Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Tám, 2019, 12:30:05 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tây Nguyên dấu ấn một thời  (Đọc 20186 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #10 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2016, 10:48:27 PM »


Vốn là người rất quý trọng bạn thân quen, nên Lê Hữu Đức đã kể cho tôi biết nhiều chuyện xoay quanh tình hình chung rất rõ ràng. Tôi cố gạn hỏi ở người Cục trưởng Cục Tác chiến này về chủ trương của trên vì tôi biết ở cương vị đó, chắc chắn là một "kho lưu trữ" lớn nhưng thật khó mà moi ra. Cuối cùng thì anh chỉ dặn tôi, phải lo sức khỏe cho tốt và sớm vào chiến trường để về đơn vị, nếu không sẽ bị tụt hậu đấy. Qua đó tôi cũng nhận thấy rằng tình hình đang rất sôi động và Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng đang hoạch định nhiều chuyện. Kết thúc cuộc gặp, tôi hỏi lại đồng chí Đức: Bây giờ anh ở Hà Nội rồi, anh còn nhớ đồng chí cần vụ đã cứu anh đang ở đâu không?

Đồng chí Đức trả lời luôn: Có chứ, tôi nhớ lắm, suốt đời tôi cũng không quên được nó, nó đang ở Sư đoàn 10 đấy...

Bắt tay nhau, tôi nhắc lại: Anh hãy nói lại câu "Đức đây"1 xem nào! Anh và tôi cùng cười. Tôi nói luôn: Đừng quên cán bộ, chiến sĩ chiến trường Tây Nguyên anh nhé. Anh gật đầu tỏ ý ngậm ngùi như cũng muốn trở lại chiến trường với chúng tôi luôn.

Chúng tôi ban ngày thì đi học, đến đêm về lại râm ran suốt đêm, nào chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện vợ, chuyện con, chuyện bà con hàng xóm, mỗi người một chuyện ngay ở quê mình, nhà mình. Đồng chí Quỳnh người Thanh Hóa, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo 40 của mặt trận, đã nói với tôi:

- Anh ơi, tôi đi bảy tám năm vào chiến trường, bây giờ về nhà, gặp vợ thì ngực và lưng giống nhau rồi anh ạ!

Tôi cũng thông cảm với anh ta, liền nói vui:

- Như thế là anh còn hạnh phúc hơn người khác rồi đấy. Còn như anh G và anh K, bây giờ có về nhà thì chẳng còn vợ đâu mà ngực và lưng.

- Ừ anh nói phải, chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ ác liệt như thế, biết bao nhiêu bà con của đồng chí mình bị địch giết hại, thế mà vợ con tôi còn trọn vẹn là phúc đức lắm anh ạ.

Lúc ấy cả tôi và mấy anh em đều thầm nghĩ, cảm ơn hậu phương miền Bắc, bà con đã dành cho những gia đình của người đi chiến đấu miền Nam một tình cảm vô cùng sâu sắc.

Qua từng câu chuyện cụ thể của anh em trong đoàn, tôi nhận thấy, hầu như mọi người trong chúng tôi đều cảm nhận thấy rằng, mặc dù ở miền Bắc công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa đang gặp nhiều khó khăn, địch lại tiến hành chiến tranh phá hoại ác liệt triền miên, vậy mà các phong trào thi đua cứ dâng lên như sóng biển, thanh niên thì mong được tuyển quân nhanh để ra mặt trận, đoàn thể phụ nữ thì phong trào ba đảm đang, lo việc nhà, việc nước, cơm áo gạo tiền... Ai cũng ra sức thi đua để hỗ trợ cho miền Nam đánh Mỹ, ai cũng tin tưởng đúng như lời Bác Hồ dạy "Đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”. Giờ đây quân Mỹ đã cút thì nhất định ngụy sẽ nhào, sự việc ắt sẽ xảy ra đúng vậy.

Ở thời điểm này, chúng tôi đã thấy hầu hết các lực lượng chủ lực và một phần lực lượng địa phương đều nhờ có các đoàn quân bổ sung của miền Bắc vào, mới đảm bảo có đủ sức mạnh để chiến thắng kẻ thù, tuyến đường chiến lược Trường Sơn mang tên Bác đã ngày đêm nối liền miền Bắc với miền Nam; có được miền Bắc hậu phương lớn của cả nước, ta có điều kiện thuận lợi nhận sự giúp đỡ của các nước anh em xã hội chủ nghĩa, để đưa vào miền Nam đánh Mỹ, từ kỹ thuật hiện đại như xe tăng, pháo binh cỡ lớn, cao xạ phòng không tối tân, cùng các lực lượng vật chất đảm bảo khác. Sự hỗ trợ của miền Bắc hậu phương lớn đã đảm bảo hội tụ đầy đủ các yếu tố để Đảng ta chỉ đạo, chỉ huy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên toàn quốc. Miền Bắc chia lửa với miền Nam, bằng cuộc đánh bại cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ, tạo lòng tin tất thắng của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Tôi nghĩ cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước gay go ác liệt gấp nhiều lần so với cuộc chiến tranh chống Pháp vì đế quốc Mỹ đã huy động đủ mọi loại phương tiện kỹ thuật hiện đại tối tân (trừ bom nguyên tử) để đánh ta. Song ta có miền Bắc xã hội chủ nghĩa - hậu phương lớn của cả nước là chỗ dựa vững chắc quyết định nhất để ta thắng Mỹ. Miền Nam hướng về miền Bắc để có lòng tin với sức sống mãnh liệt, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc nhất định thắng lợi" đã trở thành niềm tin và nghị lực để chúng ta đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Sau khi học xong là chúng tôi có lệnh nghỉ mấy ngày rồi chuẩn bị để lên đường ra mặt trận ngay.
____________________________________
1. Một lần, anh bị bom làm sập hầm. Sau một ngày một đêm bất tỉnh, đến khi nghe đồng chí cần vụ của mình gọi anh mới tỉnh và trả lời "Đức đây" nên được cứu sống.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #11 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2016, 10:49:15 PM »


*
* *

Lớp tập huấn vừa tiến hành được 10 ngày, bất ngờ một hôm tôi được Giám đốc nhà trường cho người gọi lên gặp. Thiếu tướng Chính ủy nhà trường Trương Công Cẩn ra cửa đón và bắt tay, chúng tôi đã quen nhau vì trước kia tôi làm đại đội trưởng đại đội 2 tiểu đoàn 136 Trung đoàn 48 thì đồng chí Cẩn là Chính ủy trung đoàn.

Vào phòng làm việc, đồng chí Cẩn nói luôn, tôi rất mừng về cậu. Nhà nước và Bộ Quốc phòng đã quyết định giao trách nhiệm cho cậu. Đồng chí Cẩn đứng lên cầm giấy, tôi cũng trịnh trọng đứng nghiêm để nghe đồng chí Cẩn đọc quyết định hai vấn đề cùng một lúc.

- Một là đề bạt đồng chí Hồ Đệ thượng tá lên cấp đại tá. Quyết định đề ngày 31 tháng 3 năm 1974.

- Hai là quyết định đồng chí Hồ Đệ giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10 mặt trận Tây Nguyên.

Đồng chí Cẩn còn căn dặn tôi thêm nhiều điều. Tôi tự thấy cấp trên đã giao cho mình một trọng trách, nên tôi hứa quyết tâm, hết sức cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó.

Tôi hứa với đồng chí Cẩn như vậy, nhưng thực ra tâm tư tôi lúc này vừa bất ngờ vừa cảm động.

Một phần vì từ lúc làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, rồi kinh qua làm Sư đoàn phó Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10, tôi chưa hề biết đã được đề bạt cấp thượng tá (có lẽ quyết định không đưa đến). Nay từ thượng tá lên đại tá. Tôi cũng nghĩ, phải chăng qua thực tiễn, cấp trên có theo dõi mới quyết định đề bạt và giao trách nhiệm như thế. Hóa ra câu nói của đồng chí Thái Bá Nhiệm - Phó chủ nhiệm Chính trị mặt trận lại được thể hiện với tôi trước nhất.

Vốn xuất thân từ gia đình bần nông, nhà nghèo cả họ là dân ngụ cư, không có ruộng đất, phải đi làm thuê, cuốc mướn. Lúc bé tôi được gia đình cho đi học hết lớp nhất (cấp I). Cha tôi nguyên là tự vệ đỏ đã từng tham gia cướp chính quyền huyện Nam Đàn (Xô viết - Nghệ Tĩnh) nên rất ghét Tây, bắt tôi phải bỏ học ở trường, để về học chữ Hán trong làng. Sau ngày Xô viết - Nghệ Tĩnh, làng xã quê tôi bị đàn áp khốc liệt, hai bác ruột của tôi là đảng viên Đảng Cộng sản bị địch bắt và tra tấn rất dã man, tịch thu hết của cải trong nhà. Sau nhiều lần tra khảo, chúng không tìm được chứng cứ, đành phải thả hai bác ra. Người dân trong làng xóm của tôi đều phải chạy trốn, rồi một số cũng bị bắt, chúng đưa lên núi Đụn bắn xuyên táo một loạt. Tây lê dương đàn áp đã đành, bọn hương lý kỳ hào cũng được thể, tràn vào từng nhà ức hiếp và hôi của cải, có gì đáng giá một chút chúng đều lấy đi. Mẹ tôi có đôi quang gánh và đồ dùng để làm hàng xay, hàng xáo cũng bị chúng cướp mất. Thương cha mẹ, thương anh em, thương bà con họ hàng, làng xóm nên từ khi còn nhỏ tuổi trong tôi đã nung nấu lòng căm thù.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #12 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2016, 10:50:04 PM »


Lớn lên tôi theo ông bác đi làm thuê rồi cũng được bác giới thiệu vào Mặt trận Việt Minh. Tháng 8 năm 1945, tôi đã cùng đội cảm tử quân của xã đi cướp chính quyền huyện Nam Đàn, rồi gia nhập luôn chi đội Đội cung giải phóng quân Nghệ An. Đó là một quá trình tôi rất bỡ ngỡ trong quân ngũ, nhưng nhờ cần cù chịu khó, hăng hái làm mọi nhiệm vụ, nên năm 1946 tôi được trên chọn đi học ở Trường Trung học Lục quân Quảng Ngãi, ở đây có giáo viên là sĩ quan Nhật theo ta dạy về kỹ thuật và chiến thuật phân đội nhỏ. Tôi rất hào hứng học tập. Ngoài ra, tôi còn được tham gia vào hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác do đồng chí Nguyễn Sơn - Hiệu trưởng nhà Trường làm hội trưởng. Qua đó, từng bước tôi hiểu được về đấu tranh giai cấp, về chuyên chính vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng và vấn đề dân tộc.

Học được 6 tháng, thì có lệnh của cấp trên phải nhanh chóng kết thúc chương trình. Nhà trường tổ chức thi cuối khóa, tôi được xếp loại tốt nghiệp giỏi. Sau khi bế giảng nhà trường phân phối học viên về đơn vị ngay, có người ra mặt trận luôn, riêng tôi được lựa chọn cùng gần 100 học viên tiếp tục theo Tướng Nguyễn Sơn ra miền Bắc, học tiếp bổ túc tại trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Lớp học đang dang dở thì ngày 19 tháng 12 năm 1946 chiến tranh toàn quốc bùng nổ, địch lên ném bom vào nhà trường, nhưng không ai việc gì. Tôi liền được cùng 5 anh em khác bổ sung ngay về mặt trận Hà Nội, làm huấn luyện viên tiểu đoàn 212 phụ trách huấn luyện quân sự cho cán bộ dân quân du kích Hà Nội. Sau đó tôi được điều về làm cán bộ đại đội 2 tiểu đoàn 77 (tức là tiểu đoàn 136 Trung đoàn 48 sau này). Được kết nạp vào Đảng năm 1947, sau khi chính thức được bầu làm bí thư chi bộ, trên lại cử tôi sang làm đại đội trưởng Đại đội độc lập 28 phụ trách huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, đồng thời trên chỉ định tôi tham gia huyện ủy viên phụ trách quân sự huyện Thường Tín - Hà Đông.

Bộ đội phải phân ra bám dân, bám đất, đánh địch trừ gian xây dựng phong trào chiến tranh du kích, động viên dân rào làng, tiêu thổ kháng chiến giúp dân sản xuất. Địch hành quân càn quét triền miên khắp vùng nam Hà Nội và cả Hà Đông. Qua 2 năm gắn bó với dân, đơn vị đã đánh thắng địch nhiều trận, dìu dắt và phối hợp dân quân du kích tập kích, phục kích khi địch đi càn quét, đói thì dân giúp ăn, rét thì dân huy động quần áo cho mặc, nhường nhà cho ở, hy sinh thì dân giúp chôn cất, bị thương thì dân cùng hỗ trợ cứu chữa và nuôi dưỡng. Được sống với dân, tôi hiểu rõ thế nào là chiến tranh nhân dân, quân với dân như cá với nước. Tôi lại học được nền nếp và tác phong công tác qua tiếp xúc với cán bộ lãnh đạo và chỉ huy ở địa phương, sâu sát với dân và vận động nhân dân đứng dậy phá tề trừ ác.

Giữa năm 1949 tôi được đề bạt lên làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 136 chủ lực cơ động của trung đoàn, nhờ bám sát địa bàn hoạt động, tôi đã liên hệ với cấp ủy huyện Kỳ Sơn bắt nhân mối của ta trong hàng ngũ địch, nên đã chỉ huy đơn vị đánh kết hợp nội ứng tiêu diệt được 2 đồn địch (đồn Mát ngày 15-1-1950, đồn Rậm 30-1-1950); bắt sống được 125 tên địch, thu toàn bộ vũ khí và kho tàng.

Đến tháng 5-1950 trên chỉ định tôi về làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 632 Trung đoàn 34 ở Hà Nam - Nam Định - không ngờ sau đó Trung đoàn 34 (Trung đoàn 45 sau này) lại chuyển thành đơn vị pháo binh, sang Trung Quốc học tập, rồi cùng đơn vị nhận xe và pháo 105 ly về đánh địch trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #13 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2016, 10:50:22 PM »


Kết thúc chiến tranh chống Pháp, trên điều tôi về làm trưởng khoa giáo viên pháo binh Trường Quân sự trung cao cấp, do đồng chí Hoàng Minh Thảo làm hiệu trưởng. Năm 1962 tôi được cử đi học ở Học viện Pháo binh Liên Xô. Sau hai năm học trên quyết định phải thôi học vì chống chủ nghĩa xét lại. Năm 1964 trên lại cử tôi sang làm đoàn phó chuyên gia quân sự Lào ở Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Nghiên cứu tình hình để giúp bạn, tôi đã học được ở bạn nhiều điều và đã giúp bạn đánh thắng nhiều trận, có trận xóa sổ cả GM13 (trung đoàn ngụy Lào).

Bốn năm học tiếng Lào chưa thạo, trên lại cử tôi vào mặt trận Tây Nguyên, năm 1968 từ pháo binh chuyển sang bộ binh, từ phụ trách cơ quan tham mưu mặt trận xuống chỉ huy đơn vị chiến đấu. Trong cuộc đời, tôi rèn luyện mình chủ yếu qua thực tiễn chiến đấu và công tác. Tuy không có điều kiện ngồi ghế trường đại học nhưng tôi học tại chức bổ túc, ngày này qua ngày khác cần cù nhẫn nại, nên đã học hết chương trình đại học đại cương (năm thứ 2).

Hai năm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 chủ lực cơ động, mặt trận Tây Nguyên, Trung đoàn đã đánh tiêu diệt được nhiều tiểu đoàn địch. Giữa năm 1971 lại trở về cơ quan tham mưu mặt trận, rồi sang năm 1972 làm Sư đoàn phó Sư đoàn 320a, sau sang làm Sư đoàn phó Sư đoàn 10 (lúc mới thành lập sư đoàn). Cùng đơn vị đánh thắng địch một số trận, trên lại cử tôi về làm Tham mưu phó mặt trận cho đến ngày được phong hàm đại tá và được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10.

Giờ đây tôi lại được cấp trên giao cho trọng trách mới, không cảm động sao được. Tuy có hào hứng nhưng cũng thấy khó khăn phức tạp. Tôi nghĩ - ngoài việc phải kiên cường dũng cảm chiến đấu thì phải biết lăn lộn vào thực tế nắm bắt cho được những yêu cầu thiết yếu, nhận rõ thuận lợi và khó khăn thì mới đảm bảo hoàn thành tốt mọi công việc theo trách nhiệm mình. Tôi suy nghĩ mình cần phải cố gắng nỗ lực hơn nữa thì dù khó khăn, phức tạp và mới mẻ đến mấy cũng hoàn thành được.

Rõ ràng lần này trước khi trở lại chiến trường và nhận nhiệm vụ mới trong tôi đã lắng đọng nhiều kỷ niệm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #14 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2016, 10:51:09 PM »


* VỀ VỚI SƯ ĐOÀN 10

Chuẩn bị trở lại chiến trường, tôi xếp thêm vào ba lô chiếc áo sơ mi trắng mà vợ tôi sắm cho lúc mới ở chiến trường ra, vì nghĩ rằng chắc chắn dịp này sẽ có cơ hội mặc sau ngày chiến thắng, Văn phòng Tổng cục Chính trị lại có lệnh gọi tôi vào, ở đó anh em đã để sẵn bộ quân phục gắn quân hàm đại tá, bảo tôi mặc vào để chụp ảnh chân dung - lúc đó tôi nghĩ, cũng buồn cưòi: Mình sống thì có áo sơ mi trắng để mặc đi dạo phố, mình chết thì có ảnh chân dung để truy điệu thì chẳng việc gì phải lo nữa.

Mùa mưa cũng sắp tới, mọi người đều giục giã nhau đi đúng ngày, đúng tháng đã hẹn. Không ngờ một chuyện đã xảy ra.

Đồng chí Phạm Văn Vượng - Trung đoàn phó Trung đoàn 66, quê Lý Nhân, Nam Định, là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (được phong tặng sau chiến thắng Tân Cảnh của Trung đoàn 66 năm 1972). Khi nghỉ phép được địa phương tiếp đón rất trịnh trọng phấn khởi và quê hương cũng đã tổ chức cho gia đình đến "chạm ngõ" một cô là bí thư đoàn thanh niên tỉnh, rất đẹp đôi phải lứa. Nhưng thời gian quá gấp, đồng chí Vượng chưa kịp làm lễ cưới. Không tiện tàu, không có xe, đồng chí ấy đành phải đi xe đạp lên Hà Nội cho kịp ngày hẹn của đoàn, không ngờ dọc đường bị một chiếc xe ben chở gạch, đá cán chết. Thật là một nỗi đau lòng, không chỉ cho đoàn, cho cả cán bộ, chiến sĩ mặt trận Tây Nguyên, mà cho cả quê hương, gia đình đồng chí Vượng, cùng nhân dân tỉnh Nam Định, đã mất đi một người con tiêu biểu. Đối với tôi, đây cũng là sự mất mát cho riêng mình, bởi lẽ tôi và đồng chí Vượng đã từng vào sinh ra tử với đơn vị, giành được nhiều thắng lợi trong các trận đánh từ Ka Te (1969), Đắc Xiêng (1970), Ngọc Tu Ba, Ngọc Rinh Rua (1971) khi tôi là Trung đoàn trưởng, thì đồng chí Vượng là cán bộ tiểu đoàn, nên tôi hiểu rất kỹ về đồng chí Vượng - một con người chỉ huy rất dũng cảm sáng tạo linh hoạt - quả thật, khi nhận trách nhiệm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10, tôi đã nghĩ ngay đội ngũ kế tiếp về sau, sẽ không ai khác đồng chí Vượng. Một sự thiệt thòi cho Sư đoàn 10 khi đang cần có những con người đầy triển vọng đó. Lễ truy điệu được làm ngay trạm khách Bộ Quốc phòng. Sau đó, đoàn tiếp tục hành quân... Nhưng đi dọc đường lại xảy ra một chuyện nữa. Đồng chí Nguyễn Văn Bảy - Trung đoàn phó 95a bị cảm nặng; có bác sĩ, y tá của đoàn săn sóc nhưng do sơ ý, cho đồng chí Bảy uống kháng sinh không thử phản ứng, nên đồng chí Bảy quá mệt và chết, cả đoàn trở nên rối bòng bong. Đến Vinh, đoàn phải nhờ pháp y Quân khu 4 xét nghiệm, rồi cùng trạm giao liên và gia đình làm lễ tang xong, mới lên đường đi tiếp được. Cô vợ mới cưới của đồng chí Bảy dằn vặt khóc nức nở suốt ngày đêm, chúng tôi phải nhờ phái viên Tổng cục Chính trị có mặt hôm đó, an ủi chị và tiễn đưa về địa phương.

Trong chiến tranh cái chết của con người cũng nhiều hình muôn vẻ, có cái do địch, song cũng có cái do ta, gây nên cũng không ít - lường cho hết mọi rủi ro trong cuộc sống cũng không dễ dàng một chút nào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #15 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2016, 10:51:38 PM »


Nhập trạm, vào tuyến đường Trường Sơn, tôi cũng đã quen với cảnh đường xóc, xe đi vật vã nghiêng hết bên nọ sang bên kia, khi qua suối lúc chồm tránh ổ gà và ổ trâu, xe đi trước cuốn tung bụi đất mù mịt, làm cản tầm nhìn của xe đi sau. Nếu ai chỉ quen đi xe trên tuyến đường rải nhựa phẳng phiu, thì chắc hắn đi trên đường này, sẽ rất khó chịu. Nhưng đối với chúng tôi vẫn là sung sướng, vì con đường hôm nay chúng tôi đi là con đường của tự do, đường ta, ta cứ đi, không gì ngăn cản ta nữa.

Ngồi trong ca bin, tôi bồi hồi nhớ ngày trước, năm 1968 lúc đi vào theo giao liên bộ, nhưng cũng có lúc nhờ được xe tải gạo, tôi mới biết cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 trên tuyến đường chiến lược này. Một hôm xe chạy trong đêm, đèn gầm, trời tối như mực, địch cho máy bay đến thả pháo sáng, rồi ném bom, bắn đuổi cả phía trước và phía sau, bom nổ cả trước mặt và sau lưng, hoặc trên sườn núi bên cạnh đường, thế mà đồng chí lái xe tuổi còn trẻ, vẫn vững tay cầm lái, từng bước, từng đoạn cứ cho xe lầm lỳ chuyển bánh không dừng lại, miệng thì hát to hết bài nọ đến bài hát kia, cứ như không có chuyện gì xảy ra cả. Tôi hỏi đồng chí lái xe, lúc cùng ngồi trong ca bin, "ta cứ dừng xe tránh một chỗ hơn cứ tiếp tục đi". Đồng chí lái xe đã trả lời: "Thủ trưởng yên tâm vì địch cũng chỉ có thể nhằm đánh trọng điểm, nên ta vượt qua được là sẽ an toàn". Nghe vậy, tôi thực sự cảm phục tinh thần dũng cảm của đồng chí lái xe lúc đó, và thầm nghĩ mình đã học được thêm một kinh nghiệm nắm quy luật qua thực tiễn chiến tranh, chỉ có trí thông minh mới phát huy được tinh thần dũng cảm. Tôi cũng thầm cảm ơn các nhà soạn nhạc, soạn bài hát, để ở đây thật sự tiếng hát át tiếng bom, chính các bài hát đã góp phần làm tăng thêm sức mạnh tinh thần của quân đội ta, đi tới chiến thắng cả ở tiền tuyến và hậu phương.

Tới sông Bạc, xe chúng tôi tạm nghỉ một ngày để kiểm tra kỹ thuật, bổ sung xăng dầu. Tranh thủ đi xem địa hình, phong cảnh, tôi nhớ lại lần trước đã đi qua đây, anh em công binh đã kể cho tôi biết: Nơi đây là một trọng điểm địch đánh phá suốt ngày đêm, đường bị ách tắc luôn vì bom nổ chậm và bom phá đường. Một phân đội công binh đi phá bom, san lấp lại đường, cả phân đội bị bom nổ hất tất cả anh em xuống suối sâu, tai nạn bất ngờ xảy ra, vừa hy sinh vừa bị thương.

Vào đến chiến trường, ai về đơn vị ấy. Riêng tôi thì Bộ tư lệnh còn giao nhiệm vụ ở lại Bộ Tham mưu mặt trận phụ trách lớp tập huấn cán bộ.

Tham dự lớp tập huấn hầu hết đều là cấp trưởng sư đoàn, trung đoàn và các chỉ huy binh chủng, cơ quan đều có mặt. Phụ trách lớp tập huấn tôi cùng học với anh em, ngoài phần tình hình và nhiệm vụ, lớp học đã đi sâu vào nêu các giả định tình huống để thảo luận, làm thế nào để đánh tiêu diệt được trung đoàn và sư đoàn địch trong các trường hợp, kể cả việc đánh vào thành phố, thị xã. Đây là quân sự dân chủ mà mặt trận Tây Nguyên thường làm để thống nhất tư tưởng chiến thuật và cách đánh. Cái hay cái riêng biệt theo tôi nghĩ, là trong các lớp như thế, mặt trận cũng rất coi trọng gồm cả cán bộ chính trị, cán bộ hậu cần - kỹ thuật đến các bác sĩ chuyên môn, các đội trưởng, các đội điều trị (quân y) nhằm tạo ra thống nhất nhận thức để nâng cao ý thức phục vụ chiến đấu. Tôi vốn là trưởng khoa giáo viên Trường Quân sự trung cao cấp, nên quá trình mấy năm ở chiến trường, Bộ tư lệnh mặt trận thường giao cho tôi phụ trách các lớp tập huấn quân sự ngắn ngày, trong tập huấn mặt trận rất coi trọng giới thiệu kinh nghiệm các trận đánh, kinh nghiệm chiến dịch và các hình thức chiến thuật mà ở chiến trường đã đúc kết được. Lần này không những Bộ tư lệnh giao phụ trách lớp mà còn giao cho tôi thay mặt Bộ tư lệnh tổng kết lớp học, vì đồng chí Mạnh Quân ốm (Bộ tư lệnh vẫn chỉ có hai người là đồng chí Mạnh Quân - Tư lệnh phó và đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy). Qua nhận xét học tập của các tổ, tôi cũng thấy trình độ cán bộ hiểu biết không đồng đều, nhất là tác chiến hiệp đồng các binh chủng, nên qua các lớp tập huấn như thế sẽ góp phần nâng cao trình độ cho cán bộ chỉ huy, tiến lên đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Kết thúc xong lớp tập huấn, tôi được trở về đơn vị.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #16 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2016, 10:12:56 PM »


*
* *

Giữa năm 1974, Sư đoàn 10 có sự thay đổi về biên chế, rút Trung đoàn 95a ra khỏi tổ chức biên chế sư đoàn và được giao nhiệm vụ phụ trách bám địa bàn phía đông tỉnh Gia Lai, đánh giao thông địch trên trục đường 19 (Plây Cu đi Bình Định). Mặt trận biên chế lấy Trung đoàn 24b, thay Trung đoàn 95a vào Sư đoàn 10. Ngoài ra, trong biên chế sư đoàn đã có Trung đoàn 4 pháo binh được thu thập từ các tiểu đoàn pháo binh thuộc Trung đoàn 40 pháo binh mặt trận. Thực chất thành lập Sư đoàn 10 là sự tổng hợp các lực lượng chủ lực cơ động mà mặt trận Tây Nguyên đã có từ trước, những lực lượng ấy đã thuộc Bộ tư lệnh Cánh Đông trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1972; các lực lượng đó đã giải phóng huyện Đắc Tô phía bắc tỉnh Kon Tum - nay chuyển Bộ tư lệnh Cánh Đông và lực lượng ấy thành Sư đoàn 10. Do vậy Sư đoàn 10 mới được gọi tên là Sư đoàn Đắc Tô.

Khi thành lập Sư đoàn (9-1972), đồng chí Mạnh Quân làm Sư đoàn trưởng, đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy, đồng chí Lã Ngọc Châu - Phó chính ủy thì tôi đã là Sư đoàn phó. Nay Bộ tư lệnh lại là đồng chí Lã Ngọc Châu làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy sư đoàn, đồng chí Lưu Quý Ngữ - Phó chính ủy và tôi là Sư đoàn trưởng, chưa có Sư đoàn phó. Đồng chí Lã Ngọc Châu và đồng chí Lưu Quý Ngữ trước đây cùng trong Ban chỉ huy Trung đoàn 66 với tôi. Là những người đã từng gắn bó với chiến trường Tây Nguyên, đồng chí Lã Ngọc Châu quê ở Ninh Bình đã cùng đi với Trung đoàn 66 (1965) vào đánh trong chiến dịch Plây Me, diệt tiểu đoàn Mỹ đầu tiên ở miền Nam, đánh quỵ lữ đoàn 3 sư đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ. Vốn tính hiền lành và độ lượng nhưng cũng rất nghiêm túc và gương mẫu trong đấu tranh xây dựng đơn vị. Anh rất xứng đáng là con người cầm cân nẩy mực cho sư đoàn. Còn anh Lưu Quý Ngữ, quê huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, trong cuộc sống, việc làm của anh rất công phu tỉ mỉ, nói đi đôi với làm và làm đến nơi đến chốn, không thiên vị một ai. Chính những đức tính ấy của các anh, tôi thấy rất phù hợp với nhau. Do đó chúng tôi sống chân thành, quý mến lẫn nhau và sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ phẩm chất, danh dự của cá nhân và của tập thể sư đoàn. Mặc dù chưa có sư đoàn phó, nhưng lúc này cũng được những đồng chí phụ trách cơ quan sư đoàn, như Tham mưu trưởng Vũ Ngọc Phụng là cán bộ pháo binh lâu năm lặn lội ở chiến trường nhiều kinh nghiệm chiến đấu hiệp đồng bộ - pháo, việc gì cũng chịu khó, đi đến nơi đến chốn để trực tiếp giải quyết khó khăn cho cấp dưới; đồng chí Vũ Đình Thước Tham mưu phó là người quê Cẩm Giàng, Hải Dương, đã ở Trung đoàn 66 làm chiến sĩ mà trưởng thành lên, một tiểu đoàn trưởng xông xáo trong chỉ huy đơn vị đánh Mỹ trong chiến dịch Plây Me nổi tiếng năm 1965, là con người rất xốc vác lúc thường cũng như lúc lâm trận, hầu như lúc nào anh cũng dẫn đầu, dấu ấn của anh ghi đậm nét thời đánh Mỹ từ Plây Me đến Chư Ba, Chư Tăng - Kra, chỉ có một nhược điểm khi bực dọc thì hay hò hét nói to làm cấp dưới hoảng sợ.

Trưởng ban tác chiến Đoàn Ngọc Anh là cán bộ tham mưu lâu năm, có tính độc lập suy nghĩ táo bạo, làm việc gì cũng đến nơi đến chốn rất đắc lực; Tôi cũng rất tự hào đối với đội ngũ cán bộ tham mưu lúc ấy.

Phòng Chính trị có đồng chí Nguyễn Văn Đằng, anh đã từng kinh qua làm cán bộ chính trị lâu năm ở nhiều đơn vị; đã làm chính ủy và bí thư Đảng ủy trung đoàn, con người bình tĩnh và sâu sát, nắm rất chắc công việc lãnh đạo chính trị, xây dựng tư tưởng.

Phòng Hậu cần sư đoàn có anh Đặng Văn Khoát và anh Nguyễn Văn Thìn đều là những đồng chí đã nhiều năm làm công tác hậu cần mặt trận, qua thực tế trưởng thành, nắm bắt chắc trong những yêu cầu cần thiết về trang bị kỹ thuật, đảm bảo cuộc sống cho bộ đội, gắn bó rất chặt chẽ trên dưới, để giải quyết khó khăn trong những giờ phút ác liệt nhất của cuộc chiến đấu.

Tôi cũng được trên chỉ định trong thành phần thường vụ Đảng ủy sư đoàn cùng đồng chí Châu và đồng chí Ngữ; và cùng đồng chí Lã Ngọc Châu là đảng ủy viên mặt trận.

Chúng tôi đã sớm đề ra được kế hoạch hoàn chỉnh xây dựng sư đoàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #17 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2016, 10:13:51 PM »


Trước hết là tiến hành Đại hội Đảng các cấp từ cơ sở trở lên, chủ yếu là quán triệt tình hình nhiệm vụ theo tinh thần của nghị quyết cấp trên, gắn liền với vai trò vị trí nhiệm vụ của sư đoàn. Đánh to, thắng lớn chiếm vị trí quan trọng bậc nhất. Xây dựng sư đoàn theo hướng tác chiến hiệp đồng binh chủng. Điều ấy phù hợp tâm tư tình cảm của mọi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ. Từ đó từng bước đi sâu vào liên hệ đơn vị, mọi người đều thấy rất thấm thía những điều nhận xét đánh giá của Đảng ủy và Bộ tư lệnh mặt trận với Sư đoàn 10:

Một là: Sư đoàn vừa hình thành vừa chiến đấu nên chưa có điều kiện củng cố toàn diện ngay từ đầu. Việc thành lập chứng tỏ chủ trương của Quân ủy là rất đúng, phù hợp với tình hình. Thực tế thời gian qua sư đoàn đã phát huy được hiệu lực. Nhìn chung năm 1972 và những tháng đầu năm 1974 hoàn thành khá tốt nhiệm vụ - năm 1973 không hoàn thành tốt. Do đó có thể nói sư đoàn mới đạt mức hoàn thành nhiệm vụ.

Hai là: Qua tác chiến các đơn vị trong sư đoàn đều tiến bộ nhưng đánh thường xuyên liên tục yếu, tốc độ tiến công giữa các đơn vị tiến bộ chưa đồng đều, đánh địch ngoài dã ngoại sút hơn trước, đánh xe tăng thiết giáp địch hạn chế.

Ba là: Xây dựng thường xuyên chưa có nền nếp, sự lãnh đạo của các cấp, các tổ chức đảng chưa coi trọng quản lý đơn vị, chấp hành các chế độ yếu và kỷ luật tự do tản mạn còn nặng, thương vong ngoài chiến đấu cao. Tư tưởng cán bộ các cấp còn bảo thủ kinh nghiệm chủ nghĩa.

Tất cả đều phản ánh tư tưởng tiêu cực tự do vì các đơn vị chiến đấu độc lập lâu năm. Tuy sư đoàn phát triển nhanh mà vẫn tồn tại nhiều nhược điểm, ảnh hưởng lớn cho đánh to thắng lớn.

Những nhận xét chính trên đây của Đảng ủy và Bộ tư lênh mặt trận được coi là căn cứ chủ yếu để Đại hội Đảng các cấp liên hệ thực tiễn, đấu tranh phát huy ưu điểm khắc phục khuyết điểm, nhược điểm. Toàn sư đoàn thông qua Đại hội Đảng các cấp từ cơ sở đến trung đoàn đã dấy lên một phong trào rầm rộ thi đua xây dựng sư đoàn, quyết tâm xứng đáng sư đoàn chủ lực thép của mặt trận Tây Nguyên.

Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn đã được tiến hành từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 11 năm 1974 dưới tán rừng ở gần cầu Lầy phía tây tỉnh Kon Tum. Mặc dầu lúc đó còn có một bộ phận tiếp xúc với địch, Trung đoàn 28 đang phải theo mệnh lệnh cấp trên đi đánh khu căn cứ địch ở Măng Đen – thế da báo cuối cùng trong hậu phương ta ở phía bắc tỉnh Kon Tum, nhưng hầu hết các đại biểu Đảng đều có mặt, một không khí khác hẳn trước đây, ai ai cũng mang theo một niềm kiêu hãnh thấy sư đoàn đang chuyển mình thực sự.

Qua đại hội thảo luận, bàn cãi đấu tranh gay gắt, không khí tự phê bình và phê bình sôi nổi, đi sâu vào bệnh tự do tản mạn, tiêu cực; phân tích phê phán qua nhiều hiện tượng, sự việc xảy ra ở trong sư đoàn thời gian qua - cuối cùng Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn đã 100 phần trăm nhất trí nêu khẩu hiệu truyền thống của sư đoàn: Đoàn kết - thống nhất - kiên cường - quyết thắng".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #18 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2016, 10:14:46 PM »


Sau đại hội, các đại biểu về đơn vị phổ biến nghị quyết đại hội và phát động phong trào thi đua yêu nước, nhiều chỉ tiêu phấn đấu xây dựng được nêu ra một cách cụ thể, thích hợp với từng đơn vị, làm cho không khí phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn náo nhiệt hẳn lên - tôi có cảm tưởng lúc này là cơ hội để mọi cán bộ, đảng viên phát huy vai trò gương mẫu, đầu tàu tiên phong lãnh đạo làm cho sư đoàn tiến lên một bước có ý nghĩa quyết định.

Do đó đầu óc tôi cứ xoáy vào suy nghĩ đối với trách nhiệm mình. Nào là tính toán kỹ kế hoạch xây dựng quân sự sao cho thật tốt, đảm bảo toàn diện từ huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật đến các mặt bảo đảm chiến đấu, chăm lo sức khỏe cho bộ đội. Nào là phải làm sao xây dựng được nền nếp lãnh đạo chỉ huy, phù hợp với yêu cầu chiến đấu mới. Qua đó tôi nghĩ đến việc làm sao tạo cho được sự chuyển biến ở từng đơn vị, phù hợp với khả năng trình độ hiện tại đang có.

Trung đoàn 66 là đơn vị đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 19 tháng 5 năm 1972, mang danh hiệu đoàn Plây Me Anh hùng. Trong chiến tranh chống Pháp là trung đoàn chủ lực của Liên khu 3, sau đó là trung đoàn chủ công của Sư đoàn 304, đã nổi tiếng khi sang Trung - Hạ Lào đánh địch, phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Vào chiến trường Tây Nguyên tháng 8 năm 1965, vừa tới chiến trường trung đoàn đã tham gia ngay chiến dịch Plây Me diệt Mỹ. Thực hiện đúng khẩu hiệu: "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh", mặc dầu bom đạn Mỹ đánh dữ dội, nhưng trung đoàn đã thực hiện đánh gần xen kẽ với địch, đánh quỵ lữ đoàn kỵ binh 3 không phận của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 con cưng của nước Mỹ, trong đó diệt hoàn toàn tiểu đoàn 1 của lữ đoàn này và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2 Mỹ. Từ đó đến năm 1972 là trung đoàn chủ lực của mặt trận Tây Nguyên, trung đoàn đã tham gia nhiều chiến dịch với vai trò chủ công, đâu có khó khăn, ác liệt là có mặt trung đoàn ở đấy, các đơn vị trong trung đoàn đã thể hiện rất tiêu biểu trong nhiều trận đánh: đại đội 2 tiểu đoàn 7 ngày 3 tháng 7 năm 1966 đã diệt gọn đại đội Mỹ ở Đức Cơ, Gia Lai nêu một kỷ lục lần đầu tiên đại đội ta diệt đại đội Mỹ, thi đua với đại đội 2 mùa Xuân năm 1969, đại đội 6 tiểu đoàn 8 của trung đoàn lại lập một kỷ lục xuất sắc mới diệt gọn đại đội Mỹ ở Chư Rơ Bang trong ngày 2 tháng 3 năm 1969 với tỷ lệ thương vong thấp nhất (ta 1 địch 32).

Tiểu đoàn 7 chủ công của trung đoàn đã từng là một đơn vị “ống tay áo xắn cao, súng, lựu đạn trong tay" băng qua rừng le, rừng khọc tìm đánh địch suốt ngày và đêm trong chiến dịch Plây Me 1965. Ngày 3 tháng 7 năm 1966 khi quân Mỹ từ đồn Đức Vinh kéo nhau ra lấy xác đồng bọn, tiểu đoàn dùng đại đội 2 chốt giữ, dùng đại đội 1 và 3 vận động tiến công vào sườn địch diệt gọn đại đội Mỹ, bắn cháy 3 máy bay của địch buộc bọn địch còn lại và xe tăng của chúng phải rút chạy. Tiểu đoàn 7 đã mở đầu cho chiến thuật "vận động tiến công kết hợp chốt" ở chiến trường Tây Nguyên thời đánh Mỹ.

Tiểu đoàn 8 của trung đoàn tham gia chiến dịch Plây Me trong hoàn cảnh hành quân từ miền Bắc vào sau cùng, vừa tới nơi liền được lệnh tham gia trận đánh ở thung lũng Ia Đrăng - quyết chiến điểm của chiến dịch, đã trở thành đơn vị chủ yếu diệt tiểu đoàn 1 Mỹ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #19 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2016, 10:15:21 PM »


Ngày 2 tháng 11 năm 1969, tiểu đoàn 8 đã đánh tiểu đoàn biệt kích hỗn hợp (có 70 Mỹ) ở cứ điểm Ka Te (Phước Long) thu 2 pháo 155 ly và 6 pháo 105 ly cùng toàn bộ kho tàng.

Tiểu đoàn 9 của trung đoàn cũng tham gia chiến dịch Plây Me, thực tế cũng là đơn vị xuất sắc bám thắt lưng Mỹ mà đánh trong chiến dịch - nhưng chiến công rõ nét nhất là từ ngày 21 đến trưa ngày 22 tháng 5 năm 1969 đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn biệt kích ứng chiến hỗn hợp Mỹ - ngụy số 2, loại khỏi vòng chiến đấu 327 tên địch, nêu một kỷ lục đầu tiên tiểu đoàn ta tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch ở khu vực Đắc Dơ Hay thuộc huyện Sa Thầy - Kon Tum.

Một chiến công nổi bật của Trung đoàn 66, trong chiến dịch bắc Tây Nguyên, năm 1972, trung đoàn đã lập công xuất sắc tiêu diệt địch trong căn cứ Tân Cảnh (4-1972) chiếm trận địa địch, diệt gần hết lực lượng sư đoàn 22 (thiếu) và một thiết đoàn của địch; giành thắng lợi quvết định cho chiến dịch.

Ngày 12 tháng 10 năm 1972, trung đoàn tiêu diệt được căn cứ Bến Hét (Plây Cần) là cụm công sự vững chắc trên trục đường 18 ngã ba biên giới ba nước. 800 tên địch vừa bị diệt vừa bị bắt, thu toàn bộ vũ khí kho tàng, đạn dược, mở đầu lịch sử cho Sư đoàn 10.

Quân ngụy Sài Gòn ở chiến trường Tây Nguyên nhiều phen mất hồn, bạt vía khi nghe tin phải giáp chiến với "Anh Hai Râu" đều rủ nhau bỏ chạy. Hai Râu là biệt danh quân ngụy gọi “Trung đoàn 66".

Cũng cần nói thêm, với độ dày thành tích, cán bộ trong trung đoàn được mặt trận Tây Nguyên điều động, có mặt chỉ huy hầu hết các đơn vị trên chiến trường, Trung đoàn 66 đã trở thành nơi chủ yếu đào tạo cán bộ cho mặt trận; đồng thời cũng là đơn vị tạo ra những hình thức chiến thuật mới: như vận động tiến công kết hợp chốt, vận động bao vây tiến công liên tục (Tây Nguyên gọi là bao vây công kích); đánh địch trong công sự vững chắc, khiêng pháo (xe kéo) lên đỉnh núi cao để bắn trực tiếp vào công sự kiên cố của địch.   

Những hình thức chiến thuật đó đều đã được Bộ tư lệnh mặt trận xác nhận, đúc kết thành kinh nghiệm lý luận - Bộ Tổng tham mưu cũng lấy đó biên soạn thành tài liệu lý luận chiến thuật cho quân đội.

Tôi nghĩ Trung đoàn 66 có điều kiện thuận lợi là phần lớn cán bộ và chiến sĩ đều dày dặn trong chiến đấu, lại là đơn vị luôn phát triển sáng tạo được nhiều hình thức chiến thuật bộ đội chiến đấu dũng cảm, áp sát đánh gần, phân đội nhỏ độc đảm chiến đấu linh hoạt nên chắc chắn trung đoàn sẽ trở thành trung đoàn mạnh trong đội hình sư đoàn tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Điều cần khắc phục là hiện tượng tự do tản mạn vẫn còn.

Trung đoàn 28 là đơn vị được thành lập ngày 15 tháng 10 năm 1968, đã kinh qua thời kỳ chiến đấu ở mặt trận Đường 9 "Khe Sanh", ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam; đã được rèn luyện trong khói lửa của cuộc đọ sức quyết liệt với quân Mỹ - ngụy ở chiến trường Trị - Thiên.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM