, về phía tây nam và nối liền thành Nghệ An với con đường thượng đạo lên Trà Long, Thanh Hóa. Có thể là Đinh Liệt đã đóng quân tại núi Linh Cảm2, trên ngã ba sông Ngàn Phố và Ngàn Sâu. Tại đây, nghĩa quân sẽ khống chế được con đường thượng đạo chạy dài từ Thanh Hóa vào Tân Bình, Thuận Hóa, ngăn chặn không cho quân Minh từ thành Nghệ An tiến theo đường núi lên Trà Long, đồng thời cũng ngăn chặn không cho địch từ Tân Bình, Thuận Hóa theo đường núi tiến ra tiếp viện hay cứu nguy cho thành Nghệ An. Đỗ Gia là một vị trí chiến lược quan trọng, chiếm được Đỗ Gia là góp phần quyết định thắng lợi cho những trận đánh sắp tới.

Sau khi đạo quân Đinh Liệt đã theo hướng Đỗ Gia xuất phát, toàn bộ nghĩa quân cũng từ Trà Long tiến xuống đóng ở ải Khả Lưu, cách Trà Long khoảng 10 ki-lô-mét, trên con đường đi tới thành Nghệ An, theo dọc sông Lam. Khả Lưu là một khúc sông có nhiều khúc khuỷu và nhiều núi cao rừng rậm chạy sát hai bên bờ sông. Từ thành Nghệ An theo đường dọc sông Lam lên Trà Long, nhất thiết phải qua ải Khả Lưu.

Nghĩa quân Lam Sơn đóng ở thượng lưu bên bờ bắc Khả Lưu để chuẩn bị chặn đánh địch. Trong khi đó bọn Trần Trí, Phương Chính cũng đem đại quân từ thành Nghệ An tiến lên Trà Long. Đường núi không đi được vì mắc nghẽn, quân Đinh Liệt đóng chặn ở Linh Cảm, địch chỉ có thể đi theo đường dọc sông Lam và chúng đã huy động cả quân thủy, quân bộ cùng tiến. Ba bốn ngày sau khi nghĩa quân đã đóng ở Khả Lưu, thì địch cũng tới Khả Lưu, chúng phải dừng lại ở bên bờ nam vì nghĩa quân đã đóng quân ở bên bờ bắc. Địch dừng quân ở mạn hạ lưu bên bờ nam, chuẩn bị ngày hôm sau đánh sang bờ bắc.
____________________________________
1. Lam Sơn thực lục chép là Đinh Liệt đem hơn 2.000 quân.
2. Sau này còn đền thờ Đinh Liệt trên núi Linh Cảm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM