Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2019, 05:46:31 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử nghệ thuật chiến dịch phòng không 12-1972  (Đọc 19447 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #20 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 08:02:38 AM »

       
        2. Đợt đánh tập trung quy mô chiến dịch bảo vệ giao thông vận chuyển chiến lược năm 1968.

        Chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở miền Nam liên tiếp bị thất bại ngày càng nặng nề, các bước leo thang lớn nhất của chiến tranh phá hoại miền Bắc củng lần lượt bị bẻ gảy, làm cho đế quốc Mỹ lúng túng, bị động chuyển về chiến lược phòng ngự.

        Đang ở thế thua, chính quyền Giôn-xơn buộc phải xuống thang, từng bước phi Mỹ hoá chiến tranh. Trong bước chuyển chiến lược, Giôn-xơn quyết định tăng cường xây dựng quân ngụy, đưa thêm 13.000 quân Mỹ sang Việt Nam, thay biện pháp chiến lược "tìm diệt" bằng biện pháp chiến lược "quét và giữ", cải thiện thế phòng ngự không để thua to hơn về quân sự nhằm làm hậu thuẫn cho đàm phán ở hội nghị Pari.

        Ở miền Bắc, địch tập trung đánh phá ác liệt hệ thống giao thông vận chuyển của ta từ vĩ tuyến 20 trở vào nhằm ngăn chặn tối đa sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường, hỗ trợ cho những nỗ lực mới của chúng ở miền Nam.

        Trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình chiến trường trên cả hai miền, Bộ Tổng tư lệnh xác định nhiệm vụ của Quân chủng Phòng không- Không quân: phát triển thế tiến công, khẩn trương đưa lực lượng vào chiến đấu ở mặt trận phía Nam, kiên quyết tiêu diệt nhiều máy bay địch, bảo vệ giao thông vận chuyển thông suốt, tích cực chi viện cho chiến trường miền Nam. Đồng thời chuẩn bị mọi mặt, kiên quyết đánh bại địch ngay từ đợt đầu khi chúng tập kích lớn trở lại miền Bắc.

        Quán triệt nhiệm vụ của chiến lược giao cho, Bộ tư lệnh quân chủng quyết tâm đưa lực lượng cao xạ, tên lửa không quân vào Quân khu 4 tổ chức đợt đánh tập trung quy mô lớn bảo vệ giao thông vận chuyển chiến lược điều chỉnh lại thế bố trí rađa bảo đảm cho tác chiến và phòng tránh một cách có hiệu quả trên địa bàn Khu 4.

        Trung tuần tháng 4 năm 1968, ta đưa sư đoàn 367 vào Nghệ An, tháng 6 năm 1968 rút bớt một số đơn vị ở Hà Nội, Hải Phòng thành lập sư đoàn phòng không 377 ở Khu 4 và tháng 8 năm 1968 tiếp tục đưa sư đoàn 365 vào chiến trường Khu 4. Bộ Tổng tư lệnh chuyển giao một số trung đoàn cao xạ của quân khu triển khai ở bắc sông Gianh cho quân chủng trực tiếp chỉ huy.

        Cuối tháng 7 năm 1968, quân chủng đã tổ chức sở chỉ huy (SCH) tiền phương để thống nhất chỉ huy tác chiến phòng không trên địa bàn Quân khu 4.

        Lực lượng phòng không trên địa bàn Quân khu 4 trong thời gian này có: ba sư đoàn phòng không của quân chủng (với bảy trung đoàn cao xạ, ba trung đoàn tên lửa) triển khai phía bác sông Gianh, sư đoàn phòng không 375 thuộc Quân khu 4 triển khai tác chiến ở phía nam sông Gianh.

        Trước tình hình địch đánh phá tập trung ác liệt hệ thống giao thông chiến lược, nhiều trọng điểm bị ách tắc dài ngày, vận chuyển vào phía nam gặp khó khăn lớn, ngày 1 tháng 7 năm 1968, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị về bảo đảm giao thông vận chuyển. Coi đây là một công tác chiến lược đột xuất của toàn Đảng, toàn dân. Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược quan trọng này, Chính phủ quyết định thành lập Bộ tư lệnh bảo đảm giao thông do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải làm tư lệnh. Trong Bộ tư lệnh bảo đảm giao thông gồm có đại diện Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ tư lệnh Quân khu 4, chính quyền các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nhằm thống nhất chỉ huy điều hành toàn bộ các lực lượng: lực lượng đánh địch bảo vệ, lực lượng bảo đảm sửa chữa và lực lượng vận chuyển. Bộ Tổng tư lệnh ra chỉ thị: bất cứ bầng cách nào cũng phải bảo đảm cho kỳ được giao thông vận chuyển thông suốt, không ảnh hưởng tới tiền tuyến.

        Địa hình Quân khu 4 dài và hẹp, các tuyến giao thông chiến lược chạy qua các vùng đồi núi miền Trung hiểm trở, có nhiều sông lớn, nhỏ chia cắt như sông Lam, sông La, sông Gianh, sông Nhật Lệ... có hệ thống cầu dày đặc. Riêng Hà Tĩnh có 190 cầu, Nghệ An có 91 cầu. Các đường bộ, đường sông, đường sắt tạo thành một mạng lưới giao thông liên hoàn đi vào các chiến trường bằng các đường 7, 8, 12, 20, 16, 10... Tác chiến phòng không bảo vệ giao thông vận chuyển có nhiều loại mục tiêu khác nhau rất phức tạp: loại cố định, loại cố định lâm thời, loại di động. Do đó, số lượng mục tiêu địch đánh phá để ngăn chặn và ta cần phải bảo vệ rất lớn, phân bố rải rác trên một diện rộng. Do vậy, đợt đánh tập trung bảo vệ giao thông vận chuyển trên địa bàn Quân khu 4 năm 1968 có ý nghĩa lớn về chiến lược, một nhiệm vụ hết sức nặng nề và phức tạp.

        Để ngăn chặn sự vận chuyển của ta, cách đánh cơ bản của địch là: sử dụng quy mô nhỏ và vừa là phổ biến đánh phá liên tục cả ngày và đêm. Ban ngày đánh các điểm nút, các đoạn đường khó khôi phục chủ yếu bằng bom từ trường, gây ùn tắc và đánh các chân hàng, các nơi sơ tán cất giấu. Ban đêm đánh lực lượng vận chuyển trên đường bằng cả bom bi, bom phá, mìn lá thả cây nhiệt đới và đánh bổ sung khống chế các trọng điểm gây khó khăn cho ta sửa chữa khôi phục. Đối với các mục tiêu lớn, chân hàng lớn địch tổ chức đánh từng đợt tập trung ba đến năm ngày. Song song đánh phá có chuẩn bị trước, hàng ngày địch còn sử dụng hai đến bốn máy bay thực hiện đánh thăm dò, vừa trinh sát vừa đánh phá.

        Thủ đoạn cơ bản của địch là tập trung đánh ác liệt các trọng điểm kết hợp với khống chế toàn tuyến, đánh ngày kết hợp khống chế ban đêm nhờ pháo sáng, ném bom đánh phá bằng phương pháp bổ nhào vào các mục tiêu điểm, kết hợp với ném bom bay bằng rải toạ độ vào các khu vực mục tiêu lớn, vào ban đêm và vào thời tiết xấu, dùng pháo sáng khống chế các trọng điểm, cầu phà quan trọng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #21 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 08:07:37 AM »

        Trong bảy tháng chiến đấu tập trung thực hiện nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận chuyển chiến lược, quân chủng đã trực tiếp tổ chức đợt đánh tập trung quy mô chiến dịch giải toả sông Lam trong tháng 8 và tháng 9 năm 1968, đồng thời đã chỉ đạo một số đợt đánh tập trung quy mô sư đoàn (đợt tháng 5 của sư đoàn 367 và sư đoàn 377, đợt tháng 9, tháng 10 của sư đoàn 365).

        Khu vực sông Lam bị địch tập trung đánh phá ác liệt, liên tục, giao thông vận chuyển bị ùn tắc nhiều ngày. Quân chủng tập trung lực lượng của ba sư đoàn 365, 367 và 377, hai biên đội MiG-21 và MiG-17, hai trung đoàn rađa để tổ chức một đợt đánh tập trung quy mô chiến dịch nhảm giải toả sông Lam, bảo đảm vận chuyển một khối lượng lớn vũ khí đạn dược và hàng hoá vào chiến trường trước mùa mưa. Trong đợt tác chiến này, lực lượng được bố trí thành ba cụm: cụm Rạng, cụm Đô Lương, cụm Phương Tích, không quân chủ yếu cất cánh từ sân bay Thọ Xuân, Thanh Hoá.

        Đây là đợt đánh tập trung quy mô chiến dịch đầu tiên trên chiến trường Quân khu 4. Các binh chủng đều chiến đấu trên địa bàn địch đánh phá ác liệt ngày đêm, tiêu diệt được một phần sinh lực địch, buộc chúng phải thay đổi thủ đoạn đánh phá ngăn chặn giao thông vận chuyển, đánh giãn ra khỏi khu vực trọng điểm, tạo điều kiện cho ta vận chuyển một khối lượng lớn vào chiến trường, đáp ứng yêu cầu của chiến lược.

        Tuy vậy, do chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức các đợt đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô chiến dịch bảo vệ giao thông vận chuyển trên một địa bàn phức tạp, nên lực lượng đông nhưng phát huy hiệu quả tiêu diệt địch còn thấp, cả đợt đánh tập trung, ta tiêu diệt 27 máy bay địch.

        Xét về mặt nghệ thuật tác chiến tập trung hiệp đổng quy mô lớn trong bảo vệ giao thông vận chuyển đã xuất hiện những yếu tố chiến dịch, nhưng còn nhiều mặt thiếu sót làm hạn chế đến hiệu quả tác chiến của đợt hoạt động:

        - Trong quá trình thực hiện ta chưa tạo được những trận đánh tập trung hiệp đồng tiêu diệt lớn sinh lực địch mang tính chất của một trận then chốt.

        - Việc chuẩn bị lực lượng chưa chu đáo, công tác bảo đảm kỷ thuật còn nhiều thiếu sót, hệ số bảo đảm kỹ thuật cho vũ khí trang bị thấp, nên chưa thực hiện được đánh tập trung quy mô lớn và duy trì chiến đấu liên tục.

        - Tư tưởng chỉ đạo tác chiến tập trung trong nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận chuyển chưa được quán triệt sâu sắc đến các cấp. Xác định mối quan hệ tiêu diệt địch và bảo vệ giao thông vận chuyển chưa rõ ràng. Có đơn vị nặng về lo bảo vệ an toàn mục tiêu nên bẳn xua, bắn đuổi, hiệu quả tiêu diệt kém. Ngược lại có đơn vị nặng về đánh chắc tháng nên bỏ lỡ thời cơ, chưa phát huy được hoả lực trong bảo vệ giao thông vận chuyển.

        - Thế bố trí tác chiến còn thiên về hình thức bố trí bảo vệ khu vực yếu địa, chưa phù hợp với cách đánh trong bảo vệ giao thông vận chuyển.

        - Công tác chuẩn bị chiến trường chưa đáp ứng được yêu cầu đánh tập trung. Bảo đảm cho tên lửa cơ động và bảo đảm dẫn đường cho không quân còn nhiều hạn chế, nên chưa phát huy được đầy đủ khả năng của tên lửa và không quân trong tác chiến.

        Qua đợt đánh tập trung giải toả tuyến sông Lam đã cho ta nhiều bài học sâu sắc về tổ chức chỉ huy trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận chuyển:

        - Sử dụng lực lượng càng lớn, càng tập trung thì hệ thống chỉ huy càng phải tổ chức chặt chẽ, bảo đảm chỉ huy một cách liên tục, kịp thời mới phát huy được sức mạnh chiến đấu của các lực lượng.

        - Trong giao thông vận chuyển, lực lượng phòng không, lực lượng bảo đảm và lực lượng vận chuyển phải gắn bó với nhau theo một kế hoạch thống nhất. Trong mối quan hệ đó, phải lấy yêu cầu của lực lượng vận chuyển làm trung tâm, làm mục đích cao nhất của kế hoạch tác chiến phòng không. Do đó, kế hoạch tác chiến phòng không không mang tính độc lập như tác chiến chiến dịch bảo vệ yếu địa mà chỉ là một mặt trong kế hoạch chung của Bộ tư lệnh bảo đảm giao thông vận chuyển, nó phải phục vụ theo yêu cầu của giao thông vận chuyển. Đặc biệt là tập trung vận chuyển vào ban đêm.

        - Công tác nắm địch và chuẩn bị chiến trường là hai mặt rất quan trọng chi phối đến toàn bộ hoạt động tác chiến và chuẩn bị bảo đảm tác chiến, là cơ sở thực tiễn để thực hiện phương châm, cách đánh phù hợp với tình hình nhiệm vụ, đặc điểm địch, ta và địa hình của từng chiến trường.

        - Công tác bảo đảm tác chiến, nhất là bảo đảm kỹ thuật phải đi trước một bước, phải có một lực lượng dự trữ cần thiết trong địa bàn và tổ chức các đội cơ động bảo đảm kỹ thuật kịp thời nhằm duy trì sức chiến đấu liên tục.

        - Phải vận dụng cách đánh rất linh hoạt để đối phó có hiệu quả với các thủ đoạn và cách đánh của địch, phù hợp với đặc điểm chiến trường và yêu cầu vận chuyển của ta. Kết hợp chốt với cơ động tạo thế vững chắc bảo vệ trọng điểm, đồng thời giành chủ động đánh địch bảo vệ các lực lượng vận chuyển trên tuyến. Kết hợp đánh tập trung tiêu diệt lớn buộc địch phải giãn ra khỏi khu vực trọng điểm để giải toả, đồng thời đánh nhỏ, cơ động đánh liên tục nhằm hạn chế sự khống chế của địch.

        Năm 1968, tuy tuyên bố ném bom hạn chế, nhưng không quân địch tập trung đánh phá quyết liệt hệ thống giao thông vận chuyển của ta trên địa bàn Quân khu 4. Trong bảy tháng từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10 năm 1968, địch đánh 2.019 lần với 5.300 lần chiếc, ném khoảng 37.500 tấn bom, thả 5.000 quả mìn. Với cường độ đánh phá ác liệt của địch đã gây cho ta nhiều khó khăn. Với quyết tâm cao, Quân chủng Phòng không- Không quân đã tổ chức đợt đánh tập trung kéo dài bảy tháng liên tục cùng quân dân trên địa bàn Quân khu 4, bắn rơi 425 máy bay, bắn cháy 31 tàu chiến, góp phần bảo vệ giao thông vận chuyển một cách tích cực.

        Nhờ sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Trung ương Đảng, nhờ có các biện pháp đối phó kiên quyết, các lực lượng đánh địch, bảo đảm sửa chữa, vận chuyển đã vượt qua muôn vàn khó khăn vận chuyển được một khối lượng vật chất lớn ra chiến trường, tăng gấp 2 lần so với năm 1967, quân số bổ sung cho chiến trường củng tăng 1,7 lần.

        Âm mưa của Mỹ giành thế mạnh trên chiến trường ơ miền Nam bị thất bại, đánh phá ngăn chặn miền Bắc càng bị tổn thất nặng, mục tiêu đánh gẫy "Cán xoong" chặn nguồn tiếp tế từ miền Bác vào miền Nam không đạt được, Mỹ muốn ngụy quân, ngụy quyền miền Nam mạnh lên, nội bộ nước Mỹ bớt lục đục, nhưng kết cục lại ngược với ý đồ của Mỹ. Ở miền Nam, Mỹ-ngụy càng lún sâu vào bị động lúng túng. Trong nước Mỹ, phong trào đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam càng lên cao, nội bộ tập đoàn Giôn-xơn càng mâu thuẫn gay gắt. Trước tình thế đó, ngày 1 tháng 11 năm 1968, Giôn-xơn buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc và ngày 13 tháng 11 năm 1968, Mỹ phải chấp nhận họp hội nghị 4 bên về Việt Nam ở Pari.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #22 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 11:31:29 PM »

        
        3. Đợt tác chiến tập trung quy mô lớn bảo vệ chiến dịch tiến công Trị - Thiên năm 1972.

        Phải tiếp nhận thất bại của Giôn-xơn để lại, nên sau khi trúng cử tổng thống, Ních-Xơn thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" với mục tiêu cơ bản là giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo của Mỹ, giảm bớt dính líu trên bộ, rút dần quân Mỹ, tăng cường viện trợ cho nguy quân, ngụy quyền đủ sức đứng vững. Phương châm chiến lược của Mỹ là tăng cường bình định ở miền Nam, mở các cuộc tiến công sang Campuchia và Lào, đánh phá ngăn chặn miền Bắc, thực hiện bao vây chia cắt cô lập miền Nam để tiến tới dập tắt cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam của ta. Với mục tiêu chiến lược đó, Mỹ ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền, giao dần căn cứ và trang bị kỹ thuật cho quân nguy, hỗ trợ quân nguy mở các cuộc hành quân càn quét và bình định để từng bước rút dần quân Mỹ về nước.

        Năm 1970, địch chủ quan cho ràng công cuộc bình đinh đã xong, chúng mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào nhằm phá "thánh địa của Việt cộng" và cô lập miền Nam. Bị thất bại nặng nề trên chiến trường Campuchia, Mỹ tổ chức cho quân nguy mở một cuộc hành quân quy mô lớn dưới sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ sang đường 9 - Nam Lào theo công thức quân ngụy cộng hoả lực Mỹ hòng cắt đứt hoàn toàn tuyến vận chuyển chiến lược của ta. Nắm đúng ý đồ của địch, ta tổ chức chiến dịch phản công, hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân của địch, đánh một đòn quyết định vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Ních-xơn.

        - Sau thẳng lợi của chiến dịch đường 9- Nam Lào, tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị ra nghị quyết về nhiệm vụ trước mắt: động viên toàn Đảng, toàn dân nắm thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, ngoại giao, phát triển thế tiến công mới trên chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại "Việt Nam hoá chiến tranh" giành thắng lợi lớn trong năm 1972 làm xoay chuyển tình thế ở chiến trường.

        Sau khi phân tích đầy đủ các yếu tố chiến trường, Bộ Chính trị quyết định lấy chiến trường Trị- Thiên là hướng tiến công chủ yếu của cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

        Theo chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Quân chủng Phòng không- Không quân điều chỉnh lại thế bố trí chiến lược nhằm thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ: bảo vệ yếu địa miền Bắc, bảo vệ giao thông vận chuyển trên tuyến hành lang cửa khẩu và chuẩn bị tham gia chiến dịch tiến công Trị- Thiên năm 1972.

        Chiến dịch Trị- Thiên năm 1972 là một chiến dịch tiến công quy mô lớn hiệp đồng binh chủng, là hướng chính trong cuộc tiến công chiến lược của ta năm 1972 nhằm tiêu diệt lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, cùng với các hướng chiến trường khác làm thay đổi nhanh chóng so sánh lực lượng có lợi cho ta để bằng những đòn đánh quyết định làm xoay chuyển tình thế. Để thực hiện quyết tâm chiến lược, ta đã sử dụng: ba sư đoàn bộ binh, bảy trung đoàn pháo, hai trung đoàn xe tăng, thiết giáp, hai trung đoàn công binh và nhiều đơn vị bảo đảm khác. Do quy mô chiến dịch binh chủng hợp thành lớn, nên phải vận chuyển một lượng vật chất, cơ động lực lượng với vũ khí trang bị nặng nề, cồng kềnh hết sức phức tạp. Vì vậy, nhiệm vụ tác chiến phòng không bảo vệ chiến dịch và chia cắt giữa hoạt động trên không với hoạt động trên mặt đất của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch tác chiến thắng lợi trở thành một yêu cầu lớn. Nhận rõ ý nghĩa chiến lược quan trọng của chiến dịch Trị - Thiên, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân đưa bốn sư đoàn phòng không 367, 365, 377, 363b vào tham gia tác chiến chiến dịch. Lực lượng phòng không trong chiến dịch còn có: phòng không Quân khu 4, phòng không của Đoàn 559, phòng không trong các sư đoàn bộ binh và lực lượng phòng không của các binh chủng trong chiến dịch. Quân chủng đã tổ chức sở chỉ huy tiền phương quân chủng bên cạnh sở chỉ huy và chỉ đạo chiến dịch để trực tiếp chỉ huy các lực lượng phòng không chiến dịch.

        Ngày 17 tháng 1 năm 1972, lực lượng chiến dịch bắt đầu hành quân từ Quảng Bình vào với 1.500 xe vận chuyển, 200 xe xích, 130 xe tải, 350 khẩu pháo. Để ngăn chặn cuộc tiến công của ta, địch tăng cường không quân, nhất là dùng B-52 đánh phá khu vực hậu phương chiến dịch, ngăn chặn và bịt các cửa khẩu.

        Nhiệm vụ của lực lượng phòng không trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch vô cùng nặng nề, vừa cơ động lực lượng triển khai theo thế bố trí chiến dịch, vừa tổ chức đánh địch bảo vệ các cụm quân ở khu vực tập kết, triển khai thế trận ban đầu và đánh địch bảo vệ vận chuyển cho chiến dịch. Lực lượng phòng không đã thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho các lực lượng chiến dịch cơ động triển khai đúng thời gian, đúng ý định và giữ được bí mật tuyệt đối trước khi mở màn chiến dịch.
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Tư, 2016, 11:39:22 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #23 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 11:33:42 PM »

        Trong quá trình tác chiến chiến dịch, sư đoàn phòng không 367 nằm trong đội hình binh chủng hợp thành tiến công trên hướng chủ yếu của chiến dịch. Sư đoàn phòng không 365 bảo vệ hậu phương chiến dịch, các cụm pháo binh, bảo vệ vận chuyển chiến dịch và sẵn sàng cơ động lực lượng, cơ động hoả lực chi viện cho đội hình binh chủng hợp thành tiến công phía trước. Sư đoàn phòng không 377 bảo vệ tuyến hành lang chiến lược phía tây chiến dịch, bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch. Sư đoàn phòng không 363b đứng phía sau đội hình vừa đánh địch bảo vệ vận chuyển chiến lược và vận chuyển chiến dịch, vừa làm nhiệm vụ lực lượng dự bị cơ động. Lực lượng phòng không các binh chủng và đơn vị bộ binh cơ động đánh địch bảo vệ trực tiếp hoạt động chiến đấu của binh chủng, của đơn vị trong quá trình tác chiến chiến dịch.

        Để đối phó với cuộc tiến công lớn của ta ở hướng Trị- Thiên, Mỹ lấy không quân là lực lượng chính nhằm ngăn chặn ta tiến công Quảng Trị, Huế. Chúng đã sử dụng tập trung cả không quân chiến thuật và không quân chiến lược B-52 chi viện cho bộ binh, đánh ngăn chặn giao thông. Đặc biệt chúng sử dụng B-52 vào nhiệm vụ chiến thuật như chuẩn bị hoả lực, phá vây, chia cắt hậu phương với mặt trận. Trong chiến dịch Trị - Thiên, 97% hoạt động của không quân do Mỹ đảm nhiệm với 30.354 lần chiếc máy bay chiến thuật và 9.703 lần chiếc B-52. Riêng B-52 ném 290.082 tấn bom (chiếm 88% số bom đạn trong chiến dịch) trong đó- 34% trực tiếp hỗ trợ cho tuyến trước và 66% đánh chia cắt tuyến trước và hậu phương chiến dịch.

        Mặt trận đánh địch trên không trong chiến dịch diễn ra hết sức quyết liệt. Lực lượng phòng không, với ý chí quyết đánh đã vượt qua mọi khó khăn, đánh địch quyết liệt, cơ động bám sát các hướng tiến công, trụ vững, đánh địch cả ban ngày và ban đêm, đánh cả B-52, cường kích ném bom, trực thăng vú trang, trực thăng đổ bộ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của chiến dịch.

        Hoạt động tác chiến phòng không tham gia chiến dịch Trị - Thiên đã cho ta nhiều bài học về mặt nghệ thuật tác chiến phòng không tập trung quy mô lớn trong chiến dịch hiệp đồng quân binh chủng.

        Tác chiến phòng không là một mặt rất quan trọng của tác chiến chiến dịch. Trong chiến dịch, địch đã sử dụng một lực lượng không quân rất lớn, được coi là một hoả lực chính trong phản công, đặc biệt dùng B-52 với cường độ lớn. Nếu lực lượng phòng không không đủ sức hạn chế được hoạt động trên không của địch, thì tình huống chiến dịch sẽ vô củng phức tạp và khó đạt được hiệu quả tác chiến. Vì vậy, cơ quan chỉ huy phòng không trong chiến dịch phải được coi là một bộ phận của cơ quan chỉ huy chiến dịch do Tư lệnh chiến dịch trực tiếp chỉ đạo mới có thể kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt đánh địch trên không và đánh địch ở mặt đất trong quá trình chiến dịch, mới có thể phá vỡ thế mạnh liên kết của địch, chia cắt địch giữa trên không và mặt đất, phá chỗ dựa mạnh nhất của địch.

        Trong chiến dịch quân binh chủng hợp thành, lực lượng phòng không phải trực tiếp đánh rất nhiều đối tượng khác nhau: không quân chiến lược, không quân chiến thuật, trực thăng vũ trang, trực thăng đổ bộ và bộ binh địch. Do đó, lực lượng phòng không tham gia chiến dịch phải được chuẩn bị một cách đầy đủ, huấn luyện chu đáo mới có thể phát huy được hiệu quả trong chiến đấu.

        Lực lượng phòng không phải luôn cơ động theo đội hình chiến dịch, cần phải có biên chế hợp lý, sức cơ động cao, luôn luôn bám sát theo dõi chặt chẽ quá trình tác chiến chiến dịch để chủ động chuẩn bị. Mọi kế hoạch tác chiến phòng không đều phải lấy bảo vệ tác chiến binh chủng hợp thành trong chiến dịch làm mục đích. Qua chiến dịch Trị - Thiên, hình thức chiến thuật đi cùng đánh địch bảo vệ mục tiêu của phòng không được phát triển lên một bước mới.

        Tác chiến trong chiến dịch quân binh chủng hợp thành hết sức quyết liệt, công tác chuẩn bị bảo đảm các mặt phải rất chu đáo, phải được chuẩn bị trước và liên tục bổ sung mới có thể duy trì được sức chiến đấu trong suốt quá trình chiến dịch.

*

*      *

        Vượt qua biết bao khó khăn thử thách ác liệt trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, lực lượng phòng không đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành về nghệ thuật tác chiến. Từ tổ chức quy mô tiểu đoàn, trung đoàn đã tiến lên tổ chức quy mô sư đoàn. Nghệ thuật tác chiến phòng không từ chiến đấu độc lập, từng bước phát triển lên chiến đấu hiệp đồng nhiều quy mô và đã tổ chức nhiều đợt tác chiến tập trung quy mô lớn. Đặc biệt đã tổ chức các đợt tác chiến tập trung có tính chất chiến dịch bảo vệ yếu địa Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1967, đợt tác chiến tập trung quy mô chiến dịch thực hiện nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận chuyển chiến lược năm 1968 và đợt tác chiến tập trung quy mô lớn trong chiến dịch hiệp đổng quân binh chủng năm 1972 trên hướng Trị - Thiên. Năng lực tổ chức chỉ huy và cách đánh của bộ đội phòng không đã phát triển lên một trình độ mới. Đó là những cơ sở lý luận và thực tiễn rất quan trọng tạo nền móng cho lực lượng phòng không, không quân tiến hành chiến dịch có ý nghía chiến lược đảnh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng thảng 12 năm 1972.
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Tư, 2016, 11:40:58 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #24 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 11:51:19 PM »

       
Chương hai

CHIẾN DỊCH PHÒNG KHÔNG THÁNG 12 NĂM 1972

        I. BỐI CẢNH CHIẾN LƯỢC DẪN ĐẾN CHIẾN DỊCH PHÒNG KHÔNG THÁNG 12 NĂM 1972

        Năm 1972, năm thứ 18 của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, năm có tầm quan trọng quyết định về chiến lược, đòi hỏi ta phải nỗ lực vượt bậc, tạo ra thế và lực mạnh có lợi cho mình để giành thắng lợi trên chiến trường

        Trong thư gửi Trung ương Cục miền Nam ngày 29 tháng 6 năm 1971, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã viết: "Lúc này ta có khả năng kéo Mỹ xuống một bước nữa để giành một thắng lợi căn bản tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn... Muốn kéo Mỹ xuống nữa... phải dùng chính trị, ngoại giao kết hợp quân sự... Thắng lợi trong mùa xuân năm 1971, việc Mỹ rút thêm quân cuối năm nay và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1972 là những sự kiện do trùng hợp với nhau mà tạo nên thời cơ thuận lợi"1.

        1. Cuộc tiến công chiến lược 1972 của ta giành thắng lợi lớn đã làm thất bại căn bản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ.

        Sau những tháng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ba nước Đông Dương trong xuân - hè 1971, cục diện chiến trường đã có những bước chuyển biến rất cơ bản có lợi cho ta. Gần 40 vạn quân Mỹ và quân chư hầu rút khỏi miền Nam, làm cho sức mạnh quân sự của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn suy yếu nghiêm trọng. Mặc dù chúng ra sức đôn quân, bắt lính, nhưng vẫn không sao bù đắp nổi khoảng trống của mấy chục vạn quân viễn chinh và vũ khí, phương tiện kỹ thuật chiến tranh hiện đại của Mỹ. Mâu thuẫn giữa tập trung quân cơ động với phân tán lực lượng để giữ đất càng trở nên gay gắt. Tình hình đó đặt chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ trước những thử thách nghiêm trọng cả về mục tiêu và ý đồ chiến lược, cả trong biện pháp và các thủ đoạn tác chiến chiến lược. Nhạy cảm trước sự phát triển mới của cuộc kháng chiến, ngay từ tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp đánh giá tình hình, xác định thời cơ chiến lược và đề ra nhiệm vụ cần kíp của quân và dân ta: "Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương; đánh bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài"2.

        Phương hướng chung của năm 1972 mà Bộ Chính trị đề ra là mở nhiều chiến dịch lớn trên toàn chiến trường Đông Dương. Hướng tiến công chính là chiến trường miền Nam, đồng thời đẩy mạnh đánh phá "bình định" ở nông thôn, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, phát huy thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, tạo một chuyển biến cơ bản, tiến lên làm thay đổi hẳn cục diện chiến trường ở miền Nam và Đông Dương.

        Ngày 23 tháng 3 năm 1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng thông qua lần cuối và phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972, quyết định thành lập Bộ tư lệnh và Đảng uỷ của ba chiến dịch lớn. Sau khi kế hoạch đã được Bộ Chính trị thông qua, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo quân và dân ta dồn mọi nỗ lực cao nhất để thực hiện quyết tâm chiến lược cua Bộ Chính trị Trung ương Đảng và của Quân uỷ Trung ương.

        Thực hiện quyết định của Bộ Thống soái tối cao, Bộ tư lệnh 559 vừa củng cố, mở rộng tuyến đường đông Trường Sơn, vừa gấp rút xây dựng tuyến đường tây Trường Sơn dài gần 3.000km qua các cánh rừng đại ngàn bảo đảm vận chuyển cả ban ngày, ban đêm. Các đơn vị pháo binh, xe tăng và binh khí kỹ thuật nặng đã có đường dành riêng để cơ động vào mặt trận. Các quân khu, các mặt trận cũng dổn mọi nỗ lực tập trung mạng đường chiến lược và chiến dịch cho chiến trường. Chỉ trong ba tháng đầu năm 1972, Đoàn 559 đã hoàn thành chỉ tiêu vận chuyển cả năm và đưa 55.000 cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào các chiến trường.

        Để thực hiện cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Bộ quốc phòng đã tổ chức ba tập đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành trên ba hướng chiến lược. Đây là một sự phát triển nhảy vọt về quy mô tập trung lực lượng và sức mạnh chiến đấu của bộ đội chủ lực ở chiến trường miền Nam. Đến trung tuần tháng 3 năm 1972 các lực lượng tham gia tác chiến chiến dịch trên cả ba hướng chiến lược đã vào vị trí tập kết.

        Mặc dù Mỹ-ngụy dự đoán ta sẽ tiến công, nhưng chúng không xác định được thời điểm, hướng và quy mô của cuộc tiến công. Chúng dự đoán hoạt động của ta chỉ như năm 1971, hướng chủ yếu ở Tây Nguyên và vào dịp tết Nhâm Tý (xuân 1972). Nhưng Tết đã qua đi, chưa thấy ta hoạt động lớn, địch cho rằng chúng đã đánh giá đúng chủ trương chiến lược của ta nên càng chủ quan. Lợi dụng những sai lầm của địch, ngày 30 tháng 3 năm 1972, trên hai hướng chiến lược Trị- Thiên và Tây Nguyên, quân và dân ta đồng loạt mở màn chiến dịch. Tiếp ngày hôm sau, 1 tháng 4 năm 1972, chiến dịch tiến công ở Đông Nam Bộ cũng mở màn đã gây cho địch hoàn toàn bất ngờ và bị tổn thất nặng ngay từ những ngày đầu chiến dịch.

        Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là một đòn bất ngờ đối với địch cả về hướng chủ yếu, về quy mô, về cường độ và thời điểm của cuộc tiến công, đã đẩy dịch vào thế bị động đối phó. Bị bất ngờ về chiến lược và trước những thất bại nặng nề ở chiến trường, ngày 4 tháng 4 năm 1972, Ních-Xơn quyết định thực hiện "bằng bất kỳ hành động nào cần thiết để bảo vệ lực lượng Mỹ ở Việt Nam", nhanh chóng cơ động lực lượng lớn không quân, hải quân Mỹ trở lại chi viện ứng cứu cho quân nguy thực hành phản kích. Ngày 6 tháng 4 năm 1972, Ních-Xơn ra lệnh huy động tới 40% máy bay chiến thuật, 50% máy bay chiến lược của nước Mỹ (đến tháng 5 năm 1972 đã huy động 193 máy bay chiến lược B-52, 1.000 máy bay chiến thuật), 65 tàu chiến và bảy trong số 14 tàu sân bay ổ ạt trở lại tham chiến ở miền Nam và gây lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc một cách tàn khốc. Chỉ riêng năm 1972, không quân Mỹ-ngụy đã thực hiện 1.996.020 lần chiếc máy bay chiến thuật (tăng 86%) và 18.854 lần chiếc máy bay chiến lược B-52 (tăng 58% so với năm 1971). Song với những nỗ lực vượt bậc, bằng cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam, quân và dân ta đã thực hiện được quyết tâm chiến lược của Đảng, đã tổ chức nhiều chiến dịch với các loại hình phong phú, tiến công dồn dập trên tất cả các hướng: Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ. Các chiến dịch đều đã hoàn thành được nhiệm vụ của chiến lược giao cho, tiêu diệt lớn sinh lực địch với quy mô tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, giải phóng nhiều vùng rộng lớn với quy mô tỉnh, huyện, đặc biệt đã tạo được nhiều "căn cứ lõm" ngay trong hậu phương địch, làm cho cục diện chiến trường miền Nam thay đổi lớn có ý nghĩa quyết định, phá vỡ thế chiến lược của địch tạo ra cho ta một bước ngoặt mới của chiến tranh đặt chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ trước nguy cơ phá sản hoàn toàn. So sánh lực lượng trên chiến trường thay đổi hẳn có lợi cho ta, buộc chính quyền Ních-Xơn phải "Mỹ hoá trở lại" cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân Mỹ để cố giữ cho ngụy quân, ngụy quyền khỏi sụp đổ, đồng thời trắng trợn gây lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, hòng buộc ta phải ngừng các cuộc tiến công ở miền Nam.

--------------
1. Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nhả xuất bản Sự thật, 1985. Tr. 271, 272.
2. Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975-Viện LSQS Bộ Quốc phòng, Hà Nội. 1995, Tr. 401.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #25 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 11:53:58 PM »

       
        2. Quân và dãn miên Bắc liên tiếp đánh bại các cuộc tập kích đuởng không, bao vây phong toả trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của đế quốc Mỹ, không ngừng tăng cường chi viện sức người, sức của cho miền Nam đánh thắng chiến lược 'Việt Nam hoá chiến tranh!' của Mỹ.

        Song song với việc tập trung mọi nỗ lực để phản kích ở chiến trường miền Nam nhằm tái chiếm các vùng đã mất, ngày 6 tháng 4 năm 1972, Ních-Xơn ra lệnh tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bác lần thứ hai, coi đó là một biện pháp chiến lược để cứu vớt sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

        Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc lần thứ hai, không còn dừng lại với tính chất phối hợp chiến trường, mà trở thành một biện pháp chiến lược đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Ních-xơn.

        Theo báo cáo của phái đoàn quốc hội Mỹ sang điều tra ở miền Nam Việt Nam, ngày 22 tháng 6 năm 1972 đã xác định: do không thể leo thang trở lại cuộc chiến tranh trên bộ nên Không quân Mỹ đóng vai trò quyết định cứu vớt sự bại trận của quân đội Sài Gòn trên chiến trường .

        Trước những hành động phiêu lưu quân sự mới của kẻ thù, ngày 7 tháng 4 năm 1972, Quân uỷ Trung ương ra chỉ thị cho các lực lượng vũ trang: "Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết chiến đấu bảo vệ miền Bắc và làm tốt nhiệm vụ chi viện tiền tuyến trong tình hình mới". Bộ Tổng Tham mưu đã lệnh cho lực lượng vũ trang trên miền Bắc chuyển vào chiến đấu, giao nhiệm vụ cụ thể cho Quân chủng Hải quân và Quân chủng Phòng không- Không quân chuẩn bị sẵn sàng đánh địch.

        Trong tình thế tiến lui đều khó khăn, các nhà hoạch định chiến lược quân sự của Ních-Xơn cho rằng: để làm cho lực lượng giải phóng miền Nam không còn chỗ dựa và tàn lụi dần, phải cắt bằng được mọi nguồn cung cấp vào miền Bắc và từ Bắc vào Nam. Ních-Xơn trắng trợn tuyên bố: chỉ có một cách duy nhất để chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này là giữ không cho vũ khí chiến tranh vào tay Bắc Việt Nam. Phải làm cho Hà Nội không có được các vũ khí và đồ tiếp tế mà Hà Nội cần để tiếp tục chiến tranh.

        Để thực hiện được ý đồ trên, các nhà hoạch định chiến lược của Lầu Năm Góc đưa ra các biện pháp: dùng chính sách ngoại giao thoả hiệp với các nước lớn đê không giúp hoặc hạn chế sự giúp đỡ của họ đối với Việt Nam, bao vây phong toả các cửa khẩu nhập hàng từ nước ngoài vào miền Bắc, đánh bịt các cửa khẩu từ miền Bắc vào miền Nam, đánh ngăn chặn vận chuyển từ Bắc vào Nam trên tất cả các tuyến đường sắt, đường bô đường biển, đánh huỷ diệt hậu phương miền Bắc làm mất tiềm lực kháng chiến của Việt Nam.

        Để thực hiện biện pháp chiến lược đó, Ních-Xơn đã huy động mọi lực lượng không quân, kể cả lực lượng ném bom chiến lược B-52, đánh phá dồn dập, ác liệt có tính chất huỷ diệt nhiều mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự trên miền Bắc, đồng thời sử dụng hải quân thả hàng vạn quả mìn và thuỷ lôi phong toả các cửa biển của ta. Nghiêm trọng hơn, ngày 10 tháng 4 năm 1972 Mỹ cho máy bay B-52 đánh Vinh, ngày 13 tháng 4 năm 1972 cho B-52 đánh Thanh Hoá, đặc biệt ngày 16 tháng 4 năm 1972, Ních-Xơn cho B-52 đánh Hải Phòng đồng thời với không quân chiến thuật đánh Hà Nội.

        Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, phải sau hai năm Giôn-xơn mới dám cho không quân mon men đánh phá ngoại vi Hà Nội. Nhưng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, chỉ sau 10 ngày, Ních-xơn đã liều lĩnh cho máy bay ném bom đánh phá Hà Nội. Tổng thống Giôn-xơn mới chỉ dám cho B-52 đánh phá hành lang cửa khẩu, còn tổng thống Ních-xơn đã liều lĩnh cho B-52 đánh sâu vào hậu phương miền Bắc, đánh vảo thành phố cảng Hải Phòng, thương cảng giao lưu với quốc tế lớn nhất của ta.

        Song song với việc sử dụng các lực lượng không quân, kể cả không quân chiến lược B-52 đánh phá huỷ diệt miền Bắc, ngày 9 tháng 5 năm 1972, Ních-Xơn ra lệnh thả thuỷ lôi, mìn từ trường phong toả tất cả các cửa sông, các cảng biển từ Vĩnh Linh đến Móng Cái nhằm cắt đứt mọi khả năng tiếp nhận hàng hoá từ các nước vào miền Bắc. Đồng thời với việc phong toả biển, không quân địch còn mở nhiều đợt tập trung đánh phá ác liệt vào tất cả các tuyến giao thông đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đánh phá kho tàng, cơ sở công nghiệp và năng lượng, đê đập, kè cống. Địch còn dã man đánh cả vào những vùng đông dân, nhằm làm giảm ý chí kháng chiến của nhân dân ta.

        Từ tháng 6 năm 1972, Ních-Xơn cho máy bay B-52 thường xuyên đánh phá với quy mô ngày càng lớn, tập trung vào khu vực các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An. Mỗi ngày trên miền Bắc, không quân địch sử dụng trung bình từ 250 đến 300 lần chiếc, trong đó thường xuyên có từ 9 đến 18 lần chiếc B-52.

        Song song đánh phá bằng các lực lượng không quân, Ních-xơn còn cho hải quân bắn phá thường xuyên các vùng ven biển của Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, rồi leo thang dần ra bán phá vùng ven biển Hải Phòng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #26 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 11:58:30 PM »

        Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Ních-Xơn được tiến hành một cách ồ ạt, kết hợp bằng nhiều lực lượng, thực hiện đồng thời bâng nhiều biện pháp nhằm tạo sức mạnh phá huỷ, ngăn chặn tối đa làm cho ta không đủ sức tiếp tục cuộc tiến công ở miền Nam.

        Trước hành động leo thang đồn dập đánh phá và phong toả miền Bắc của Ních-Xơn, tháng 6 năm 1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết: "Đế quốc Mỹ đã trắng trợn gây trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, đánh phá bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn. Chúng âm mưu ngăn chặn cuộc tiến công và nổi dậy nhằm hạn chế thắng lợi của quân và dân ta, hòng cứu vãn chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", cố giữ cho cục diện chiến trường miền Nam không xấu hơn đối với chúng. Tập đoàn Ních-Xơn cố sức thực hiện âm mưu ấy, một mặt do bản chất đế quốc cực kỳ hiếu chiến và ngoan cố của chúng, mặt khác củng do tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp mới. Nhân dân ta phải vững vàng, nâng cao cảnh giác tích cực đề phòng, tiếp tục chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống. Quyết tâm của ta sẽ góp phần vào phong trào thế giới tăng cường đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược buộc chúng phải lùi bươc”1.

        Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, quân và dân miền Bắc bình tĩnh, kiên định bước vào cuộc chiến đấu mới vô cùng quyết liệt. Một lần nữa, mọi hoạt động trên miền Bắc lại chuyển sang thời chiến. Công tác phòng không nhân dân được Đảng và chính quyền các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện với những biện pháp cụ thể thiết thực. Các cơ sở sản xuất, cơ quan trường học, bệnh viện và phần lớn nhân dân trong các thành phố, các khu công nghiệp lại sơ tán đến các khu vực mới, tiếp tục duy trì công tác, sản xuất và ổn định cuộc sống sinh hoạt.

        Lực lượng phòng không ba thứ quân nhanh chóng phát triển thêm lực lượng, điều chỉnh lại thế trận, tiến hành các đợt đánh tập trung bảo vệ từng khu vực mục tiêu, từng đợt vận chuyển trên các tuyến giao thông chiến lược.

        Địch đánh phá tập trung, ác liệt với toàn bộ các lực lượng không quân chiến lược, không quân chiến thuật, không quân hải quân với các phương tiện vũ khí trang bị đã được cải tiến rất tinh vi. Với tinh thần quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, các lực lượng phòng không miền Bắc vừa đánh, vừa nghiên cứu, sáng tạo nhiều cách đánh phong phú đạt hiệu quả chiến đấu cao. Chỉ trong vòng gần sáu tháng (từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 22 tháng 10 năm 1972) quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 561 máy bay địch, trong đó có 14 máy bay B-52, diệt và bắt sống nhiều giặc lái. Trong đó có nhiều ngày đánh tháng giòn giã: ngày 10 tháng 5 năm 1972, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 18 máy bay; ngày 27 tháng 6 không quân diệt gọn cả tốp bốn chiếc F4 trên vùng trời Sơn La; đêm 23 tháng 7 dân quân Thái Thuỵ (Thái Bình) bắn rơi hai máy bay A7; đêm 17 tháng 10 dân quân Yên Lãng (Vĩnh Phú) bắn rơi một máy bay cánh cụp cánh xoè F.111A.

        Cùng với lực lượng phòng không ba thứ quân bắn rơi nhiều máy bay địch, bắt sống giặc lái, các lực lượng pháo binh ba thứ quân đã kiên trì bám trụ, vượt qua bom đạn của kẻ thù chiến đấu bảo vệ bờ biển, đã bắn cháy và bán bị thương 60 tàu chiến địch, hạn chế lớn đến hoạt động bắn phá của hải quân địch vào các mục tiêu ven biển.

        Để đánh bại âm mưu phong toả miền Bắc của Ních-xơn, Chính phủ đã tổ chức thực hiện một loạt biện pháp khẩn cấp: chuyển cửa khẩu chính, xây dựng thêm một số cảng lâm thời để tiếp nhận hàng. Điều hoà khối lượng vận chuyển hàng từ ngoài vào bẳng cả đường biển và đường sắt. Nhanh chóng mở thêm các tuyến đường bộ để giải toả các chân hàng. Xây dựng thêm một số đường ống để vận chuyển nhiên liệu. Thành lập thêm các binh trạm vận tải quân sự lên giáp biên giới phía bắc. Thành lập các ban chỉ huy thống nhất bảo đảm giao thông vận chuyển trên các khu vực trọng điểm. Tổ chức lực lượng rà phá bom mìn, kết hợp lực lượng chuyên môn của hải quân, công binh và lực lượng dân quân tự vệ của các ngành, của các địa phương để mở thông cảng và tuyến vận chuyển biển, vận chuyển trên sông.

        Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, Ních-xơn dùng cả không quân và hải quân thực hiện đánh phá kết hợp với bao vây phong toả. Nhưng với trí tuệ của người Việt Nam, quân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tích cực, kiên quyết đánh địch bảo vệ miền Bắc, bảo vệ việc tiếp nhận và vận chuyển chi viện lực lượng cho miền Nam, đồng thời tích cực thực hiện mọi biện pháp để phá thế bao vây của địch. Do đó, khối lượng hàng nhập qua các cửa khẩu vẫn tăng 1,7 lần, khối lượng vật chất chuyển vào chiến trường tăng 1,7 lần so với năm 1971. Chính kẻ địch cúng phải thừa nhận sự thất bại của chúng trong biện pháp chiến lược đánh phá, ngăn chặn bao vây miền Bắc. Trong báo cáo của Ních-Xơn ngày 12 tháng 5 năm 1972 có đoạn viết: "ném bom không làm hao mòn tinh thần của Bắc Việt Nam, không làm giảm khả năng vật chất của Bắc Việt Nam chi viện cuộc chiến tranh".

-------------
1. Cuộc khảng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Viện lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1988-tr 265.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #27 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2016, 12:00:25 AM »

        Trước những thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam- Bắc, ngày 22 tháng 10 nám 1972, Ních-Xơn phải ra lệnh ngừng ném bom bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhằm xoa dịu dư luận để hy vọng tái cử tổng thống nhiệm kỳ hai vào tháng 11 năm 1972. Nhưng chúng vẫn duy trì đánh phá tập trung quyết liệt tuyến giao thông vận tải từ Nghệ An trở vào. Mức độ đánh phá từ 250 đến 300 lần chiếc ngày của không quân chiến thuật và từ 18 đến 27 lần chiếc ngày của máy bay B-52. Địch ném bom liên tục các tuyến giao thông ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Đặc biệt các trọng điểm: Bến Thuỷ, sông Gianh, Long Đại, Quán Hầu, Linh cảm, địch tổ chức đánh phá ác liệt, liên tục ngày đêm.

        Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương đã nhận định: "Địch sẽ tập trung đánh phá ác liệt từ Thanh Hoá trở vào, đồng thời có nhiều khả năng chúng sẽ đánh phá lại toàn miền Bắc. Do đó, trong khi tiếp tục chỉ đạo cuộc chiến đấu bảo vệ giao thông ở phía nam, ta phải nâng cao cảnh giác, tích cực chuẩn bị, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu ở phía bắc để đối phó có hiệu quả khi địch đánh trở lại" và nhắc nhở quân và dân ta phải luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao nhất, kiên quyết đánh tháng địch khi chúng leo thang trở lại. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Quân chủng Phòng không- Không quân đã tăng cường một phần lực lượng phòng không vào phía nam vĩ tuyến 20 để đánh địch bảo vệ giao thông vận chuyển chiến lược. Lực lượng phòng không ba thứ quân trên chiến trường Khu 4 đã vượt mọi khó khăn ác liệt, hiệp đồng chặt chẽ đánh địch một cách quyết liệt, bảo đảm giao thông vận chuyển cho chiến trường. Từ ngày 23 tháng 10 đến ngày 17 tháng 12 năm 1972 quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 40 máy bay địch trong đó có hai máy bay B-52, bắt sống nhiều giặc lái.

        Đến giữa tháng 12 năm 1972, các tỉnh phía bắc (từ vĩ tuyến 20 trở ra) đã khẩn trương khắc phục hậu quả chiến tranh, ra sức làm vụ đông xuân, đã khôi phục được tất cả các sân bay phía bắc (Nội Bài, Kép, Yên Bái, Thọ Xuân...), các tuyến đường sắt, đường bộ vận chuyển gấp hàng hoá trước đây đang bị ùn lại, lập các chân hàng mới ở Thanh Hoá. Con đường sắt Lạng Sơn- Hà Nội đã trở thành một trục đường rất quan trọng. Các ga Lạng Sơn, Đồng Mỏ đã trở thành "cảng nổi" của đất nước. Thành phố Thái Nguyên vẫn duy trì sản xuất suốt ngày đêm.

        Hệ thống còi điện, loa phóng thanh phục vụ cho thông báo báo động phòng không ở Hà Nội, Hải Phòng cũng như các nơi khác được củng cố thông suốt. Hệ thống công sự chiến đấu, hầm hào ẩn nấp được sửa chữa và xây dựng thêm. Nhân dân các tỉnh, thành phố đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng đoàn kết, vững tin vào - sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, đã quen nếp sống chiến tranh, hăng hái sản xuất, làm việc, học tập; trật tự xã hội được bảo đảm.

        Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị của đất nước là nơi đại bản doanh của Bộ Thống soái tối cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Chính phủ ta đã không di chuyển vị trí, vẫn ở lại Hà Nội để tiếp tục chỉ đạo công cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào giai đoạn cuối, vào thời điểm chiến lược quyết định "đánh cho Mỹ cút". Một bạn nước ngoài đánh giá trong chống Mỹ, Hà Nội là "Thủ đô của phẩm giá con người". Không ít phi công Mỹ đã gọi Hà Nội là ”toạ độ lửa".

        Thủ đô Hà Nội giờ đây thực sự đã trở thành một tổng kho hàng hoá, trung tâm giao thông vận chuyển lớn nhất cả nước. Tháng 12 năm 1972, ở phía bắc trời rét đậm, nhiều mây mù nhưng là mùa khô, không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của không quân. Mực nước các con sông, nhất là sông Hồng, sông Đuống đều ở mức thấp, thuận lợi cho việc bắc cầu phao và vận chuyển qua sông suốt ngày đêm.

        Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ ngày càng ác liệt và tàn bạo. Nhưng quân và dân miền Bắc vẫn vững vàng, đánh thắng mọi bước leo thang của địch, thực hiện nhiệm vụ của hậu phương lớn chi viện ngày càng nhiều cho chiến trường. Càng đánh phá ác liệt, thì số lượng máy bay của Mỹ bị bắn rơi càng nhiều, danh sách giặc lái bị chết và bị bắt sống củng ngày càng tăng thêm, nhưng mưu đồ đen tối của Mỹ vẫn không đạt được. Thất bại và ngạo mạn về sức mạnh của Mỹ đả làm cho Ních-Xơn và giới cầm quyền Mỹ tính toán đến những nước cờ tàn bạo nhất như chúng đă làm ở Bình Nhưỡng trước khi phải chấp nhận thua trong cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950.

        Trong khi quân và dân Quân khu 4 đang tích cực đánh địch bảo vệ giao thông vận chuyển chiến lược, bảo đảm chi viện cao nhất cho chiến trường, quân và dân miền Bắc, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu đã chuẩn bị tích cực cho lực lượng phòng không, giành chủ động đánh bại bước leo thang cao nhất của địch chủ yếu bằng lực lượng không quân chiến lược B-52 của chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #28 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2016, 12:07:02 AM »


        3. Cuộc đấu tranh ngoại giao ở hội nghị Pari đang bước vào giai đoạn quyết định nhưng vô cùng phức tạp và quyết liệt. Ta tỏ rõ thiện chí, mở cho địch một lối ra, Mỹ phải xuống thang thoả thuận hiệp định rồi lại lật lọng ngay.

        Bị thất bại nặng ở cả hai miền Nam- Bắc, đặc biệt sau những tổn thất nặng nề trong các đợt tập kích đường không ồ ạt vào Hà Nội cuối năm 1967 và sau cuộc Tổng tiến công, nổi dậy đồng loạt của quân dân miền Nam Tết Mậu thân 1968, ngày 31 tháng 3 năm 1968, tổng thống Giôn-xơn phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bâc từ vĩ tuyến 20 trở ra, thôi tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai và cử người đàm phán với ta ở hội nghị Pari.

        Kể từ ngàỵ 13 tháng 5 năm 1968, phiên họp đầu tiên giữa ta và Mỹ đến phiên họp cuối cùng ký hiệp định ngày 27 tháng 1 năm 1973, hội nghị Pari kéo dài tới bốn năm chín tháng, một cuộc hội nghị mà thời gian của nó hiếm có trong lịch sử đấu tranh ngoại giao của thế giới.

        Cuộc hội nghị có tới 204 phiên họp công khai và 24 cuộc tiếp xúc bí mật. Đây thực sự là một mặt trận đấu tranh vô cùng gay go, phức tạp và quyết liệt, được tiến hành song song với mặt trận quân sự trên chiến trường.

        Trong năm 1968, qua nhiều cuộc họp, nhưng hội nghị hai bên ở Pari vẫn chưa giải quyết được vấn đề gì cơ bản. Mặc dù vậy, cuộc đàm phán tiến hành ở ngay giữa thủ đô của một nước phát triển trong liên hiệp châu Âu đã mở ra một thời kỳ mới để ta tiến công địch trên mặt trận ngoại giao, kết hợp chặt chẽ với tiến công địch trên chiến trường. Hội nghị là diễn đàn để ta làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất hiếu chiến, xâm lược, ngoan cố và tàn bạo của đế quốc Mỹ, càng hiểu rõ tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

        Qua ba năm đàm phán nhưng hội nghị không tiến triển được, Mỹ luôn luôn đưa ra điều kiện phi lý là quân xàm lược Mỹ và quân đội miền Bắc cùng rút khỏi miền Nam, giữ chính quyền Sài Gòn, không thừa nhận người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam là Mặt trận dân tộc giải phóng và sau này là Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam.

        Về phía ta, lập trường trước sau như một đã được nêu rõ trong tuyên bố của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 2 tháng 11 năm 1968 và trong Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch ngày 3 tháng 11 năm 1968 là quân Mỹ phải rút hết khỏi miền Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam, công việc nội bộ của Việt Nam do nhân dân Việt Nam tự giải quyết.

        Trong phiên họp ngày 8 tháng 5 năm 1969, Mặt trận dân tộc miền Nam tuyên bố giải pháp 10 điểm vạch rõ ranh giới giữa ta và địch, phân biệt rõ hai loại vấn đề khác nhau: loại vấn đề giữa đế quốc Mỹ là kẻ đi xâm lược với nhân dân Việt Nam chống xâm lược, loại vấn đề giữa người Việt Nam với nhau. Việc Mỹ rút quân thuộc loại vấn đề thứ nhất. Mỹ đưa quân xâm lược vào thì phải rút quăn không điều kiện. Còn vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ỏ miền Nam thuộc vấn đề thứ hai do các bên Việt Nam tự giải quyết. Chính quyền Sài Gòn, công cụ tay sai của đế quốc Mỹ đang chống lại nhân dân không thể tồn tại. Tuy nhiên, trên tinh thần hoà hợp dân tộc, ta chủ trương tổ chức các lực lượng Chính trị ở miền Nam cùng nhau thương lượng để thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời, thực hiện quyền tự quyết bằng tổng tuyển cử tự do không có sự can thiệp của nước ngoài.

        Để lừa bịp nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới, đồng thời lấy cớ mặc cả với ta "quân miền Bắc rút cùng quân Mỹ", Ních-Xơn tuyên bố rút 25.000 quân.

        Để vạch trần hành động lừa bịp của Ních-Xơn, nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày ký hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, ngày 20 tháng 7 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nhân dân Việt Nam kiên quyết đòi tất cả quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hết sạch, chứ không phải chỉ rút 25.000 hoặc 250.000 hay là 50 vạn, mà phải rút toàn bộ, không điều kiện...

        Đế quốc Mỹ thất bại đả rõ ràng nhưng chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm bám lấy miền Nam nước ta. Quân và dân cả nước ta, triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, khống sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải chịu rút hết sạch, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà"
1.

---------------
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội.1966, tr. 478, 479
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 21930


« Trả lời #29 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2016, 12:10:23 AM »

        Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục tiêu đấu tranh của ta ở hội nghị, kiên quyết giữ vững nguyên tác cơ bản để đạt được mục tiêu của cách mạng.

        Do thái độ ngoan cố của Mỹ, hội nghị Pari bị gián đoạn một thời gian dài từ tháng 10 năm 1970 đến tháng 5 năm 1971, sau đó được nối lại, nhưng hai bên vẫn giữ nguyên lập trường của mình.

        Thắng lợi to lớn trong cuộc tiến công chiến lược của ta năm 1972 ở miền Nam, buộc Ních-Xơn phải "Mỹ hoá" trở lại cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân, liều lĩnh tiến hành trở lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc một cách hết sức tàn bạo để ép ta trong đàm phán.

        Trên bàn hội nghị Pari, cho tới tháng 10 năm 1972, Mỹ vẫn cố bám lập trường phi lý đòi rút quân miền Bắc khỏi miền Nam, giữ nguyên chính quyền Sài Gòn.

        Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta họp liên tục nhiều ngày để phân tích tình hình quốc tế, tình hình thắng lợi trên các chiến trường, dự kiến khả năng phát triển của tình hình và khẳng định kiên quyết đấu tranh giữ vững những nguyên tác cơ bản trên bàn hội nghị.

        Để thúc đẩy cuộc đàm phán mau chóng đi đến kết quả ngày 8 tháng 10 năm 1972, Chính phủ ta chủ động đưa ra bản dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam". Chính phủ Mỹ phải thừa nhận bản dự thảo hiệp định do ta đưa ra là một văn kiện rất quan trọng và rất cơ bản mở đường đi tới một giải pháp. Qua nhiều ngày đàm phán, đến ngày 17 tháng 10 năm 1972, ta và Mỹ đã thoả thuận về hầu hết các vấn đề trên cơ sở bản dự thảo hiệp định của ta đưa ra. Hai bên đã thông qua văn bản "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam" và cũng đã thống nhất thời gian biểu: Ngày 22 tháng 10 ký tắt tại Hà Nội, ngày 31 tháng 10 sẽ ký chính thức tại Pari.

        Trong các thông điệp gửi Thủ tướng Chính phủ ta ngày 20 và 22 tháng 10 năm 1972, tổng thống Mỹ Ních-xơn hoan nghênh thiện chí của ta, xác nhận văn bản hiệp định có thể xem là đã hoàn thành, thoả mãn về những giải thích của Chính phủ ta.

        Việc nhanh chóng thừa nhận bản dự thảo của ta đưa ra chỉ là một mưu đổ chính trị giúp cho Ních-Xơn tái cư tổng thống nhiệm kỳ hai. Sau khi thăm dò thấy khả năng đắc cử, Ních-Xơn lại lật lọng, cố tình dây dưa, đề nghị thay đổi thời gian biểu, nêu lên nhiều khó khăn mới về chính quyền Sài Gòn, đòi ta phải tiếp tục đàm phán và không nói gì đến việc thực hiện những điều đã cam kết.

        Trước thái độ lật lọng, tráo trở của chính quyền Ních-xơn, ngày 26 thảng 10 năm 1972, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên bố về tình hình cuộc đàm phán về Việt Nam hiện nay. Bản tuyên bố nêu rõ diễn biến của cuộc đàm phán, những nội dung chủ yếu đã được thoả thuận và vạch trần thái độ không nghiêm chỉnh, thiếu thiện chí của Mỹ dẫn đến tình hình rất nghiêm trọng, đe doạ phá vỡ cuộc đàm phán ở Pari. Bản tuyên bố của Chính phủ ta đã có tác động rất lớn vạch trần thái độ ngoan cố xảo trá và lừa bịp của Ních-xơn trước nhân dân thế giới, nhân dân Mỹ và củng cố quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Để đối phó với sự tuyên bố công khai của Chính phủ ta, ngày 26 tháng 10, Kít-xinh-giơ họp báo để giải thích thái độ của Mỹ và tuyên bố "hoà bình trong tầm tay". Điều đó càng lộ rõ bộ mặt thật của Ních-Xơn. Sau này trong hồi ký của mình, Ních-Xơn đã thú nhận: "thứ ba 26 tháng 10, điều chúng tôi lo sợ đã đến, Hà Nội công bố hiệp định hoà bình, các điều khoản chung và lịch ký kết ngày 31 tháng 10 năm 1972". Trước đòn tiến công của ta và để tiếp tục lừa bịp dư luận, ngày 27 tháng 10 năm 1972, Mỹ gửi công hàm cho ta đề nghị một đợt họp mới để hoàn thành hiệp định và nhấn mạnh: "Hoa Kỳ cũng đồng ý không yêu cầu thêm thay đổi nào nửa sau khi đạt được sự thoả thuận trong đợt gặp này".

        Trong khi hai bên còn đang thoả thuận thời gian của đợt họp mới, ngày 2 tháng 11 năm 1972, Ních-Xơn đã ra lệnh tăng cường sử dụng B-52 ném bom trở lại miền Bắc và coi đây là "sự mở đầu cho phương án hoà bình". Đặc biệt sau ngày 8 tháng 11, Ních-Xơn trúng cử tổng thống nhiệm kỳ hai, Mỹ càng ráo riết tăng cường viện trợ quân sự ồ ạt cho chính quyền Sài Gòn và đẩy mạnh đánh phá tuyến giao thông Khu 4.

        Do buộc phải ngổi họp lại để hoàn thành hiệp định, nhưng thực tế Mỹ vẫn ngoan cố phá vỡ đàm phán, nên trong phiên họp ngày 20 tháng 11, Mỹ đề nghị sửa nhiều điểm của hiệp định, nhất là các chương về ngừng bắn, rút quân và chế độ chính trị ở miền Nam, Mỹ vẫn giữ những yêu cầu ban đầu: đòi rút quân miền Bắc, không công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam, muốn duy trì miền Nam thành một quốc gia riêng.

        Ngày 13 tháng 12 năm 1972, hội nghị Pari bế tắc do phía Mỹ gây ra. Kít-xinh-giơ về Mỹ đề nghị Ních-xơn cho B-52 ném bom miền Bắc theo kế hoạch đã được chuẩn bị trước. Ngày 14 tháng 12 Ních-Xơn phê chuẩn kế hoạch tập kích ồ ạt bằng không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng, đồng thời tiếp tục ra lệnh thả thuỷ lôi phong toả cảng Hải Phòng. Kế hoạch của cuộc tập kích sau ba ngày phải thực hiện.

        Trong khi các máy bay B-52 đang trên đường bay từ Guam vào oanh tạc Hà Nội thực hiện cuộc tập kích chiến lược thì hổi 14 giờ ngày 18 tháng 12 Mỹ gửi công hàm cho Chính phủ ta đề nghị nối lại cuộc đàm phán sau ngày 26 tháng 12 năm 1972. Công hàm của Mỹ lúc đó không có ý nghĩa thúc đẩy cuộc đàm phán mà thực chất là một thủ đoạn che đậy cuộc tập kích đường không chiến lược đã được chuẩn bị từ trước và đang bắt đầu thực hiện.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM