Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Một, 2019, 03:30:58 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam  (Đọc 13547 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #20 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 09:20:01 PM »

        Đối với tên lửa SAM2 cũng vậy. Ống kính quang học với bội số nhìn xa lớn, đặt trên đài thu phát, đôi lúc cũng nhìn rõ đèn của B52, qua đó hỗ trợ cho kíp trắc thủ xác định đúng tọa độ của B52 trên màn hiện sóng.
       
        Mỹ ca ngợi, khoe khoang B52 là bất khả xâm phạm (inviolable), nhưng sự thật không phải như thế. Sau khi hàng loạt pháo đài bay Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội trước lễ Giáng sinh 1972, báo Thế giới (Le Monde) của Pháp đã loan tin thắng lợi của Bắc Việt Nam với dòng tít lớn "Những con quái vật điện tử không còn là bất khả xâm phạm nữa (Les monstres électroniques ne sont plus intouchables), kèm theo tấm hình một chiếc B52 Mỹ đang rắc bom.
       
        Bọn hiếu chiến Mỹ vì quá kiêu căng nên đã trở thành mù quáng. Họ tuyệt đối hóa ưu thế của các phương tiện điện tử. Họ không chịu hiểu rằng đứng trước họ là một đối thủ luôn luôn biết tìm tòi và có khả năng tìm thấy những chỗ yếu của họ, từ đó sáng tạo ra những biện pháp thích hợp để vươn lên giành chiến thắng.
       
 
 
Bản viết tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp giới thiệu cuốn sách
       
       
       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #21 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 09:29:24 PM »

      
        C- Những khó khăn của ta và cách khắc phục:
        
        Câu hỏi 7: Trong chiến dịch 12 ngày đêm, tình trạng thiếu đạn tên lửa khá trầm trọng. Chúng ta đã khắc phục ra sao
        
        Đáp: Chiến dịch đánh trả cuộc tập kích của không quân chiến lược Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng là một trận đánh lớn, dài ngày, đương nhiên nhu cầu tiêu thụ đạn rất lớn, nhất là đạn tên lửa SAM2. Trong nhiệm vụ đánh B52, theo quyết tâm của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thì "lực lượng chủ yếu đánh B52 là tên lửa và không quân. Tên lửa là chủ yếu nhất”. Phần lớn gánh nặng đánh thắng pháo đài bay Mỹ dồn lên vai bộ đội tên lửa. Vì vậy, vấn đề làm sao có đủ đạn tên lửa để chiến đấu trở thành một đòi hỏi hết sức. gắt gao.
        
        Sự viện trợ của Liên Xô cho ta về vũ khí phòng không, trong đó có đạn SAM2 về sau có phần hạn chế. Vì lẽ đó chúng ta phải tận dụng số lượng đạn "tồn kho". Sau cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ( 1965 -1968), bộ đội tên lửa ta còn khoảng vài ngàn quả đạn. Một phần trong số đó đã được lắp ráp và nạp nhiên liệu để sẵn sàng chiến đấu nhưng chưa dùng tới. Năm tháng trôi qua, thời hạn sử dụng của đạn không còn. Anh em ta thường gọi đó là những viên đạn "quá đát" (quá hạn sử dụng).
        Một điều đáng nói nữa là tốc độ lắp ráp đạn tên lửa còn chưa đảm bảo yêu cầu cho một chiến dịch lớn.
        
        Vào những đêm tháng 12 năm 1972, có tiểu đoàn hỏa lực đã rơi vào tình trạng giữa chừng "trắng bệ", nghĩa là trên các bệ phóng không còn đạn, trong khi máy bay địch vẫn tiếp tục kéo vào. Anh em lái xe chở đạn cực kỳ dũng cảm, chầu chực ở các bãi lắp ráp, được quả nào là tranh thủ vượt đạn bom lao về đơn vị. Đạn về đến nơi, lập tức được nạp vào bệ phóng, chưa ấm chỗ đã lao đi tìm diệt B52. Các tiểu đoàn hỏa lực thỉnh thoảng lại nhận được chỉ thị qua điện thoại từ trung đoàn: "Khách đến còn nhiều, chú ý tiết kiệm gạo” Giữa đêm 20 tháng 12, tình trạng căng thẳng đến nỗi từ Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã gọi điện chỉ thị Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân phải tìm mọi cách giải quyết đủ đạn cho các tiểu đoàn tên lửa.
        
        Khó khăn to lớn như vậy, bộ đội ta đã khắc phục bầng cách nào?
        
        Xin nêu mấy biện pháp chủ yếu sau đây:
        
        1. Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu quyết định: "Tên lửa chỉ được dành để đánh B52"; "Điều gấp đạn tên lửa từ Quân khu 4 ra tăng cường cho Sư đoàn Phòng không Hà Nội .
        
        2. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân chỉ thị cho các đơn vị tên lửa phải "hết sức tiết kiệm đạn”. Thí dụ lẽ ra đánh 3 quả để bảo đảm xác suất tiêu diệt máy bay thì chỉ đánh 2 quả. Yêu cầu các tiểu đoàn trưởng phải cân nhắc trước khi hạ lệnh phóng, không chắc ăn thì không đánh.
        
        3. Cải tiến và nâng cao năng suất tổ chức lắp ráp đạn tên lửa ở các tiêu đoàn kỹ thuật.
        
        4. Phục hồi những viên đạn quá thời hạn sử dụng.
        
        (Hai biện pháp 3 và 4 được thực hiện từ trước khi xảy ra trận đánh 12 ngày đêm)
        
        Đầu tiên, xin nói về những viên đạn quá tuổi: theo quy định của quân đội các nước trên thế giới, đạn quá thời hạn sử dụng, nếu không có biện pháp "kéo dài tuổi thọ" thì nhất thiết phải hủy, bởi vì nếu đem ra chiến đấu sẽ không an toàn.

        Kéo dài niên hạn cho đạn tên lửa là một việc hết sức phức tạp, chúng ta không có kinh nghiệm. Nhưng trong hoàn cảnh của một đất nước nghèo, thiếu thốn mọi thứ, lẽ nào quân đội ta lại để cho hàng ngàn quả đạn như thế bị hủy bỏ.

        Rồi "cái khó làm ló cái khôn", dựa vào tài liệu của quân đội bạn, cán bộ kỹ thuật ta đã đi sâu nghiên cứu và đã thực hiện thành công "quy trình lắp ráp ngược", tức là làm ngược lại quá trình lắp ráp.
        
        Trước hết là lấy hết nhiên liệu ra, rửa sạch các khoang chứa, sấy thật khô, rồi dùng thiết bị đặc biệt kiểm tra độ chịu đựng áp suất cao của từng khoang. Tiếp theo là tháo rời tầng đuôi, đầu đạn, cánh lái, xếp gọn tất cả vào thùng, xong cặp chì lại y như mới (Chú thích: việc kéo dài tuổi thọ cho đạn tên lửa được thử nghiệm thành công tại một tiểu đoàn kỹ thuật, ở Hà Nội, sau đó thực hành rộng rãi ở nhiều nơi. ).
        
        Bằng cách ấy, ngành Kỹ thuật tên lửa phòng không đã kéo dài tuổi thọ cho toàn bộ số đạn "quá đát" nói trên thêm được 48 tháng, có nghĩa là mỗi viên đạn "thọ" thêm 4 năm. Các cán bộ chiến sĩ tài giỏi của ngành Kỹ thuật tên lửa chúng ta đã làm sống lại và trả về cho Tổ quốc hàng ngàn viên đạn SAM2, một tài sản rất lớn.
        
        Quý hóa vô cùng. Chính những quả đạn ấy đã góp phần bắn rụng pháo đài bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội - Hải Phòng những đêm cuối tháng 12 năm 1972.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #22 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 09:40:17 PM »

        Về tình trạng lắp ráp chậm:
       
        Khi chuyển từ Liên Xô sang, các quả đạn tên lửa đều ở trạng thái tháo rời. Từng bộ phận đều được sắp xếp gọn gàng trong những thùng kín. Chúng sẽ được các đơn vị kỹ thuật, thường gọi là "Tiểu đoàn 5", lắp ráp lại, kiểm tra hệ thống điện và vô tuyến điện đầy đủ, xong nạp chất đốt, trước khi chuyển đến các tiểu đoàn hỏa lực. Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, tốc độ lắp ráp của các tiểu đoàn 5 nói chung đã phục vụ được yêu cầu chiến đấu lúc ấy.
       
        Nhưng, để đối phó với cuộc tiến công ồ ạt của không quân chiến lược Mỹ, kéo dài nhiều ngày đêm như trong chiến dịch B52 Mỹ ném bom Hà Nội, Hải Phòng, trong điều kiện các công đoạn lắp ráp được tiến hành ở nhiều dịa điểm phân tán cách xa nhau (Chú thích: Bố trí các bãi lắp ráp đạn tên lửa ở xa nhau là để giảm tổn thất nếu bị Mỹ ném bom.), thì tốc độ lắp ráp bình thường như trước không thể nào đáp ứng nổi. Vấn đế đặt ra là phải cải tiến quy trình. thao tác, để làm sao trong một ngày đêm có thể cung cấp được một số lượng đạn tên lửa nhiều hơn.
       
        Trước kia, để lắp ráp một quả đạn, theo quy trình cũ các chiến sĩ phải mất rất nhiều thời gian. Qua nhiều ngày đêm cùng anh em trong đơn vị tìm tòi, Tiểu đoàn trưởng kỹ thuật Dương Quảng Châu, người anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, đã đề ra sáng kiến mới: nạp nhiên liệu sẵn, lắp ráp đạn ngay trên xe kéo đạn và hợp lý hóa một số động tác kỹ thuật, được Tư lệnh Binh chủng Đoàn Huyên và Cục trưởng Kỹ thuật Quân chủng Lương Hữu Sắt rất hoan nghênh và đã sớm cho tiến hành thử nghiệm ngay tại tiểu đoàn kỹ thuật của Dương Quảng Châu, ở Hải Phòng. Kết quả thành công tốt đẹp: năng suất lắp ráp đạn trong một ngày đêm tăng lên gấp đôi. . .
       
        Thế mà khi bước vào chiến dịch, trước sức "ngốn" đạn ngoài mức dự kiến, các tiểu đoàn kỹ thuật của Hà Nội lại bị một phen lúng túng, không sao bảo đảm cung cấp đủ đạn cho các tiểu đoàn chiến đấu, như đã nói ở trên.
       
        Cục Kỹ thuật Quân chủng được lệnh: tăng gấp lực lượng chuyên môn cho các tiểu đoàn 5, để cho mỗi tiểu đoàn có thêm một dây chuyền lắp ráp. Mỗi dây chuyền lại còn được bổ sung quân số để tăng ca, tăng kíp, giúp cho cán bộ chiến sĩ có điều kiện thay nhau làm việc và nghỉ ngơi. Tuy thế, cường độ làm việc ở các tiểu đoàn 5 vẫn vô cùng căng thẳng. Các trận địa hỏa lực từng giờ từng phút đang chờ đạn của Tiểu đoàn 5. Ai nấy đều gầy rộc đi, mắt trũng sâu, thâm quầng vì mỏi mệt và thiếu ngủ.
       
        Cục Hậu cần Quân chủng liền cho mở kho, xuất đường, sữa, thịt hộp, lương khô... vốn là tiêu chuẩn dành riêng cho cán bộ, chiến sĩ đi B để bồi bổ sức khỏe cho các anh em các tiểu đoàn kỹ thuật. Cả những viên thuốc làm dịu thần kinh, chống cơn buồn ngủ cũng được gửi đến tận tay chiến sĩ.
       
        Nhờ những biện pháp tích cực nói trên, tình trạng lắp ráp đạn không theo kịp yêu cầu chiến đấu đã cơ bản được giải quyết
       
        Còn việc bắn tiết kiệm đạn, bộ đội tên lửa đã thực hiện ra sao?.
       
        Trước hết xin nêu một dẫn chứng: ở Tiểu đoàn 57 trong trận đánh hồi 5 giờ sáng đêm 20 rạng ngày 21, khi từng tốp B52 đang nối tiếp nhau bay vào thì trên các bệ phóng chỉ còn 2 quả đạn. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt (Chú thích: Đồng chí Nguyễn Văn Phiệt được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dàn ngày 3-9-1973. Đến năm 1999 là Trung tướng, Phó Tư lệnh chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân.) hạ quyết tâm đánh "quả một", nghĩa là mỗi lần dùng một quả.
       
        5 giờ 09 phút, quả thứ nhất rời bệ, hạ 1 chiếc B52.
       
        5 giờ 19 phút, quả thứ hai, quả đạn cuối cùng trên các bệ phóng, vút lên, hạ thêm 1 B52 nữa. Chiếc này rơi xuống gần Núi Đôi, Vĩnh Phú.
       
        Thế là trong tình hình khan hiếm đạn, bộ đội tên lửa ta đã phải bắn từng phát một và đã lập chiến công kỳ diệu "mỗi viên đạn một quân thù". Đặc biệt ở đây "quân thù" là những siêu pháo đài bay.
       
        Còn những thí dụ khác cũng không kém phần lý thú:
       
        Đêm 26 tháng 12, Tiểu đoàn 79 cũng chỉ bằng một quả đạn đã hạ tại chỗ 1 chiếc B52 rơi ở Sơn La.
       
        Riêng ở Tiểu đoàn 77 đã diễn ra ba trận đánh xuất sắc. Hồi 4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 19, Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn đã cho phóng 2 quả, hạ 1 B52 rơi ở xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây. Đêm sau, 20 tháng 12, lúc 20 giờ 34 phút, Tiểu đoàn 77 lại hạ thêm 1 B52 nữa rơi ở Vạn Thắng, Ba Vì, cũng bằng 2 quả đạn. Sau đó đến 5 giờ sáng, Tiểu đoàn trường Văn lại cho phóng tiếp 2 quả đạn cuối cùng, diệt thêm 1 B52 nữa, rơi xuống thị xã Phúc Yên.
       
        Như lời của một viên tướng không quân Mỹ, do hãng UPI phát đi từ Băng Cốc hồi giữa tháng 11 năm 1972, nói rằng: "Nếu Bắc Việt bắn rơi được một chiếc B52 trị giá 9 triệu đô-la này mà có bằng cớ, chúng ta coi như họ đánh chìm được một tàu chiến Mỹ", thì chỉ riêng Tiểu đoàn 77, với chiến công bắn rơi tại chỗ 3 chiếc B52, đã đạt được ý nghĩa "đánh chìm" 3 tàu chiến Mỹ, mà chỉ bằng 6 quả đạn tên lửa SAM2 (Chú thích: Tiểu đoàn 77, thuộc Trung đoàn H57, bắn rơi 4 B52 (có 3 chiếc rơi tại chỗ) được phong danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 3 tháng 9 năm 1973.).
       
        Sau đêm Nô-en, vào chiều 26 tháng 12, giữa thanh thiên bạch nhật bỗng thấy vút lên một vệt khói dài. Tên lửa của đơn vị nào bắn đây? Sao lại dám vi phạm mệnh lệnh của Bộ "chỉ dành tên lửa để đánh B.52"? (B52 vào Hà Nội chỉ có bay đêm). Thì ra đó là Tiểu đoàn 72 thuộc Trung đoàn H85 của Hải Phòng mới được điều lên tăng cường cho Thủ đô. Do "chân ướt chân ráo" chưa nắm vững quy định, khi phát hiện một tốp F4 lao vào Hà Nội, bất chấp khả năng địch sẽ đánh trả đũa, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt vẫn quyết định phóng đạn. Một chiếc F4 rơi tại chỗ . Nhở chiến công này, Tiểu đoàn 72 được cấp trên miễn tội.
       
        Dường như để "tạ lỗi", đêm 27, vào lúc 23 giờ, Tiểu đoàn 72 đã đánh một trận thật xuất sắc, cũng bằng 2 quả đạn, quật ngã một pháo đài bay giữa lòng Hà Nội. Xác của chiếc B52 rơi ngay xuống đường Hoàng Hoa Thám và giữa làng hoa Ngọc Hà, chỉ cách trung tâm Quảng trường Ba Đình không đầy 600 mét. Một nhà nhiếp ảnh đã chớp thời cơ, thu được hình ảnh chiếc pháo đài bay đang bùng cháy giữa trời đêm. Tấm ảnh thật đẹp, được ca ngợi như là một tác phẩm nghệ thuật hiếm có.
       
        Năm 1973, ông Xô-lô-rép, Đại tá chuyên gia Phòng không Liên Xô nói với chúng tôi: "Việt Nam nghèo nên phải đánh theo cách của con nhà nghèo, nhưng Việt Nam vẫn thắng, bởi vì các bạn Việt Nam rất thông minh, rất sáng tạo”. Gần đây, một nhà chiến lược Mỹ nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Nếu dân tộc Việt Nam chỉ anh hùng không thôi thì chắc chắn Việt Nam đã bị khối lượng sắt thép khổng lồ của chúng tôi đè bẹp. Nhưng vì dân tộc Việt Nam thông minh quá nên Mỹ đã chịu thua".
       
        Việc bộ đội phòng không khắc phục muôn vàn khó khăn để có đủ đạn tên lửa đánh thắng B52 Mỹ, suy ra, cũng là từ cái đầu óc sáng tạo của người Việt Nam chúng ta vậy.
       
        Có điều rất đáng tiếc là giá như hồi ấy, bộ đội tên lửa ta có được thêm nhiều đạn hơn, được bắn theo qui tắc xạ kích, được "đánh bồi", "đánh nhồi", mỗi lần bắn thêm vài ba quả, thì kết quả bắn rơi B52 chắc sẽ còn lớn hơn nhiều.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #23 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 09:45:59 PM »

 
        Câu hỏi 8: Ngoài việc cung cấp đủ đạn tên lửa, vấn đề bảo đảm chất lượng cho các bộ khí tài SAM2 sẵn sàng chiến đấu cũng gặp nhiều khó khăn. Ngành Kỹ thuật tên lửa phòng không của ta đã khắc phục bằng cách nào
       
        Đáp: Tên lửa là một viên đạn lớn. Muốn đưa được quả đạn nặng hàng tấn ấy lên trời nhất thiết phải có thuốc phóng và bệ phóng. Tuy nhiên, ngoài ra còn cần phải có thêm những máy móc hiện đại, gồm nhiều bộ phận hết sức tinh vi, với chức năng dò tìm, bắt mục tiêu, tính toán phần tử và điều khiển đường đạn, để bảo đảm cho viên đạn bắn trúng máy bay địch. Tất cả các máy móc ấy tập hợp lại trong một chiếc xe lớn, giống như bộ não của tiểu đoàn hỏa lực, gọi là đài điều khiển, thành phần quan trọng nhất của bộ khí tài SAM2.
       
        Trong những năm chống Mỹ, Việt Nam được Liên Xô giúp đỡ xây dựng hàng chục trung đoàn tên lửa SAM, với đầy đủ khí tài đạn dược và bệ phóng, bao gồm cả cơ số dự bị. Nhưng, ngay từ khi mới ra quân, bộ đội tên lửa phòng không đã trở thành đối tượng tiêu diệt của không quân Mỹ. Máy bay của chúng đã dùng đủ loại đạn bom liên tục tiến công các trận địa tên lửa của ta. Những đợt bom phá, bom phát quang, bom nổ chậm với sức công phá lớn và những loạt bom bi quái ác trùm lên trận địa, những quả đạn hỏa tiễn Sơ-rai nổ trúng đài ra-đa, đài điều khiển, không phải là trường hợp hiếm xảy ra. Đi đôi với tổn thất đau thương về sinh mạng, chúng ta còn chịu những thiệt hại đáng kể về vũ khí, khí tài.
       
        Ngoài ra, trong những lần di chuyển trận địa, trong các cuộc hành quân đường dài, những cỗ xe, cỗ máy liên tục bị dằn xóc bởi các "ổ gà”, những chỗ gập ghềnh, lồi lõm trên mặt đường, cũng gây nên nhiều chấn động ảnh hưởng đến độ chính xác của các bộ phận máy móc và linh kiện điện tử bên trong (Chú thích: Ở đây không đi sâu nói về chiến thuật cơ động của bộ đội tên lửa ta.).
       
        Giống như một chiếc đồng hồ bình thường, chỉ cần một chi tiết bị trục trặc là cả chiếc đồng hồ ngừng hoạt động. Một tiểu đoàn tên lửa phòng không cũng vậy. Toàn bộ hệ thống vận hành phức tạp của nó không cho phép bất cứ một hư hỏng nhỏ nào tồn tại. Một đoạn ống dẫn sóng bị thủng vì bom bi, một cánh ăng-ten bị mảnh bom làm sứt mẻ, một khối linh kiện bị hỏa tiễn Sơ rai xé nát, một đầu dây điện bị đứt rời trong lúc hành quân... đều có thể dẫn tới sự tê liệt của cả tiểu đoàn hỏa lực.
       
        Mặt khác, khó khăn khôn lường còn đến với chúng ta từ việc không quân Mỹ liên tục đổi mới chất lượng vũ khí tiến công. Mỗi lần kẻ thù thay đổi thủ đoạn kỹ thuật, chiến thuật, nhằm vô hiệu hóa vũ khí của ta là mỗi lần kíp chiến đấu trên xe điều khiển phải tìm tòi thay đổi cách đánh, đồng thời cũng yêu cầu các kỹ sư, những cán bộ công nhân viên kỹ thuật các loại (trung cấp sơ cấp điện, vô tuyến điện, điện từ, cơ khí...) lao vào nghiên cứu cải tiến khí tài lên một bước, để chống lại chúng bằng trình độ kỹ thuật cao hơn.
       
        Không chỉ có thế, tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, số lượng dự trữ, phụ tùng thay thế không mấy dồi dào, lại dần dà bị hao mòn cạn kiệt trong chiến tranh cũng làm cho mức độ căng thẳng tăng lên gấp bội, nhất là đối với các chiến trường xa như ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, dọc đường Trường Sơn, trên địa bàn Quân khu 4.
       
        Trước những gian nan chồng chất ấy, đội ngũ kỹ thuật viên tên lửa của Quân chủng Phòng không - Không quân, từ các công trường, xưởng, trạm của Cục Kỹ thuật, đến các phòng, ban kỹ thuật của các sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn đã lăn xả vào cuộc chiến đấu sinh tử, bám sát chiến trường, bám sát trận địa, âm thầm khắc phục mọi khó khăn, sửa chữa và làm sống lại hàng chục, hàng chục "lần bộ khí tài" trả về cho đơn vị (Chú thích: Có những bộ khí tài bị địch đánh hỏng không chỉ một lần.).
       
        Có khi anh em thợ đã phải "vá" ống dẫn sóng bị thủng bằng phương pháp gò, hàn mà có lẽ không có nơi nào trên thế giới áp dụng. Có lúc họ phải dùng dây kéo một thanh gỗ - với kích thước vừa khít - bên trong lòng ống dẫn sóng, để "vuốt thẳng" những chỗ bị bom đạn Mỹ làm móp méo, hoặc đôi khi phải sửa chữa những cuộn biến thế bị cháy bằng một máy quấn dây thủ công. Có trường hợp khó khăn đến mức, cùng một lúc cả 4 tiểu đoàn trong một trung đoàn đều bị địch đánh hỏng khí tài. Các kỹ sư cùng anh em thợ đã phải đi thu gom, lượm lặt những thứ còn lại, đưa về trạm sửa chữa lưu động, để dồn lắp, phục hồi cho được một bộ khí tài hoàn chỉnh, đồng bộ, nhờ đó phục vụ đơn vị bắn rơi pháo đài bay Mỹ, như trường hợp ở Trung đoàn H38 ở Vĩnh Linh năm 1967.
       
        Trong Binh chủng Tên lửa phòng không có một bộ khí tài được coi là đặc biệt nhất, do "tuổi tác cao niên" với hơn 13 ngàn giờ chạy máy và bởi một lý do hi hữu khác: bị ngâm mình mấy ngày đêm liền trong nước lũ phù sa sông Hồng trong trận lụt tháng 7 năm 1971. Một số ý kiến đề nghị hủy bỏ. Nhưng theo quyết tâm của Quân chủng và của Sư đoàn B61 thì bằng mọi giá phải cứu lấy bộ khí tài này. Sau khi nước rút, anh em đã bắt tay nạo vét bùn, tháo gỡ từng bộ phận, lau chùi sạch sẽ đến tận từng chi tiết, đem sấy khô rồi đưa về xưởng tiến hành đầy đủ mọi động tác kỹ thuật cần thiết khác. Cuối cùng, sau nửa năm trời, bộ khí tài đã được "cải tử hoàn sinh". Bằng bộ khí tài "già nua" nhất và "ốm yếu" nhất Quân chủng ấy, Tiểu đoàn 57 thuộc Trung đoàn H61 đã lập nhiều chiến công xuất sắc, trong đó có chiến công bắn rơi 4 B52 Mỹ.
       
        Bước vào cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, không quân Mỹ đánh phá miền Bắc vô cùng quyết liệt. Tổn thất của quân dân ta nói chung và của bộ đội tên lửa nói riêng là rất lớn. Để phục vụ cho các đơn vị chiến đấu trên một địa bàn trải dài từ Lạng Sơn đến giới tuyến Vĩnh Linh, ngành Kỹ thuật Tên lửa phòng không đã đứng trước những khó khăn có lúc tưởng chừng không vượt qua nổi.
       
        Còn nhớ trong một công văn của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân gửi các đơn vị và cơ quan, Phó tư lệnh Nguyễn Văn Tiên đã chỉ thị một cách nghiêm khắc: "Phải chống tư tưởng coi công tác bảo đảm kỹ thuật là việc riêng của ngành Kỹ thuật, phải chấm dứt tình trạng kéo dài và chậm trễ trong việc sửa chữa khí tài; Cục kỹ thuật phải đẩy nhanh tốc độ phục hồi số lượng đạn tên lửa quá niên hạn và các bộ khí tài hư hỏng, khẩn trương đáp ứng yêu cầu của mặt trận phía trước và cả cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng”.
       
        Chấp hành chỉ thị của Bộ Tư lệnh, ngành Kỹ thuật tên lửa đã huy động toàn lực, phối hợp chặt chẽ với các ngành bạn trong Quân chủng, tranh thủ sự chi viện của các cơ quan trên Bộ như Cục Nghiên cứu Khoa học Quân sự, Viện Kỹ thuật Quân sự (nhất là của Viện Kỹ thuật Quân sự do ông Hoàng Đình Phu làm Viện trưởng), vừa ra sức cải tiến hợp lý hóa tổ chức sản xuất, vừa gia tăng cường độ lao động, làm việc ngày đêm, nhờ đó đã hoàn thành được một khối lượng rất lớn về công tác sửa chữa, phục hồi vũ khí, khí tài cho các đơn vị.
       
        Tất cả các tiểu đoàn hỏa lực đứng chân trên mặt trận Hà Nội, Hải Phòng, trước khi bước vào chiến dịch đều đã nhận được những bộ khí tài có chất lượng tốt. Bằng chứng là trong chiến dịch 12 ngày đêm, 29 pháo đài bay Mỹ đã bị bộ đội tên lửa bắn rơi, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ.
       
        Có thể nói sự đóng góp của cán bộ nhân viên ngành Kỹ thuật Tên lửa vào chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" là rất xuất sắc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #24 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 09:50:59 PM »

 
        Câu hỏi 9: Việc đánh B52 của Không quân ta cũng gặp không ít khó khăn. Vậy bộ đội không quân đã làm gì để có được chiến công xuất sắc của hai anh hùng Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều
        
        Đáp: Không kể tương quan lực lượng quá chênh lệch, trong cuộc đọ sức 12 ngày đêm, Không quân ta còn gặp nhiều khó khăn to lớn khác:
        
        Đối với MIG bay đêm, phương tiện duy nhất để tìm thấy kẻ thù là ra-đa. Thế nhưng trên mỗi chiếc B52 có tới hàng chục máy gây nhiễu tự động, với hệ thống tần số choán hết dãy tần số của các đài ra-đa dẫn đường cũng như ra-đa ngắm bắn của phi công ta.
        
        Để đối phó với MIG tiến công từ phía sau, ở phần đuôi mỗi B52 đều có lắp một khẩu súng máy 12,7 ly luôn luôn sẵn sàng nhả đạn. Lại còn 6 hỏa tiễn "nhử mồi" Gờ-rin Quây (Green Quai) rất lợi hại. Nếu tên lửa K13, loại tìm nhiệt, của ta phóng vào B52 mà gặp hỏa tiễn nhử mồi, thì đường đạn sẽ bay chệch sang luồng nhiệt thu hút của nó.
        
        Để triệt tiêu mọi hoạt động của không quân đối phương, như phần trên đã nói, không quân Mỹ đã tổ chức một lực lượng lớn máy bay tiêm kích F4, hình thành một "bức rào cản di động" bảo vệ đội hình bay của B52. Ngoài ra, trước khi B52 đến Hà Nội khoảng 30 phút, những chiếc F111A bay rất thấp đã đến ném bom phá hủy hai đầu đường băng của các sân bay, khiến cho máy bay ta không còn đường cất cánh. Tiếp theo là những chiếc F4 khác đến lượn vòng khống chế vùng trời trên sân bay để sẵn sàng bắn rơi bất kỳ chiếc MIG nào cất cánh bay lên.
        
        Có lẽ vào lúc này, những con "diều hâu" trong Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đang nhớ lại những giờ phút huy hoàng của Không quân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hồi cuối thế chiến thứ hai, khi hàng trăm pháo đài bay B29 và rất nhiều máy bay chiến thuật, bằng những đợt bom dữ dội, đã dập tắt mọi khả năng cất cánh của hàng ngàn máy bay tiêm kích Nhật Hoàng.
        
        Ngày 19 và 20 tháng 12 năm 1972, các hãng thông tin và báo chí Mỹ tung tin: "MIG của Bắc Việt đã bị hoàn toàn tê liệt". Về phía ta, một câu hỏi được đặt ra từ trước: "ở vào điều kiện không quân Mỹ hầu như chiếm lĩnh bầu trời, ra-đa ta bị nhiễu nặng, trong không gian mênh mông tối đen mù mịt, MIG của ta làm sao cất cánh bay lên, làm thế nào chọc thủng được cái "vỏ thép" dày đặc của lũ F4, làm sao tìm được B52, tiếp cận được nó để nổ súng chính xác?"
        
        Câu trả lời là: bằng những cố gắng phi thường, không quân ta đã vượt qua tất cả, để cuối cùng MIG vẫn tồn tại, vẫn cất cánh chiến đấu và lập công xuất sắc.
        
        Đầu tiên phải nói về cách đánh: trước kia, do chưa có điều kiện "tiếp xúc" với B52, chưa hiểu được thủ đoạn chiến thuật của chúng, cho nên không quân ta chưa có được cách đánh phù hợp. Khoảng đầu năm 1971, theo chỉ thị của Phó tư lệnh Quân chủng phụ trách Không quân Nguyễn Văn Tiên, Tư lệnh Binh chủng Không quân Đào Đình Luyện và Phó tư lệnh Binh chủng Trần Mạnh (Chú thích: Đồng chí Trần Mạnh, cán bộ chỉ huy xuất sắc của Không quân nhân dân Việt Nam, là Phó tư lệnh Quân chủng Không quân, rồi Tư lệnh Binh đoàn 919 (khỏng quân vận tải) rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam từ năm 1979.), một đoàn nghiên cứu cách đánh B52 gồm các sĩ quan tham mưu tác chiến, quân báo, dẫn đường và một số phi công có kinh nghiệm, do Phó trung đoàn trường Trung đoàn CH21 Nguyễn Nhật Chiêu (Chú thích: Đồng chí Nguyễn Nhật Chiêu được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tháng 12 năm 1973.) chỉ huy lên đường vào Quảng Bình. Từ các điểm cao trên đỉnh Trường Sơn, các anh quan sát bằng mắt, lắng nghe bằng tai, mọi hoạt động của lũ pháo đài bay và của những chiếc F105 hộ tống. Các anh tìm hiểu quy luật hoạt động của địch, nghiên cứu khả năng khống chế của ra-đa và tên lửa của Mỹ từ trên các chiến hạm lởn vởn ngoài biển Đông.
        
        Một phương án dùng MIG 21 đánh B52 được vạch ra và được Quân chủng chấp thuận, với yêu cầu về giữ bí mật hết sức nghiêm ngặt. Sau khi cất cánh phải bay thật thấp để tránh ra-đa từ các tàu chiến phát hiện. Các trạm ra-đa của ta phải thực hiện những quy ước về mật hiệu cất cánh và dẫn đường thật chặt chẽ, phải tổ chức nghi binh cho khôn khéo. . .

        Trong lần xuất kích đêm 4 tháng 10 năm 1971 , phi công Đinh Tôn (Chú thích: Đồng chí Đinh Tôn, một trong những phi công tài giỏi nhất của không quân ta, chiến đấu rất dũng cảm, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tháng 12 năm 1973.) đã phát hiện được B52, nhưng do ở thế bất lợi nên được lệnh phải quay về. Đến đêm 20 tháng 11 năm 1971, phi công Vũ Đình Rạng lại được giao nhiệm vụ tìm đánh B52. Anh cất cánh từ một sân bay ở Nghệ An. Được sự dẫn đường của ra-đa và Sở chỉ huy mặt đất, anh bay thấp dọc Trường Sơn vào khu vực B52 đang hoạt động. Còn cách dịch 50 ki-lô-mét, anh vút lên cao tiếp cận mục tiêu. Rạng đã nhìn thấy 3 chiếc B52 với những hàng đèn trên lưng, bên cánh, trên đuôi. Vào đến khoảng cách 2000 mét, anh chọn chiếc đi đấu và ấn nút phóng tên lửa.
        
        Chiếc B52 bốc cháy, bay về hướng tây và đáp khẩn cấp xuống một sân bay ở Thái Lan. Gần đây theo tiết lộ của một cựu thiếu tá phi công Mỹ, Ralp Welterhalm, thì chiếc B52 này hôm ấy không thể về được căn cứ U-ta-pao, mà phải hạ cánh bắt buộc xuống sân bay chiến thuật Na-khon Pha-nom. Nó đã bị phế bỏ ngay sau đó vì bị thương quá nặng.
        
        Khiếp sợ trước sự tấn công uy hiếp của MIG21, suốt một tuần lễ sau đó, không một chiếc B52 nào dám bén mảng đến vùng trời "cửa khẩu" Trường Sơn (Chú thích: Cụm "Cửa khẩu" Trường Sơn (cửa ngõ thông sang nước bạn Lào) gồm các con đường 12, 20, 10, 16 xuất phát từ Quảng Bình, vắt qua đỉnh Trường Sơn đi sang phía tây và đường 18 bắt đầu từ ki-lô-mét 43 đường 10.). Hàng ngàn xe vận chuyển của ta tranh thủ vượt cung, tăng chuyến, đưa hàng vào mặt trận phía Nam ngoài mức kế hoạch. Song, điều quan trọng hơn là qua trận đánh của Vũ Đình Rạng, không quân ta đã xác định được cách đánh B52 và khẳng định: MIG 21 của ta có thể bắn được B52 Mỹ. "Phương án năm cánh sao", tức là kế hoạch đánh địch trên 5 hướng để bảo vệ Hà Nội của Binh chủng Không quân được hình thành và đã sớm được hoàn chỉnh trước khi bước vào trận đánh lớn nhiều ngày.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tư, 2016, 09:58:08 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #25 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 09:56:50 PM »

        
        Thế còn những khó khăn cụ thể khác, Không quân ta đã khắc phục băng cách nào
        
        - Địch nhiều ta ít thì ta đánh lối du kích, dùng tốp nhỏ chiếc lẻ quần nhau với địch, với khẩu hiệu "một người, một máy bay vẫn tiến công", cực kỳ dũng mãnh, "tả xung hữu đột" giống như hành động "nắm thắt lưng địch mà đánh" của Quân giải phóng miền Nam.
        
        - Địch đánh hỏng đường băng chính, ta dùng đường băng phụ. Đường băng phụ hỏng, ta dùng đường lăn. Đường lăn hỏng, thì ta cất cánh từ các sân bay dã chiến, vòng ngoài. Mặt khác, tuy không có khẩu hiệu "địch đánh, ta sửa ta đi" như trên đường Trường Sơn, nhưng ở những sân bay miền Bắc lúc ấy cũng có một quyết tâm tương tự: "Địch phá, ta sửa ta bay". Bộ đội công binh của Quân chủng, được sự trợ giúp của đông đảo nhân dân các địa phương lân cận, mỗi lần đường băng bị bom phá nát, lập tức tổ chức ngay việc san lấp các hố bom, dọn sạch đất đá trên đường băng cho máy bay ta cất cánh (Chú thích: Sở dĩ sửa gấp đường băng được thực hiện nhanh chóng là nhờ bộ đội và dân công đã có kế hoạch hiệp đồng từ trước, đã chuẩn bị sẵn sàng vật liệu (cát, đá xi măng, tấm đan bêtông, ghi sắt) và mọi thứ dụng cụ (từ xe xúc, xe ủi, xe lăn đến xe bò, xe ba gác, quang gánh, ky sọt, xẻng cuốc...) đầy đủ. Còn có những nhóm văn nghệ đến biểu diễn, động viên tại chỗ.).
        
        - Có khi máy phát điện sân bay bị đánh hỏng, hệ thống đèn đường băng tắt. Ngay lập tức, anh chị em dân quân cùng bộ đội trực chiến cầm đuốc (Chú thích: Đuốc làm bằng ống nứa, ống nhôm, đựng giẻ tẩm dầu, thắp lên rất sáng. Mỗi người cầm đuốc có một hầm cá nhân bên cạnh.) lao ra, bất chấp hiểm nguy, đứng thay vị trí những ngọn đèn để làm chuẩn cho máy bay ta thấy đường hạ cánh.
        
        - Máy bay trinh sát của địch "chà đi xát lại" dò tìm vị trí máy bay ta, thì ta tổ chức ngụy trang MIG thật kín đáo. Có lúc chúng ta còn dùng máy bay lên thẳng loại lớn, ban ngày "cẩu" MIG đi giấu nơi xa, tối đến trả MIG về lại sân bay để sẵn sàng chiến đấu.
        
        - Máy bay tiêm kích F4 bảo vệ B52 rất đông, tầng tầng lớp lớp, thì các phi công ta đột nhập từ phía sau hoặc từ bên sườn rồi bất ngờ tăng tốc thọc sâu, vượt qua đầu bọn F4, đuổi kịp B52 mà tấn công.
        
        - Bị địch phóng tên lửa thì bằng những động tác khôn khéo điêu luyện, các anh kịp thời lần lượt né tránh.
        
        Cuối cùng bằng tinh thần quả cảm và tài trí tuyệt vời các phi công ta đã bắn rơi được B52 Mỹ, như Phạm Tuân đêm 27 và Vũ Xuân Thiều đêm 28 tháng 12 năm 1972.
        
        Riêng trường hợp Vũ Xuân Thiều, cất cánh từ một sân bay dã chiến ở Thanh Hóa, đến vùng trời Sơn La, khó khăn lắm anh mới lọt qua được hàng rào máy bay tiêm kích F4 để đến gần một tốp B52, từ phía sau. Chiếc đi đầu đã lọt vào đường ngắm. Căn cứ những chiếc đèn trên thân B52, anh đã xác định được cự ly bắn, nhưng để chắc ăn, Thiều quyết định phóng tên lửa K13 ở khoảng cách thật gần. Câu nói cuối cùng của Thiều gọi về Sở chỉ huy: "Thăng Long! Thăng Long! Tôi đã bắn cả 2 quả tên lửa. B52 chỉ bị thương nhẹ. Xin phép được tiêu diệt". Rồi cùng với chiếc MIG thân yêu mang số hiệu 5.124, Vũ Xuân Thiều lao thẳng vào chiếc pháo dài bay Mỹ . . . Và anh đã hy sinh (Chú thích: Phạm Tuân và liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đều được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).
        
        Trong 12 ngày đêm với 24 lần xuất kích, các chiến sĩ lái MIG đã diệt 7 máy bay địch, trong đó có 2 pháo đài bay B52. Thật là kỳ diệu!
        
        Ngoài ra, phi công ta còn có thành tích đáng khâm phục nữa là bằng những cánh bay MIG ít ỏi, các anh đã dũng mãnh lao vào đêm tối, xông thẳng vào đội hình dày đặc của máy bay tiêm kích Mỹ, buộc chúng phải quay ra đối phó, đội hình bay rối loạn, khiến cho cường độ nhiễu của chúng giảm đi, để lộ ra hình thù B52 trên màn hiện sóng, tạo điều kiện cho các trắc thủ tên lửa ta nhìn thấy đối tượng chính mà tiêu diệt (Chú thích: Trong 12 ngày đêm, phi công ta với nhiều lần xuất kích, đã 8 lần phá vỡ, làm rối loạn đội hình của máy bay tiêm kích địch.).
        
        Bộ Tổng Tham mưu đánh giá trong chiến dịch này, bộ đội không quân ta rất tài giỏi, đã góp phần rất tích cực vào chiến thắng rực rỡ "Điện Biên Phủ trên không".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #26 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 10:05:00 PM »

       
        Câu hỏi 10: Trong cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12 năm 1972, giặc Mỹ chủ yếu dùng máy bay B52, ném bom ở độ cao 10 ngàn mét. Vậy bộ đội cao xạ của ta đã chiến đấu như thế nào
       
        Đáp: Bộ đội cao xạ ra đời rất sớm, từ hồi kháng chiến chống Pháp, đã lập chiến công vẻ vang trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 (Chú thích: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội cao xạ bắn rơi 62 máy bay Pháp, hầu hết của Mỹ giúp Pháp, góp phần quan trọng vào thắng lợi chiến dịch.). Sang thời kỳ chống Mỹ, bộ đội cao xạ đã đóng vai trò nòng cốt trong toàn bộ lực lượng phòng không - không quân. Nhờ ở tính chất gọn nhẹ, cơ động linh hoạt, hiệu suất chiến đấu cao, bộ đội cao xạ đã được phát triển rất nhanh, có mặt ở khắp các chiến trường, trên mọi miền đất nước (cả Bắc và Nam) và lập thành tích xuất sắc.
       
        Chỉ riêng trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bộ đội cao xạ đã hạ 3.073 máy bay các loại, trên tổng số 4.181 chiếc bị bắn rơi trên miền Bắc, chiếm tỷ lệ 73%.
       
        Mắc Ga-vơn, thượng nghị sĩ Mỹ, đã từng cay đắng thú nhận: "Chúng ta đã chịu tổn thất nhiều phi công lành nghề và máy bay hiện đại ở Bắc Việt Nam. Có trận không lực Mỹ đã bị pháo phòng không đối phương bắn hạ cùng một lúc 3 chiếc máy bay đắt tiền cùng 3 phi công loại giỏi để chỉ đổi lấy một chiếc cầu nhỏ bé".
       
        Có thể đưa ra đây một thí dụ để chứng minh lời nói trên đây của ông nghị Mắc Ga-vơn : trưa ngày 17 tháng 10 năm 1967, chỉ trong 5 phút, 5 đại đội pháo cao xạ 37 ly của Tiểu đoàn 18, thuộc Sư đoàn B65 ở Hà Bắc, đã bắn rơi 5 chiếc F105D của Mỹ (có 4 chiếc rơi tại chỗ) trong khi cầu Đáp Cầu vẫn được bảo vệ hoàn toàn nguyên vẹn.
       
        Tuy nhiên, trong cuộc đánh trả các đợt tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, khi mà "Tên lửa và Không quân đóng vai trò chủ yếu, Tên lửa là chủ yếu nhất", như Kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã xác định, thì bộ đội Cao xạ được giao nhiệm vụ: chủ yếu đánh máy bay chiến thuật, gồm các loại trinh sát hoặc ném bom, để trực tiếp bảo vệ những mục tiêu trọng yếu nhất.
       
        Sau đêm 20 tháng 12, theo chỉ thị của Tổng Tham mưu trưởng từ Tổng hành dinh, lực lượng cao xạ của Thủ đô chỉ để lại một trung đoàn để bảo vệ nội thành, còn lại hơn hai chục đại đội pháo đi tăng cường bảo vệ các trận địa tên lửa.
       
        Được trang bị nhiều loại súng, pháo khác nhau, từ súng máy 12,7 ly; 14,5 ly đến các cỡ pháo 20 ly, 23 ly, 37 ly, 57 ly, 85 ly và 100 ly (Chú thích: Pháo cao xạ 100 ly: có tầm bắn hiệu quả tới độ cao hơn 10.000 mét. được điều khiền bằng máy chỉ huy K6-19M và ra đa COH-9A khá hiện đại.) trong chiến dịch 12 ngày đêm, bộ đội Cao xạ của Quân chủng và các quân khu đã hình thành một mạng lưới tầm thấp rộng khắp, và cả tầm trung, có thể đánh địch từ mọi hướng, từ xa đến gần, ở các độ cao từ 10.000 mét trở xuống.
       
        Chính lưới lửa tầm thấp của cao xạ đã diệt 5 chiếc F111A, trên tổng số 48 chiếc được huy động, đạt tỷ lệ rất cao = 10% như trên đã nói. Còn lưới lửa tầm trung, tuy ít ỏi cũng đã góp phần đánh trả pháo đài bay.
       
        Tổng cộng thành tích chiến đấu 12 ngày đêm, các chiến sĩ súng máy và pháo cao xạ đã bắn rơi 39 máy bay trên tổng số 81 chiếc của toàn chiến dịch, chiếm tỉ lệ 48%, góp phần tích cực bảo vệ các trận địa tên lửa cùng các mục tiêu quan trọng của Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng. Đó là những con số hết sức có ý nghĩa.
       
        Rồi đây, dù trong chiến tranh ngày càng hiện đại với vũ khí công nghệ trình độ ngày càng cao, không quân địch vẫn không thể loại bỏ được thủ đoạn bay thấp tránh ra-đa, bao gồm cả máy bay trinh sát có người lái, không người lái, máy bay ném bom, máy bay lên thẳng, máy bay nhỏ tốc độ chậm và tên lửa hành trình.
       
        Vì vậy vai trò của bộ đội cao xạ, cũng như những bài học kinh nghiệm của lực lượng bắn máy bay tầm thấp trong chiến dịch 12 ngày đêm đối với nhiệm vụ bảo vệ vùng trời Tổ quốc, hiện tại và tương lai vẫn còn nguyên giá trị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #27 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 10:12:52 PM »

         
MẤY VẤN ĐỀ CHỈ ĐẠO ĐÁNH B52!
       
        Câu hỏi 11: Dùng B52 ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng là âm mưu thầm kín của tổng thống Ních-xơn, là kế hoạch tuyệt mật của Mỹ. Ta có bị bất ngờ không? Sự chỉ đạo của các cấp chiến lược, chiến dịch? Vai trò của cơ quan Quân báo và bộ đội Ra-đa trong chiến dịch 12 ngày đêm ra sao
       
        Đáp:  a) Trước hết xét về chiến lược:
       
        Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ đầu năm 1968, đã từng đưa ra lời dự báo khi Người nói với Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài (Chú thích: Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân (từ 10-1963 đến 8-1967), sau lên làm Tổng Tham mưu phó. Từ 1974, ông là Tổng Tham mưu phó phụ trách các quân, binh chủng trong lực lượng vũ trang.): "Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua"... "ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.
       
        Tháng 6 năm 1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Lê Quẩn, đã ra nghị quyết nhấn mạnh: "Đế quốc Mỹ đã trắng trợn gây lại chiến tranh phá hoại trên miền Bắc nước ta với mức độ quyết liệt hơn nhiều so với trước... nhân dân ta phải luôn luôn vững vàng, phải tiếp tục chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống” (Chú thích: Trích "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 1954-1975", Bộ Quốc phòng -Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam - Hà Nội, 1988.).
       
        Trước đó, vào ngày 5 tháng 4 năm 1972, khi tình hình chiến sự ở miền Nam đang diễn ra sôi sục, Quân ủy Trung ương (Chú thích: Quân ủy Trung ương: Cơ quan Đảng lãnh đạo cao nhất trong Quân đội ta, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư.) đã chỉ thị cho Quân chủng Phòng không -Không quân và các quân khu: "Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc". Cuối tháng 11 năm 1972, Quân ủy Trung ương lại nhắc nhở, nhấn mạnh: "Đế quốc Mỹ có thể liều lĩnh dùng B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng".
       
        Ngày 24 tháng 11, Tổng Tham mưu trương Văn Tiến Dũng cùng các Tổng tham mưu phó Trần Quý Hai, Vương Thừa Vũ, Cao Văn Khánh, Phùng Thế Tài đã xuống thông qua và phê chuẩn Kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng Phòng không - Không quân, một kế hoạch mang tầm vóc chiến dịch, một chiến dịch phòng không được tiến hành chủ yếu bằng lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc, lấy Quân chủng Phòng không - Không quân làm nòng cốt.
       
        Sau khi ký duyệt, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp ra lệnh: "Phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị trước ngày 3 tháng 12 năm 1972". Sau đó, ông còn chỉ thị thêm: "Trước ngày Ních-xơn nhận chức, Mỹ có thể mở đợt tập kích bằng không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng. Các đồng chí phải nắm địch thật chắc. Tuyệt đối không để bị bất ngờ... Phải tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B52 mà tiêu diệt".
       
        Có thể nói sử chỉ đạo của Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, cùng tập thể cơ quan chiến lược của Quân đội ta, đối với Quân chủng Phòng không – không quân trong suốt quá trình chuẩn bị và cả trong chiến dịch 12 ngày đêm (mà trên đây chỉ là vài thí dụ) là hết sức nghiêm túc, chặt chẽ, đóng vai trò vô cùng quan trọng, tạo điều kiện cho Quân chủng Phòng không – không quân cũng như quân dân toàn miền Bắc đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ.
       
        Đầu tháng 12, trước khi xảy ra chiến dịch lịch sử, với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Lê Quẩn đã xuống Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - không quân, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Tri trình bày những nét chính về kế hoạch đánh B52, về công tác chuẩn bị của Quân chủng. Sau khi nghe báo cáo, Tổng Bí thư đánh giá cao nội dung bản kế hoạch, biểu dương Quân chủng đã tích cực đẩy mạnh công tác chuẩn bị chiến đấu, ông nhấn mạnh: "Để gây sức ép với ta, trước sau Mỹ cũng đưa B52 ném bom Hà Nội. Quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng Phòng không - không quân, phải kiên quyết làm thất bại âm mưu này của chúng".
       
        Như vậy là về phương diện chiến lược, Việt Nam đã không hề bị bất ngờ trước mưu kế thâm độc của Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #28 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 10:17:20 PM »

       
        b) Về mặt chiến dịch:
       
        Trên cơ sở những nhận định và sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã sớm hoàn thành Bản kế hoạch chiến dịch đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tài liệu hướng dẫn về cách đánh B52. Theo đó, công tác chuẩn bị mọi mặt (tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật) đã được tiến hành hết sức khẩn trương. Việc điều chỉnh đội hình chiến đấu, triển khai sở chỉ huy dự bị các cấp, huấn luyện các kíp chiến đấu, công tác giáo dục chính trị lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm, công tác bảo đảm vũ khí, khí tài, bảo đảm cơ sở vật chất, song song với việc tổ chức kiểm tra đôn đốc hết sức chặt chẽ từ trên xuống dưới, đến từng trận địa, là những công việc quan trọng nhất, đều đã được cơ bản hoàn thành đúng thời gian quy định.
       
        Có một thành công quan trọng trong việc chống "ảo tưởng hòa bình" xin được nhắc đến. Vào giữa tháng 10 dù không được phổ biến rộng, nhưng những tin tức về một bản thỏa thuận ngừng bắn đang bị rò rỉ ra ngoài. Thủ thuật tung hỏa mù của mưu sĩ Kít-xinh-giơ không chỉ gây ảo giác rộng rãi ở Mỹ mà còn lan tỏa đến Việt Nam. Tiếp theo là việc Ních-xơn, Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, một thủ đoạn thâm độc của Mỹ, càng làm cho hình ảnh con chim bồ câu trắng tượng trưng cho hòa bình như đang bay lại gần hơn. Một số cán bộ cơ quan Nhà nước và đồng bào Hà Nội ở những nơi sơ tán, lẻ tẻ kéo nhau về. Đây đó người ta thì thầm to nhỏ: "Sắp sửa đình chiến rồi? Chiến tranh sắp kết thúc rồi?
       
        Những diễn biến nói trên phần nào đã tác động tới một bộ phận cán bộ chiến sĩ Phòng không - Không quân ta. Thêm nữa, theo chủ trương của cấp trên, một đơn vị tên lửa của Hà Nội được lệnh cho anh em thay nhau về phép để chuẩn bị "đi B" sẵn sàng đáp ứng với khả năng chuyển biến của tình hình mới, càng làm cho bụng dạ cán bộ chiến sĩ thêm băn khoăn.
       
        Tâm lý "xả hơi" bắt đầu chớm nở. Thế là "ảo tưởng hòa bình" đã len lỏi vào đội ngũ những người cầm súng. Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân quyết nghị: tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị ngắn trong toàn lực lượng. Chính ủy Hoàng Phương và Phó chính ủy Nguyễn Xuân Mậu trực tiếp chỉ đạo đợt sinh hoạt chính trị quan trọng này. Tư lệnh Lê Văn Tri cũng đã phát biểu với cán bộ: "Trong bước đường cùng, thế nào Mỹ cũng đưa B52 ném bom Hà Nội. Chúng sẽ không bao giờ chịu thua một khi chúng chưa tung hết con bài cuối cùng là B52. Chúng ta phải chuẩn bị thật sẵn sàng".
       
        Sau đợt sinh hoạt chính trị ấy, cán bộ chiến sĩ đã hiểu rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù và nhận thức đầy đủ hơn về tình hình nhiệm vụ. Toàn Quân chủng, từ trên xuống dưới thống nhất một quyết tâm: "Cảnh giác cao nhất! Sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu tàn bạo của đế quốc Mỹ".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #29 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2016, 10:23:11 PM »

        Có người lại hỏi thêm: "Ta không bị bất ngờ về chiến lược và chiến dịch, nhưng về cái thời điểm B52 Mỹ từ Gu-am và U-ta-pao bay đến Hà Nội đêm 18 tháng 12, ta có bị bất ngờ không? Vai trò của bộ đội ra-đa và cơ quan Quân báo như thế nào"
        

        Trước khi trả lời câu hỏi trên đây, xin được nhắc lại một vài sự kiện đặc biệt của quá khứ:
        
        - Ngày 7 tháng 12 năm 1941 , quân đội Nhật Hoàng đã giáng cho quân đội Mỹ một đòn khủng khiếp ở cảng Trân Châu, "một tiếng sét giữa trời quang", trận thất bại nặng nề nhất của quân đội Mỹ trong thế chiến lần thứ hai. 5 trạm ra-đa của quân đội Mỹ đã hoàn toàn bị bất ngờ trước sự xuất hiện của 6 hàng không mẫu hạm, cùng 183 máy bay các loại của quân đội Nhật. Kết quả là 188 máy bay Mỹ bị diệt, 13 tàu chiến bị loại khỏi vòng chiến đấu, gần 2.000 binh lính và sĩ quan Hoa Kỳ chết.
        
        - Ngược lại, trong hai ngày 6 và 8 tháng 8 năm 1945, các trạm ra-đa của nước Nhật lại để lọt 2 chiếc pháo đài bay B29 của Mỹ, để chúng bay vào gieo thảm họa nguyên tử xuống đầu nhân dân hai thành phố Hi-rô-si ma và Na-ga-da-ki, khi mà nước Nhật đã đứng trên bờ vực thẳm của chiến bại.
        
        - Quân đội Ai Cập ngày 5 tháng 6 năm 1967 cũng bị choáng váng trước sự tiến công ào ạt của hàng trăm máy bay Ít-xra-en trong cuộc tập kích mang tên Focus. Ra-đa Ai Cập không phát hiện được kẻ thù xâm nhập vùng trời đất nước. Hệ thống sân bay và trận địa tên lửa phòng không Ai Cập bị tê hệt. 300 chiếc MIG21, MIG19, TU 16... bị phá hủy trên sân bay, 25 trạm ra-đa bị xóa sổ.
        
        - Còn đối với ta, trong đêm 18 tháng 12, khi hàng đàn B52 bay vào Hà Nội, quân dân miền Bắc đã không bị bất ngờ, sớm phát hiện địch từ xa và đã chủ động đánh địch ngay từ đầu.
        
        c) Vậy dựa trên cơ sở nào chúng ta phán đoán được thời điểm không quân chiến lược Mỹ mở đầu đợt tập kích là đêm 18 tháng 12 năm 1972?
        
        Quân đội Mỹ dù hiện đại đến đâu, dù tổ chức chặt chẽ đến mấy, cũng không sao tránh khỏi những sơ hở và lộ liễu. Công tác nắm địch của ta (cơ quan Quân báo của Bộ và của Quân chủng) đã tỏ ra rất xuất sắc trong việc nghiên cứu, phát hiện những triệu chứng, những nguồn tin từ đối phương. Thí dụ ngày 16, ta nắm được tin hai tàu sân bay Enterprise và Saratoga đang tiến vào Biển Đông, nâng tổng số tàu sân bay ở đây lên 6 chiếc (con số cao nhất từ trước đến nay); nhiều máy bay tiếp dầu trên không KC135 cũng đang được bổ sung đến Phi-lip-pin. Rồi lại có tin Lầu Năm Góc đã cho thành lập cấp tốc một cơ quan chỉ huy để điều khiển chung hai căn cứ không quân chiến lược ở Gu-am và U-ta-pao.
        
        Phân tích những thông tin trên, cán bộ quân báo của ta đã đi đến nhận định: "Sắp đánh lớn đến nơi rồi. Việc B52 đánh vào Hà Nội chỉ còn là ngày một ngày hai nữa thôi?" Vấn đề còn lại là làm sao phán đoán được chính xác ngày nào chúng sẽ bắt đầu hành động.
        
        Lại phải tiếp tục theo dõi tình hình trong ngày 18 tháng 12:
        
        Buổi sáng: lúc 5 giờ, tàu sân bay America neo đậu ở đông Đà Nẵng điện hỏi cấp trên: "Trực thăng hôm nay làm nhiệm vụ cấp cứu ở đâu?"
        
        Buổi trưa: vào lúc 10 giờ 15 và 11 giờ 46 phút, 2 máy bay không người lái bay thấp vào trinh sát Hà Nội, Hải Phòng.
        Một máy bay trinh sát khác (RF4C) khi bay qua Hà Nội, điện về căn cứ: "Thời tiết Hà Nội bảo đảm cho không quân hoạt động
        
        Buổi chiều:
        
        Bộ Tổng Tham mưu thông báo cho Quân chủng tin kỹ thuật (Chú thích: Tin kỹ thuật là tin khai thác được thông qua nghiệp vụ kỹ thuật, do cơ quan Tình báo của Bộ Tổng Tham mưu tổng hợp từ nhiều nguồn tin khác nhau. (Tuy biết B52 cất cánh, nhưng chưa biết mục tiêu tiến công của chúng): "32 chiếc B52 đã cất cánh từ Gu-am, lúc 12 giờ". Trực ban Binh chủng Ra-đa tổng hợp tình hình trong ngày, báo cáo với Phó tư lệnh, Trực chỉ huy Quân chủng Nguyễn Quang Bích: "Hôm nay hoạt động của không quân địch giảm đột ngột". Trừ 3 máy bay trinh sát qua Hà Nội, Hải Phòng, không phận bắc vĩ tuyến 20 hoàn toàn yên tĩnh. Từ vĩ tuyến 20 trở vào không có tốp máy bay nào trên bản đồ đánh dấu đường bay, ngoài 2 tốp B52 hoạt động bên kia tây Trường Sơn. Ra-đa toàn binh chủng không có máy nào bị nhiễu quấy phá".
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM